Thứ Ba, 14 tháng 6, 2022

THỜI THẾ

 Chiến tranh lạnh kết thúc, khối Vác-sa-va tan rã, Liên Xô sụp đổ. Mỹ trở thành kẻ thống trị toàn cầu. Các quốc gia, các dân tộc cúi rạp đầu dưới chân Mỹ.
Nhưng rồi cũng chẳng được yên:
- Mỹ đánh Irắc lần thứ 1, thắng lợi vẻ vang.
- Mỹ phá tan Liên bang Nam Tư.
- Mỹ đánh Apganistan, chiếm đóng nước này.
- Mỹ xâm lược Irắc lần thứ 2, treo cổ tổng thống Sadam Hussen.
- Mỹ tách Cosovo ra khỏi Sec-bi và bắt giam tổng thống Milosevic....
Chuỗi ngày chiến thắng của Mỹ nối tiếp nhau, cũng là những ngày máu và nước mắt của các dân tộc chảy thành sông, thành biển.
Thế rồi Mỹ nhận ra rằng họ đang rước hoạ vào thân. Cuộc chiến tranh du kích ở Afganistan và Irắc bùng lên dữ dỗi và không thể nào dập tắt được nữa. Mỹ bị vắt kiệt sức lực, tổn thương nặng nề và cuối cùng phải tháo chạy tán loạn. Sec-bi bị đánh bại vì thân cô, thế cô nhưng lòng oán hận ngút trời của nhân dân Sec-bi không thể nào xoa dịu được, họ vẫn mong một ngày Mỹ và NATO phải trả món nợ xương máu ấy.
Giật mình bừng tỉnh, nước Mỹ quyết định tránh xa các cuộc xung đột và tìm cách gài bẫy các đối thủ của họ, đẩy đối thủ sa lầy vào cuộc chiến với ai đó để nước Mỹ "bất chiến tự nhiên thành". Quả là mưu lược cao siêu.
Cuối cùng trời đã giúp Mỹ. Ở châu Âu mọc ra một ông tổng thống Ukraine muốn sống mái với nước Nga. Ukraine sẽ tiến hành chiến tranh du kích trường kỳ chống Nga, gây cho Nga những tổn thất nặng nề, đánh sụp uy thế của Nga. Mỹ và NATO sẽ bao vây kinh tế, cấm vận ngặt nghèo để bóp nghẹt nước Nga.
Hai gọng kìm đấy sẽ bóp chặt nước Nga và làm cho nước này tan vỡ thành hàng chục quốc gia yếu hèn và lệ thuộc Mỹ. Đó là chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Nước Nga không thể không biết kế hoạch quá lộ liễu đó.
Một mặt Nga đã quyết định ra tay trước. Họ đánh cho Ucraina tơi tả, nhưng không đặt nặng vấn đề chiếm đóng lãnh thổ. Đánh chiếm tới đâu họ củng cố vững chắc tới đó. Họ không dấu diếm ý đồ biến Ucraina thành cái thùng không đáy để Mỹ và phương tây phải è cổ nuôi dưỡng suốt đời.
Mặt khác Nga đã chuẩn bị kỹ càng cho việc tồn tại lâu dài trong vòng vây kinh tế. Cơm ăn, áo mặc, chữa bệnh, học hành là các yếu tố căn bản của cuộc sống được bảo đảm, nước Nga không lâm vào cảnh đói rét, hỗn loạn như người ta tưởng. Ngược lại họ vẫn bội thu ngân sách, hàng hoá đầy đủ, đời sống an bình. Điều quyết định nhất họ đã làm xong, đó là: chuyển trạng thái tinh thần của toàn xã hội sang tình trạng chiến tranh - tức là người dân sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh gian khổ trong hàng chục năm để đánh thắng kẻ thù tàn bạo.
Ở chiều ngược lại thì người dân các nước phương tây điêu đứng vì giả cả tăng cao, thất nghiệp tràn lan. Ngân sách dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm để cho tiền bạc chảy vào túi các tập đoàn tư bản làm giàu nhờ chiến tranh. Họ không muốn hy sinh cuộc sống yên ấm của họ để phục vụ chiến lược tiêu diệt nước Nga.
Giờ đây phương tây đang thất thế. Ngoài chiến trường thì Zelensky cứ lụn bại dần. Trong nội bộ thì dân chúng phương tây ngày càng chán ghét cuộc chiến tranh phi nghĩa mà chính phủ nước họ đeo đuổi.
Chuyện gì rồi sẽ xảy ra?
- Nếu có những con người lý trí như Mc Namara hay Kissinger thì các nước phương Tây có thể dàn xếp 1 hiệp ước chung sống hoà bình với Nga. Và tất nhiên là thế giới thở phào nhẹ nhõm và bước vào 1 thời kỳ yên ấm, thịnh vượng lâu dài.
- Nếu các tập đoàn tư bản thắng thế, quyết tâm vét hết những đồng tiền đóng thuế của dân chúng vào túi tham của họ thì chiến tranh sẽ tiếp diễn ngày càng dữ dội và mở rộng hơn. Mọi sự sẽ kết thúc khi các thể chế phương tây sụp đổ do sự nổi dậy của người dân chính các nước đó. Và cuối cùng thì hoà bình và thịnh vượng sẽ trở lại nhưng cái giá phải trả thì kinh khủng hơn nhiều.
Cho nên số phận của Ukraine là hết sức nhỏ nhoi. Số phận của chúng ta - tức là cả loài người mới là quan trọng. Đừng để ai kia làm cho lầm đường lạc lối.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LÀ TINH HOA VÀ KHÍ PHÁCH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân tôn vinh là con người Việt Nam đẹp nhất, là sự kết tinh của những gì ưu tú nhất Việt Nam.
Người là một nhà văn hóa lớn, một nhân vật lỗi lạc trong số các lãnh tụ của Việt Nam, qui tụ những giá trị tốt đẹp nhất làm nên văn hóa của dân tộc Việt Nam, từ tư tưởng và trí tuệ, tâm hồn và tình cảm, đạo đức và lối sống, cốt cách và bản lĩnh Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều cống hiến to lớn cho dân tộc Việt Nam và cho cả thế giới. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh là tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam”.
Chính vì thế, trong Khoá họp toàn thể lần thứ XXIV tại Pari (thủ đô nước Cộng hoà Pháp) từ ngày 20/10 đến ngày 20/11/1987, UNESCO đã thông qua Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong nghị quyết này ghi rõ: "Ghi nhận rằng, năm 1990 sẽ được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”.
Theo PGS-TS Phạm Xanh (Khoa lịch sử -Trường Đại học Quốc gia Hà Nội), nghị quyết của UNESCO đã bao quát những công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ.
Còn theo GS-TS Hoàng Chí Bảo - Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Bác Hồ là một con người giản dị nhưng thực sự vĩ đại. Sự kết hợp giữa vĩ đại và giản dị trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện không chỉ trong tư tưởng, sự nghiệp của người mà cả trong văn hóa, đặc biệt là văn hóa ứng xử rất tinh tế của Người. Đó là một trong những điều nổi bật, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân dân Việt Nam và cả bạn bè quốc tế.
Tất cả những biểu hiện ở chủ nghĩa nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở sự giải phóng con người, tình yêu thương con người, coi trọng con người, sự khoan dung, sử dụng đúng con người. Tất cả những giá trị đó khi con người hướng tới chính là giá trị chung của toàn nhân loại.
Thực hành đạo đức là hết sức quan trọng đối với cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh để thực hiện được điều này đã tích lũy những giá trị của nhân loại trong mình. Như chúng ta đã biết: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi rất nhiều nước trên thế giới, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Cho nên trong con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích lũy những giá trị của nhân loại.
Cũng theo GS Hoàng Chí Bảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà tư tưởng kiệt xuất mà Người còn là một nhà văn hóa lớn, nhà văn hóa kiệt xuất của thế kỷ 20. Nói đến văn hóa là nói đến các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, nói tới lối sống, hành vi ứng xử giữa người với người. Sinh thời, Bác Hồ đối xử với cán bộ, đảng viên với nhân dân rất gần gũi và mật thiết, không có khoảng cách nào giữa lãnh tụ với người dân cả. Chính điều này làm tầm vóc vĩ đại Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nổi bật hơn. Lãnh tụ mà có những bữa ăn hàng ngày như người dân, lãnh tụ đi tát nước chống hạn với dân... để hiểu về đời sống của nhân dân còn lao khổ như thế, bữa cơm chưa no, manh áo chưa lành.
Bác nói là "Sông sâu, bể rộng bao nhiêu nước cũng vừa, cái đĩa cạn, cái chén nhỏ thì chỉ một giọt nước cũng tràn đầy. Chỉ sợ mình không có lòng bao dung nhân ái, chứ không sợ người ta không theo mình". Bác cũng chủ trương: "Làm sao cho cái hay, cái tốt của mọi người nảy nở như hoa mùa xuân, còn cái ác, cái xấu, cái dở thì mất dần đi rồi tiến tới mất hẳn". Không có sức mạnh bao dung đó, thì không cảm hóa được đông đảo công chúng.
UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam vì Người có rất nhiều đóng góp trong sự sáng tạo các giá trị văn hóa của Việt Nam cũng như của nhân loại.
Theo GS Hoàng Chí Bảo, Bác Hồ là người hoạt động xã hội rất phong phú. Cuộc đời của Người trải nghiệm rất sâu sắc và thực sự là một kho tàng sống. Bác là một nhà tư tưởng, một nhà chính luận nên người có những tác phẩm lý luận rất xuất sắc. Bác còn là một nhà văn, một nhà thơ, mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò ưu tú nhất của Bác đã từng nói là: "Tâm hồn của Người lộng gió bốn phương thời đại". Chính vì thế, sáng tạo của Người về văn hóa nên thế giới tôn vinh Người là danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam là rất có cơ sở.
Bác là người phát hiện ra vai trò của văn hóa, đó là "văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Người tích lũy các tri thức Đông, Tây, kim, cổ, hội tụ tinh hoa của văn hóa thế giới để làm phong phú chính bản thân mình và dân tộc mình. Sinh thời Bác nói: “Phương Đông có gì hay ta cũng học, Phương Tây có gì hay ta cũng học, nhưng học một cách sáng tạo chứ không bắt chước và luôn luôn đề phòng biến mình thành kẻ bắt chước”. Biến tinh hoa của thế giới cùng với dân tộc để làm phong phú mình lên, để xây dựng cho được một nền văn hóa thuần túy Việt Nam.
Và chính vì thế, theo PGS-TS Phạm Xanh, bài học lớn nhất mà chúng ta suốt đời học Bác đó là: động cơ và lối sống, động cơ vì nước vì dân và làm tất cả những gì vì hạnh phúc của nhân dân, làm tất cả những gì có thể phục vụ Tổ quốc và nhân dân. Đây là lẽ sống cao cả nhất của Người và vì thế mà Người hy sinh cả đời mình.
Có lẽ chỉ có duy nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mẫu mực của việc vượt ra khỏi mọi cám dỗ của vòng danh lợi, vượt ra mọi cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân, đánh bại chủ nghĩa cá nhân mà người coi là cuộc chiến đấu lâu dài trong cả cuộc đời. Nó như triết lý của nhà phật "vô ngã, vị tha", quên mình đi vì người khác, ở đây là cả dân tộc và nhân loại. Học tập Bác ở động cơ sống cao thượng như vậy thì mới có đủ nghị lực sống, vượt qua mọi khó khăn, vất vả hy sinh để làm trọn sự nghiệp của mình.
GS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh, chúng ta cũng cần học phương châm hành động của Bác, lời nói đi đôi với việc làm; sống giản dị, tự nhiên, trung thực như chính cuộc đời mà Bác là một mẫu mực. Điều cần nhất cho chúng ta hiện nay là thực hành dân chủ, trọng dân, trọng pháp để có sức mạnh chống lại chủ nghĩa quan liêu, chống tệ tham nhũng, lãng phí, để đưa sự nghiệp đổi mới ngày càng thành công./.
                                                                                                    Theo Mai Hồng/VOV1

ĐỒNG LÒNG PHẢN ĐỐI HÀNH VI ĐƠN PHƯƠNG, PHI PHÁP Ở BIỂN ĐÔNG


Một lần nữa những tiếng nói, quan điểm về sự cần thiết và cách thức duy trì hòa bình, ổn định và an ninh cũng như đảm bảo tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông lại vang lên bao trùm, lấn át những phát biểu mà thực tế cho thấy “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng, làm một nẻo” tại diễn đàn an ninh Đối thoại Shangri-La 2022.
Ai là “bá quyền hàng hải” ở Biển Đông?
Tại cuộc gặp bên lề diễn đàn Đối thoại Shangri-La 2022 diễn ra từ ngày 10 đến 12-6 ở Singapore, các Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Nhật Bản, Mỹ và Australia đã ra Tuyên bố Tầm nhìn chung 2022, trong đó phản đối các hành vi “đi ngược với luật pháp quốc tế” tại Biển Đông, nhất là các nội dung đã được phản ánh trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Theo đó, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Australia Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Kishi Nobuo và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin đã bày tỏ quan ngại về tình hình ở Biển Đông và phản đối bất cứ nỗ lực đơn phương nào nhằm làm thay đổi hoặc ảnh hưởng tới hiện trạng Biển Đông thông qua việc quân sự hóa các thực thể tranh chấp và các hành động cưỡng ép hoặc dọa dẫm.
Người đứng đầu Bộ Quốc phòng 3 quốc gia Australia, Nhật Bản và Mỹ cũng tái khẳng định phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài thường trực (PCA) về Biển Đông “là cuối cùng và có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp”. Đồng thời, các bên nhấn mạnh tầm quan trọng của một giải pháp hòa bình tuân theo luật pháp quốc tế, nhất là các nội dung đã được phản ánh trong UNCLOS 1982 đối với các tranh chấp, trong đó có quyền tự do hàng hải và hàng không cùng các hoạt động hợp pháp khác trên vùng biển này.
Tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Australia, Nhật Bản và Mỹ về vấn đề an ninh ở Biển Đông được đưa ra sau phát biểu nhận nhiều hoài nghi và phản ứng của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa ngay trước đó tại diễn đàn Đối thoại Shangri-La 2022. Trong bài phát biểu có chủ đề “Tầm nhìn của Trung Quốc đối với trật tự khu vực” tại Singapore ngày 12-6, ông Ngụy Phượng Hòa đã lên án điều mà ông gọi là “bá quyền hàng hải” ở Biển Đông.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc cáo buộc “một số cường quốc” đang tiến hành “bá quyền hàng hải”, điều động tàu chiến và máy bay chiến đấu “hoành hành” ở Biển Đông. Dù ông Ngụy Phượng Hòa không nêu rõ quốc gia nào nằm trong số “một số cường quốc” thực hiện “bá quyền hàng hải” ở Biển Đông, song tất cả đều biết người đứng đầu Bộ Quốc phòng Trung Quốc đang hướng sự cáo buộc, chỉ trích vào ai. Đồng thời với việc lên án “một số quốc gia” thực hiện “bá quyền hàng hải” ở Biển Đông, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc cũng nhấn mạnh rằng, Bắc Kinh theo đuổi “một Biển Đông hòa bình, hữu nghị và hợp tác”, và khẳng định “Trung Quốc sẽ đảm bảo tự do hàng hải ở khu vực Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế”. Ông Ngụy Phượng Hòa còn yêu cầu các nước láng giềng phải đoàn kết, cảnh giác nhằm “ngăn chặn một số nước bên ngoài khu vực can thiệp vào các vấn đề của khu vực và biến Biển Đông thành vùng biển rắc rối”.
Giới quan sát tại diễn đàn Đối thoại Shangri-La 2022 cho rằng, phát biểu của người đứng đầu Bộ Quốc phòng Trung Quốc na ná như các ý tứ, luận điểm trong nhiều bài xã luận của một số báo lớn của Trung Quốc khi đề cập tới vấn đề an ninh ở Biển Đông. Một điểm đáng chú ý mà giới quan sát cũng chỉ là ra là, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc dường như đã “quên” khi không hề nhắc đến thực tế ai cũng thấy Trung Quốc mới là quốc gia đang ráo riết tăng cường quân sự hóa ở Biển Đông, tìm cách tăng sức ép quân sự và tự tạo ra các quy định trái phép để hợp pháp hóa tuyên bố chủ quyền phi pháp của họ ở Biển Đông.
Những hành động quân sự hóa đe dọa hòa bình, an ninh
Nhìn vào thực tế diễn ra ở Biển Đông thời gian qua, bất kỳ ai cũng thấy rất rõ ai là “bá quyền hàng hải”, ai đang gây căng thẳng, đe dọa tự do hàng hải và tự do hàng không ở Biển Đông bằng việc ngày càng leo thang quân sự hóa vùng biển này. Ngay trong những ngày mà diễn đàn Đối thoại Shangri-La 2022 diễn ra ở Singapore, Trung Quốc thông báo tổ chức cuộc tập trận trong 2 ngày 11 và 12-6 tại Biển Đông. Đây cũng là cuộc tập trận mới nhất trong hàng loạt cuộc tập trận của Trung Quốc ở vùng biển có tuyến đường vận tải biển huyết mạch toàn cầu, đồng thời là không gian sinh tồn của nhiều quốc gia trong khu vực.
Tính từ đầu năm 2022 đến nay, theo thông tin đăng tải trên trang web chính thức của Cơ quan An toàn hàng hải Trung Quốc, nước này đã tiến hành hoặc lên kế hoạch tổ chức ít nhất 35 cuộc tập trận, diễn tập quân sự ở Biển Đông. Trước đó, trong năm 2021, cũng theo thông tin từ Cơ quan An toàn hàng hải Trung Quốc, nước này cũng đã tiến hành ít nhất 51 cuộc tập trận, diễn tập quân sự ở Biển Đông. Trong đó có ít nhất 20 cuộc tập trận, diễn tập diễn tra ở Vịnh Bắc bộ và ít nhất 1 cuộc tập trận trái phép ở quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Việc Trung Quốc liên tiếp tiến hành tập trận ở Biển Đông không chỉ gây lo lắng sâu sắc cho các quốc gia trong khu vực, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới tự do hàng hàng hải và tự do hàng không mà điều đó được xem là sự phô trương sức mạnh quân sự, đe dọa trên vùng biển mà Trung Quốc đang đòi chủ quyền một cách phi pháp.
Một thực tế hiển nhiên khác cho thấy Trung Quốc “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng, làm một nẻo” trong vấn đề Biển Đông, đó là Bắc Kinh đã ráo riết bồi đắp, cải tạo phi pháp các đảo, thực thể thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền hợp pháp của Việt Nam bị chiếm đóng trái phép thành các căn cứ quân sự quy mô lớn. Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ (USINDOPACOM) John Aquilino trong tuyên bố đưa ra hồi tháng 3-2022 cho rằng, Trung Quốc có thể đã xây xong cơ sở quân sự trên 3 thực thể Đá Vành Khăn, đá Subi và đá Chữ thập nằm trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam bị họ chiếm đóng trái phép.
Để minh chứng cho nhận định trên, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ cho biết, hoạt động xây dựng kho tên lửa, nhà chứa máy bay chiến đấu, hệ thống radar và các cơ sở quân sự khác của Trung Quốc trên đá Vành Khăn, đá Subi và đá Chữ Thập dường như đã hoàn tất. Việc hoàn tất xây dựng các cơ sở quân sự trên 3 thực thể này cũng như các đảo và thực thể khác bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép ở Biển Đông giúp mở rộng khả năng tấn công của Trung Quốc ra ngoài bờ biển của họ, bao phủ lên gần như toàn bộ vùng biển chiến lược này.
Chung sức đồng lòng ngăn chặn tham vọng đòi chủ quyền phi pháp ở Biển Đông là một đòi hỏi cấp bách lúc này. Tại tuyên bố đưa bên lề diễn đàn Đối thoại Shangri-La 2022, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng 3 nước Australia, Nhật Bản và Mỹ đã tái khẳng định ủng hộ mạnh mẽ sự đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN cũng như tầm quan trọng của hiệp hội trong việc thúc đẩy các quy chuẩn và hành vi tích cực, đóng góp cho an ninh khu vực và Biển Đông.

CHA ĐẺ CỦA LÒ CAO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN


Nếu ngày nay người ta biết tới một giáo sư Trần Đại Nghĩa nổi tiếng trong ngành quân giới thời kháng chiến và nếu không nhắc tới một Võ Quí Huân thì thật một thiếu sót . Những vũ khí “made in Vietnam” được chế tạo theo thiết kế của ông Trần Đại Nghĩa và sản xuất đại trà bằng gang của Võ Quí Huân lần lượt ra chiến trường, góp phần vào công cuộc kháng chiến.
Ngày 16/9/1946, chuyến tàu hỏa đặc biệt, có hai toa dành riêng, đưa Hồ Chủ tịch và 6 người tháp tùng, gồm: Thư ký Đỗ Đình Thiện (nhà tư sản yêu nước, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp), Đại tá cận vệ Vũ Đình Huỳnh, cùng 4 trí thức Việt kiều là bác sỹ Trần Hữu Tước, kỹ sư Võ Đình Quỳnh, kỹ sư Phạm Quang Lễ (sau này là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa) và kỹ sư Võ Quí Huân, rời Paris xuôi về phía Nam để lên tàu về nước.
Chỉ 2 tháng sau khi đặt chân lên cảng Hải Phòng, Võ Quí Huân bước ngay vào cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm trường kỳ và gian khổ của dân tộc ta. Song hành với Trần Đại Nghĩa, Võ Quí Huân đã mang hết sở học của một người tốt nghiệp 3 bằng đại học kỹ thuật ở Pháp: kỹ sư cơ-điện, kỹ sư đúc-luyện kim và kỹ sư kỹ nghệ chuyên nghiệp, của một người từng đảm nhiệm vị trí kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu sản xuất động cơ máy bay Potef, tích cực phục vụ kháng chiến trên lĩnh vực quân giới.
Ông cũng tự nguyện xin chuyển từ một cơ quan Bộ về công tác ở Liên khu IV nhằm có điều kiện thâm nhập thực tiễn địa phương. Và với sự chủ trì nghiên cứu thử nghiệm của Giám đốc Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung Bộ Võ Quí Huân, ngày 15-11-1948, mẻ gang đầu tiên từ quặng sắt Nghi Lộc được nhiệt luyện thành công tại lò cao đặt ở rừng Cầu Đất huyện Con Cuông với dung tích 450 lít, nhiệt độ gió nóng 400 độ C, áp lực quạt gió 400mm nước. Từ đóng góp quan trọng này, những trái lựu đạn, những quả mìn và nhiều loại vũ khí “Made in Vietnam” được xuất xưởng theo thiết kế kỹ thuật của Trần Đại Nghĩa cộng với nguyên liệu gang của Võ Quí Huân.
Trong thư gửi bác sĩ Trần Hữu Tước đề ngày 20-9-1947, Hồ Chủ tịch đánh giá cao cống hiến của Trần Đại Nghĩa và Võ Quí Huân: “… Nói chú biết, chú mừng: Tôi vẫn mạnh khỏe luôn. Mấy anh em cùng về một lần với chúng ta, chú Nghĩa và chú Huân làm việc rất hăng hái và đắc lực, đã gắng sức rất nhiều trong công việc kháng chiến”.
Năm 1950, trước yêu cầu nhiệm vụ mới của ngành quân giới, Võ Quí Huân được điều động từ Liên khu IV ra Chiến khu Việt Bắc làm Trưởng ban Ban Kỹ thuật thuộc Cục Quân giới và được Cục trưởng Cục Quân giới Trần Đại Nghĩa phân công chỉ đạo trực tiếp công trình nghiên cứu luyện thép.
Và một lần nữa giữa núi rừng Việt Bắc, người kỹ sư sinh quán Đà Nẵng Võ Quí Huân lại thành công trong việc xây dựng lò cao luyện thép bằng phương pháp hồ quang điện. Luyện gang rồi luyện thép thành công là kết quả lao động đầy sáng tạo, là dấu ấn khó phai mờ trong đời hoạt động cách mạng của Võ Quí Huân, cho nên không phải ngẫu nhiên mà ông lần lượt đặt tên cho hai người con trai là Võ Quí Gang Anh Hào và Võ Quí Thép Hăng Hái. Đồng thời, Võ Quí Huân cũng rất xứng đáng được tôn vinh là “cha đẻ của lò cao kháng chiến”.
Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của người trí thức Võ Quí Huân đối với ngành luyện kim là ở sự nghiệp “trồng người” mà ông theo đuổi từ rất sớm. Ngay khi bắt tay vào xây dựng lò cao luyện gang ở Liên khu IV, Võ Quí Huân đã nghĩ đến việc đào tạo những lao động kỹ thuật cao của ngành luyện kim Việt Nam. Chính ông đề xuất ý tưởng thành lập trường đào tạo kỹ thuật viên đầu tiên của ngành luyện kim Việt Nam Dân chủ cộng hòa mang tên Trường Cán bộ Kỹ thuật Trung Bộ. Ý tưởng mới mẻ nhưng không hề xa lạ này được thượng cấp chấp nhận và khóa thứ nhất khai giảng vào tháng 3-1947.
Với cương vị Hiệu trưởng, Võ Quí Huân cùng các cộng sự vừa lo công tác tuyển sinh, vừa biên soạn giáo trình, vừa tiến hành giảng dạy. Ngay trong năm 1948, nhà trường đã cung cấp cho công cuộc kháng chiến chống Pháp hơn hai chục kỹ thuật viên, trong đó có ông Hà Học Trạc sau này là đại biểu Quốc hội khóa X nhiệm kỳ 1997-2002 đơn vị thành phố Đà Nẵng. Trường Cán bộ Kỹ thuật Trung Bộ còn có thể được xem là tiền thân của Trường Trung cấp Kỹ thuật I Hà Nội được thành lập vào ngày 15-2-1955 cũng do thầy giáo kỹ sư Võ Quí Huân làm Hiệu trưởng.
Trong thời gian Võ Quí Huân làm Hiệu trưởng, 3 lần nhà trường vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm: lần thứ nhất vào dịp Quốc khánh năm 1955, lần thứ hai vào ngày 27 tháng giêng năm 1957 và lần thứ ba vào ngày 27-5-1957.
Vinh dự này xuất phát chủ yếu từ thành tích xuất sắc của thầy và trò trong phong trào thi đua dạy tốt học tốt, nhưng có lẽ cũng xuất phát từ mối thâm tình của Hồ Chủ tịch đối với một trí thức Việt kiều từng cùng Bác về nước tham gia kháng chiến năm nào. Đến cuối năm 1959, Võ Quí Huân rời Trường Kỹ thuật Trung cấp I Hà Nội về công tác ở Bộ Công nghiệp nặng, nhưng hình ảnh thầy hiệu trưởng giỏi giang tận tụy yêu nghề yêu người vẫn luôn ngời sáng trong ký ức nhiều thế hệ học trò.
Công lao của nhà giáo - kỹ sư Võ Quí Huân, người trí thức chào đời ở Đà Nẵng hơn 100 năm trước, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1939, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1947, đã được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ghi nhận và truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất vào năm 2012 và cũng vào năm này, quận Bắc Từ Liêm Hà Nội có một con đường được mang tên Võ Quí Huân./.

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ BẢO ĐẢM QUYỀN LỰC THUỘC VỀ NHÂN DÂN


Kiểm soát quyền lực là vấn đề được mọi thiết chế chính trị hết sức quan tâm. Thực tế cho thấy ở đâu có quyền lực thì ở đó cần phải có sự kiểm soát để bảo đảm việc thực thi quyền lực được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, không bị lạm dụng.
Kiểm soát quyền lực có thể hiểu ngắn gọn là hệ thống những cơ chế, hoạt động kiểm tra, đánh giá, phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những hành vi vượt quá giới hạn được ủy quyền của các chủ thể nắm quyền lực nhằm bảo đảm cho việc thực thi quyền lực đúng quy định, đúng mục đích, đúng quyền hạn và có hiệu quả. Ở Việt Nam, ngay từ khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đã sớm đề cập đến vấn đề kiểm tra, kiểm soát, giám sát, nâng cao trách nhiệm của Chính phủ, chính quyền đối với dân nhằm xây dựng một nhà nước dân chủ, ngăn chặn tình trạng cán bộ lạm quyền, lộng quyền gây hại cho dân.
Kể từ thời điểm đất nước tiến hành đổi mới, nhất là khi chúng ta chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Ðảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm soát quyền lực, và đưa ra những quan điểm chỉ đạo ngày càng cụ thể, rõ ràng, quyết liệt hơn về vấn đề này.
Tại Ðại hội XI, lần đầu tiên khái niệm kiểm soát quyền lực chính thức được ghi nhận trong quan điểm chỉ đạo quá trình đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Ðặc biệt, đến Ðại hội XIII, vấn đề kiểm soát quyền lực đã trở thành một nội dung quan trọng được nhấn mạnh. Văn kiện Ðại hội chỉ rõ, một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là phải “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”, đồng thời coi việc “Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền” là một trong các nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Ðảng trong sạch, vững mạnh, “tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước” là nội dung cần chú trọng để hoàn thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mục đích của việc tăng cường kiểm soát quyền lực là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, bảo đảm dân chủ và thúc đẩy tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhanh chóng đi đến thắng lợi, gặt hái được những thành tựu quan trọng để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, mang lại cho người dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, cực đoan đã phớt lờ mục tiêu tốt đẹp đó, ngang nhiên bịa đặt, vu khống, tuyên truyền rằng “Việt Nam lâu nay luôn duy trì chế độ Ðảng trị độc tài phi dân chủ, không có lực lượng đối trọng, không có sự kiểm soát quyền lực cho nên mới tạo điều kiện cho cán bộ, quan chức tham nhũng, trục lợi, vi phạm quyền dân chủ và lợi ích của nhân dân, khiến cho đất nước không thể phát triển như tiềm năng, lợi thế vốn có, đời sống nhân dân khốn khổ, lòng dân bức xúc…”.
Khi Ðảng chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực nhằm làm trong sạch hệ thống chính trị, thực thi dân chủ, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực để trục lợi, tham nhũng,… thì chúng lập tức xuyên tạc rằng “Ðảng đang củng cố quyền lực độc tài, thực hiện đấu đá nội bộ, thanh trừng phe phái, triệt tiêu những lực lượng đối trọng tiến bộ có khả năng cạnh tranh quyền lực với Ðảng…”.
Ði đôi với những luận điệu xuyên tạc đó, các thế lực thù địch, phản động còn dùng nhiều thủ đoạn để bôi xấu, công kích Ðảng, đổ lỗi cho Ðảng “gây ra tình trạng tham nhũng, tha hóa đạo đức của đội ngũ cán bộ quan chức, kéo lùi tiến trình phát triển của Việt Nam”, từ đó đòi phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng. Không khó để nhận ra mưu đồ chính trị ẩn sau những luận điệu xuyên tạc chế độ, kêu gọi tự do, dân chủ đó là nhằm tấn công, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó chúng ta phải hết sức cảnh giác, đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ tính đúng đắn trong những quan điểm chỉ đạo của Ðảng, bảo vệ những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những giá trị ưu việt mà nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu bao năm qua dưới sự lãnh đạo, đồng hành của Ðảng.
Kiểm soát quyền lực là vấn đề mà mọi thiết chế chính trị đều quan tâm cho dù là trong lịch sử hay hiện tại. Ðiểm khác nhau là mục đích của việc kiểm soát quyền lực ở mỗi thiết chế chính trị. Việt Nam lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, về bản chất là chế độ dân chủ thật sự, dân chủ triệt để cho số đông nhân dân lao động, do đó, bảo đảm dân chủ luôn là mục tiêu mà Việt Nam theo đuổi và nỗ lực phấn đấu thực hiện.
Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam cũng nhằm để thực hiện và bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân bởi lẽ nhà nước pháp quyền mà Việt Nam xây dựng là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều vì “lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.
Ðể hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang bản chất dân chủ tốt đẹp đó càng cần thiết phải coi trọng tăng cường kiểm soát quyền lực. Thực tế cho thấy, khi quyền lực bị buông lỏng, không được kiểm soát chặt chẽ rất dễ dẫn tới tha hóa quyền lực, khiến cho quyền lực đó không còn thuộc về nhân dân, không vì lợi ích của nhân dân mà thuộc về những người được trao quyền lực, nắm quyền lực.
Thời gian qua, đã có không ít cán bộ lợi dụng những hạn chế trong công tác kiểm soát quyền lực đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn để xâm hại, chà đạp quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, trục lợi, thâu tóm lợi ích riêng, tham nhũng, tiêu cực… gây tổn hại to lớn không chỉ đến lợi ích của tổ chức, cá nhân mà của cả quốc gia, dân tộc.
Hậu quả của việc làm này là đã phá hoại những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nhiều thế hệ đã dày công gây dựng; đi ngược lại mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp mà chúng ta đang hướng tới; làm tha hóa bản chất dân chủ ưu việt của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng; làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Ðảng và Nhà nước.
Chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực của Ðảng chính là nhằm khắc phục những hiện tượng tiêu cực đó, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng, trục lợi, loại trừ những phần tử cơ hội, những cán bộ tha hóa biến chất đạo đức; làm trong sạch đội ngũ cán bộ; nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội mang lại những thành tựu tốt đẹp hơn.
Hơn thế, Ðảng ta còn quyết liệt chỉ đạo việc kiểm soát quyền lực phải được thực hiện thường xuyên liên tục ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương, đơn vị, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, khắc phục triệt để tình trạng lạm quyền, lộng quyền, vi phạm quyền và lợi ích của nhân dân.
Ðảng ta cũng chỉ rõ, kiểm soát quyền lực là trách nhiệm không chỉ của Ðảng, mà của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Nhân dân là lực lượng quan trọng thực hiện kiểm soát quyền lực, thực hiện kiểm tra, giám sát để quyền lực ấy thật sự thuộc về nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Kiểm soát quyền lực tốt sẽ góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ ưu việt mà chúng ta đang xây dựng.
Ðảng ta ra đời từ nhân dân và luôn gắn bó với lợi ích của nhân dân, hoạt động vì lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân lao động. Vì vậy, bảo vệ quyền lực của nhân dân cũng là bảo vệ quyền lực của Ðảng, bảo vệ lợi ích của nhân dân cũng là bảo vệ lợi ích của Ðảng.
Tuy nhiên, Ðảng ta cũng nhận thấy, kiểm soát quyền lực không phải là công việc dễ dàng vì nó liên quan trực tiếp đến những người nắm quyền lực, những người “có chức có quyền” trong xã hội, do đó, kiểm soát quyền lực cần được xem là công việc hệ trọng, cấp bách, đòi hỏi mọi cấp bộ, ngành, địa phương, đơn vị, cá nhân phải có quyết tâm chính trị cao và nỗ lực thực hiện bằng được. Ðó cũng là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước ngày càng phát triển.

48 NĂM CUỘC CHIẾN ĐẤU 81 NGÀY ĐÊM BẢO VỆ THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ - KHÚC TRÁNG CA BẤT TỬ!


Trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, Quảng Trị là địa bàn đặc biệt quan trọng, là nơi diễn ra những trận đánh dữ dội nhất mà điển hình là cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (từ 28/6 - 16/9/1972).
Đây được xem như là thiên sử vàng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20, được viết tiếp bằng chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
1. Viết tiếp trang sử vàng
Thành cổ Quảng trị nằm giữa trung tâm thị xã Quảng Trị, cách quốc lộ 1A hơn 1 km; cách thành phố Đông Hà hiện nay 14 km và cách thành phố Huế hơn 60 km. Đây là một công trình kiến trúc thành lũy cổ, đồng thời cũng là lỵ sở hành chính - chính trị của tỉnh Quảng Trị. Suốt chiều dài lịch sử, với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, Thành cổ Quảng Trị không chỉ có vai trò to lớn đối với sự phát triển của địa phương, mà còn có vị trí quan trọng to lớn đối với tiến trình phát triển của dân tộc.
Với Mỹ, coi tuyến phòng thủ Quảng Trị là “con đê ngăn chặn” vững chắc nhất ở miền Nam Việt Nam, nhưng phòng tuyến đó đã bị Quân giải phóng chọc thủng ngày 01/5/1972 và lá cờ chiến thắng của Quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh Tỉnh trưởng ngụy quyền, báo hiệu toàn tỉnh Quảng Trị được giải phóng.
Không chấp nhận mất Quảng Trị, được sự viện trợ tối đa của Mỹ, nguỵ quyền Sài Gòn dốc toàn bộ lực lượng mở cuộc phản kích tái chiếm Quảng Trị, trong đó mục tiêu số 1 là chiếm lại Thành cổ.
Ngày 13/6/1972, Nguyễn Văn Thiệu quyết định mở cuộc hành quân “tái chiếm Quảng Trị” mang mật danh “Lam Sơn 72”. Để chắc thắng, Nguyễn Văn Thiệu đã huy động 4 sư đoàn mạnh nhất, trong đó có toàn bộ Sư đoàn dù và Sư đoàn lính thủy đánh bộ thuộc lực lượng cơ động chiến lược.
Lực lượng tham gia chiến dịch tương đương 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn và nhiều đơn vị không quân, pháo hạm của Mỹ; đồng thời điều Trung tướng Ngô Quang Trưởng - một viên tướng được kỳ vọng nhiều nhất trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng hòa làm Tư lệnh Quân khu 1, Quân đoàn 1.
Về chính trị, chúng đặt niềm hy vọng qua kết quả cuộc hành quân này sẽ lấy lại được tinh thần, xóa được tâm lý thất bại đang phát triển tràn lan trong quân đội ngụy, đồng thời gây sức ép với ta tại hội nghị Paris.
Về quân sự, chúng hy vọng sẽ phá được cuộc tấn công của quân ta, giữ vững cố đô Huế và chiếm lại được tỉnh Quảng Trị - mảnh đất địa đầu chiến lược miền Nam, là đầu mối giao thông quan trọng nối liền Việt Nam với Trung, Hạ Lào.
Đây cũng là một trong những nỗ lực cuối cùng để cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang bị phá sản, do đó địch điên cuồng tập trung vào đây một lực lượng quân đội khổng lồ. Tập trung hỏa lực cả không quân và hải quân, chúng tổ chức thành 2 hướng tiến công, hòng tái chiếm thị xã Quảng Trị.
Ngày 14/6/1972, địch bắt đầu mở cuộc hành quân hành quân “Tái chiếm lại Quảng Trị”. Đây là cuộc hành quân cực kỳ đẫm máu và tàn bạo. Mở màn cuộc hành quân “Lam Sơn 72”, sáng ngày 28/6, với sự chi viện của không quân và hải quân Mỹ, các sư đoàn chủ lực của nguỵ quyền Sài Gòn ồ ạt tiến công sang bờ Bắc sông Mỹ Chánh, thực hiện cuộc hành quân “tái chiếm lãnh thổ”.
Cuộc chiến đấu giữa ta và địch tại Quảng Trị trong 81 ngày đêm diễn ra vô cùng ác liệt, suốt cả ngày lẫn đêm. Các chốt quan trọng như Long Quang, nhà thờ Trí Bưu, ngã ba Long Hưng, ngã ba Cầu Ga… là những nơi mà quân giải phóng bất chấp hiểm nguy, gian khổ để đập tan các đợt phản kích của địch. Có ngày ta phải đương đầu với 5 đợt tấn công bằng bộ binh, xe tăng, phi pháo của địch. Đặc biệt, Thành cổ Quảng Trị là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần anh dũng hy sinh, chiến đấu phi thường của quân và dân ta.
2. Khúc tráng ca bất tử
Trên báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 9/8/1972 đã viết: “Mỗi mét vuông đất tại Thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử.
Trong 81 ngày đêm, từ ngày 28/6 đến ngày 16/9/1972, Thành cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn…”.
Hàng vạn người lính bơi qua sông Thạch Hãn vào Thành cổ và nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại với dòng sông, để rồi cựu chiến binh Lê Bá Dương ngày hòa bình trở về chất đầy một thuyền hoa huệ trắng thả xuống sông viếng bạn bè, và từ tim anh, những câu thơ yêu thương đẫm máu và nước mắt dành cho đồng đội:
"Đò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm"
Sau này, khi nghiên cứu về 81 ngày đêm diễn ra ở Thành cổ Quảng Trị, nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự đã đặt vấn đề: Không hiểu sức mạnh nào đã khiến cho hàng vạn người lính, bất chấp hiểm nguy của mưa bom bão đạn, sẵn sàng vượt sông bảo vệ Thành Cổ mà không tiếc thân mình. Điều này được những cựu chiến binh năm xưa lý giải, đó là lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Khi lòng yêu nước đã lên đến tột cùng thì cái chết cũng nhẹ nhàng như hòa mình vào dòng nước chảy.
Trận chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ thị xã - Thành cổ Quảng Trị 45 năm qua là khúc tráng ca bi hùng của quân và dân Quảng Trị và cả nước, là bức họa đầy máu và hoa để lập nên chiến công oanh liệt, cùng với các chiến trường khác và trận “Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm năm 1972 ở thủ đô Hà Nội, buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, ký Hiệp định Paris cam kết rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Khúc tráng ca của 81 ngày đêm lịch sử bi tráng hào hùng, ác liệt, đầy hy sinh đã ghi sâu vào lịch sử của dân tộc, ghi sâu vào tiềm thức của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh...
Trận chiến đấu bảo vệ Thành cổ đã lùi xa, những dấu tích về trận đánh không còn nhiều, các nhân chứng sống dần một ít đi, nhưng mảnh đất năm xưa, con người năm ấy mãi mãi được khắc ghi như một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Ngày nay, Thành cổ Quảng Trị là nơi khắc dấu những chiến công bất tử của quân, dân Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung; nơi giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho hôm nay và cho các thế hệ mai sau./.
Nguồn: TTXVN.

NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI LÀM TIM TA NHÓI ĐAU!


1. ANH HÙNG, LIỆT SĨ
- Có 1.146.250 Liệt sỹ trên cả nước.
+ Có 191.605 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Pháp
+ Có 849.018 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ
+ Có 105.627 Liệt sỹ hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo…)
- Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Biển Đông…
- Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị…
- Tỉnh có nhiều Liệt sĩ hi sinh nhất: Tỉnh Quảng Nam có 65.000 Liệt sĩ hi sinh trong các cuộc chiến tranh. (ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh) (tính đến năm 2012).
- Huyện có nhiều liệt sỹ nhất cả nước là huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 Liệt sĩ. (tính đến năm 2012).
2. NGƯỜI DÂN
- Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường Việt Nam ở hai miền (miền Bắc và miền Nam) đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại…
3. CÔNG TRÌNH TRI ÂN ANH HÙNG, LIỆT SỸ
- Có 9.637 công trình tri ân, ghi công Liệt sỹ như tượng đài, nhà bia, nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước. (tính đến năm 2012)
+ Hơn 3.000 nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn cả nước (hầu hết các tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường, thị trấn trên đất nước Việt Nam đều có nghĩa trang Liệt sỹ…)
- Các Nghĩa trang Liệt sĩ cấp Quốc gia nổi tiếng linh thiêng như:
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ (Điện biên)
+ Nghĩa trang Quốc tế Việt – Lào (Anh Sơn, Nghệ An)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn (Quảng Trị)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 (Đông Hà, Quảng Trị)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)…
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Hàng Dương (Côn Đảo, Bà Rịa Vùng Tàu)
4. NGƯỜI CÓ CÔNG CỦA VIỆT NAM
- Có 9.000.000 người có công trên cả nước
- Trên 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:
+ Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có chồng, chín con đẻ, một con rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ;
+ Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có chồng, sáu con đẻ, một con dâu và một cháu nội là liệt sĩ;
+ Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có chín con là Liệt sĩ;
+ Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận, mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi (Sài Gòn) đều có tám con là Liệt sĩ, bản thân 2 mẹ cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
- Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ (số liệu tính đến 2001).
- Gần 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động.
- Gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh.
- Hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam.
- Gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù nổi tiếng như (Nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…)
Sưu tầm

TỰ NGUYỆN DÂNG HIẾN, HY SINH VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN


Tự nguyện đi theo con đường cách mạng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đã chọn. Đúng như Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương đã chỉ ra một trong những nét đặc trưng nổi bật của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là “chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ”.
1. Trong muôn vàn sự lựa chọn, có lẽ chọn sự hy sinh là cao cả và thiêng liêng nhất. Bởi hy sinh là chấp nhận khó khăn, gian khổ, thiệt thòi, thậm chí mất mát. Nhưng không có sự hy sinh nào là vô nghĩa, nhất là hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng; hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì đồng đội, gia đình. Với quân nhân, lời thề danh dự thiêng liêng, cao quý đầu tiên chính là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam!”. Thế nên những người lính khi đã cất bước “ra đi đầu không ngoảnh lại”, nguyện một lòng một dạ “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Có những câu chuyện, những tấm gương hy sinh sẽ mãi được lịch sử ghi lại, các thế hệ đời đời nhớ ơn.
Mỗi khi nói đến sự hy sinh thì câu chuyện về những đồng đội ở đơn vị tôi vẫn luôn nhắc nhớ về bài học tri ân. Tôi vẫn nhớ như in một ngày giữa tháng 6-2016, trời chang chang nắng. Cái nắng lửa như thiêu đốt ruột gan thêm cồn cào, nhức nhối. Tôi cùng rất nhiều đồng đội dõi mắt lên bầu trời và đợi chờ. Thời gian như ngưng đọng, những gương mặt đăm chiêu mong ngóng người trở về. Nhưng không, máy bay Casa số hiệu 8983 thực hiện nhiệm vụ bay cứu hộ-cứu nạn đã nằm lại giữa biển khơi. Cả 9 người con ưu tú của Lữ đoàn 918 (Quân chủng Phòng không-Không quân) đã ra đi mãi mãi. Biển biếc quê hương đã ôm trọn các anh vào lòng. 9 con người ra đi để lại phía sau là hậu phương, gia đình. Có vợ liệt sĩ đang mang bầu, có con liệt sĩ mới chập chững biết đi, có bố mẹ liệt sĩ mái đầu bạc trắng nhớ thương. Sự hy sinh, mất mát là rất lớn, để lại niềm tiếc thương cho đồng chí, đồng bào cả nước. Những cánh chim quả cảm đã hóa thân vào bầu trời Tổ quốc. Chuyến bay dở dang, ước nguyện chưa thành. Thế nhưng sự hy sinh của các anh đã truyền lửa tinh thần, tiếp thêm sức mạnh để đồng đội tiếp tục cất cao cánh bay giữ trời Tổ quốc.
Có thể thấy giá trị nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được hun đúc bởi nhiều yếu tố, trong đó đức hy sinh có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Ấy là hành động nhận gian khó về mình để người khác được hưởng niềm vui, sẵn sàng hy sinh bản thân để người khác được hưởng bình yên, hạnh phúc. Trong xã hội, nếu “ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai?”. Trả lời câu hỏi ấy, bộ đội sẽ không hề do dự. Họ sẵn sàng xung phong dấn thân vào nơi gian khổ, hiểm nguy với tinh thần “Vui gì hơn làm người lính đi đầu” (Tố Hữu). Người lính nhận về mình sự thiệt thòi để mang lại những điều tốt đẹp cho xã hội. Tinh thần đó, lý tưởng đó, hành động đó thật đáng trân trọng biết bao!
Sự hy sinh của bộ đội đã tạc vào lòng nhân dân hình ảnh vô cùng đẹp đẽ. Mới đây, đại dịch Covid-19 quét qua là lúc người lính xông pha diệt “giặc” nguy hiểm này. Một lần nữa, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ lại tỏa sáng, truyền thêm niềm tin cho cộng đồng xã hội. Nhân dân nhìn thấy bộ đội là thấy an lòng. Khi các địa phương thực hiện giãn cách xã hội, bộ đội đến từng nhà trao quà an sinh, chữa bệnh, giúp tiêm vaccine, tuần tra, bám chốt, lo hậu sự cho người dân qua đời vì Covid-19... Chính trong thời điểm khó khăn, gian khổ đó lại càng tỏa sáng đức hy sinh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Biết bao cán bộ, chiến sĩ phải gác lại việc riêng, ngày đêm dầm mình trong sương gió canh gác, chốt chặn, phòng, chống dịch. Có nhiều đồng chí vì nhiệm vụ mà người thân ra đi không thể về chịu tang, đành vái vọng từ xa. Những sự hy sinh thầm lặng đó đâu dễ gọi tên.
2. Giữa thời bình, niềm vui ngập tràn trên từng nẻo đường, góc phố. Bình yên hiện hữu trên mỗi gương mặt người. Hạnh phúc nhân lên trong từng mái ấm. Thế nhưng xin hãy nhớ rằng, nơi biên cương, hải đảo, ở những đồn biên phòng, kho quân khí, trạm radar, nhà giàn xa xôi vẫn có những người lính ngày đêm lặng thầm thực hiện nhiệm vụ. Họ công tác, sinh hoạt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địa bàn xa xôi, phức tạp, cơ sở vật chất khó khăn, thiếu thốn. Nhiều đồng chí đã gắn bó cả thanh xuân nơi miền biên viễn hay ngoài trùng khơi. Đâu chỉ khó khăn về điều kiện công tác, họ còn thiếu thốn tình cảm, hơi ấm gia đình. Những khi mọi người sum họp bên người thân, họ chỉ biết đứng lặng dõi về quê hương; những khi mọi người được vui chơi, ca hát, họ phải dầm mình trong màn sương gió lạnh; những khi mọi người quần áo tinh tươm dạo bước nơi phố phường thì họ lặng lẽ hành quân giữ chắc tay súng...
Đôi khi niềm ước mong của bộ đội rất giản dị, chỉ là một bữa cơm bên gia đình, một cái ôm thật chặt với con yêu. Ở chiều ngược lại, nơi hậu phương là sự khắc khoải đợi chờ, con mong cha, vợ ngóng chồng ngày về sum họp. Thế nên, không những người lính hy sinh mà gia đình, người thân của họ cũng phải chịu thiệt thòi. Nói đến hy sinh đâu chỉ là mất mát, ra đi, mà sự hy sinh còn biểu hiện sinh động từ những điều rất nhỏ. Ấy thế nhưng nếu không đủ mạnh mẽ, chúng ta cũng không dễ hy sinh những điều nhỏ như thế.
3. Thời nay, khi cuộc sống xã hội phát triển, sự so sánh giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa được và mất, thiệt và hơn càng rõ nét hơn, không phải ai cũng dễ dàng nhận lấy phần khó khăn, gian khổ. Bộ đội cũng không nằm ngoài những tác động từ đời sống xã hội, những áp lực vô hình ảnh hưởng đến tâm tư, nguyện vọng của mỗi người. Phía sau niềm vinh dự, tự hào vẫn còn những nỗi niềm trăn trở của người lính khi phải hy sinh những lợi ích bản thân vì nhiệm vụ chung. Bởi vậy, bộ đội rất cần sự quan tâm và chia sẻ từ xã hội. Sự động viên thể hiện ở các chính sách hỗ trợ thiết thực đối với bộ đội, nhất là chế độ về đất ở, nhà ở, tiền lương, nghỉ phép, trợ cấp... để quân nhân và gia đình họ có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn.
Trong cuộc sống hiện đại, mỗi quân nhân cũng ít nhiều chịu sự chi phối bởi các mối quan hệ. Hậu phương là một trong những nỗi lo của người lính khi xa nhà. Cha mẹ, vợ con bộ đội đang cần những sự quan tâm thiết thực như bao gia đình khác, nhưng vì điều kiện công tác xa nhà mà không phải lúc nào quân nhân cũng lo toan chu đáo, vẹn tròn. Thế nên, để bộ đội yên tâm công tác, để mỗi tổ ấm của người lính thực sự là bến neo đậu bình yên của họ, mong sao có sự chăm lo nhiều hơn nữa từ các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể quần chúng ở địa phương. Thật ý nghĩa biết bao khi gia đình quân nhân khó khăn được kịp thời giúp đỡ, tổ ấm quân nhân hạnh phúc được tôn vinh, con em bộ đội được khuyến khích, tạo điều kiện trong học tập, công tác. Mỗi hành động, việc làm ý nghĩa từ xã hội sẽ là động lực để cán bộ, chiến sĩ quân đội và gia đình họ có thêm niềm tin vượt mọi khó khăn, tiếp tục phấn đấu, cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc và nhân dân.

ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI


Tri thức là chìa khóa mở ra nhiều cánh cửa quan trọng trong cuộc đời. Vậy nên, các bậc cha mẹ luôn mong muốn lựa chọn được môi trường giáo dục tốt nhất cho con mình.
Trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay, cha mẹ ngày càng quan tâm và định hướng tương lai cho con cái sớm hơn. Việc xác định cho các con học trường gì, sau thi đại học nào và làm nghề gì được các bậc cha mẹ tính toán rất cẩn thận, rất sớm, có khi ngay từ lúc các em bước vào ngưỡng cửa phổ thông trung học (cấp 3).
Suốt một thời gian dài, tâm lý ăn sâu vào suy nghĩ của các bậc cha mẹ là con cái cần phải vào trường điểm, lớp chọn hoặc trường công lập, thì sau này cơ hội thi đỗ các trường đại học tốt mới rộng mở, tương lai mới tươi sáng. Chưa kể áp lực tâm lý đè nặng các gia đình rằng “con cái không thi vào đâu được thì mới vào trường tư thục, trường dạy nghề, học tốn kém mà chất lượng lại không đảm bảo”…
Chính vì vậy, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 hằng năm luôn là cuộc đua nóng bỏng. Học sinh quay cuồng với ôn tập thi cử, phụ huynh căng thẳng lo âu. Áp lực của kỳ thi vào lớp 10 công lập luôn là những ký ức khó quên của những gia đình từng cùng con vượt vũ môn. Sức nóng của kỳ thi lớp 10 đặt biệt rõ nét tại các thành phố lớn, những nơi có “tỷ lệ chọi” thậm chí còn cao hơn cả thi đại học. Như tại Hà Nội, trong năm học 2021-2022, có tổng cộng khoảng 106.000 thí sinh đăng ký dự thi lớp 10 công lập, song chỉ tiêu chỉ khoảng 77.000.
Tuy nhiên, quan điểm này có lẽ đã không còn phù hợp với xu thế hiện nay. Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam hiện có một nền kinh tế năng động, đa lĩnh vực, với rất rất nhiều ngành nghề mới phát triển “nóng” và thiếu hụt lực lượng lao động. Nếu không đỗ lớp 10 công lập, các em học sinh vẫn còn rất nhiều cơ hội ở các con đường khác để hướng tới thành công. Thực tế hiện nay, ngoài công lập có rất nhiều trường có kết quả học tập tốt, môi trường lý tưởng đáng mơ ước, tính cạnh tranh cũng rất cao. Những năm gần đây, giáo dục nghề nghiệp cũng được nhiều học sinh lựa chọn, thay vì tiếp tục học lên cấp 3.
Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới như Đức hay Nhật Bản từ lâu đã đẩy mạnh công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh từ bậc trung học cơ sở. Nếu được định hướng đúng đắn ngay từ lớp 9, các em sẽ có bước chạy đà chắc chắn hơn cho tương lai của mình, lựa chọn đúng đắn hơn về nghề nghiệp. Sau khi khi tốt nghiệp trung học cơ sở, các em sẽ lựa chọn được cho mình môi trường phù hợp với khả năng, ước mơ, đáp ứng được yêu cầu phát triển toàn diện để từ đó chủ động xây dựng lộ trình phát triển bản thân trong tương lai. Tại Mỹ, học sinh được hướng nghiệp và tạo điều kiện bộc lộ năng lực bản thân từ đầu cấp 2. Các em được khuyến khích chọn các ngành nghề yêu thích, phù hợp với bản thân và khả năng tài chính của gia đình, chứ thi vào đại học không phải là con đường duy nhất.
Chúng ta cũng cần thay đổi quan niệm của xã hội về nghề nghiệp, theo hướng không có nghề nào tốt, nghề nào xấu, cũng như không cứ phải học phổ thông là tốt hơn học nghề, trường công là giỏi hơn trường tư thục. Khi quan niệm thay đổi, thì việc học sinh lựa chọn đi học trường nghề, lựa chọn thi vào trường THPT dân lập thay vì cố thi vào công lập, sẽ trở thành điều bình thường. Và quan trọng hơn cả, các bậc phụ huynh xin đừng thay con chọn nghề theo xu hướng xã hội, theo ý thích của ba mẹ, vì danh lợi hay uy tín của gia đình. Việc định hướng sớm sẽ giúp học sinh tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí, sớm thạo nghề, sớm có thu nhập để lo cho bản thân, gia đình và đầu tư cho tương lai. Đó cũng là một hướng đi tốt.
Đối với học sinh lớp 9, dù có không đỗ lớp 10 công lập, cũng đâu có sao. Con đường học tập, con đường hướng tới thành công vẫn rất rộng mở. Gia đình và xã hội nên sát cánh cùng các em, giúp các em nhanh chóng vượt qua những cảm xúc thất vọng, tự ti. Thay vì tuyệt vọng về điểm thi không như ý, các em hãy nỗ lực hết mình, sẵn sàng chuẩn bị cả về tinh thần, sức khỏe và kiến thức cho chặng đường phía trước, dù học ở môi trường nào.

"DÂN CHỦ PHẢI GẮN VỚI SINH KẾ, DÂN TRÍ, DÂN SINH..."

     Phát biểu giải trình tại phiên thảo luận của Quốc hội về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở sáng 14/6, Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh, dân chủ phải gắn với sinh kế, dân trí, dân sinh để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đồng thời gắn với việc xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh.

    Tiếp thu, giải trình một số ý kiến đại biểu Quốc hội nêu tại hội trường, Bộ trưởng Nội vụ nêu rõ, đây là một dự án luật khó, có đối tượng tác động rộng, đa dạng, nhiều chủ thể, mang tính đặc thù trong thể chế chính trị, pháp luật của Việt Nam.
    Đồng thời, đây cũng là một dự án Luật hết sức quan trọng, có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc, được xây dựng nhằm góp phần thể chế hóa quan điểm của Đảng cũng như tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, là mục tiêu và động lực để phát triển xã hội, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
    Về nguyên tắc xây dựng dự thảo Luật, Bộ trưởng cho biết, dự thảo Luật đã thể chế hóa phương châm dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng; đặt việc thực hiện dân chủ cơ sở trong tổng thể cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội là trung tâm để nhân dân làm chủ; giải quyết được mối quan hệ giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội.
    Bộ trưởng khẳng định, dân chủ phải gắn với sinh kế, dân trí, dân sinh để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đồng thời gắn với việc xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh và bảo đảm được sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp.

SỰ ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM TRƠ TRẼ


Vào trang VOA Tiếng Việt đọc được bài: “Truy tố 2 cựu bộ trưởng “khiến người dân hoài nghi hơn là tin tưởng” thì thấy thực ra đây là một bài phỏng vấn và trả lời phỏng vấn là ông Nguyễn Hữu Vinh, một nhân vật tự phong là “nhà quan sát chính trị” với bút danh “Anh Ba Sàm”. Vụ vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á và các đơn vị, địa phương rất lớn và rất tinh vi, hơn 60 bị can bị khởi tố, bắt tạm giam. Trong số các bị can, có hai bị can tùng giữ chức vụ cao nhất đó là Nguyễn Thanh Long, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế và Chu Ngọc Anh, cựu Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, cựu Bộ trưởng Bộ KH&CN. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã và đang tiếp tục điều tra mở rộng vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ” xảy ra tại Công ty Việt Á và các đơn vị, địa phương theo quy định của pháp luật.
Ông Chu Ngọc Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ có hành vi vi phạm quy định của pháp luật trong việc giao, quản lý, sử dụng “Đề tài khoa học và công nghệ cấp Quốc gia nghiên cứu, chế tạo Kit xét nghiệm Covid-19”, gây thất thoát lãng phí tài sản Nhà nước, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” quy định tại Khoản 3, Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015 và sửa đổi bổ sung năm 2017. Ông Nguyễn Thanh Long, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định của pháp luật trong việc cấp sổ đăng ký lưu hành, hiệp thương giá và kiểm tra giá hiệp thương Kit xét nghiệm Covid-19, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng tài sản Nhà nước cũng đã phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại Khoản 3, Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 và sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau khi Viện Kiểm sát tối cao phê chuẩn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã thi hành các quyết định, Lệnh nêu trên đúng quy định của pháp luật, rà soát kê biên phong tỏa tài sản của các đối tượng để đảm bảo triệt để thu hồi cho Nhà nước. Việc kỷ luật khai trử Đảng đối với ông Nguyễn Thanh Long và ông Chu Ngọc Anh thể hiện quan điểm của Đảng về công tác phòng chống tham nhũng tiêu cực đó là “điều tra sai phạm đến đâu, xử lý đến đó chứ không chờ kết thúc mới xử lý cán bộ”.
Thông tin về vụ việc cũng đã được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông, vậy mà VOA Tiếng Việt rồi qua lời Nguyễn Hữu Vinh lại viết rằng: “Trong vụ này Đảng xử lý có vẻ kỹ lưỡng, theo trình tự, rất là bài bản” những trường hợp trước đâu cần phải có phiên họp bất thường của Ban Chấp hành Trung ương để kỷ luật”. Đừng giả vờ ngây ngô để cố tình đưa ra một nhận định ỡm ờ, gây nghi ngờ cho cứ dân mạng như thế. Ở đây cần nhắc để VOA Tiếng Việt và Nguyễn Hữu Vinh phải hiểu rằng khi xử lý kỷ luật đảng viên bằng hình thức khai trừ hoặc các hình thức kỷ luật khác đều liên quan đến sinh mệnh chính trị của mỗi một con người. Những đảng viên có chức có quyền đã kinh qua nhiều cương vị công tác, có trình độ lý luận, am hiểu luật pháp, nên để xử lý kỷ luật họ rất cần phải thận trọng, bài bản, đúng quy định của Đảng của pháp luật thì họ mới tâm phục, khẩu phục. Đã không nắm chắc các quy định của Đảng thì đừng suy diễn, viết không đúng, “tại sao lại có vẻ kỹ lưỡng, theo trình tự, rất là bài bản”. Không thể nói “có vẻ” mà phải đảm bảo tính công minh, thận trọng, chính xác, kịp thời nhưng cũng rất nhân văn sâu sắc, thể hiện đúng bản chất của Đảng đó là đạo đức là văn minh, theo đúng Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Trường hợp cách chức, khai trừ thì Ban Bí thư, Bộ Chính trị báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, quyết định. Quan điểm nhất quán của Đảng đó là “Làm tốt thì biểu dương, khen thưởng; làm chưa tốt thì nhắc nhở phê bình; vi phạm sẽ phải xử lý nghiêm minh, kết luận đến đâu xử lý đến đó, không có vùng cấm hoặc ngoại lệ”. Đây là nguyên tắc, là việc làm thường xuyên của Đảng và cũng là mong muốn của nhân dân nhằm không ngừng làm trong sạch Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhất là cán bộ cấp chiến lược. Nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình và ủng hộ, phấn khởi và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm tra Trung ương về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thể hiện sự đồng thuận rất cao của người dân khi Đảng và Nhà nước xử lý rất nghiêm các cá nhân, tổ chức tham nhũng, tiêu cực và không có “vùng cấm”, không nương nhẹ, bao che. Công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cưc càng làm tốt thì càng củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng. VOA Tiếng Việt và Nguyễn Hữu Vinh đừng có ảo tưởng, hàm hồ mà cho rằng “Truy tố 2 cựu bộ trưởng “khiến người dân hoài nghi hơn là tin tưởng”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói:“Chống tham nhũng tiêu cực không được chủ quan, nóng vội, thỏa mãn, không được né tránh cầm chừng, không ngừng, không nghỉ, không kể đó là ai, không có vùng cấm”, bởi công tác xây dựng Đảng để làm tiền đề cho xây dựng phát triển kinh tế -xã hội của đất nước chứ không phải cái lối tư duy lởm khởm, suy diễn vẩn vơ, phán bừa của blogger Nguyễn Hữu Vinh mà VOA Tiếng Việt đồng lõa để lu loa rằng: “hành động này của Đảng có lẽ muốn thể hiện quyết tâm chống tham nhũng không chừa vị trí nào để làm yên lòng dân…” hoặc đặt những câu hỏi ngớ ngẩn, mà không chịu suy nghĩ đối chiếu kiểu như: “Nhưng người ta cũng đặt câu hỏi là Đảng sẵn sàng làm ở những cấp như thế liệu đến những cấp cao hơn thì sao?”. VOA Tiếng Việt lại cố tình quên vụ án Đinh La Thăng, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh hay sao? Ông Đinh La Thăng bị đình chỉ sinh hoạt đảng, khởi tố bắt tạm giam vào ngày 8/12/2017 khi đó là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương. Trước đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 5 ngày 7/5/2017, ông Đinh La Thăng bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo và cho thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị rồi bị khai trừ khỏi Đảng vào 9/5/2018 tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XII. Những câu nghi vấn ỡm ờ kiểu như: “Có khả năng dính đến cấp cao hơn, nếu làm triệt để thì sẽ gây ra tổn thất cho Đảng” chỉ nhằm mục đích khoét sâu đại án tham nhũng, gây hoang mang cho người dân, gây chia rẽ mất đoàn kết trong nội bộ cán bộ, đảng viên. Việc làm rõ thông tin có hay không cấp cao hơn dính chàm, hay người đứng đằng sau bao che, chống lưng cho Chu Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Long là ai… là thuộc trách nhiệm của cơ quan chức năng từ Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm tra Trung ương và sẽ trả lời trước công luận, còn cỡ như Nguyễn Hữu Vinh, VOA Tiếng Việt có tư cách gì mà đòi hỏi, bởi kẻ khoác áo tự phong cho mình là “nhà quan sát chính trị” chẳng qua cũng chỉ là hóng hớt rồi công kích chế độ mà thôi. VOA Tiếng Việt luôn che chắn bằng cách ngụy biện rằng “bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả”, nhưng thực tế thì sao? VOA Tiếng Việt đã cố tình thêm mắm, thêm muối vào bài viết sao cho thể hiện rõ sự bất mãn, hận thù, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam một cách thâm độc và hèn hạ. Sự lưu manh của VOA Tiếng Việt khi đổ vấy tội lỗi cho tuyển chọn người của Đảng, với kiểu đặt câu hỏi giả vờ ngu ngơ nhưng rất nham hiểm: “Tại sao Ông Long mới lên làm Bộ trưởng Y tế chưa bao lâu là bị dính ngay? “Tại sao quy trình lựa chọn nhân sự cẩn thận như thế mà để lọt người như thế?” càng lộ rõ mưu đồ đen tối củaVOA Tiếng Việt qua lời của Nguyễn Hữu Vinh. Một điều đơn giản mà ai cũng biết đó là, tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ với các thể chế khác nhau trên thế giới đều xuất hiện tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, chỉ có mức độ khác nhau mà thôi. Việt Nam là một trong 110 quốc gia đã ký Công ước chống tham nhũng, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường thì những mặt trái của cơ chế này sẽ có những tác động trái chiều, tạo ra lợi ích nhóm, siêu lợi ích đó là tiền đồ khách quan làm cho tham nhũng, tiêu cực phát triển. Chừng nào điều kiện để lợi ích kết hợp với sự lạm quyền của những người có chức vụ, quyền hạn vẫn còn thì tệ tham nhũng, tiêu cực vẫn sẽ luôn đồng hành. Vì thế mọi người cũng cần cảnh giác trước nhưng thông tin lập lờ, cố ý suy diễn, xuyên tạc, quy chụp nhằm công kích, chống phá chế độ của Nguyễn Hữu Vinh và VOA Tiếng Việt này nhé.