Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022
BÁO CHÍ LUÔN LÀ MỘT TRONG NHỮNG LỰC LƯỢNG TUYẾN ĐẦU!
Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam
Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất
quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con
người như:
Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể
hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại
biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc
hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến
năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội
trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm
nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên
của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên
tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn
đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một
nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch
Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.
Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra
ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây
là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên
là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng
nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc
hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3
khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ
này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng
sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại
biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa
XII.
Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các
cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với
nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong
63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người
là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà
Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều
nhất từ trước đến nay.
Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng
2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương,
tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.
Với những chủ trương, đường lối đúng đắn
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình
đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng
đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị
trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh
nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số
bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87
trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách
giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã
đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận
là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng
giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát
triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền
đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình
đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.
Với những thống kê trên, một lần nữa
khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc
đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới
nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù
địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh-Hoạt động cách mạng luôn gắn liền với báo chí
Quản lý, bảo vệ biển, đảo vừa là mục tiêu chiến lược, vừa là yêu cầu cấp bách
Biển và đại dương ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình tồn tại, phát triển của nhân loại. Ngày nay, tiến ra biển, khai thác biển và đại dương đang trở thành xu thế khách quan và là mối quan tâm của tất cả các quốc gia có biển và không có biển.
Việt Nam là một quốc
gia ven biển nằm trên bờ phía Tây của Biển Đông, có chủ quyền, quyền chủ quyền
và quyền tài phán trên một vùng biển có diện tích hơn một triệu ki lô mét
vuông, chiếm khoảng 29% biển Đông, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.
Việt Nam còn có chủ quyền với khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tài nguyên vùng biển và ven biển nước ta được
đánh giá là rất phong phú và đa dạng, phân bố rộng khắp trên dải đất liền ven
biển đến các vùng nước ven bờ, các hải đảo và các vùng biển. Cả nước có 63 tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, có 28 tỉnh, thành phố ven biển, trong đó có 12
huyện và thành phố đảo. Trên 50% số dân của nước ta sống ở các tỉnh ven biển.
Đó vừa là những điều kiện khách quan thuận lợi để nước ta phát triển đa dạng
các ngành kinh tế biển, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn trong quản lý, bảo
vệ biển, đảo và khai thác lợi thế kinh tế từ biển, đảo.
Biển gắn bó mật thiết
với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua hàng ngàn năm. Ngày nay,
khai thác tiềm năng và lợi thế của biển là đòi hỏi khách quan của công cuộc xây
dựng đất trong thời kỳ mới. Nghị quyết số 36 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045 đã khẳng định: “Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền
thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn
bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tuy nhiên, trong thời
gian gần đây, trên biển đang tồn tại những nguy cơ tiềm ẩn có thể dẫn tới mất
ổn định, xung đột vũ trang và là mối quan tâm chiến lược của các nước trong và
ngoài khu vực. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định:
“Khu vực châu Á - Thái Bình Dương; trong đó, Đông Nam Á có vị trí chiến lược
ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm
ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra
căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an
toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn
nguy cơ xung đột”. Vì vậy, quản lý, bảo vệ biển, đảo vừa là mục tiêu chiến
lược, vừa là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
trong tình hình mới.
PHAO
Nhà nước luôn luôn coi trọng vai trò chiến lược của nhân dân biên giới trong quá trình dựng nước và giữ nước
Trong lịch sử hình thành lãnh thổ quốc gia mấy nghìn năm qua, Việt Nam luôn phải đối phó với chính sách bành trướng bằng vũ lực của phong kiến phương Bắc để mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, luôn phải đấu tranh để chống lại những hành động xâm lấn hoặc mua chuộc dụ dỗ các tù trưởng thiểu số của ta dâng đất cho chúng, để gặm nhấm dần lãnh thổ đất ta kiểu tằm ăn lá dâu (chính sách tàm thực).
Biên giới, vùng
biển nước ta cũng là nơi cư trú của phần lớn các tộc người thiểu số. Họ là lực
lượng tại chỗ rất quan trọng, luôn đứng mũi chịu sào nơi tuyến đầu để bảo vệ bờ
cõi, Các vua sáng tôi hiền Việt
Như vậy, sự
nghiệp gìn giữ quốc gia cương thổ là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, gian khổ,
lâu dài. Để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, ông cha ta đã coi mỗi người dân
biên giới là một người lính biên thùy. Với quan điểm cả nước đánh giặc, toàn
dân là lính, Nhà nước đã huy động được sức mạnh nhân dân biên giới, vùng biển, lực lượng trực tiếp tại chỗ rất quan trọng để
bảo vệ bờ cõi.
PHAO
CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ AN NINH MẠNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
Phân loại theo hình thức, có 04 nhóm biện pháp bảo vệ an ninh mạng gồm:
+ Biện pháp An ninh mạng, với 07 biện
pháp chủ yếu: Thẩm định an ninh mạng; Đánh giá điều kiện an ninh mạng; Kiểm tra
an ninh mạng; Giám sát an ninh mạng; Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng; Đấu
tranh bảo vệ an ninh mạng; Sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng.
+ Biện pháp hành chính:
Ngăn chặn, yêu cầu
tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; Đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động
thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử
dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến; Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ
thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật; Phong tỏa, hạn chế hoạt động
đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin; Thu
hồi tên miền.
Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, vi phạm
pháp luật về an ninh mạng có thể bị cảnh cáo, phạt tiền; áp dụng các hình phạt
bổ sung: tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật vi phạm; buộc ngừng
hoạt động, đình chỉ, tạm đình chỉ, buộc khôi phục tình trạng cũ, buộc xóa bỏ,
tháo gỡ, tiêu hủy thông tin, nội dung thông tin.
+ Biện pháp điều tra, truy tố: Thu thập dữ
liệu điện tử liên quan đến hành vi vi phạm;Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Các biện pháp khác, gồm: Các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh
quốc gia, gồ vận động quần
chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang
theo Luật An ninh quốc gia.
- Phân loại theo
nội dung, có biện pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ.
+ Biện pháp phòng ngừa xã hội: Thực hiện quản
lý nhà nước về an ninh mạng; tham mưu ban hành các chủ trương, chính sách, pháp
luật và các giải pháp bảo vệ an ninh mạng; hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo
vệ an ninh mạng, đấu tranh với hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an
ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về an ninh mạng; vận động quần
chúng; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ
bí mật nhà nước.
+ Biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ: Tổ chức các biện
pháp nghiệp vụ cơ bản, nhất là công tác điều tra cơ bản “ĐTCB”, nắm tình hình,
chủ động phát hiện, đề xuất khắc phục các yếu tố đe dọa xâm phạm đến an ninh mạng;
thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, biện pháp pháp luật, nghiệp vụ
và tố tụng hình
sự.
PHAO
LÀM RÕ NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA AN NINH MẠNG ĐỂ SẴN SÀNG ỨNG PHÓ
Đặc điểm của an ninh
mạng
Tính toàn cầu
Tính toàn cầu xuất
của an ninh mạng phát từ tính chất không biên giới của không gian mạng, hoạt động
trên không gian mạng không giới hạn bởi địa giới lãnh thổ và hành chính, có khả
năng tác động đến toàn cầu, một quốc gia đơn lẻ không thể giải quyết hết được
các nguy cơ, thách thức an ninh mạng.
Trên thực tế, những
năm qua, các nguy cơ, thách thức tới từ không gian mạng, như: tấn công mạng
nghiêm trọng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiến tranh mạng hầu hết đều không
tới từ bên trong lãnh thổ quốc gia. Các hoạt động tương tác trên không gian mạng
được thực hiện trên các dịch vụ xuyên biên giới, có tính chất toàn cầu, có khả
năng liên kết và xử lý dữ liệu lớn, máy chủ xử lý dữ liệu được đặt tập trung ở
một số địa điểm trên thế giới, cho phép công dân toàn cầu truy cập và sử dụng. Do
đó, hợp tác quốc tế đối phó với những mối đe dọa dến từ không gian mạng đã trở
thành một trong những ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia.
Tính phi
chính phủ
Nguy cơ, thách thức từ không gian mạng không xuất phát từ đường lối,
chính sách của chính quyền mà có thể do một nhóm người, một tổ chức, cá nhân gây
ra. Với tính toàn cầu, các nhóm tin tặc có thể được tập hợp từ nhiều nơi trên
thế giới, hoạt động không giới hạn về thời gian. Nhóm tin tặc Anonymous đã tấn
công, xâm nhập thành công vào hệ thống mạng của Bộ Quốc phòng Pháp, đánh cắp
các thông tin nhạy cảm nhằm phản đối chính sách tăng cường xuất khẩu vũ khí của
Chính phủ Pháp, đánh sập 20 trang web của Chính phủ Angola nhằm phản đối việc bỏ
tù 17 nhà vận động hòa bình trẻ; tiến hành chiến dịch chúng tôi là những tin tắc
tốt hơn “#OpISIS” tấn công Thổ Nhĩ Kỳ vì cho rằng nước này đang hỗ trợ Tổ chức
Hồi giáo IS.
Tính tương
đối
Các hành vi gây
mất an ninh mạng có tác động tới nhiều lĩnh vực khác nhau.Hành vi tấn công mạng
vào hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia có thể dẫn tới tình trạng khẩn cấp.
Tháng 6/2017 đã xảy ra vụ tấn công mạng bằng mã độc vô cùng phức tạp với trên
2.000 cuộc tấn công nhằm vào các cơ quan, tổ chức của Nga và Ukraine, Ba Lan,
Ý, Anh, Đức, Pháp, Mỹ và nhiều quốc gia khác... Về tính chất, các cuộc tấn công
này đã gây nguy hại đến an ninh quốc gia, nhưng mục đích thực sự chỉ nhằm chiếm
đoạt tài sản với giá trị tiền chuộc là 300 USD thanh toán bằng bitcoin cho dữ
liệu đã bị mã hóa.
Tính chuyển hóa
An ninh mạng có
thể chuyển hóa từ vấn đề an ninh phi truyền thống trở thành vấn đề an ninh truyền
thống.Vũ khí mạng có thể được sử dụng vào các hoạt động vũ trang và có sức sát
thương không khác gì bom đạn truyền thống. An ninh mạng có quan hệ tác động qua
lại với các vấn đề an ninh truyền thống, như: an ninh chính trị và an ninh quân
sự.
Ở chiều ngược lại,
xuất phát từ lợi ích chính trị, quân sự, các quốc gia không chỉ quan tâm bảo đảm
an ninh mạng bằng năng lực công nghệ, chính sách, chiến lược mà còn quan tâm đến
hoạt động tình báo mạng, gián điệp mạng, “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng,
chiến tranh mạng.
An ninh mạng có
quan hệ tác động qua lại, chồng lấn, chuyển hóa với các vấn đề an ninh phi truyền
thống khác, như an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh tư tưởng - văn hóa,
đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố. Nguyên nhân xuất phát
từ thực trạng dịch chuyển dần các hoạt động kinh tế, xã hội và đời sống con người
lên không gian mạng.
Tính khó xác định.
Đến thời điểm hiện
tại, chưa thể dự đoán được các mối đe dọa an ninh mạng sẽ xảy ra ở đâu, khi nào
và hậu quả ra sao. Đặc tính ẩn danh và lan tỏa cực nhanh của không gian mạng
khiến cho đến nay, việc truy nguồn các cuộc tấn công rất khó khăn. Ngay các cường
quốc về an ninh mạng trên thế giới như Nga, Mỹ cũng chỉ dừng lại ở các cáo buộc
đối phương thực hiện các hoạt động tấn công mạng, gián điệp mạng mà không thể
đưa ra được bằng chứng cụ thể.
PHAO
TÌM HIỂU VỀ AN NINH MẠNG
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, an ninh mạng trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức. An ninh mạng thay đổi theo sự phát triển của khoa học công nghệ và không gian mạng. Nhiều quốc gia đã nhận thức rõ về những mối đe dọa đối với an ninh mạng, ban hành nhiều văn bản chính sách, văn bản pháp luật như luật nhằm tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ, thách thức từ không gian mạng. Một số quốc gia coi an ninh mạng là an ninh quốc gia, không thể có an ninh quốc gia nếu không có an ninh mạng. Một số quốc gia coi an ninh mạng là hoạt động bảo vệ tính toàn vẹn, bảo mật, sẵn sàng của thông tin.
Thế giới có 05
quan điểm về an ninh mạng.
Một là, an ninh mạng là tập hợp chủ trương,
chính sách, học thuyết, biện pháp, lực lượng, quy tắc, sự bảo đảm để bảo vệ không
gian mạng quốc gia, tài sản của các tổ chức, cá nhân.
Hai là, an ninh mạng là tập hợp các công nghệ,
quy trình và thông lệ được đưa ra nhằm bảo vệ các mạng lưới, máy tính, chương
trình và dữ liệu tránh bị tấn công, phá hủy hoặc truy nhập trái phép.
Ba là, an ninh mạng là an ninh công nghệ
thông tin là hoạt động bảo vệ các máy tính, mạng lưới, chương trình và dữ liệu
tránh bị truy cập trái phép, không có chủ đích, thay đổi hay phá hủy.
Bốn là, an ninh mạng liên quan đến việc bảo vệ
thông tin và các hệ thống thông tin tránh khỏi các mối đe dọa từ không gian mạng,
như: khủng bố mạng, chiến tranh mạng và gián điệp mạng.
Năm là, an ninh mạng là một bộ quy tắc hay tập
hợp các công nghệ nhằm thực thi chính sách liên quan đến các khía cạnh khác
nhau của việc sử dụng máy tính và liên lạc điện tử.
Ở nước ta, khoa
học công nghệ và không gian mạng đã được ứng dụng sâu rộng trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Bên cạnh đó, không gian mạng cũng đặt ra nhiều
nguy cơ, thách thức, như: Chuyển hóa chính trị, tấn công mạng, khủng bố mạng,
gián điệp mạng, chiến tranh mạng, mất kiểm soát về an ninh mạng...Thực trạng,
nguy cơ trên đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng và ban hành văn bản luật
về an ninh mạng để phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian
mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân.
Ngày 12/6/2018, Quốc
hội khóa XIV ban hành Luật số 24/2018/QH14 về an ninh mạng, với 07 Chương, 43
Điều quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an
ninh mạng, triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, cá nhân. Theo đó, an ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên
không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khái niệm an
ninh mạng trong Luật An ninh mạng thể hiện được tầm nhìn chính sách chiến lược,
coi không gian mạng là một không gian mới, bên cạnh đất liền, vùng biển, vùng
trời, không gian. Không gian mạng phản ánh hoạt động của con người, tạo ra lợi
ích và cũng mang tới nguy cơ, thách thức, tác động tới an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. An
ninh mạng không chỉ giới hạn trong phạm trù bảo vệ an ninh quốc gia. An ninh mạng
lấy con người làm trung tâm, bảo vệ con người trước các nguy cơ, thách thức tới
từ không gian mạng.
PHAO
NẾU BẠN BẮN VÀO QUÁ KHỨ BẰNG SÚNG LỤC THÌ TƯƠNG LAI SẼ BẮN VÀO BẠN BẰNG ĐẠI BÁC!
NHIỀU NGƯỜI VIỆT BÊNH VỰC PHÁP, MỸ LÀ KHÔNG THUA TẠI VIỆT NAM, HỌ CHỈ RÚT LUI MÀ THÔI (?)
KHI BẠN BÈ NƯỚC NGOÀI YÊU THÍCH LỊCH SỬ VIỆT NAM, CÒN CHÚNG TA THÌ SAO?
TẠI SAO VIỆT NAM KHÔNG ĐƯỢC DỰA DẪM VÀO BẤT CỨ QUỐC GIA NÀO KHÁC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG?
VIỆT NAM: SẼ KHÔNG TRỞ THÀNH MỘT UKRAINE THỨ HAI
ĐỪNG MANG CHÍNH TRỊ VÀO THỂ THAO!
GIỮA TỐT VÀ XẤU
HỒ CHÍ MINH- MỘT BIỂU TRƯNG SINH ĐỘNG CHO PHONG CÁCH SỐNG CỦA MỘT NGƯỜI CON VĨ ĐẠI







