Phát biểu tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam lần thứ 4 được tổ chức tại TP.HCM vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh rằng, việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự
Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022
Cái kết của những kẻ bán rẻ lương tâm
Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát, những hoạt động của Hội AEDC không thể qua được mắt của lực lượng chức năng, các đối tượng từ kẻ cầm đầu lần lượt sa lưới pháp luật. Ngày 5/4/2018, Nguyễn Văn Đài cùng các đối tượng Phạm Văn Trội, Nguyễn Trung Tôn,
Hiểu về lợi ích quốc gia - dân tộc
Lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là kim chỉ nam trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nó bao hàm trong đó “tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, thể hiện sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia, dân tộc”.
Lợi ích quốc gia không phải lúc nào cũng đồng nhất với lợi
ích dân tộc. “Lợi ích quốc gia thiên về đại diện lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Lợi ích dân tộc thường được hiểu là lợi ích của mọi người dân của một nước.
Khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc có hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên”.
Đã từng có trường hợp, giới cầm quyền hy sinh lợi ích dân tộc vì lợi ích giai cấp,
lợi ích phe nhóm. Năm 1870, khi thủ đô Paris (Pháp) bị quân Phổ bao vây thì
Chính phủ vệ quốc của giai cấp tư sản lại đầu hàng, không đứng về phía nhân dân
trong cuộc chiến tranh vệ quốc.
Nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc cũng có sự khác nhau
trong từng thời điểm lịch sử. Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, lợi ích cốt
lõi của quốc gia - dân tộc là độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ. Kể từ khi
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc không chỉ
là giành độc lập dân tộc để giữ chủ quyền lãnh thổ mà còn là đi lên CNXH. Nhưng
trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mục
tiêu độc lập dân tộc, giữ chủ quyền lãnh thổ được đặt lên trên.
Từ khi thống nhất đất nước đến nay, lợi ích cốt lõi quốc gia
- dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội
XHCN. Hiện nay, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam được thống
nhất với nội hàm bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Bảo vệ Tổ
quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”.
Ngày nay, lợi ích giữa các quốc gia được thể hiện trên cơ sở
vừa hợp tác, vừa cạnh tranh quyết liệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế. Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo, song bên cạnh đó vẫn
có những mâu thuẫn, xung đột diễn ra dưới nhiều hình thức rất phức tạp. Vì vậy,
việc bảo đảm được lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hệ trọng đối với mỗi quốc
gia nhằm bảo vệ đất nước và thực hiện hợp tác quốc tế.
Trong khi đó, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm đang là một
trong những nguy cơ gây tổn hại đến sự phát triển đất nước, lợi ích của nhân
dân, phá hoại khối đại đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt
Nam. Chỉ có thể giữ vững những thành quả cách mạng mà chúng ta đã đạt được khi
“luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia, dân tộc, của
nhân dân, của Đảng là tối thượng”.
Những thành tựu, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt
Nam đạt được như ngày nay đã chứng minh quan điểm đặt lợi ích quốc gia - dân tộc
lên trên hết, trước hết của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt.
Thư ký Lê Hà Thu có “máu” chống đối từ nhỏ
Không chỉ vậy, Hội AEDC còn sở hữu một “thư ký” mẫn cán mang tên Lê Thu Hà, đối tượng si mê hoạt động chống phá Việt Nam. Tuy là người con sinh ra trong một gia đình có
Hà Đông Xuyến, “mỹ nhân” trong làng “Dân chủ”
Tham gia điều hành Hội anh em dân chủ còn có đối tượng Hà Đông Xuyến, Ủy viên Trung ương tổ chức khủng bố Việt Tân. Không phải nghiễm nhiên mà đối tượng này tham gia tổ
Nguyễn Văn Đài, kẻ cầm đầu hội anh em dân chủ đội lốt “Luật sư”
Đi sâu tìm hiểu hàng ngũ cốt cán của tổ chức này mới nhận ra sự chống phá ác liệt của AEDC đến từ những cái tên chống đối nổi cộm “Luật sư Nguyễn Văn Đài”, Phạm Văn Trội, Đinh Nhật Uy, Hà Đông Xuyến, Lê Thu Hà…
Tổ chức “ngậm đô la”, bán rẻ đất nước
Thời gian vừa qua, Hội AEDC không ngừng đánh bóng tên tuổi, tích cực hoạt động, đăng tải các bài viết xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm dân chủ, nhân quyền, ra yêu sách đòi thả các đối tượng vi phạm pháp luật. Mục đích của hàng loạt hành động
Tạo đột phá trong dạy và học ngoại ngữ
Một trong những mục tiêu quan trọng mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 của Học viện Hậu cần xác định đó là: Học viên tốt nghiệp ra trường phải đạt chuẩn tiếng Anh bậc 3 trở lên; cán bộ khung dưới 40 tuổi đạt trình độ tiếng Anh bậc 2 trở lên; có 15-25% cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phòng, khoa và 40-50% cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, cán bộ chuyên môn kỹ thuật dưới 40 tuổi đạt trình độ ngoại ngữ bậc 4 trở lên (theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam).
Lớp áo ngụy tạo đi ngược với lợi ích quốc gia và dân tộc
Từ lâu, Hội anh em dân chủ (AEDC) ra đời với danh nghĩa một tổ chức xã hội dân sự tiêu chí “Vì một nước Việt: Dân chủ – Văn minh – Pháp trị”, nhưng lại thường xuyên
Huấn luyện giỏi để sẵn sàng chiến đấu cao
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội luôn chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện với mục tiêu huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ và phân đội vững về chính trị, chắc về quân sự, tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm luôn chủ động, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống.
KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SUY THOÁI, " TỰ DIỄN BIẾN ", " TỰ CHUYỂN HOÁ " TRONG NỘI BỘ.
Suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống và " tự diễn biến ", " tự chuyển hóa " là 3 vấn đề được Hội nghị Trung ương 4/Khoá 13 nhận diện sâu rộng, đầy
Việc nghĩa, việc tình trên biên giới Việt - Lào
Những năm qua, thực hiện các dự án khuyến nông trên địa bàn 4 cụm bản của hai tỉnh Xiêng Khoảng và Xay Xổm Bun, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (TNHH MTV) Khoáng sản và Luyện kim Viêng Chăn (Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu 4) đã có nhiều mô hình hiệu quả, giúp nhân dân nước bạn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa hai đất nước...
Nhân lên niềm tự hào
Buổi giáo dục truyền thống cho học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật cấp phân đội, trình độ đại học khóa 67, tác chiến điện tử khóa 9, Học viện Phòng không-Không quân (PK-KQ), Quân chủng PK-KQ tại nhà truyền thống diễn ra trong bầu không khí sôi nổi, hào hứng dưới sự thuyết minh hướng dẫn của Đại úy QNCN Vũ Bùi Ngọc Ngà, nhân viên Nhà văn hóa, Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị.
Sẵn sàng trận địa canh trời
Dù thời tiết mưa-nắng thất thường, bất kể ngày hay đêm, các chiến sĩ làm nhiệm vụ canh trời vẫn duy trì canh trực, luyện tập thuần thục các phương án sẵn sàng chiến đấu.
Xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – Một mưu đồ “hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh”
Xuyên tạc phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Âm mưu, thủ đoạn
Khơi dậy tinh thần ham đọc sách
Sau những giờ huấn luyện căng thẳng, thời gian gần đây, nhiều chiến sĩ trẻ thuộc Lữ đoàn Pháo binh 434 (Quân đoàn 4) thường tìm đến thư viện, phòng Hồ Chí Minh đọc sách, tìm hiểu thông tin, sôi nổi trao đổi, chia sẻ kiến thức, góp phần để đời sống văn hóa tinh thần của đơn vị ngày càng phong phú.
Khổ luyện thành tài
Đến Lữ đoàn Đặc công bộ 113 (Binh chủng Đặc công), được chứng kiến sự điêu luyện về võ thuật, kỹ năng bắn các loại súng cùng khả năng "làm xiếc" trên nhà cao tầng, vượt vật cản của cán bộ, chiến sĩ, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng.
GIÁM MỤC NGUYỄN HỮU LONG KHUYÊN GIÁO DÂN GIÁO PHẬN VINH
Cùng với việc chấn chỉnh sinh hoạt tôn giáo ở một số nơi, thuyên chuyển mục vụ một số linh mục và quyết định treo chén vài linh mục không làm tròn chức trách bổn phận mục
Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ chính sách quốc phòng Việt Nam hiện nay
Hiện nay, cùng với thực thi chính sách quốc phòng “bốn không”, Việt Nam cũng chủ trương thực hiện “bốn tránh”: tránh xung đột về quân sự; tránh bị cô lập về kinh tế; tránh bị cô lập về ngoại giao; tránh bị lệ thuộc về chính trị. Đây là hệ thống đồng bộ các quan
Đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay
Tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Đại hội XIII của Đảng đánh dấu sự phát triển sang một thời kỳ
mới trong đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng, đòi hỏi tăng cường phát huy sức
mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua con đường hữu hiệu
nhất là thực hiện tốt hơn, mạnh mẽ hơn quyền làm chủ của mỗi người dân Việt Nam
yêu nước và tiến bộ. Để góp phần thực hiện định hướng đó, cần tối ưu hóa hiệu
quả giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của nhân dân, coi đó là một công cụ thiết thực để thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân một cách thực chất.
Tối ưu hóa hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội được hiểu là
làm sao để hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội đạt đến mức tốt nhất trong
hoàn cảnh cho phép. Muốn vậy, trước hết cần xác định hệ tiêu chí để đánh giá
hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước
ta hiện nay, có thể nêu lên một số tiêu chí sau đây:
- Lựa chọn đúng vấn đề để tiến hành giám sát, phản biện xã hội là
những vấn đề bức thiết của nhân dân, đòi hỏi phải được can thiệp để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
- Xác định đúng chủ thể giám sát, phản biện xã hội, tạo điều
kiện cần và đủ để bảo đảm hiệu quả giám sát, phản biện xã hội tối ưu nhất.
- Lựa chọn phương thức giám sát, phản biện xã hội phù hợp với
khách thể giám sát, phản biện.
- Kết luận của giám sát, phản biện xã hội phải có tính thuyết
phục cao.
- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm tăng cường
đồng thuận và đoàn kết xã hội, đoàn kết quốc tế, được nhân dân đồng tình, ủng
hộ.
Những tiêu chí trên đây thể hiện bản chất và yêu cầu của hoạt
động giám sát, phản biện xã hội, phân biệt rõ sự khác nhau của hoạt động này
với việc đóng góp ý kiến, phản ánh, kiến nghị, khuyến cáo... mà lâu nay vẫn
thường được thực hiện và thường ngộ nhận rằng đó chính là giám sát, phản biện
xã hội.
Muốn đạt hiệu quả tối ưu, cần phải tạo những điều kiện tối ưu để
thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Từ kinh nghiệm thực tế, để đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ phát huy dân chủ mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần có những điều
kiện sau đây:
Thứ nhất, điều kiện quan
trọng hàng đầu là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm quán triệt sâu sắc quan
điểm, chủ trương của Đảng về phát huy vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân,
khẳng định về sự cần thiết khách quan của giám sát, phản biện xã hội trong toàn
Đảng, trong hệ thống chính trị và trong nhân dân; khắc phục sự chần chừ, ngần
ngại, đề phòng và bác bỏ những quan điểm sai lệch, tiêu cực; bảo đảm tính tự
nguyện của chủ thể và khách thể giám sát, phản biện xã hội.
Thứ hai, xây dựng hệ
thống thể chế pháp luật đồng bộ và nhất quán, bảo đảm tính công khai, minh bạch
trong thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân cho các chủ thể
phản biện; chú trọng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã
hội, các phương tiện thông tin đại chúng và người dân.
Thứ ba, tạo ra những hình thức
và giải pháp để gắn bó quan hệ giữa hệ thống lãnh đạo, quản lý các cấp với các
tầng lớp nhân dân, để hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về tâm tư, nguyện vọng của nhân
dân. Hiểu thấu lòng dân là điều kiện quan trọng để giám sát, phản biện xã hội
có hiệu quả; trong đó, chú trọng đến các hình thức, như thăm dò dư luận xã hội,
trưng cầu dân ý, đối thoại và tiếp xúc với nhân dân một cách thực chất.
Thứ tư, bảo đảm tự do ngôn luận,
tự do báo chí theo quy định của pháp luật. Thực hiện cơ chế để tôn trọng những
ý kiến khác nhau khi không trái với lợi ích chung.
Thứ năm, tạo cơ chế tự chủ
trong hoạt động của các chủ thể giám sát, phản biện xã hội, nhằm bảo đảm tính
khách quan của giám sát, phản biện xã hội.
Tạo ra những điều kiện trên đây là một quá trình chuyển động
không đơn giản, đòi hỏi sự chuyển đổi từ quan điểm, nhận thức đến cơ chế vận
hành và tổ chức cán bộ. Vấn đề không dừng ở những nội dung tác nghiệp, những
khâu nghiệp vụ của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, mà là sự đổi mới tư duy
và hành động thực hành dân chủ. Bao trùm lên tất cả là cần xuất phát từ động cơ
trong sáng, một lòng vì nước, vì dân, bằng mọi cách bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của nhân dân. Mặc dù chủ trương giám sát, phản biện xã hội là
đúng đắn, hợp lòng dân, nhanh chóng được xã hội hưởng ứng, nhưng hiệu quả của
chủ trương này chưa được như mong muốn, do vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số
điều kiện cần và đủ cho hoạt động này.
Người dân trở thành trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - đó là vinh dự và trách nhiệm to lớn; song, nhân
dân mong muốn được giám sát, phản biện một cách thực chất để những chủ trương,
chính sách, pháp luật đi vào được cuộc sống, để quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của người dân được bảo đảm và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
HAIVAN
Giám sát, phản biện xã hội thể hiện bản chất dân chủ của chế độ ta.
Một trong những bài học kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đã
khẳng định là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt
sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung
tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Muốn vậy,
mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu,
nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải hiểu rõ
lòng dân và thắt chặt mối quan hệ với nhân dân, hết lòng tin cậy và dựa vào
nhân dân để xây dựng Đảng; tất cả mọi chính sách, mọi hoạt động của hệ thống
chính trị đều phấn đấu cho mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc, ấm no thật sự cho
nhân dân; chỉ có như vậy, mới giữ vững, củng cố và tăng cường lòng tin cậy của
nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Tư tưởng “dân là gốc” là tư tưởng tiến bộ của nhân loại, được
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (năm 1927), là
sợi chỉ đỏ xuyên suốt và được vận dụng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ từng giai
đoạn lịch sử cụ thể. Đại hội XIII của Đảng khẳng định lại tư tưởng này và đặt
ra yêu cầu cho giai đoạn hiện nay của nước ta. Nhân dân được xác định là trung
tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có
nghĩa là nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ cao nhất trong sự nghiệp to lớn,
vinh quang này và điều đó cũng chính là thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Sự ra đời và mọi hoạt động của hệ
thống chính trị nước ta (bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội), xét về bản chất, đều là thực hiện sự ủy quyền
của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho hệ thống chính trị, nhưng giữ lại quyền
giám sát và phản biện xã hội để kiểm soát việc thực hiện sự ủy quyền đó. Việc
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là một quá trình tất yếu và phụ thuộc vào
điều kiện chủ quan và khách quan ở từng lúc, từng nơi, từng con người cụ thể.
Giám sát và phản biện xã hội là một con đường để thực hiện dân
chủ, một công cụ có hiệu quả để thực hiện vai trò làm chủ của nhân dân, thể
hiện quan điểm “dân là gốc”. Nó tồn tại một cách khách quan trong phát triển xã
hội và có tác dụng, hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ.
Từ khi trở thành chính đảng tiên phong lãnh đạo cách mạng nước
ta, nhất là từ khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất
quán quan điểm coi dân chủ là bản chất của chế độ và quán triệt quan điểm đó
trong đường lối, chủ trương và trong hoạt động lãnh đạo đất nước của mình. Sự
ra đời của đường lối đổi mới và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công
cuộc đổi mới là sản phẩm của quá trình thực hiện dân chủ; trong đó, hàm chứa
quá trình không ngừng giám sát và phản biện của các lực lượng xã hội. Mặc dù
trong các nghị quyết của Đảng khi bắt đầu quá trình đổi mới chưa dùng khái niệm
“giám sát, phản biện xã hội”, cũng như chưa thực hiện đầy đủ việc giám sát,
phản biện xã hội theo đúng nghĩa hiện nay, nhưng những yếu tố của hoạt động
giám sát, phản biện xã hội đã được thực hiện trên thực tế, mang lại hiệu quả và
tác động tích cực, góp phần đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không
ngừng vượt qua những khó khăn, thách thức, khắc phục dần những hạn chế, khuyết
điểm để đi đến thành tựu của ngày hôm nay.
Đại hội X của Đảng lần đầu tiên chính thức đặt vấn đề giám sát
của quần chúng nhân dân đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng
viên để thực hiện dân chủ, và coi đó là nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nước cần tạo cơ chế để thực hiện tốt
nhiệm vụ đó. Kế thừa kinh nghiệm của quá khứ, thực hiện chủ trương của Đại hội
X của Đảng và các văn bản quy định của Đảng, Nhà nước, các lực lượng xã hội
tiếp tục thực hiện giám sát, phản biện xã hội với những bước phát triển mới. Ở
nước ta hiện nay, có các lực lượng xã hội đông đảo tham gia hoạt động giám sát,
phản biện xã hội dưới các hình thức đối với chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát
triển, quy hoạch, dự án... của các ngành, các địa phương, kể cả công tác tổ
chức cán bộ. Những lực lượng đó là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp,
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
các hiệp hội doanh nghiệp, truyền thông, báo chí, tổ chức, cá nhân độc lập và
các chủ thể chính thức, phi chính thức, trong đó cần nhấn mạnh là Hội đồng Lý
luận Trung ương và Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ... Đó là một lực lượng đa
dạng, thể hiện tính quần chúng, tính xã hội rộng rãi của hoạt động giám sát,
phản biện xã hội.
Hiến pháp và luật pháp của Nhà nước ta công nhận quyền và nghĩa
vụ công dân, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực
hiện giám sát, phản biện xã hội của công dân. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã
quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của nhân dân và tạo địa vị pháp lý, trách nhiệm và quyền
hạn giám sát, phản biện xã hội cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 12-12-2013,
Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW, “Ban hành Quy chế giám sát và
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã
hội”; và Quyết định số 218-QĐ/TW, “Ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng
Đảng, xây dựng chính quyền”. Những văn bản quan trọng đó đã thể hiện quyết tâm
chính trị của Đảng và Nhà nước, với quan điểm và định hướng đúng đắn cho hoạt
động giám sát, phản biện xã hội, nhằm khơi dậy và thúc đẩy động lực dân chủ từ
trong nhân dân, để từng bước hình thành môi trường thuận lợi cho hoạt động giám
sát, phản biện xã hội.
Thực tiễn cho thấy, hoạt động giám sát, phản biện xã hội nhằm
đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thời
gian qua đã có hiệu quả tích cực, cụ thể là:
- Góp phần nâng cao chất lượng các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định:
Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình
thành đường lối đổi mới của Đảng.
- Tăng cường trách nhiệm của Đảng, Nhà nước; gắn bó hơn nữa quan
hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; giúp Đảng, Nhà nước hiểu rõ hơn tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân.
- Tăng cường tính năng động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa tinh
thần trách nhiệm đối với nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
- Góp phần kiểm soát các xung đột ngôn luận, không để chuyển các
xung đột này trở thành xung đột xã hội, giữ vững ổn định chính trị.
Trên con đường phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của người dân, các yếu tố của giám sát, phản biện xã hội đã từng
bước hình thành. Tuy mới chỉ là bước đầu, nhưng kết quả này đã nhanh chóng được
đông đảo nhân dân hưởng ứng và có tác động nhất định trong việc tạo dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với nước ta, góp phần tích cực vào thành công
của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân với
Đảng, Nhà nước, với chế độ chính trị. Có thể nói rằng, quá trình đổi mới, xét
về thực chất, là quá trình không ngừng dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội,
bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế cho đến mọi lĩnh vực khác, trong đó có sự đóng góp
tích cực bởi hiệu quả của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.
Tuy nhiên, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân vẫn còn nhiều hạn
chế, cụ thể là:
- Phạm vi hoạt động giám sát, phản biện còn hạn hẹp, nhiều nội
dung liên quan đến các vấn đề “quốc kế dân sinh”, đến quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của người dân vẫn chưa được giám sát, phản biện, bảo vệ. Việc
giám sát mới chỉ tiến hành với cá nhân, chưa được tiến hành với đơn vị, tổ
chức.
- Không ít hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn chưa đáp ứng
yêu cầu về chất lượng, còn mang tính hình thức, phần nhiều mới dừng ở sự góp ý
một chiều, mang tính phản ánh tình hình, mà chưa đi sâu làm rõ bản chất của sự
việc, hiện tượng theo đúng yêu cầu của giám sát, phản biện xã hội.
- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa được thực hiện và
phối hợp giữa những chủ thể có liên quan, còn mang tính riêng lẻ, nên chưa tạo
được sức mạnh tổng hợp và đồng bộ.
Nhìn chung, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân chưa được như mong muốn,
một số nơi chưa tạo được niềm tin của nhân dân đối với các chủ thể giám sát,
phản biện; quyền làm chủ thực sự của người dân còn có những hạn chế nhất định.
Nguyên nhân của thực trạng đó có thể tìm thấy trên cả hai mặt
chủ quan và khách quan. Về khách quan, do những tàn dư của lịch sử
để lại, đó là một nền dân chủ tuy ngày càng tiến bộ rõ rệt nhưng vẫn còn
nhiều bất cập và mang dấu ấn tư tưởng gia trưởng phong kiến, chịu ảnh hưởng tàn
dư tập quán tiểu nông, dễ an phận, ngại đối diện, biện luận; trong khi
đó, về chủ quan, việc thể chế hóa chủ trương giám sát, phản biện xã
hội còn nhiều hạn chế, thiếu cụ thể, thiếu chế tài ràng buộc quyền và trách
nhiệm giữa các bên có liên quan, nhất là thiếu sự đồng bộ giữa các chỉ thị,
nghị quyết của Đảng với hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước. Sự hạn chế đó
đã chẳng những không thúc đẩy được việc thực hiện một cách nghiêm túc giám sát,
phản biện xã hội, mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân với hoạt động này.
Trên thực tế, việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội với phương châm rất
sáng tạo được đề ra từ hai thập niên trước, nay được bổ sung, phát triển thành
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn phụ
thuộc vào phẩm chất, năng lực của từng con người, từng chủ thể, mà trước hết là
người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong môi trường xã hội nước ta, cơ
chế và con người còn bất cập là hai yếu tố cơ bản chưa thuận lợi cho việc giám
sát, phản biện xã hội. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hiệu quả của
giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình và sự mong
mỏi của nhân dân.
Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là “nội chiến”
“Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ"
Trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ.
Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”... Lời dạy của Người là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ cũng như toàn quân chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích trong kháng chiến và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn đã chứng minh, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy vũ khí, trang bị của Quân đội ta còn thua kém địch gấp nhiều lần, nhưng nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, gian khổ, phấn đấu rèn luyện, bộ đội ta vừa chiến đấu, lấy vũ khí của địch đánh địch, vừa tự nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí mới. Chiến thắng Điện Biên Phủ chứng minh lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới, quân đội của một nước nhỏ, trang bị thô sơ, chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, đã đánh bại đội quân nhà nghề, được trang bị hiện đại của một cường quốc thực dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cùng toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội như: Ấp Bắc, Vạn Tường, Ba Gia, Plây Me, Đường 9-Nam Lào... Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, vận chuyển vũ khí, lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhờ vậy, bộ đội ta càng đánh càng mạnh, dũng mãnh tiến công địch rộng khắp ở cả vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ tham gia Chiến dịch Biên giới năm 1950. Ảnh: TTXVN |
Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo, vượt mọi khó khăn, gian khổ để nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ). Từ thực tiễn huấn luyện, SSCĐ và công tác, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được phát huy, lan tỏa, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Các đơn vị trong toàn quân luôn chủ động nâng cao chất lượng huấn luyện với tư duy đổi mới, sáng tạo, làm sao cho bộ đội nắm chắc, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị được biên chế, hiểu và vận dụng các hình thức tác chiến, thủ đoạn chiến đấu, giỏi tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng với các điều kiện và quy mô khác nhau... góp phần nâng cao khả năng SSCĐ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tại Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games) 2021 vừa qua, Đoàn QĐND Việt Nam đã nêu cao tinh thần và ý chí quyết tâm phấn đấu, rèn luyện, thể hiện năng lực, tư duy chỉ huy, tham mưu, tư duy chiến thuật và khai thác sử dụng trang bị khí tài hiện có. Qua hội thao giúp chúng ta học hỏi thêm về phương pháp tổ chức huấn luyện, SSCĐ của quân đội các nước bạn, từ đó bổ sung những nội dung phù hợp, vận dụng hiệu quả vào chương trình huấn luyện sát với tình hình thực tiễn, phù hợp với nghệ thuật quân sự và cách đánh của bộ đội ta.
Với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, các đơn vị quân đội đã góp phần xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng khu vực phòng thủ, tăng cường quốc phòng-an ninh, phát triển kinh tế-xã hội; tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa mới trong các khu dân cư; chăm sóc sức khỏe cộng đồng và các hoạt động an sinh xã hội...
Bằng sự chủ động, sáng tạo, kết hợp huấn luyện với thực hiện Phong trào thi đua “dân vận khéo”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã phối hợp triển khai hiệu quả các chương trình, như: “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, hành trình “Quân đội chung tay vì người nghèo-không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Nâng bước em tới trường”, “Bò giống giúp người nghèo nơi biên giới”, “Con nuôi đồn biên phòng”, “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân”, “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển"... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng-an ninh, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới trên các địa bàn chiến lược; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Không chỉ thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, quân đội còn nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác. Đặc biệt, trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, quân đội đã triển khai hàng trăm điểm cách ly, tổ chức cách ly cho hàng trăm nghìn người dân. Để canh giữ biên cương, hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ không quản nguy hiểm đến tính mạng, tổ chức hàng nghìn chốt chặn giữa rừng sâu để ngăn chặn dịch tràn vào đất nước. Các đơn vị phối hợp với địa phương phong tỏa, cách ly, tiêu độc, khử trùng, dập dịch; thành lập các tổ, đội cơ động phòng, chống dịch tại các đơn vị, lập các bệnh viện dã chiến, sẵn sàng tiếp nhận, điều trị..., được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.
Trong cuộc chiến phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ-cứu nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, quân đội luôn xung kích đi đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với tinh thần “Cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, trong năm 2021, nhiều cán bộ, chiến sĩ quân đội không quản gian khổ, hy sinh có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy, giúp dân phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả mưa lũ, tìm kiếm cứu nạn. Càng trong gian khó, hiểm nguy, trong mất mát, đau thương thì tình quân dân lại càng thêm ngời sáng. Không ai có thể quên được những trận bão lũ lịch sử tại miền Trung xảy ra vào tháng 10 và tháng 11-2020. Các địa danh như: Rào Trăng (Thừa Thiên Huế), Trà Leng, Phước Sơn (Quảng Nam) đều in dấu chân Bộ đội Cụ Hồ. Ngay tại khu vực Thủy điện Rào Trăng 3, trong mưa gió, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cần mẫn đào từng mét đất, mò tìm dọc triền sông, suối tìm kiếm người dân mất tích. Để có được cuộc sống bình yên cho nhân dân, biết bao người lính đã ra đi không trở về...
Trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam cần tiếp tục học tập và thực hiện tốt lời căn dặn của Bác, tiếp tục phát huy truyền thống vượt khó, không ngừng học tập và rèn luyện, nâng cao trình độ nhận thức chính trị, xây dựng động cơ, quyết tâm cao, rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trên từng cương vị công tác, mỗi quân nhân phải nâng cao nhận thức, kiên định lập trường cách mạng, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, không ngừng phấn đấu vươn lên vượt qua khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt chức trách được giao. Càng trong khó khăn, gian khổ, bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng phải được khẳng định, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trong điều kiện các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ quân đội chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần, đồng thời lợi dụng các vụ việc vi phạm kỷ luật của một số cán bộ, chiến sĩ để đưa ra những luận điệu xuyên tạc trắng trợn hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, do đó cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho bộ đội về tầm quan trọng của việc phấn đấu, rèn luyện xứng danh Bộ đội Cụ Hồ với các chuẩn mực: Kiên định vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao, hành động đẹp, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt; dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết, tôn trọng, gắn bó máu thịt với nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Muốn vậy, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác; tỉnh táo, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Nhất là phát huy tinh thần trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp. Chính sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp ủy và chỉ huy các cấp có vai trò, tác động rất lớn, tạo nên sự đoàn kết gắn bó trong thực hiện nhiệm vụ, qua đó mà không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị và xây dựng quân đội.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, ý chí quyết tâm và ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quân đội sẽ quyết định chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ quân đội càng phải gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; luôn gần gũi, quan tâm chăm lo đời sống bộ đội, tạo điều kiện để họ phấn đấu, rèn luyện, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Nguồn: QĐND.








