Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

Tại sao Việt Nam phải tự chủ kinh tế trong thời gian sắp tới?

 Phát biểu tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam lần thứ 4 được tổ chức tại TP.HCM vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh rằng, việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự

Cái kết của những kẻ bán rẻ lương tâm

 


Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát, những hoạt động của Hội AEDC không thể qua được mắt của lực lượng chức năng, các đối tượng từ kẻ cầm đầu lần lượt sa lưới pháp luật. Ngày 5/4/2018, Nguyễn Văn Đài cùng các đối tượng Phạm Văn Trội, Nguyễn Trung Tôn,

Hiểu về lợi ích quốc gia - dân tộc

Lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là kim chỉ nam trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nó bao hàm trong đó “tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, thể hiện sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia, dân tộc”.

Lợi ích quốc gia không phải lúc nào cũng đồng nhất với lợi ích dân tộc. “Lợi ích quốc gia thiên về đại diện lợi ích của giai cấp cầm quyền. Lợi ích dân tộc thường được hiểu là lợi ích của mọi người dân của một nước. Khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc có hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên”. Đã từng có trường hợp, giới cầm quyền hy sinh lợi ích dân tộc vì lợi ích giai cấp, lợi ích phe nhóm. Năm 1870, khi thủ đô Paris (Pháp) bị quân Phổ bao vây thì Chính phủ vệ quốc của giai cấp tư sản lại đầu hàng, không đứng về phía nhân dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc.  

Nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc cũng có sự khác nhau trong từng thời điểm lịch sử. Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc là độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc không chỉ là giành độc lập dân tộc để giữ chủ quyền lãnh thổ mà còn là đi lên CNXH. Nhưng trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mục tiêu độc lập dân tộc, giữ chủ quyền lãnh thổ được đặt lên trên. 

Từ khi thống nhất đất nước đến nay, lợi ích cốt lõi quốc gia - dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN. Hiện nay, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam được thống nhất với nội hàm bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Ngày nay, lợi ích giữa các quốc gia được thể hiện trên cơ sở vừa hợp tác, vừa cạnh tranh quyết liệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo, song bên cạnh đó vẫn có những mâu thuẫn, xung đột diễn ra dưới nhiều hình thức rất phức tạp. Vì vậy, việc bảo đảm được lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hệ trọng đối với mỗi quốc gia nhằm bảo vệ đất nước và thực hiện hợp tác quốc tế. 

Trong khi đó, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm đang là một trong những nguy cơ gây tổn hại đến sự phát triển đất nước, lợi ích của nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chỉ có thể giữ vững những thành quả cách mạng mà chúng ta đã đạt được khi “luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng”.

Những thành tựu, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam đạt được như ngày nay đã chứng minh quan điểm đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt.

 

Thư ký Lê Hà Thu có “máu” chống đối từ nhỏ

 


Không chỉ vậy, Hội AEDC còn sở hữu một “thư ký” mẫn cán mang tên Lê Thu Hà, đối tượng si mê hoạt động chống phá Việt Nam. Tuy là người con sinh ra trong một gia đình có

Hà Đông Xuyến, “mỹ nhân” trong làng “Dân chủ”

 


Tham gia điều hành Hội anh em dân chủ còn có đối tượng Hà Đông Xuyến, Ủy viên Trung ương tổ chức khủng bố Việt Tân. Không phải nghiễm nhiên mà đối tượng này tham gia tổ

Nguyễn Văn Đài, kẻ cầm đầu hội anh em dân chủ đội lốt “Luật sư”

 


Đi sâu tìm hiểu hàng ngũ cốt cán của tổ chức này mới nhận ra sự chống phá ác liệt của AEDC đến từ những cái tên chống đối nổi cộm “Luật sư Nguyễn Văn Đài”, Phạm Văn Trội, Đinh Nhật Uy, Hà Đông Xuyến, Lê Thu Hà…

Tổ chức “ngậm đô la”, bán rẻ đất nước

 


Thời gian vừa qua, Hội AEDC không ngừng đánh bóng tên tuổi, tích cực hoạt động, đăng tải các bài viết xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm dân chủ, nhân quyền, ra yêu sách đòi thả các đối tượng vi phạm pháp luật. Mục đích của hàng loạt hành động

Tạo đột phá trong dạy và học ngoại ngữ

 

Một trong những mục tiêu quan trọng mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 của Học viện Hậu cần xác định đó là: Học viên tốt nghiệp ra trường phải đạt chuẩn tiếng Anh bậc 3 trở lên; cán bộ khung dưới 40 tuổi đạt trình độ tiếng Anh bậc 2 trở lên; có 15-25% cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phòng, khoa và 40-50% cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, cán bộ chuyên môn kỹ thuật dưới 40 tuổi đạt trình độ ngoại ngữ bậc 4 trở lên (theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam).

Lớp áo ngụy tạo đi ngược với lợi ích quốc gia và dân tộc

 


Từ lâu, Hội anh em dân chủ (AEDC) ra đời với danh nghĩa một tổ chức xã hội dân sự tiêu chí “Vì một nước Việt: Dân chủ – Văn minh – Pháp trị”, nhưng lại thường xuyên

Huấn luyện giỏi để sẵn sàng chiến đấu cao

 

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội luôn chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện với mục tiêu huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ và phân đội vững về chính trị, chắc về quân sự, tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm luôn chủ động, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SUY THOÁI, " TỰ DIỄN BIẾN ", " TỰ CHUYỂN HOÁ " TRONG NỘI BỘ.

 


Suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống và " tự diễn biến ", " tự chuyển hóa " là 3 vấn đề được Hội nghị Trung ương 4/Khoá 13 nhận diện sâu rộng, đầy

Việc nghĩa, việc tình trên biên giới Việt - Lào

 

Những năm qua, thực hiện các dự án khuyến nông trên địa bàn 4 cụm bản của hai tỉnh Xiêng Khoảng và Xay Xổm Bun, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (TNHH MTV) Khoáng sản và Luyện kim Viêng Chăn (Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu 4) đã có nhiều mô hình hiệu quả, giúp nhân dân nước bạn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa hai đất nước...

Nhân lên niềm tự hào

 

Buổi giáo dục truyền thống cho học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật cấp phân đội, trình độ đại học khóa 67, tác chiến điện tử khóa 9, Học viện Phòng không-Không quân (PK-KQ), Quân chủng PK-KQ tại nhà truyền thống diễn ra trong bầu không khí sôi nổi, hào hứng dưới sự thuyết minh hướng dẫn của Đại úy QNCN Vũ Bùi Ngọc Ngà, nhân viên Nhà văn hóa, Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị.

Sẵn sàng trận địa canh trời

 

Dù thời tiết mưa-nắng thất thường, bất kể ngày hay đêm, các chiến sĩ làm nhiệm vụ canh trời vẫn duy trì canh trực, luyện tập thuần thục các phương án sẵn sàng chiến đấu.

Xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – Một mưu đồ “hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh”

 


Xuyên tạc phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Âm mưu, thủ đoạn

Khơi dậy tinh thần ham đọc sách

 

Sau những giờ huấn luyện căng thẳng, thời gian gần đây, nhiều chiến sĩ trẻ thuộc Lữ đoàn Pháo binh 434 (Quân đoàn 4) thường tìm đến thư viện, phòng Hồ Chí Minh đọc sách, tìm hiểu thông tin, sôi nổi trao đổi, chia sẻ kiến thức, góp phần để đời sống văn hóa tinh thần của đơn vị ngày càng phong phú.

Khổ luyện thành tài

 

Đến Lữ đoàn Đặc công bộ 113 (Binh chủng Đặc công), được chứng kiến sự điêu luyện về võ thuật, kỹ năng bắn các loại súng cùng khả năng "làm xiếc" trên nhà cao tầng, vượt vật cản của cán bộ, chiến sĩ, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng.

GIÁM MỤC NGUYỄN HỮU LONG KHUYÊN GIÁO DÂN GIÁO PHẬN VINH

 


Cùng với việc chấn chỉnh sinh hoạt tôn giáo ở một số nơi, thuyên chuyển mục vụ một số linh mục và quyết định treo chén vài linh mục không làm tròn chức trách bổn phận mục

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ chính sách quốc phòng Việt Nam hiện nay


Hiện nay, cùng với thực thi chính sách quốc phòng “bốn không”, Việt Nam cũng chủ trương thực hiện “bốn tránh”: tránh xung đột về quân sự; tránh bị cô lập về kinh tế; tránh bị cô lập về ngoại giao; tránh bị lệ thuộc về chính trị. Đây là hệ thống đồng bộ các quan

Đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

TCCS - Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác tư tưởng chính trị, công tác lý luận của Đảng, đòi hỏi phải ngày càng toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh - âm mưu ngoan cố, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp chính trị cao cả, một di sản tư tưởng lý luận đồ sộ, vô giá và trở thành một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và đã kiên trì vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động không từ thủ đoạn thâm độc nào, điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Dã tâm đó bắt đầu từ sớm, được thực hiện bởi chủ nghĩa thực dân câu kết với chủ nghĩa chống cộng, âm mưu thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng dập tắt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được gia tăng, gắn liền với những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ và xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mới giành được. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế lực thù địch, phản động tập trung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, sau đó từ năm 1954 thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất nước nhà. Khi cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng văn hóa, tinh thần của dân tộc, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng, nhất là khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thì các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng tìm mọi cách chống phá với nhiều thủ đoạn thâm độc, phương thức tinh vi, xảo quyệt hơn. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách và phẩm giá, đến đánh giá phiến diện, sai trái; thậm chí, nguy hiểm hơn, chúng còn ca tụng một cách cực đoan, hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và với Đảng Cộng sản Việt Nam… Tất cả những âm mưu và thủ đoạn thâm độc đó của các thế lực thù địch, phản động đều nhằm phủ nhận giá trị và cống hiến to lớn từ cuộc đời và sự nghiệp của Người đối với dân tộc, từ đó phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Bác Hồ; mưu đồ gây ra những bất ổn chính trị, tạo cớ cho sự can thiệp từ bên ngoài để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong chiến lược chống cộng, chiến lược “diễn biến hòa bình”, các nước đế quốc và các thế lực phản động rắp tâm tìm mọi cách “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, bài bác, phủ nhận tư tưởng của Người, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, âm mưu “lật đổ” trên lĩnh vực tư tưởng, mở đường cho cuộc lật đổ về chính trị. Phương thức hoạt động chủ yếu hiện nay của các thế lực phản động quốc tế là tiến hành chiêu dụ, cấp tiền, o bế các tổ chức phản động lưu vong, lập nhiều quỹ với danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện” để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, hình thức tuyên truyền từ bên ngoài tác động vào bên trong, nhất là qua các trang thông tin quốc tế có xu hướng cực hữu chính trị, chống cộng, các phương tiện truyền thông xã hội, các đài phát thanh, kênh truyền hình… của một số đối tượng phản động, lưu vong, tổ chức phi chính phủ ở một số nước phương Tây. Bên cạnh đó, ở trong nước, một số đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị được hậu thuẫn của tổ chức phản động nước ngoài, cũng ráo riết thực hiện hành vi tuyên truyền xuyên tạc thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng nhiều chiêu trò, nhất là sử dụng kỹ thuật, công nghệ chỉnh sửa, cắt ghép tư liệu lịch sử, tranh ảnh, phim tư liệu… để xuyên tạc, ngụy tạo những câu chuyện hoang đường, không có thật về Người. Thâm độc hơn, chúng cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, đan cài thật - giả lẫn lộn, hòng làm vấy bẩn, bóp méo, xuyên tạc bản chất mác-xít, tính cách mạng, khoa học, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Quyết tâm, nỗ lực bền bỉ của Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân trong bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta - có mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Các văn kiện của Đảng thể hiện rõ và nhất quán quan điểm, nhận định, đánh giá về giá trị, cống hiến của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, qua đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị và củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo là, vững vàng kiên định và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó tạo cơ sở, khuôn khổ pháp lý để ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Trong các bộ luật, các luật có điều khoản quy định về xử lý hành vi truyền bá, xuyên tạc tư tưởng và đường lối của Đảng, trong đó có xuyên tạc lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, như tại Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 10 Luật Xuất bản năm 2012; Điều 9 Luật Báo chí năm 2016; Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2018… Công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh là Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và các cấp, nhất là ban chỉ đạo 35 của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Hội đồng Lý luận Trung ương... cùng hệ thống các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản với hàng trăm tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, tuyên truyền viên… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, các bộ, ngành, địa phương trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng ngày càng chặt chẽ với vai trò “lĩnh xướng” và sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, ban chỉ đạo 35 các cấp; sự hợp tác, phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc trao đổi, cung cấp, xử lý thông tin và phối hợp đấu tranh. Phương thức đấu tranh là vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng thù địch, phản động và có hình thức, biện pháp xử lý phù hợp tùy theo mức độ vi phạm; định hướng tuyên truyền, cung cấp đầy đủ thông tin chính thống, quản lý tốt nguồn thông tin, ngăn chặn kịp thời các thông tin, tài liệu sai trái; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy những kết quả từ sự vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng nước ta làm minh chứng sống động, thuyết phục để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, phản động... Với các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, chúng ta sử dụng, phối hợp các biện pháp, từ tuyên truyền, phản bác dựa vào luật pháp Việt Nam và quốc tế, đến sử dụng biện pháp ngoại giao để ngăn chặn từ xa, kịp thời. Đối với các tổ chức phản động lưu vong, các cơ quan chức năng của Việt Nam đề nghị phía chính quyền nước sở tại phối hợp điều tra, ngăn chặn. Ngoài ra, dựa theo các căn cứ pháp lý của Việt Nam, như Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT và Luật An ninh mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trao đổi, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài (như Google, Facebook) gỡ bỏ nhiều thông tin vi phạm. Đối với các đối tượng ở trong nước, tùy vào mức độ vi phạm, các cơ quan chức năng có biện pháp từ giáo dục, yêu cầu gỡ bỏ, xử phạt hành chính đến xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Lực lượng 47 (Bộ Quốc phòng), các lực lượng thuộc Bộ Công an, như Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao... đã vô hiệu hóa được nhiều kế hoạch, “chiến dịch” của các tổ chức phản động lưu vong, các chương trình truyền hình, phát thanh tiếng Việt có nội dung bôi nhọ, xuyên tạc lãnh tụ và Đảng, Nhà nước; dựng “tường lửa” ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa, tư tưởng xấu, độc trên mạng. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật (nay hợp nhất thành Ban Chỉ đạo 35 Trung ương); cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã kiên trì, kiên quyết phản bác lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc; định hướng tuyên truyền kịp thời, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời, tăng cường hoạt động thông tin đối ngoại, mở thêm phiên bản tiếng nước ngoài của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản…, tích cực đưa những thông tin đầy đủ, chính thống về Việt Nam đến với bạn bè thế giới và các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố vững chắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần xã hội. Xuất bản các bộ sách lớn như Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập), Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử (10 tập)… với hàng nghìn tư liệu, sự kiện, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, tiêu biểu như Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước KX. 02, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với 13 đề tài nhánh, cùng hàng trăm đề tài khoa học các cấp; bên cạnh đó, hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xuất bản, đăng tải trên các phương tiện truyền thông, qua đó, góp phần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của Người trong toàn xã hội, bổ sung những nguồn tư liệu quý, những luận cứ xác đáng, thuyết phục, tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn những giá trị, tầm vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các cơ quan nghiên cứu, truyền bá, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học của Đảng và Nhà nước, như Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam… đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm ngày càng vững chắc đấu tranh phản bác, bẻ gãy từ gốc bằng lý luận các luận điệu sai trái, thù địch, phản động. Bên cạnh đó, công tác lý luận của Đảng tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ; trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, càng khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, tiếp tục soi sáng, dẫn dắt sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta đi đến thắng lợi. Ban chỉ đạo 35 các địa phương đã kịp thời tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy các cấp; phối hợp hoạt động của các thành viên ban chỉ đạo 35, của các nhóm chuyên gia; xây dựng chương trình trọng tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phù hợp với đặc điểm, tình hình từng địa phương. Ban chỉ đạo 35 các địa phương tập trung nắm chắc tình hình dư luận xã hội, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; báo cáo cơ quan thường trực để tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác định hướng thông tin, tuyên truyền; bám sát sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị nhằm chủ động đấu tranh ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trên địa bàn. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức thành viên tích cực tuyên truyền sâu rộng để các tầng lớp nhân dân nhận rõ bản chất âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đồng thuận xã hội, bảo đảm sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động; huy động sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào cuộc đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch, phản động. Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, nhưng công tác bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém. Một số cấp ủy đảng, người đứng đầu đơn vị vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác trên, nên lãnh đạo, chỉ đạo chưa sát sao, kịp thời, dẫn đến sự phối hợp giữa các lực lượng đấu tranh chưa thực sự đồng bộ, gắn kết chặt chẽ và hiệu quả. Còn thiếu chương trình khoa học cấp nhà nước mang tầm quốc gia về vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Nhiều bài viết đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao, thiếu thuyết phục người đọc... Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh trên không gian mạng vẫn rất gay go, phức tạp; do tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, cùng sự suy thoái, “tự diễn biến” của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay... đã và đang làm hạn chế hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Một số giải pháp cần tập trung thực hiện để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời để khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp: Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng, nâng cao nhận thức của người đứng đầu cấp ủy ở các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề ra. Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, hình thành ý thức tự giác, thúc đẩy hành động tích cực trong việc bảo vệ, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh. Thứ ba, nhận diện và phân loại từng đối tượng, trên cơ sở xem xét ở nhiều mặt như động cơ, vai trò, nội dung các luận điệu, mức độ tác động… để đưa ra biện pháp đấu tranh thích hợp và có hiệu quả; tránh tình trạng hoặc xử lý thiếu kiên quyết, không triệt để hoặc cực đoan, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá. Thứ tư, tăng cường các giải pháp về kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, sàng lọc, làm loãng, quản lý thông tin nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch và các trang mạng xấu, độc; xây dựng hệ bài viết có nội dung đấu tranh sắc bén và giàu tính chiến đấu, từng bước giành thế chủ động trên không gian mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, sắp xếp, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa phương), đổi mới mô hình và phương thức hoạt động; đặc biệt, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ban, ngành và phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ năm, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc, phản động phải đi liền với việc khẳng định và phát triển các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh; với việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, chú trọng nghiên cứu, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự soi sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng đanh thép, sống động và thuyết phục nhất để phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định giá trị, tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./. (Nguồn: Tạp chí Cộng sản).

Tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

Đại hội XIII của Đảng đánh dấu sự phát triển sang một thời kỳ mới trong đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng, đòi hỏi tăng cường phát huy sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua con đường hữu hiệu nhất là thực hiện tốt hơn, mạnh mẽ hơn quyền làm chủ của mỗi người dân Việt Nam yêu nước và tiến bộ. Để góp phần thực hiện định hướng đó, cần tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, coi đó là một công cụ thiết thực để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thực chất.

Tối ưu hóa hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội được hiểu là làm sao để hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội đạt đến mức tốt nhất trong hoàn cảnh cho phép. Muốn vậy, trước hết cần xác định hệ tiêu chí để đánh giá hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, có thể nêu lên một số tiêu chí sau đây:

- Lựa chọn đúng vấn đề để tiến hành giám sát, phản biện xã hội là những vấn đề bức thiết của nhân dân, đòi hỏi phải được can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

- Xác định đúng chủ thể giám sát, phản biện xã hội, tạo điều kiện cần và đủ để bảo đảm hiệu quả giám sát, phản biện xã hội tối ưu nhất.

- Lựa chọn phương thức giám sát, phản biện xã hội phù hợp với khách thể giám sát, phản biện.

- Kết luận của giám sát, phản biện xã hội phải có tính thuyết phục cao.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm tăng cường đồng thuận và đoàn kết xã hội, đoàn kết quốc tế, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Những tiêu chí trên đây thể hiện bản chất và yêu cầu của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, phân biệt rõ sự khác nhau của hoạt động này với việc đóng góp ý kiến, phản ánh, kiến nghị, khuyến cáo... mà lâu nay vẫn thường được thực hiện và thường ngộ nhận rằng đó chính là giám sát, phản biện xã hội.

Muốn đạt hiệu quả tối ưu, cần phải tạo những điều kiện tối ưu để thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Từ kinh nghiệm thực tế, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát huy dân chủ mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện quan trọng hàng đầu là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân, khẳng định về sự cần thiết khách quan của giám sát, phản biện xã hội trong toàn Đảng, trong hệ thống chính trị và trong nhân dân; khắc phục sự chần chừ, ngần ngại, đề phòng và bác bỏ những quan điểm sai lệch, tiêu cực; bảo đảm tính tự nguyện của chủ thể và khách thể giám sát, phản biện xã hội.

Thứ hai, xây dựng hệ thống thể chế pháp luật đồng bộ và nhất quán, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân cho các chủ thể phản biện; chú trọng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và người dân.

Thứ ba, tạo ra những hình thức và giải pháp để gắn bó quan hệ giữa hệ thống lãnh đạo, quản lý các cấp với các tầng lớp nhân dân, để hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hiểu thấu lòng dân là điều kiện quan trọng để giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả; trong đó, chú trọng đến các hình thức, như thăm dò dư luận xã hội, trưng cầu dân ý, đối thoại và tiếp xúc với nhân dân một cách thực chất.

Thứ tư, bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí theo quy định của pháp luật. Thực hiện cơ chế để tôn trọng những ý kiến khác nhau khi không trái với lợi ích chung.

Thứ năm, tạo cơ chế tự chủ trong hoạt động của các chủ thể giám sát, phản biện xã hội, nhằm bảo đảm tính khách quan của giám sát, phản biện xã hội.

Tạo ra những điều kiện trên đây là một quá trình chuyển động không đơn giản, đòi hỏi sự chuyển đổi từ quan điểm, nhận thức đến cơ chế vận hành và tổ chức cán bộ. Vấn đề không dừng ở những nội dung tác nghiệp, những khâu nghiệp vụ của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, mà là sự đổi mới tư duy và hành động thực hành dân chủ. Bao trùm lên tất cả là cần xuất phát từ động cơ trong sáng, một lòng vì nước, vì dân, bằng mọi cách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Mặc dù chủ trương giám sát, phản biện xã hội là đúng đắn, hợp lòng dân, nhanh chóng được xã hội hưởng ứng, nhưng hiệu quả của chủ trương này chưa được như mong muốn, do vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số điều kiện cần và đủ cho hoạt động này.

Người dân trở thành trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - đó là vinh dự và trách nhiệm to lớn; song, nhân dân mong muốn được giám sát, phản biện một cách thực chất để những chủ trương, chính sách, pháp luật đi vào được cuộc sống, để quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được bảo đảm và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

HAIVAN

Giám sát, phản biện xã hội thể hiện bản chất dân chủ của chế độ ta.

 

Một trong những bài học kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Muốn vậy, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải hiểu rõ lòng dân và thắt chặt mối quan hệ với nhân dân, hết lòng tin cậy và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; tất cả mọi chính sách, mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều phấn đấu cho mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc, ấm no thật sự cho nhân dân; chỉ có như vậy, mới giữ vững, củng cố và tăng cường lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Tư tưởng “dân là gốc” là tư tưởng tiến bộ của nhân loại, được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (năm 1927), là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và được vận dụng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đại hội XIII của Đảng khẳng định lại tư tưởng này và đặt ra yêu cầu cho giai đoạn hiện nay của nước ta. Nhân dân được xác định là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nghĩa là nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ cao nhất trong sự nghiệp to lớn, vinh quang này và điều đó cũng chính là thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Sự ra đời và mọi hoạt động của hệ thống chính trị nước ta (bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội), xét về bản chất, đều là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho hệ thống chính trị, nhưng giữ lại quyền giám sát và phản biện xã hội để kiểm soát việc thực hiện sự ủy quyền đó. Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là một quá trình tất yếu và phụ thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan ở từng lúc, từng nơi, từng con người cụ thể.

Giám sát và phản biện xã hội là một con đường để thực hiện dân chủ, một công cụ có hiệu quả để thực hiện vai trò làm chủ của nhân dân, thể hiện quan điểm “dân là gốc”. Nó tồn tại một cách khách quan trong phát triển xã hội và có tác dụng, hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ.

Từ khi trở thành chính đảng tiên phong lãnh đạo cách mạng nước ta, nhất là từ khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi dân chủ là bản chất của chế độ và quán triệt quan điểm đó trong đường lối, chủ trương và trong hoạt động lãnh đạo đất nước của mình. Sự ra đời của đường lối đổi mới và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới là sản phẩm của quá trình thực hiện dân chủ; trong đó, hàm chứa quá trình không ngừng giám sát và phản biện của các lực lượng xã hội. Mặc dù trong các nghị quyết của Đảng khi bắt đầu quá trình đổi mới chưa dùng khái niệm “giám sát, phản biện xã hội”, cũng như chưa thực hiện đầy đủ việc giám sát, phản biện xã hội theo đúng nghĩa hiện nay, nhưng những yếu tố của hoạt động giám sát, phản biện xã hội đã được thực hiện trên thực tế, mang lại hiệu quả và tác động tích cực, góp phần đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không ngừng vượt qua những khó khăn, thách thức, khắc phục dần những hạn chế, khuyết điểm để đi đến thành tựu của ngày hôm nay.

Đại hội X của Đảng lần đầu tiên chính thức đặt vấn đề giám sát của quần chúng nhân dân đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên để thực hiện dân chủ, và coi đó là nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nước cần tạo cơ chế để thực hiện tốt nhiệm vụ đó. Kế thừa kinh nghiệm của quá khứ, thực hiện chủ trương của Đại hội X của Đảng và các văn bản quy định của Đảng, Nhà nước, các lực lượng xã hội tiếp tục thực hiện giám sát, phản biện xã hội với những bước phát triển mới. Ở nước ta hiện nay, có các lực lượng xã hội đông đảo tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội dưới các hình thức đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển, quy hoạch, dự án... của các ngành, các địa phương, kể cả công tác tổ chức cán bộ. Những lực lượng đó là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, truyền thông, báo chí, tổ chức, cá nhân độc lập và các chủ thể chính thức, phi chính thức, trong đó cần nhấn mạnh là Hội đồng Lý luận Trung ương và Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ... Đó là một lực lượng đa dạng, thể hiện tính quần chúng, tính xã hội rộng rãi của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Hiến pháp và luật pháp của Nhà nước ta công nhận quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội của công dân. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và tạo địa vị pháp lý, trách nhiệm và quyền hạn giám sát, phản biện xã hội cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; và Quyết định số 218-QĐ/TW, “Ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Những văn bản quan trọng đó đã thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, với quan điểm và định hướng đúng đắn cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội, nhằm khơi dậy và thúc đẩy động lực dân chủ từ trong nhân dân, để từng bước hình thành môi trường thuận lợi cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Thực tiễn cho thấy, hoạt động giám sát, phản biện xã hội nhằm đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thời gian qua đã có hiệu quả tích cực, cụ thể là:

- Góp phần nâng cao chất lượng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

- Tăng cường trách nhiệm của Đảng, Nhà nước; gắn bó hơn nữa quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; giúp Đảng, Nhà nước hiểu rõ hơn tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

- Tăng cường tính năng động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm đối với nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

- Góp phần kiểm soát các xung đột ngôn luận, không để chuyển các xung đột này trở thành xung đột xã hội, giữ vững ổn định chính trị.

Trên con đường phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, các yếu tố của giám sát, phản biện xã hội đã từng bước hình thành. Tuy mới chỉ là bước đầu, nhưng kết quả này đã nhanh chóng được đông đảo nhân dân hưởng ứng và có tác động nhất định trong việc tạo dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với nước ta, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ chính trị. Có thể nói rằng, quá trình đổi mới, xét về thực chất, là quá trình không ngừng dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội, bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế cho đến mọi lĩnh vực khác, trong đó có sự đóng góp tích cực bởi hiệu quả của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Tuy nhiên, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể là:

- Phạm vi hoạt động giám sát, phản biện còn hạn hẹp, nhiều nội dung liên quan đến các vấn đề “quốc kế dân sinh”, đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân vẫn chưa được giám sát, phản biện, bảo vệ. Việc giám sát mới chỉ tiến hành với cá nhân, chưa được tiến hành với đơn vị, tổ chức.

- Không ít hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, còn mang tính hình thức, phần nhiều mới dừng ở sự góp ý một chiều, mang tính phản ánh tình hình, mà chưa đi sâu làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng theo đúng yêu cầu của giám sát, phản biện xã hội.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa được thực hiện và phối hợp giữa những chủ thể có liên quan, còn mang tính riêng lẻ, nên chưa tạo được sức mạnh tổng hợp và đồng bộ.

Nhìn chung, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân chưa được như mong muốn, một số nơi chưa tạo được niềm tin của nhân dân đối với các chủ thể giám sát, phản biện; quyền làm chủ thực sự của người dân còn có những hạn chế nhất định.

Nguyên nhân của thực trạng đó có thể tìm thấy trên cả hai mặt chủ quan và khách quan. Về khách quan, do những tàn dư của lịch sử để lại, đó là một nền  dân chủ tuy ngày càng tiến bộ rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều bất cập và mang dấu ấn tư tưởng gia trưởng phong kiến, chịu ảnh hưởng tàn dư tập quán tiểu nông, dễ an phận, ngại đối diện, biện luận; trong khi đó, về chủ quan, việc thể chế hóa chủ trương giám sát, phản biện xã hội còn nhiều hạn chế, thiếu cụ thể, thiếu chế tài ràng buộc quyền và trách nhiệm giữa các bên có liên quan, nhất là thiếu sự đồng bộ giữa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng với hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước. Sự hạn chế đó đã chẳng những không thúc đẩy được việc thực hiện một cách nghiêm túc giám sát, phản biện xã hội, mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân với hoạt động này. Trên thực tế, việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội với phương châm rất sáng tạo được đề ra từ hai thập niên trước, nay được bổ sung, phát triển thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của từng con người, từng chủ thể, mà trước hết là người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong môi trường xã hội nước ta, cơ chế và con người còn bất cập là hai yếu tố cơ bản chưa thuận lợi cho việc giám sát, phản biện xã hội. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình và sự mong mỏi của nhân dân.

HAIVAN

Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là “nội chiến”

TCCS - Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai có phải là cuộc “nội chiến” giữa hai miền Nam - Bắc do xung đột về ý thức hệ như những luận điệu xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị? Thực tiễn lịch sử khẳng định, đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai nhằm giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất đất nước. Không ai có thể bác bỏ được! Một số quan điểm sai trái, thù địch về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Có thể điểm lại một số luận điệu xuyên tạc chủ yếu sau của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị: - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiếu chiến, muốn gây chiến tranh thôn tính miền Nam, từ đó, đổ lỗi 21 năm chiến tranh với hàng triệu người của hai miền thiệt mạng là lỗi của bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “tay sai” của Liên Xô, Trung Quốc. Kháng chiến chống Mỹ là thực hiện mưu đồ của Liên Xô, Trung Quốc “muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một “con bài” trong cuộc “mặc cả” giữa các nước lớn là Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ. - Việt Nam chỉ là chiến trường thử nghiệm vũ khí của Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc. - Nếu Việt Nam Cộng hòa được xem là con rối, là bù nhìn, là ngụy, do Hoa Kỳ giật dây thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng chỉ là “con rối” trong tay Liên Xô, Trung Quốc... - Chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản; trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ không hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là vì “thế giới tự do”. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, những luận điệu trên đang tràn lan trên internet, được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị rêu rao lặp đi lặp lại, âm mưu lừa bịp, xuyên tạc để phục vụ mưu đồ đen tối của chúng. Thực tế lịch sử khẳng định, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 không phải là “nội chiến”, mà là cuộc chiến tranh yêu nước, nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ dân tộc Việt Nam. Chiến tranh xâm lược Việt Nam 1954 - 1975 trước hết và căn bản khởi phát từ lợi ích bên trong của đế quốc Mỹ, từ chiến lược toàn cầu của Mỹ mà căn nguyên sâu xa là xuất phát từ bản chất chế độ chính trị cường quyền Với mưu đồ xâm lược, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7-1954), đế quốc Mỹ đã thực hiện phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất nước Việt Nam. R.S. Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, một trong những kiến trúc sư hàng đầu của Mỹ về chiến tranh Việt Nam, đã nhắc đến quan điểm của Ai-xen-hao được thể hiện qua diễn văn của J.F. Ken-nơ-đi (công bố năm 1956), rằng “Việt Nam là hòn đá tảng của Thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó, không thể phớt lờ những nhu cầu của nó”(1). Trong bối cảnh lịch sử mới, Việt Nam có vị trí quan trọng đối với Mỹ: Nơi thử thách vai trò, sức mạnh to lớn của một đế quốc hàng đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là sự tiếp tục và cao nhất chính sách thực dân mới của Mỹ, thực hiện “Học thuyết Truman” (năm 1947) nhằm bảo đảm “an ninh quốc gia” và “bao vây chủ nghĩa cộng sản”. Một nhà nghiên cứu trong bài viết “Chiến tranh Việt Nam là gì?”, đăng trên báo The New York Times, ngày 26-3-2018, đưa ra nhận xét: “Cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam không phải là một cuộc xung đột cục bộ, cô lập, không liên quan đến an ninh quốc gia của Mỹ, mà là một cuộc chiến không thể tách rời với ưu tiên cao nhất của quốc gia - cuộc chiến chống Cộng sản trên toàn cầu trong chiến tranh lạnh”(2); “các nhà hoạch định chính sách cảnh báo rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào tay chủ nghĩa Cộng sản, các nước láng giềng chắc chắn sẽ lần lượt gục ngã, lần lượt như một hàng quân cờ domino”(3). Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương (MAAG) của Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp, từ 52 tỷ phrăng lên tới 751 tỷ phrăng năm 1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh(4). Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam (đầu năm 1955), lập ra cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ. Chính giới Mỹ đã đặt “vấn đề Việt Nam” vào trong luận thuyết của “chiến tranh lạnh”. Dùng biện pháp chiến tranh để thôn tính miền Nam Việt Nam, Mỹ không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới, mà còn nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Ngoài ra, Mỹ còn tính toán tới lợi ích kinh tế mà các tập đoàn tư bản công nghiệp, tài chính hùng mạnh của Mỹ thu được qua cuộc chiến này; đồng thời, tính toán tới sự răn đe đối với Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu và lợi ích của giới tư bản Mỹ, vì vậy, là các nhân tố quyết định hành động chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Đế quốc Mỹ (và cả thực dân Pháp trước đó) tìm cách lôi kéo đồng minh, đẩy mạnh xây dựng quân đội và chính quyền tay sai, vừa mua chuộc, lôi kéo (rêu rao Mỹ chỉ là đồng minh), vừa uy hiếp và khi cần thì cũng không ngần ngại tổ chức đảo chính, thủ tiêu những chính trị gia không vâng lời, nhằm giữ quyền lãnh đạo của mình... Mặt khác, Mỹ coi trọng việc xây dựng cơ sở xã hội, dựa vào các thế lực thù địch, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo, vừa tạo chỗ đứng, tạo thế hợp pháp ở bên trong để che giấu bộ mặt thực dân, vừa tích cực tổ chức huấn luyện đội quân viễn chinh, lập các căn cứ, khối liên minh quân sự ở bên ngoài... Khi tất cả các thủ đoạn không đạt được mục tiêu đề ra, hoặc kém hiệu quả, Mỹ đẩy tới hành động quân sự, dùng biện pháp chiến tranh là chủ yếu. Tháng 2-1962, Mỹ thành lập Bộ tư lệnh viện trợ Hoa Kỳ ở Việt Nam, đến tháng 7-1965, đổi thành Bộ tư lệnh lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, trực tiếp chỉ huy đội quân viễn chinh Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đồng minh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ đã tiêu tốn vào cuộc chiến 676 tỷ USD(5); cử 6,6 triệu lượt quân tham chiến; huy động 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân(6); trên 72 nghìn quân(7) các nước đồng minh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam(8). Với những vũ khí mới nhất, với khối lượng lớn bom đạn, chất độc hóa học, chất độc da cam, quân đội Mỹ đã tiến hành càn quét, đốt phá, và giết hại nhiều dân thường. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học(9). Cùng với việc đưa quân vào miền Nam, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc Việt Nam. Đế quốc Mỹ áp đặt phương thức thống trị thực dân kiểu mới, giấu mặt, cai trị trá hình, nuôi dưỡng và dựng lên chính quyền bù nhìn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. Từ năm 1955 đến năm 1961, đế quốc Mỹ đã viện trợ cho chính quyền miền Nam Việt Nam 7 tỷ USD(10). Những năm 1955 - 1956, Mỹ chi 414 triệu USD xây dựng các lực lượng thường trực quân đội Việt Nam Cộng hòa gồm 170.000 người và lực lượng cảnh sát với 75.000 người. 80% ngân sách quân sự của chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ(11). Trong giai đoạn 1962 - 1974, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 21.336 triệu USD (bao gồm cả viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự)(12). Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam là những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ thực sự coi trọng những lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế, vứt bỏ họ. Một học giả Mỹ đánh giá: “Quan hệ đồng minh Mỹ - Diệm là một sản phẩm của tính toán địa chính trị của Mỹ thời chiến tranh lạnh”, và “việc Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương xuất phát từ các quan ngại về sự bành trướng Xô-viết”(13). Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam: “Ông Mỹ luôn luôn đứng ra làm sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”(14). Giới chóp bu của chế độ Sài Gòn chỉ được tự do trong giới hạn mà Mỹ cho phép. Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm 1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở miền Nam vẫn không hề thay đổi. Tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu - lực lượng tưởng chừng được Mỹ ủng hộ nhất quán nhất, cuối cùng cũng cay đắng thừa nhận trong phát biểu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 21-4-1975, rằng: Mỹ là một đồng minh “thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường quốc”(15). Một nghiên cứu nước ngoài chỉ rõ: “Nếu không có sự can thiệp của Mỹ, thật khó có thể tưởng tượng rằng miền Nam Việt Nam đã ra đời hoặc nếu có thì sẽ tồn tại được bao lâu”(16). Từ tất cả những điều đã trình bày trên đây, có thể thấy rõ rằng, đế quốc Mỹ đã chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, chống lại tất cả những ai ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và mong muốn độc lập, hòa bình, thống nhất của Việt Nam. Rõ ràng, đế quốc Mỹ đã chà đạp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, và vì thế, trở thành đối tượng đấu tranh trước hết trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam Cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đồng thời đấu tranh nhằm loại bỏ những thế lực đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và nguyện vọng nhân dân. Trên bình diện quốc tế, đó là một bộ phận của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhằm khẳng định và bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc mình. Trong bối cảnh của cuộc “chiến tranh lạnh”, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đối đầu quyết liệt giữa phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa. Nhằm đạt mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn, nhưng không được đáp ứng. Tháng 7-1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu lên(17), nhưng đều bị từ chối. Chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man các phong trào hòa bình, bắt bớ, truy bức, giết hại những người yêu nước ở khắp miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1959, 466.000 người cộng sản và người yêu nước bị bắt, 400.000 người bị tù đày và có 68.000 người bị giết hại(18). Một báo cáo của Việt Nam Cộng hòa năm 1960 đưa ra con số những người cộng sản bị bắt giữ từ năm 1954 là 48.200 người; một công bố năm 1961 ghi nhận tổng số người bị bắt giữ và thiệt mạng dưới bàn tay lực lượng an ninh chính quyền Sài Gòn lên tới trên 60.000 người(19). Đối diện với tình hình trong nước, quốc tế vô cùng khó khăn, phức tạp, những năm 1954 - 1959, Đảng Lao động Việt Nam vẫn kiên trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định hòa bình, thống nhất nước nhà là nguyện vọng tha thiết, phải tranh thủ mọi thời cơ để thống nhất một cách hòa bình. Đấu tranh vũ trang chỉ buộc phải thực hiện khi không còn con đường nào khác. Quyết tâm thực hiện thống nhất đất nước được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960): “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được “thống nhất đất nước, Nam, Bắc một nhà””(20). Trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bất đồng, xuất hiện chủ nghĩa xét lại, tâm lý sợ Mỹ, ngại đối đầu với Mỹ, biểu hiện ở xu hướng hòa hoãn, chung sống hòa bình, thủ tiêu đấu tranh vũ trang..., Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân trên cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự nghiệp chính nghĩa bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là động lực cơ bản có sức cuốn hút mạnh mẽ và tập hợp lực lượng rộng lớn - toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong cuộc đấu tranh chung. Ở miền Nam, năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập(21). Đây là cơ quan quyền lực tập trung cao nhất đại diện cho cách mạng miền Nam, là thể hiện ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho ý chí, nguyện vọng thống nhất của toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Chính phủ có nhiệm vụ đoàn kết nhân dân miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền tay sai, đưa miền Nam Việt Nam phát triển theo con đường độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, phồn vinh, tiến tới thống nhất đất nước. Chính phủ cách mạng lâm thời là một đối trọng với chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri, làm thất bại âm mưu xưng danh “đại diện hợp pháp duy nhất” cho miền Nam của Mỹ và chính quyền tay sai. Dưới ngọn cờ chính nghĩa của Chính phủ cách mạng lâm thời, các phong trào vận động nhân dân, trí thức đã kết thành một sức mạnh rộng lớn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, vì một mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đến cuối năm 1972, Chính phủ cách mạng lâm thời được 30 nước trên thế giới chính thức công nhận(22), với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam. Dù phải chịu tác động bởi mâu thuẫn, bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi đó, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; xử lý các mối quan hệ một cách đúng đắn, mềm dẻo; coi trọng, kiên trì vấn đề đoàn kết quốc tế. Quan điểm nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ cao nhất của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Từ khoảng giữa năm 1972, viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam đều bị cắt giảm mạnh. Việt Nam nhận thức được sự chuyển dịch trong quan hệ tam giác giữa ba cường quốc là Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi khai thác mặt tích cực của các nước ủng hộ công cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề cao cảnh giác, hạn chế tối đa mặt tiêu cực trong mối quan hệ đó. Vì thế, khi hai nước lớn giảm dần sự viện trợ, Việt Nam vẫn kiên quyết giữ vững mục tiêu của mình. Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác xâm lược của kẻ thù được che giấu dưới mọi hình thức, để thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ. Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964, đã nhanh chóng mở rộng, phát triển mạnh mẽ từ khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam và tiến hành dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Đó là lực lượng chính trị hùng hậu, đã tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ hiếu chiến của nhiều chính phủ trên thế giới đối với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Chưa bao giờ trên thế giới xuất hiện một phong trào ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của một dân tộc lại có quy mô rộng lớn như phong trào quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước. Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thắng lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo, của sách lược ứng xử khôn khéo, kiên quyết và hiệu quả của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng, thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh tráo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước sự thật lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc./. (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

“Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ"

 

Trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ.

Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”... Lời dạy của Người là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ cũng như toàn quân chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích trong kháng chiến và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn đã chứng minh, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy vũ khí, trang bị của Quân đội ta còn thua kém địch gấp nhiều lần, nhưng nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, gian khổ, phấn đấu rèn luyện, bộ đội ta vừa chiến đấu, lấy vũ khí của địch đánh địch, vừa tự nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí mới. Chiến thắng Điện Biên Phủ chứng minh lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới, quân đội của một nước nhỏ, trang bị thô sơ, chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, đã đánh bại đội quân nhà nghề, được trang bị hiện đại của một cường quốc thực dân. 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cùng toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội như: Ấp Bắc, Vạn Tường, Ba Gia, Plây Me, Đường 9-Nam Lào... Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, vận chuyển vũ khí, lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhờ vậy, bộ đội ta càng đánh càng mạnh, dũng mãnh tiến công địch rộng khắp ở cả vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

“Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ"
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ tham gia Chiến dịch Biên giới năm 1950. Ảnh: TTXVN 

Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo, vượt mọi khó khăn, gian khổ để nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ). Từ thực tiễn huấn luyện, SSCĐ và công tác, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được phát huy, lan tỏa, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Các đơn vị trong toàn quân luôn chủ động nâng cao chất lượng huấn luyện với tư duy đổi mới, sáng tạo, làm sao cho bộ đội nắm chắc, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị được biên chế, hiểu và vận dụng các hình thức tác chiến, thủ đoạn chiến đấu, giỏi tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng với các điều kiện và quy mô khác nhau... góp phần nâng cao khả năng SSCĐ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tại Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games) 2021 vừa qua, Đoàn QĐND Việt Nam đã nêu cao tinh thần và ý chí quyết tâm phấn đấu, rèn luyện, thể hiện năng lực, tư duy chỉ huy, tham mưu, tư duy chiến thuật và khai thác sử dụng trang bị khí tài hiện có. Qua hội thao giúp chúng ta học hỏi thêm về phương pháp tổ chức huấn luyện, SSCĐ của quân đội các nước bạn, từ đó bổ sung những nội dung phù hợp, vận dụng hiệu quả vào chương trình huấn luyện sát với tình hình thực tiễn, phù hợp với nghệ thuật quân sự và cách đánh của bộ đội ta.

Với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, các đơn vị quân đội đã góp phần xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng khu vực phòng thủ, tăng cường quốc phòng-an ninh, phát triển kinh tế-xã hội; tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa mới trong các khu dân cư; chăm sóc sức khỏe cộng đồng và các hoạt động an sinh xã hội...

Bằng sự chủ động, sáng tạo, kết hợp huấn luyện với thực hiện Phong trào thi đua “dân vận khéo”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã phối hợp triển khai hiệu quả các chương trình, như: “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, hành trình “Quân đội chung tay vì người nghèo-không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Nâng bước em tới trường”, “Bò giống giúp người nghèo nơi biên giới”, “Con nuôi đồn biên phòng”, “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân”, “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển"... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng-an ninh, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới trên các địa bàn chiến lược; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Không chỉ thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, quân đội còn nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác. Đặc biệt, trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, quân đội đã triển khai hàng trăm điểm cách ly, tổ chức cách ly cho hàng trăm nghìn người dân. Để canh giữ biên cương, hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ không quản nguy hiểm đến tính mạng, tổ chức hàng nghìn chốt chặn giữa rừng sâu để ngăn chặn dịch tràn vào đất nước. Các đơn vị phối hợp với địa phương phong tỏa, cách ly, tiêu độc, khử trùng, dập dịch; thành lập các tổ, đội cơ động phòng, chống dịch tại các đơn vị, lập các bệnh viện dã chiến, sẵn sàng tiếp nhận, điều trị..., được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Trong cuộc chiến phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ-cứu nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, quân đội luôn xung kích đi đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với tinh thần “Cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, trong năm 2021, nhiều cán bộ, chiến sĩ quân đội không quản gian khổ, hy sinh có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy, giúp dân phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả mưa lũ, tìm kiếm cứu nạn. Càng trong gian khó, hiểm nguy, trong mất mát, đau thương thì tình quân dân lại càng thêm ngời sáng. Không ai có thể quên được những trận bão lũ lịch sử tại miền Trung xảy ra vào tháng 10 và tháng 11-2020. Các địa danh như: Rào Trăng (Thừa Thiên Huế), Trà Leng, Phước Sơn (Quảng Nam) đều in dấu chân Bộ đội Cụ Hồ. Ngay tại khu vực Thủy điện Rào Trăng 3, trong mưa gió, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cần mẫn đào từng mét đất, mò tìm dọc triền sông, suối tìm kiếm người dân mất tích. Để có được cuộc sống bình yên cho nhân dân, biết bao người lính đã ra đi không trở về... 

Trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam cần tiếp tục học tập và thực hiện tốt lời căn dặn của Bác, tiếp tục phát huy truyền thống vượt khó, không ngừng học tập và rèn luyện, nâng cao trình độ nhận thức chính trị, xây dựng động cơ, quyết tâm cao, rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trên từng cương vị công tác, mỗi quân nhân phải nâng cao nhận thức, kiên định lập trường cách mạng, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, không ngừng phấn đấu vươn lên vượt qua khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt chức trách được giao. Càng trong khó khăn, gian khổ, bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng phải được khẳng định, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong điều kiện các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ quân đội chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần, đồng thời lợi dụng các vụ việc vi phạm kỷ luật của một số cán bộ, chiến sĩ để đưa ra những luận điệu xuyên tạc trắng trợn hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, do đó cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho bộ đội về tầm quan trọng của việc phấn đấu, rèn luyện xứng danh Bộ đội Cụ Hồ với các chuẩn mực: Kiên định vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao, hành động đẹp, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt; dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết, tôn trọng, gắn bó máu thịt với nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.

Muốn vậy, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác; tỉnh táo, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Nhất là phát huy tinh thần trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp. Chính sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp ủy và chỉ huy các cấp có vai trò, tác động rất lớn, tạo nên sự đoàn kết gắn bó trong thực hiện nhiệm vụ, qua đó mà không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị và xây dựng quân đội.  

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, ý chí quyết tâm và ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quân đội sẽ quyết định chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ quân đội càng phải gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; luôn gần gũi, quan tâm chăm lo đời sống bộ đội, tạo điều kiện để họ phấn đấu, rèn luyện, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Nguồn: QĐND.