Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Lê Hồng Phong, tấm gương sáng ngời đạo đức cách mạng

Đồng chí Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902[1] trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, tổng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, (nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An), vùng đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng[2]. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ, cuộc sống của nhân dân vô cùng cực khổ bởi ách thống trị, áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến, thực dân. Chứng kiến những cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào ta bị kẻ thù đàn áp đẫm máu, Lê Hồng Phong sớm nuôi trong mình tư tưởng yêu nước và ý chí làm cách mạng cứu nước. Sau khi học hết bậc Sơ học yếu lược, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không thể tiếp tục đi học, Lê Hồng Phong rời quê ra thành phố Vinh, xin làm việc tại nhà máy Diêm – Bến Thuỷ. Trong thân phận người làm thuê và được tận mắt chứng kiến cuộc sống lầm than của những người lao động, Lê Hồng Phong đã vận động công nhân đứng lên đấu tranh. Sau sự kiện này, Lê Hồng Phong bị đuổi việc. Năm 1923, Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thỏi bí mật sang Xiờm (Thỏi Lan), rồi sang Quảng Chõu (Trung Quốc) tìm con đường làm cách mạng. Tại Quảng Châu, thỏng 4-1924, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thỏi gia nhập Tõm Tõm Xó (một tổ chức cỏch mạng do Hồ Tựng Mậu và Lờ Hồng Sơn thành lập) và hăng hái tham gia hoạt động, phát triển Tâm Tâm Xã thành một tổ chức hạt nhân cách mạng. Cuối năm 1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu, trên cơ sở tổ chức Tâm Tâm Xã, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng. Lê Hồng Phong được dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc phụ trách, trở thành một trong những cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Sau đó, theo sự giới thiệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 8-1924, đồng chí Lê Hồng Phong được nhận vào học ở trường sĩ quan quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Cuối năm 1925, tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố, đồng chí vào học tại trường hàng không Quảng Châu. Tại đây, tháng 2-1926, Lê Hồng Phong được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Do có thành tích học tập xuất sắc, đồng thời được sự giới thiệu của chính quyền Quảng Châu và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 10-1926, đồng chí Lê Hồng Phong được cử sang Liờn Xụ theo học tại trường Lý luận quân sự không quân ở Lêningrát (nay là thành phố Xanh Pêtécpua). Tháng 12-1927, tốt nghiệp trường Lý luận quân sự không quân, Lê Hồng Phong tiếp tục theo học Trường đào tạo phi công quân sự ở Bôrítxgơlépxcơ. Học chưa xong khoá đào tạo phi công, tháng 10-1928, đồng chí được gọi về học tại Trường Đại học Phương Đông. Trong 3 năm (từ 1928 -1931) theo học tại Trường Đại học Phương Đông, đồng chí đã hoàn thành chương trình học tập và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô, được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh. Đang học dở thì tháng 11-1931, đồng chí được phân công trở về nước hoạt động, chỉ đạo việc tổ chức khôi phục và phát triển cỏc cơ sở Đảng. Tuy nhiên, do mạng lưới mật thám dày đặc phong toả, đồng chí không bắt được liên lạc được với cơ sở trong nước, tạm thời phải ở lại Trung Quốc. Đầu năm 1932, đồng chớ về Quảng Tây gần biờn giới Việt – Trung và chắp nối liên lạc với các đồng chí Hoàng Đỡnh Giong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn, Lương Văn Chi v.v…tỡm cỏch xõy dựng lại hệ thống tổ chức của Đảng; mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ, gây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng; cử các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn đi phát triển cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng quần chúng ở Hải Phòng, Quảng Ninh v.v. Thỏng 6-1932, đồng chí Lờ Hồng Phong bàn bạc với các đồng chí lãnh đạo của Đảng, cho cụng bố bản Chương trỡnh hành động của Đảng, do đồng chí tham gia khởi thảo và được Quốc tế Cộng sản thông qua. Chương trỡnh hành động khẳng định đường lối đấu tranh cách mạng do Đảng đề ra là đúng đắn, đó có tác dụng củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, khôi phục phong trào cách mạng: đầu năm 1933, Xứ ủy Nam kỳ được tổ chức lại; năm 1934, Xứ ủy lâm thời Bắc kỳ được thành lập; Xứ ủy Trung kỳ và một số tỉnh ủy, thành ủy cũng đó được xây dựng lại. Tháng 3 – 1934, Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài (cũn gọi là Ban Chỉ huy ở ngoài) được chính thức thành lập tại Ma Cao (Trung Quốc). Ban Chỉ huy ở ngoài có chức năng như Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng chớ Lờ Hồng Phong làm Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập là Uỷ viên phụ trách tuyên huấn kiêm Tổng biên tập Tạp chí Bônsêvích; đồng chí Nguyễn Văn Dựt phụ trách công tác kiểm tra. Khi các tổ chức Đảng trong nước, đặc biệt là các Xứ ủy đó được khôi phục, Ban lónh đạo của Đảng, đứng đầu là Lê Hồng Phong, đó quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ trong nước tới họp ở Ma Cao (Trung Quốc), để nhận định tỡnh hỡnh, đề ra chủ trương mới nhằm củng cố Đảng, khôi phục và phát triển các tổ chức quần chúng và chuẩn bị Đại hội lần thứ I của Đảng. Trong lúc đang khẩn trương chuẩn bị Đại hội lần thứ I của Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong nhận được giấy mời tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Do đó, đầu năm 1935, Lê Hồng Phong dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng đi Mát-xcơ-va dự đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Đoàn gồm 3 đồng chí: Lê Hồng Phong, Hoàng Văn Nọn và Nguyễn Thị Minh Khai. Công việc chuẩn bị Đại hội Đảng được giao lại cho các đồng chí Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên.v.v… Tại Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản (họp từ 25-7 đến 21-8-1935), Lê Hồng Phong đó đọc bản tham luận quan trọng Về phong trào cách mạng Đông Dương. Cũng tại Đại hội này, Đảng ta được công nhận là chi bộ chính thức của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong (với bí danh Hải An), được bầu làm Ủy viờn Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản kết thúc, Lê Hồng Phong trở lại Thượng Hải (Trung Quốc). Khi đó, Đại hội toàn quốc lần thứ I của Đảng đó thành cụng, đồng chí Lê Hồng Phong (được bầu vắng mặt) làm Tổng Bí thư của Đảng. Với cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong cùng với Trung ương Đảng đó triệu tập và chủ trỡ Hội nghị toàn quốc của Đảng (tháng 7-1936) tại Thượng Hải. Hội nghị đó quyết định chuyển hướng mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng, xác định rừ mục tiờu trực tiếp là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đũi dõn chủ, dõn sinh và hũa bỡnh. Kẻ thự chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai. Theo đề nghị của Lê Hồng Phong, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương, đặt tiền đề cơ sở cho cao trào đấu tranh dân chủ diễn ra trong cả nước thời gian sau đó. Tháng 11 – 1937, đồng chí Lê Hồng Phong bí mật về hoạt động tại Sài Gũn, trực tiếp cựng Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng. Người bạn đời của đồng chí là Nguyễn Thị Minh Khai cũng đã về nước, tham gia Xứ ủy Nam Kỳ kiêm Bí thư Thành ủy Sài gũn – Chợ Lớn. Lúc này, trên cương vị Uỷ viên Thường vụ Trung ương, đồng chí Lê Hồng Phong đó cựng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chuyển Mặt trận Nhân dân phản đế, thành Mặt trận Dân chủ nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, tranh thủ mọi lực lượng tham gia vào cuộc đấu tranh đòi tự do ngôn luận, đòi dân sinh, dân chủ và chống phát xít. Ngày 22-6-1939, đồng chí Lờ Hồng Phong bị thực dõn Phỏp bắt tại Sài Gòn, kết án 6 tháng tù giam và 3 năm quản thúc. Sau khi hết hạn 6 tháng tù giam, chúng buộc đồng chí phải về quê nhà Nghệ An để theo dõi, giám sát. Tháng 1-1940, Lờ Hồng Phong lại bị bắt và đưa vào giam ở Khám Lớn – Sài Gũn. Biết đồng chí Lờ Hồng Phong là cỏn bộ lónh đạo cao cấp của Đảng, thực dân Pháp đã buộc tội đồng chí “chịu trách nhiệm tinh thần” của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, kết án 5 năm tù giam và 10 năm quản thúc, đày ra Côn Đảo và chỉ thị cho bọn chúa đảo phải tỡm mọi cỏch hóm hại. Những trận đũn thự tàn ỏc, dó man đó làm Lờ Hồng Phong kiệt sức dần, đồng chí đã mãi mãi ra đi vào trưa ngày 6-9-1942. II. NHỮNG HOẠT ĐỘNG VÀ CỐNG HIẾN CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ HỒNG PHONG ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1. Lê Hồng Phong – Nhà lãnh đạo kiên định và tài năng của Đảng ta a. Chủ trỡ cụng việc của Đảng trong giai đoạn cách mạng bị địch khủng bố ác liệt sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) Sau cao trào Xụ viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) thất bại, địch khủng bố dó man, kộo dài liờn tục từ cuối năm 1930 đến năm 1935 đẩy phong trào cách mạng Việt Nam vào giai đoạn vô cùng khó khăn. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên và chiến sĩ yêu nước bị bắn giết hoặc bị tù đày. Các cơ sở Đảng từ Trung ương đến địa phương bị tan vỡ. Nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng đã bị bắt hoặc bị sát hại, như: Tổng Bí thư Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh…Thực dân Pháp ở Đông Dương cũn cõu kết với đế quốc Anh ở Hương Cảng và bọn quân phiệt ở Trung Quốc, Thái Lan, truy lùng cán bộ của Đảng ta đang hoạt động ở ngoài nước, trong đó có lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Công. Trong bối cảnh đó, cuối năm 1931, đồng chí Lê Hồng Phong nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản trở về nước chỉ đạo việc tổ chức khụi phục và phỏt triển cỏc cơ sở Đảng, tiếp tục đưa phong trào cách mạng tiến lên. Sau chuyến đi dài ngày, vất vả và gian khổ, vượt qua mạng lưới mật thám dày đặc phong toả, đồng chí đã về đến gần biên giới Việt – Trung và bắt liên lạc được với tổ chức Đảng tại Quảng Tây – Trung Quốc vào đầu năm 1932. Để giải quyết vấn đề thiếu hụt cán bộ, Lê Hồng Phong quyết định việc đầu tiên là mở lớp đào tạo cán bộ, như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã làm trước đây. Thực hiện chủ trương này, Lê Hồng Phong quyết định chuyển về Long Châu (một thị trấn nhỏ sát biên giới Việt – Trung). Tại đây, đồng chí liên tục mở các lớp huấn luyện cho cán bộ từ trong nước sang học tập. Tài liệu lưu tại Quốc tế Cộng sản do chính Lê Hồng Phong báo cáo, còn ghi lại: “Trong khoảng thời gian từ 10-1932 đến 3-1933, tôi… huấn luyện cho hơn 20 đồng chí từ trong nước qua, mỗi lớp học trong 2 tuần lễ”(1). Trong số những cán bộ được Lê Hồng Phong đào tạo, có các đồng chí sau đó đã trở thành lãnh đạo chủ chốt của Đảng như Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Lương Văn Chi v.v… Những cán bộ sau khi được đào tạo, ngay lập tức được đưa về nước hoạt động, nhờ thế mà các tổ chức Đảng trong nước được khôi phục, nhất là các đảng bộ của các tỉnh biên giới như Cao Bằng, Lạng Sơn và các đảng bộ của các thành phố lớn như Hải Phòng, Hà Nội… Đối với tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương của Việt kiều tại Xiêm và Lào, tình hình có những vấn đề phức tạp. Nhân danh phái viên của Quốc tế Cộng sản uỷ nhiệm, đồng chí Lê Hồng Phong cải tổ lại cơ cấu tổ chức của Đảng ở những nơi này. Đồng chí cho rằng tổ chức Đảng ở Xiêm (trong đó có cả các đảng viên người Hoa), tự đứng ra lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời (gồm 5 người) là một sáng kiến nhưng không đúng nguyên tắc tổ chức của Đảng. Thay mặt Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong chỉ đạo cải tổ lại thành các đảng bộ của Việt kiều trực thuộc Trung ương sẽ được thành lập lại nay mai”(2) b. Tham gia soạn thảo và triển khai “Chương trỡnh hành động của Đảng” tạo bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam Trong khoảng thời gian cuối năm 1932, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Lê Hồng Phong, ngoài việc tổ chức, cơ cấu mạng lưới cơ sở Đảng trong nước, liên tục vận động cán bộ sang huấn luyện, bồi dưỡng lý luận cách mạng, đồng chí còn chỉ đạo thành lập một Ban lãnh đạo lâm thời của Đảng. Ban lãnh đạo thống nhất chủ trương tuyên truyền, học tập và hành động theo nội dung của bản kế hoạch: “Chương trình hành động của Đảng” do Lê Hồng Phong tham gia soạn thảo đã được Quốc tế Cộng sản thông qua. Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi trong lúc cách mạng Việt Nam bị khủng bố trắng, giữa lúc Đảng đang gặp thoái trào, những tư tưởng dao động, cơ hội, đang thừa cơ trỗi dậy, Chương trình hành động của Đảng như một luồng gió mới tiếp sức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng giữ được niềm tin vững chắc vào tiền đồ cách mạng, đẩy lùi tư tưởng cầu an, hoang mang dao động, tạo điều kiện cho việc khôi phục nhanh chóng hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng. Bản Chương trình hành động của Đảng đã được Lê Hồng Phong dùng làm tài liệu giảng dạy cho các lớp cán bộ ở Quảng Tây (Trung Quốc), đồng thời còn được nhân bản đưa về nước làm tài liệu tuyên truyền giáo dục cho đông đảo cán bộ đảng viên và nhân dân trong nước, do đó nó còn có tác dụng thiết thực to lớn hơn. Như vậy, cho đến cuối năm 1933, bằng năng lực, trí tuệ và quyết tâm phi thường, Lê Hồng Phong đã bước đầu hoàn thành trọng trách mà Quốc tế Cộng sản giao cho, xây dựng lại hệ thống tổ chức của Đảng trong cả nước, khôi phục các cơ sở cách mạng và khơi dậy niềm tin của quần chúng đối với Đảng, với cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Lê Hồng Phong, các tổ chức Đảng trong nước dần dần hoạt động trở lại và ngày càng lớn mạnh, phong trào cách mạng hồi sinh. c. Chủ trỡ thành lập và đứng đầu Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài Cùng với việc khôi phục hệ thống cơ sở, tổ chức Đảng trong nước, vấn đề khôi phục bộ chỉ huy, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng ở nước ngoài cũng được đồng chí Lê Hồng Phong hết sức chú trọng. Đồng chí Lê Hồng Phong quyết định thành lập Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài (cũn gọi là Ban Chỉ huy ở ngoài). Tháng 3-1934, dưới sự chủ trì của Lê Hồng Phong, Hội nghị thành lập Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng được tiến hành. Dự Hội nghị có 5 đồng chí1. Hội nghị thảo luận về tình hình Đông Dương, tình hình hoạt động của Đảng ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Lào; thông tin về tình hình Đảng cộng sản Xiêm…Đặc biệt Hội nghị bàn bạc và thông qua các bản Điều lệ của Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Nông hội đỏ… Sau Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Dựt được cử về Nam Kỳ chỉ đạo thành lập Xứ uỷ Nam Kỳ. Trên cơ sở hệ thống tổ chức, cơ sở Đảng được khôi phục và phát triển, Ban Chấp uỷ Trung ương lâm thời cũng được thành lập ở Nam Kỳ, Ban Chỉ huy ở ngoài gấp rút chuẩn bị cho việc tiến tới Đại hội lần thứ nhất của Đảng được triệu tập vào năm sau (1935). Vậy là chỉ sau một thời gian ngắn nhận nhiệm vụ trở về nước, mặc dù mạng lưới mật thám lùng sục gắt gao, đồng chí Lê Hồng Phong vẫn kiên định mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, tìm bắt liên lạc được với cơ sở Đảng trong nước, từ đó móc nối, khôi phục tổ chức, đào tạo cán bộ, bổ sung cho đội ngũ cán bộ đã bị bắt, bị giết trong thời kỳ khủng bố trắng, dần dần khôi phục lại hệ thống cơ sở Đảng trong toàn quốc. Các tổ chức Đảng hải ngoại như đảng bộ Việt kiều ở Xiêm, ở Lào cũng được chỉnh đốn củng cố, góp phần đưa phong trào cách mạng trong nước phát triển lên một bước mới. Đặc biệt, với việc thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài, mà vai trò như Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, đã có tác động hết sức to lớn đối với phong trào cách mạng trong nước. Trước hết là duy trì niềm tin của quần chúng đối với Đảng, đồng thời khẳng định sức sống mãnh liệt và vị trí lãnh đạo của Đảng, không một thế lực nào có thể dập tắt được. Song trên hết, với sự hoạt động tích cực của Ban Chỉ huy ở ngoài, trong đó phải kể đến những cống hiến to lớn, hoạt động không mệt mỏi của đồng chí Lê Hồng Phong, đã góp phần quan trọng đưa Đảng ta trở lại vai trò lãnh đạo cách mạng, hệ thống tổ chức của Đảng từ cơ sở tới Trung ương đã dần dần được khôi phục, tạo tiền đề thuận lợi cho các bước phát triển của cao trào cách mạng cả nước ở giai đoạn sau. 2. Lê Hồng Phong – Một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Sự gặp gỡ giữa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với Lê Hồng Phong đã mở ra bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của người thanh niên Xứ Nghệ. Là thế hệ cán bộ đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tuyển chọn, huấn luyện và đào tạo, Lê Hồng Phong đã được nghe những bài giảng đầu tiên về lịch sử phong trào cách mạng quốc tế và cách mạng giải phóng dân tộc, về những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin… Những bài học đó đã dẫn dắt và nâng tầm nhận thức của Lê Hồng Phong, từ một thanh niên giàu lòng yêu nước, dám xả thân vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân, trở thành người cộng sản và là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ khi được dự khoá huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (1925), đồng chí Lê Hồng Phong đã bộc lộ tư chất, tài năng của người cán bộ cách mạng và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phát hiện. Chính vì thế, Người đã gửi đồng chí vào những cơ sở đào tạo cán bộ cao cấp của Chính phủ Trung Hoa và trường đào tạo lãnh tụ của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô. Trong suốt thời gian đồng chí Lê Hồng Phong đi học tập, đào tạo ở Liên Xô, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vẫn thường xuyên liên lạc thông qua đường dây của Quốc tế Cộng sản. Trong bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi Lê Hồng Phong ngày 2-3-1930, Người thân mật gọi là: “Gửi Hồng Phong Lão”, thông báo về sự kiện ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời khẳng định: “Trong nước bây giờ đã có đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa”[3]. Điều đó thể hiện sự theo dõi, quan tâm đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với Lê Hồng Phong. Không phụ lòng của người thầy dẫn dắt – lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Lê Hồng Phong đã từng bước trưởng thành cả về nhận thức lý luận và năng lực lãnh đạo. Với những đóng góp to lớn đối với việc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm 1932-1935, đồng chí được mời tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản; được Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), với vai trò Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Lê Hồng Phong đã có rất nhiều đóng góp vào việc hình thành chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần đưa cách mạng Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Đồng chí Lê Hồng Phong đã thể hiện một tấm gương sáng ngời của người cộng sản: sống vì Đảng, chết không rời Đảng, trọn đời hy sinh phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đồng chí xứng đáng là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 3. Lê Hồng Phong – Tấm gương người cộng sản kiên cường Ngày 22-6-1939, đồng chí Lờ Hồng Phong bị thực dõn Phỏp bắt tại Sài Gòn. Biết đồng chí là cỏn bộ lónh đạo cao cấp của Đảng, bọn mật thám dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man; dụ dỗ, lừa phỉnh, nhưng chúng không thể lay chuyển được tinh thần và ý chí của người cộng sản kiên cường. Không đủ chứng cớ để buộc tội, tũa ỏn của đế quốc Pháp đành kết án đồng chí 6 tháng tù giam và 3 năm quản thúc ở Nghệ An. Mặc dầu bị quản thúc, theo dõi chặt chẽ, đồng chí vẫn dành thời gian viết báo, bí mật gửi cho các tờ báo của Đảng như tờ Dân Chúng, Đông Phương tạp chí… thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường của người cách mạng kiên trung. Chính vì thế, thực dân Pháp rất sợ người lãnh tụ cộng sản mà chúng gọi là: “Tên phiến loạn nguy hiểm”, cho nên, khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, dù đang trong thời gian quản thúc tại quê, nhưng mật thám Nam Kỳ đã ra Nghệ An bắt Lê Hồng Phong và áp giải vào giam giữ tại Sài Gòn. Trong thời gian gần 1 năm trời bị tra tấn, hành hạ, kẻ địch tìm mọi cách để khép đồng chí vào tội xử tử hình, nhưng không đủ chứng cứ, chúng giở đủ mọi thủ đoạn, kể cả dùng đòn tâm lý hòng lung lạc tinh thần của đồng chí. Biết đồng chí Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chồng, có con nhỏ (Hồng Minh) mới được mấy tháng, chỳng đưa Nguyễn Thị Minh Khai đến gặp Lê Hồng Phong, hy vọng 2 người sẽ nhận nhau, qua đó chúng có cớ khép tội đồng chí dính líu tới “âm mưu lật đổ chính phủ Nam Kỳ”. Mặc dù hai vợ chồng lâu ngày không được gặp nhau, nay gặp lại trong cảnh tù đày, sống chết chia ly không biết thế nào, lòng đầy thương cảm, nhưng đồng chí vẫn kìm nén tình cảm riêng, kiên quyết phủ nhận mọi chứng cứ của kẻ thù đưa ra, làm thất bại âm mưu của chúng. Mặc dù vậy, thực dân Pháp vẫn buộc tội đồng chí phải “chịu trách nhiệm tinh thần” cho cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, kết án 5 năm tù giam và 10 năm quản thúc, đày ra Côn Đảo. Trong những ngày bị biệt giam trong hầm đá, hoặc trong Banh II, nơi giam giữ tù cộng sản, kẻ thù luôn tìm cách đánh hành hạ, tra tấn, đánh đập dã man đồng chí Lê Hồng Phong, hòng làm nhụt tinh thần, ý chí của người lãnh đạo cộng sản. Có lần đồng chí vừa bưng bát cơm lên ăn, thì bọn cai ngục xông vào đánh túi bụi. Bát cơm của đồng chí bị nhuộm đỏ, do máu chảy từ đầu, từ mặt rớt vào, nhưng đồng chí vẫn thản nhiên, tiếp tục ngồi ăn “bát cơm chan máu”, với quyết tâm phải sống để: “còn sống còn chiến đấu”. Những trận đũn thự tàn ỏc, dó man, liên tục đó làm Lờ Hồng Phong dần dần kiệt sức, đồng chí đã vĩnh biệt anh em, đồng chí vào trưa ngày 6-9-1942. Đồng chí Lê Hồng Phong hy sinh khi mới 40 tuổi đời, trong đó có hơn 20 năm liên tục hoạt động, cống hiến cho Đảng, cho cách mạng. Trước lúc đi xa, đồng chí Lờ Hồng Phong cũn căn dặn: “Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lũng tin thắng lợi vẻ vang của cỏch mạng“. Đó là lời chào của người cộng sản bất tử Lê Hồng Phong với anh em, đồng chí trước khi về cõi vĩnh hằng. Cho đến giờ phút cuối cùng, đồng chí vẫn tỏ rõ khí phách hiên ngang, ý chí kiên cường, bất khuất. Đồng chí là người chiến sĩ cộng sản tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Hình ảnh, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí mãi mãi được khắc ghi trong trái tim, tâm hồn của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. Trần Duy 30A ST

SỰ ẤU TRĨ CẦN LÊN ÁN

Gần đây, trên Facebook xuất hiện cái gọi là “có một thứ văn hóa đang hủy hoại người Việt…” của Nhóm chúng tôi ghét lừa dối. Nhóm này quá ấu trĩ, vì đã lấy một vài hiện tượng sai phạm trong giáo dục để đánh giá, nhận định về nền giáo dục nước nhà.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC PHẢN ĐỘNG

Trong bài “Mặt nào của văn hóa - đạo đức xuống cấp?” trên Baotiengdan, Chu Mộng Long đã đưa những bình luận về văn hóa, con người Việt Nam chỉ toàn những gam mầu tối sẫm, hòng tạo ra sự hoang mang, dao động trong xã hội. Trong đó, y cho rằng: “với cách xây dựng một nền văn hóa như hiện nay sẽ còn nát bét nhiều thế hệ nữa”.

THẬT ĐÁNG BUỒN

Vừa qua, trên trang mạng Vietnamthoibao, một kẻ cơ hội phản động lấy bút danh Người Tân Định đã đăng tải bài viết: Thật đáng buồn cho đảng! Tác giả bài viết cho rằng đất nước kém phát triển và “Việt Nam có thể mất 197 năm để đuổi kịp Singapore” là do Đảng đã sai lầm đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin.

ĐỒNG CHÍ NGUYỄN VĂN NÊN DỰ KHAI GIẢNG

Sáng 5-9, các trường học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh chính thức khai giảng năm học mới 2022-2023. Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ TP Hồ Chí Minh dự và đánh trống khai giảng tại Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Quận 3.

ĐỒNG CHÍ NGUYỄN XUÂN THẮNG TỚI DỰ KHAI TRƯỜNG TẠI HUYỆN HƯNG NGUYÊN

Sáng 5-9, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng đã tới dự và đánh trống khai trường tại Trường Trung học Phổ thông Lê Hồng Phong, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

CHỦ TỊCH NƯỚC DỰ LỄ KHAI GIẢNG TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Sáng 5-9, học sinh trong cả nước đồng loạt hát Quốc ca trong Lễ khai giảng, đánh dấu sự bắt đầu của năm học 2022-2023. Khoảng 23 triệu học sinh cả nước đã nô nức tham dự khai giảng với tâm trạng hân hoan, phấn khởi và tràn đầy niềm tin.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ DỰ LỄ KHAI GIẢNG NĂM HỌC MỚI

Sáng 5-9, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự lễ và đánh trống khai giảng năm học mới tại Trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG AN NINH

Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Bởi vậy, việc nắm chắc những thủ đoạn đó để có đối sách xử lý đúng đắn, kịp thời và hiệu quả là vấn đề hệ trọng, cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đối với Việt Nam, để thực hiện âm mưu chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta, các thế lực thù địch thường dùng những thủ đoạn và phương thức sau: Thứ nhất, chúng sử dụng các cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể. Đối với cán bộ, đảng viên, chúng thổi phồng khuyết điểm yếu kém của một số địa phương và một số cá nhân đảng viên, đánh đồng giữa tập thể, cá nhân tốt với tập thể và cá nhân có khuyết điểm, sai phạm hòng làm cho nhân dân mất niềm tin vào Cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thủ đoạn trên lĩnh vực QPAN trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” là gì? Thứ hai, xâm nhập lực lượng từ bên ngoài vào kết hợp móc nối với các đối tượng chống đối trong nước để chống phá từ bên trong. Những năm qua, các tổ chức phản động người Việt lưu vong tăng cường đưa lực lượng xâm nhập vào nước ta trực tiếp kích động các hoạt động chống phá, tán phát truyền đơn, kích động quần chúng biểu tình, gây rối an ninh, trật tự hòng tạo thành điểm nóng chính trị - xã hội. Thứ ba, thâm độc và nguy hại hơn, thủ đoạn trên lĩnh vực QPAN trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực QPAN. Các thế lực thù địch chuyển hướng từ “tập trung phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” sang “có thể chấp nhận” về hình thức lãnh đạo của Đảng nhưng tập trung làm cho Đảng bị tha hóa, biến chất, mất lòng tin của nhân dân, tự đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Như vậy, nhìn tổng thể các thủ đoạn và phương thức trên là "chuỗi liên kết" chặt chẽ và rất nguy hiểm đối với chúng ta. Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn và phương thức mà DBHB triển khai cũng là cách: biết người biết ta để đề cao cảnh giác góp phần làm thất bại âm mưu DBHB đối với chúng ta.

Tỉnh táo khi tham gia mạng xã hội

 Khi tham gia mạng xã hội, chúng ta có điều kiện giao lưu, kết bạn, chia sẻ nhanh và rộng rãi hơn quan điểm cá nhân đối với các vấn đề xã hội mà mình quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, vẫn còn những hạn chế, rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến lợi ích người dùng, đặc biệt là tình trạng nhiễu loạn thông tin, gây mất định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức.

Trên cơ sở phân loại những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, chúng ta rất dễ nhận thấy hiện đang tồn tại hai hình thức chính:

Thứ nhất, nhiều kẻ xấu lợi dụng mạng xã hội lập ra các tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn, trộn lẫn thông tin thật, giả; cắt ghép hình ảnh, tán phát nhằm thu hút, lợi dụng sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh thiếu niên để lừa đảo, trục lợi và đôi khi còn để thỏa mãn những mong muốn ảo tưởng tầm thường... gây ra hậu quả khó lường. Đó là chưa kể đến mặt tiêu cực, số đông người sử dụng tuy không có nhiều thông tin, chưa tìm hiểu sự việc nhưng lại thừa quan điểm và thường xuyên quan tâm, bày tỏ quan điểm hoặc chính kiến của mình trên mạng xã hội.

Thứ hai, trên mạng xã hội đang xuất hiện những thông tin sai trái, độc hại có tính chất chính trị như: chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam hòng phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận thành tựu, đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc; xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; vu cáo, bôi nhọ, giả mạo lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang. Thậm chí nhiều đối tượng còn đưa thông tin kích động xu hướng ly khai, phá hoại sự thống nhất quốc gia, dân tộc, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tổ chức các hoạt động bạo lực phá hoại dưới cái mác “ôn hòa”, “bất bạo động”; truyền bá lối sống ích kỷ vụ lợi, xa hoa, trụy lạc, bạo lực và thù hận đối với cá nhân và tổ chức; phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền, áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống phương Tây.

Đáng lo ngại là những tin bài chống phá trên mạng xã hội có nội dung đa dạng trên tất cả các lĩnh vực; thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc tinh vi, xảo quyệt… đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, hành vi của một bộ phận, nhất là các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ, thậm chí cả người dân bình thường nhưng có lập trường tư tưởng không kiên định. Điều này dễ kiểm chứng nhất khi vừa qua, thông qua mạng xã hội, chúng tổ chức lôi kéo nhiều người tụ tập, kích động bạo lực ở một số địa phương. Hậu quả là nhiều người chỉ thấy được bộ mặt của kẻ xấu khi các cơ quan chức năng đấu tranh, làm rõ thì đã muộn. Ngoài ra, về mặt pháp luật, việc nhận diện thông tin xấu, độc đã được thể hiện tại Khoản 1, Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP và trong Luật An ninh mạng vừa mới được thông qua.

 Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang sử dụng các phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Chúng lợi dụng các trang mạng lớn trên thế giới như GoogleFacebook, kênh Youtube làm công cụ, sử dụng và nhân rộng mạng lưới cộng tác viên rộng khắp để xuyên tạc, chống phá ta; tận dụng tối đa những ý kiến, đánh giá, nhận xét của các cá nhân, tổ chức có uy tín, có tầm ảnh hưởng trong và ngoài nước, tạo dựng các trang web, các tài khoản cá nhân trên mạng nói chung, Facebook nói riêng để “chia sẻ”, phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt.

Những thủ đoạn tán phát thông tin xấu, độc bao gồm: sử dụng điện thoại smartphone, máy tính bảng… để quay phim, chụp ảnh, truyền tải video, hình ảnh livestream từ thực địa, tác động nhanh chóng và trực tiếp tới những người tham gia mạng xã hội, tạo hiệu ứng lan truyền rộng khắp; giả mạo các hình ảnh, video hoặc sử dụng các thông tin cũ có hiệu ứng kích động cao đối với cộng đồng mạng để xuyên tạc, lôi kéo người dân; giả mạo lực lượng chức năng (quân đội, công an) trà trộn vào lực lượng tham gia biểu tình hoặc có những hành vi phản cảm để quay phim, chụp ảnh phát tán lên mạng internet, mạng xã hội; huy động một số lượng lớn các tài khoản mạng xã hội (chủ yếu là các tài khoản ảo) gắn các biểu ngữ phản đối Đảng, Nhà nước để tạo ra hiệu ứng đám đông, từ đó người dùng mạng xã hội thường xuyên nhìn thấy các biểu ngữ phản đối hoặc những người không có lập trường tư tưởng vững vàng sẽ bị tác động thay đổi tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực. Đặc biệt, có nhiều tài khoản được thế lực thù địch mạo danh các nhân vật nổi tiếng, có ảnh hưởng đến cộng đồng để phát huy tối đa khả năng lan truyền thông tin gây hoang mang trong quần chúng, kích động người dân tụ tập biểu tình ngoài thực địa và có hành vi vi phạm pháp luật.

Xu hướng tán phát thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội trong thời gian tới sẽ tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau: dựa trên những vấn đề phức tạp, mới nảy sinh, những yêu cầu phát triển của đất nước, nhất là sự gia tăng nhanh chóng số lượng người sử dụng internet, mạng xã hội, các diễn biến theo chiều hướng phức tạp trong khu vực và Biển Đông; lợi dụng những biểu hiện mới xuất hiện trên thế giới, như khuynh hướng chống toàn cầu hóa để xuyên tạc, cản trở đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, kích động, cổ vũ cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan; khuyến khích xây dựng “Xã hội dân sự” ở Việt Nam, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền và hàng loạt vấn đề cốt lõi trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị để chống phá. Hướng nội dung tác động đến các đối tượng như: công nhân trong vấn đề cho phép hình thành tổ chức công đoàn độc lập; nông dân trong việc triển khai chủ trương tích tụ ruộng đất, phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, cánh đồng mẫu lớn; văn nghệ sĩ, trí thức trong việc hình thành các hội nhóm đối lập dưới danh nghĩa phản biện xã hội… Bên cạnh đó, chúng còn tập trung lựa chọn những nhân tố “điển hình”, “sám hối”, “trở cờ”, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng chống đối từ bên trong, coi đây là nguồn tán phát trực tiếp thông tin xấu, độc. 

Xét về bản chất, những tài khoản, trang mạng xã hội không có chức năng thông tin như các cơ quan báo chí chính thống của Đảng, Nhà nước. Do vậy, mỗi người sử dụng mạng xã hội cần có bản lĩnh vững vàng, hết sức tỉnh táo khi xem, đọc những thông tin trên mạng xã hội để tự bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, tiêu cực; nâng cao ý thức cảnh giác, sàng lọc thông tin trước khi tiếp cận, nghiên cứu, sử dụng. Bên cạnh vấn đề tự thân, việc quản lý và hạn chế những tác động tiêu cực của mạng xã hội, trong đó có việc ngăn chặn, loại bỏ những thông tin xấu độc, tin giả, tin thất thiệt, tin xúc phạm danh dự tổ chức cá nhân, vi phạm các quy định khác của pháp luật của các cơ quan chức năng cũng cần được đẩy mạnh. Đồng thời, để định hướng kịp thời dư luận xã hội bằng những thông tin chính thống, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp, các tổ chức đoàn thể phải luôn chủ động, nhanh nhạy, linh hoạt trong công tác quản lý con người; phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của “Lực lượng 47”; thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, để mỗi cá nhân biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội phù hợp./.

Đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch về xây dựng quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”

 Tổ chức lực lượng “tinh, gọn, mạnh” là yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình xây dựng và phát triển của Quân đội ta, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đã ra sức chống phá bằng chiêu trò, thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi. Chúng tung rất nhiều tin tức xấu độc, bịa đặt… phát tán trên mạng xã hội hòng làm suy giảm niềm tin của cán bộ, chiến sĩ. Trong thời gian gần đây, các thế lực phản động, thù địch, những kẻ cơ hội chính trị vẫn tìm mọi cách chống phá gay gắt và quyết liệt hơn. Trên trang mạng xuất hiện bài viết của Trần Văn với nội dung “Liệu Việt Nam có học được gì từ bi kịch của Quân đội Nga?” và một số quan điểm về “tinh giảm biên chế của Quân đội ta” hay lợi dụng các trang mạng xã hội đưa tin sai sự thật về diễn tập khu vục phòng thủ, những hoạt động quân sự, quốc phòng, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong quản lý của các đơn vị để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Những bài viết này đều nhằm thực hiện âm mưu phá hoại, xuyên tạc cắt xén thông tin, chế giễu, làm mất thanh danh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, những hành động chống phá của một số cá nhân trên với mục đích làm mất ổn định tình hình chính trị - xã hội, hướng lái dư luận theo mưu đồ đen tối, phản động của chúng. Các ý kiến trên thực chất là luận điệu xuyên tạc, âm mưu bôi nhọ, chống phá Quân đội ta, hòng gieo rắc hoài nghi, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Thủ đoạn này tuy không mới, nhưng nó dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về đúng - sai, thật - giả, gây nên sự dao động trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội.

Chúng phải nhận thức được rằng: đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”. Đây là nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2020-2025 tầm nhìn 2030 và các năm tiếp của Quân đội. Với mục tiêu, yêu cầu là: Quân đội có sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, điều chỉnh lực lượng phù hợp; sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ khi đất nước chuyển sang thời chiến.

 Bên cạnh đó, chủ trương trên bắt nguồn từ quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và tổ chức quân đội. Người khẳng định “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”. 

Trong giai đoạn mới, đây là vấn đề cụ thể hóa chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam của Đảng, Nhà nước về điều chỉnh tổ chức, biên chế, huy động tiềm lực quốc phòng; ưu tiên đầu tư, nâng cao sức mạnh cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

Ngoài ra, thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội. Đây là một trong những đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Sở dĩ Đảng ta xác định rõ phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội như đã nêu trên là xuất phát từ tình hình thực tế trong nước và thế giới với những yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tóm lại, khi điều chỉnh, tổ chức, biên chế trong Quân đội là một vấn đề phức tạp, liên quan đến tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị kỹ thuật, nghệ thuật quân sự. Đặc biệt là liên quan đến con người, nhất là ở các đơn vị phải giải thể, sáp nhập, chuyển đổi mô hình hoạt động. Vì vậy, trong quá trình tiến hành phải tiến hành đồng bộ, hiệu quả, có sự đồng thuận và quyết tâm cao của tất cả các cấp, lực lượng, lộ trình, bước đi cụ thể, phù hợp.

Như vậy, những luận điệuphản động, cơ hội chính trị, suy nghĩ cho rằng: “Quân đội tinh giảm để giảm bớt gánh nặng cho xã hội”. Các phát tán trên đều là bịa đặt, không đúng sự thật. Để góp phần đánh bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, mỗi quân nhân cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn đen tối của chúng./. 


Đề cao tự phê bình và phê bình - góp phần khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên

  Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ tư (khóa XIII), về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tụ diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cùng với tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu góp phần thực hiện mục tiêu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Hệ thống chính trị, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân, nó là “giặc nội xâm”, kẻ thù ở trong lòng mỗi con người, muốn chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, một trong những biện pháp rất quan trọng là phải tự phê bình và phê bình, Người coi “thang thuốc tốt nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình”. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa một cách thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày” và phải gắn liền với quá trình tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống suốt đời. Điều đặc biệt hơn, Người luôn căn dặn rất kỹ về mục đích, cách (phương pháp) tự phê bình và phê bình. Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc tốt hơn, đúng hơn; để đoàn kết và thống nhất trong nội bộ. Người còn nhấn mạnh, muốn chưa khỏi bệnh cá nhân chủ nghĩa, tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải lấy lòng nhân ái, thành thật để phê bình đồng chí mình. Phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm; không “thâm thọc, mỉa mai”, “bới bèo ra bọ, vạch lá tìm sâu”. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người; hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và phải sửa chữa cho bằng được… làm được như thế thì sẽ sớm chữa được bệnh cá nhân chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên và như thế “Đảng cũng khỏe mạnh vô cùng”.

Thấm nhuần di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cần thực hiện một số biện pháp chủ yếu sau đây:

Trước hết, tiếp tục nâng cao nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân đến việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để nhận biết rõ những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong bản thân mình; đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ tính chất nguy hiểm và tác hại khi vướng vào chủ nghĩa cá nhân. Muốn nhận thức nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Kết luận số 21-NQ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Quy định về những điều đảng viên không được làm”. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội, tiếp tục quán triệt, nghiên cứu, học tập nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Trong đó, nghiên cứu kỹ, nắm chắc 5 Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự phê bình và phê bình kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch trong lòng mỗi người, nó gặm nhấm, làm “hư hỏng” chính bản thân mỗi người, nó cản trở quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự vấn, thật thà tự kiểm điểm, tự phê bình hàng ngày, trước, trong và sau mỗi khi thực hiện nhiệm vụ hoặc ra quyết định nào đó. Từ trong suy nghĩ, hành động phải xem xét thật kỹ lưỡng suy nghĩ ấy, hành động ấy có vướng vào những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân hay không. Phải thiết thực, chân thành lắng nghe ý kiến phê bình thật thà của đồng chí đồng đội, từ đó nhận ra những thiếu sót, khuyết điểm và biểu hiện chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong chính bản thân mình. Trên cơ sở đó, “tự soi”, “tự sửa” thường xuyên, liên tục suốt cuộc đời, phấn đấu thực sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức đảng trong thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ, đảng viên là một tế bào của Đảng, đều sinh hoạt trong một tổ chức đảng nhất định. Vai trò, chức năng của các tổ chức đảng là quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên thông qua các chế độ sinh hoạt, trong đó tự phê bình và phê bình là một chế độ, đồng thời là vấn đề quy luật trong xây dựng và phát triển Đảng. Do đó, thực hiện một cách có hiệu quả, thường xuyên, liên tục chế độ tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên tự nhận ra những khuyết điểm, những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, giao nhiệm vụ, xác định thời gian sửa chữa cho cán bộ, đảng viên, giúp họ tiến bộ và trưởng thành. Các tổ chức đảng, nhất là chi ủy, chi bộ phải phát huy tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình thông qua các chế độ sinh hoạt như: sinh hoạt học tập, ra nghị quyết lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, đảng viên hàng năm. Trong đó, nêu cao vai trò, trách nhiệm, kỹ năng, phương pháp công tác của bí thư cấp ủy, nhất là trong khơi dậy tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng của mỗi cán bộ, đảng viên. chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới và 10 biểu hiện nhận diện chủ nghĩa cá nhân mà Quân ủy Trung ương đã thống nhất. Có như vậy mới nâng cao nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa cá nhân và sự cần thiết, cấp bách phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng đạo đức cách mạng.


Nhận diện nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ, thách thức hàng đầu đối với sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Nước ta. Vì vậy, nhận diện nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là yêu cầu mang tính cấp bách đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

“Diễn biến hòa bình” với tư cách là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm chống phá các nước chủ nghĩa xã hội, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên thế giới. Được hình thành từ sau chiến tranh Thế giới lần thứ 2, phát triển khá hoàn chỉnh trong Thập kỷ 80 và được vận dụng thành công “Vượt ngoài mong đợi” tại Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong những năm gần đây, một số biến động dưới dạng “Diễn biến hoà bình” diễn ra ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi với các tên gọi khác nhau như: “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa” hay “Mùa xuân Ả Rập”,… Ngoài “Diễn biến hoà bình” do bên thứ ba tác động, còn một phần quan trọng khác đó là "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ, một dạng “Diễn biến hoà bình” cực kỳ nguy hiểm đối với các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào độc lập dân tộc và cách mạng tiến bộ trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ thách thức đối với sự tồn vong của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết làm rõ một số dấu hiệu để nhận diện được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần đấu tranh làm thất bại Chiến lược “Diến biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay.

Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không phải bây giờ mới có, cũng không phải chỉ có duy nhất ở Việt Nam, mà có ngay trong phong trào Cộng sản quốc tế ở các nước Xã hội chủ nghĩa từ trước. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế theo khuynh hướng tư tưởng đối lập như: phái Latxan, phái Công Liên, phái Blongxki, phái Bruđông,… Những phần tử thuộc các trường phái đó không những không đi theo mà còn công khai chống lại Học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội khoa học một cách quyết liệt. Đó là những người cộng sản đã bị thoái hóa, biến chất về chính trị - tư tưởng và trở thành những “Con chiên ngoan đạo” của “Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh” hay Hữu khuynh”.

Trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, “Chủ nghĩa xét lại” đã xuất hiện ở Liên Xô, một trào lưu tư tưởng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Những kẻ theo “Chủ nghĩa xét lại” đã công khai phê phán và đòi xét lại Học thuyết Mác - Lênin”. Trong thời kỳ đó, ở Việt Nam cũng đã có một số cán bộ, đảng viên, trí thức đi theo “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, nước ta lại xuất hiện các đối tượng cơ hội chính trị mà thực chất đó là những cán bộ, đảng viên đã bị thoái hóa, biến chất và họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đặc biệt là hiện nay, khi mà kẻ thù đang thực hiện Chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng luôn coi các yếu tố thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều kiện để thực thi có hiệu quả Chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

“Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. “diễn biến hòa bình” tạo ra các yếu tố thúc đy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, còn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả nảy sinh từ phương thức, thủ đoạn của “diễn biến hòa bình” và là điều kiện để “diễn biến hòa bình” diễn ra nhanh chóng hơn.

Trước hết, bằng việc thực thi Chiến lược “diễn biến hòa bình” kẻ thù đang tìm mọi cách làm cho đất nước ta từng bước suy yếu trên tất cả các phương diện, cùng với đó là những sai phạm của ta chậm được khắc phục như: suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, mất đoàn kết, thiếu dân chủ; sự tụt hậu xa hơn về kinh tế,… làm cho quần chúng bất bình, mất lòng tin vào Đảng và chính quyền, tạo ra mâu thuẫn gay gắt từ bên trong; kết hợp với các hoạt động chống phá, mua chuộc, lôi kéo bọn cơ hội chính trị của các thế lực phản động thù địch là những yếu tố tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn tới những biến động về chính trị trong nước, đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sn, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta một cách từ từ, khó nhận biết và rất khó phòng chống.

“Tự diễn biến là tự biến đổi theo một chiều hướng nào đó”, còn “tự chuyển hóa là tự biến đổi từ dạng này sang dạng khác”. Đối với Việt Nam khi nói tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nói tới sự suy thoái, thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hay trong một số tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội… “tự diễn biến”, tự chuyển hóa thường do sự tác động từ bên ngoài thông qua các hoạt động tuyên truyền thù địch, sự tác động từ những biến động tiêu cực của tình hình thế giới như: sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu hay gần đây là “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa”; Kết hợp với sự tác động từ bên trong bởi tình trạng mất dân chủ, quan liêu, tham nhũng, sự phân hóa giàu nghèo,… dẫn tới sự bất mãn, bất bình nghiêm trọng trong xã hội. Nhưng trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân những cán bộ, đảng viên có lập trường chính trị - tư tưởng không vững vàng, sự bất mãn hay do buông lỏng trong quản lý, giáo dục của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, Đoàn thể xã hội trong hệ thống chính trị của Nhà nước ta.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trên nhiều phương diện, đó là nhận thức lệch lạc về chính trị - tư tưởng; sự sa đọa về phẩm chất đạo đức, lối sống… các biểu hiện suy thoái trên có quan hệ tương tác với nhau; từ sự suy thoái về chính trị - tư tưởng có thể dẫn tới sự tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống và sự tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống có thể dẫn đến sự thoái hóa về chính trị - tư tưởng. “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể diễn ra trong nội bộ Đảng, chính quyền Nhà nước và trong toàn xã hội. Nhưng nguy hiểm nhất là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ lãnh đạo Đảng và cơ quan quyền lực Nhà nước. Thực tế cho thấy, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới cuộc chính biến ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đều bắt nguồn từ sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô và các nước Đông Âu.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể nảy sinh ở những cán bộ, đảng viênquần chúng và cũng có thể đến từ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ở các cấp. Nhưng đáng chú ý và nguy hiểm hơn là khi nó nảy sinh từ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền; những cán bộ cấp cao có trọng trách trong việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt nguy hiểm là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở những cán bộ cấp cao giữ vai trò “Cầm lái con thuyền đất nước”. Sự sụp đ của Liên bang Xô Viết gắn liền với tên tuổi của Gorbachev, Enxin,… có thể nói đó là những đảng viên Cộng sản cấp cao “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và trở thành những kẻ phản bội lại Đảng Cộng sản Liên Xô, chế độ Xô Viết và phong trào Cộng sản trên toàn thế giới.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về nhận thức thì sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự thay đổi hành vidẫn đến có các hành động chống đối về chính trị và các hoạt động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa dưới nhiều hình thức của một cá nhân hay tổ chức, đi đôi với ca ngợi và tin theo các giá trị của chủ nghĩa tư bản. Đó là vấn đề có tính quy luật, cần phải hết sức cảnh giác, đề phòng và phải thấy được tính chất nguy hại của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một quá trình và thường biểu hiện qua những dấu hiệu cụ thể như: nói không đi đôi với làm và thậm chí còn làm ngược lại với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; thể hiện thái độ hoang mang, dao động hoặc đồng tình ủng hộ các quan điểm và việc làm “sai trái”; gắn với các yêu sách bất hợp lí, đòi đa nguyên, đa đảng và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Nước ta; phủ nhận mọi thành tựu mà Đảng ta, nhân dân ta giành được trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; xuyên tạc sự thật, bịa đặt lịch sử và nói xấu chế độ không nhận công lao to lớn của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh; truyền bá quan điểm đối lập, tư tưởng thù địch, cổ súy văn hóa phương Tây nhằm phá hoại nội bộ ta cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức thông qua các hành vi tập hợp bè phái, gây chia rẽ và làm mất đoàn kết nội bộ; kích động tư tưởng bất mãn, chống đối trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các đoàn thể xã hội; tiến hành móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài, lôi kéo bọn chống đối bên trong chống lại Đảng, chính quyền Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng thời, nỗ lực bảo vệ quan điểm, tư tưởng và hành động sai trái của các phần tử chống đối, thậm chí ca ngợi chúng như những nhân vật “Anh hùng” đấu tranh cho “Dân chủ”, “Nhân quyền”.

Nhận biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một con người không đơn giản là căn cứ vào một vài biểu hiện bề ngoài. Bởi vì, hiện tượng bề ngoài không phải lúc nào cũng phản ánh đúng bản chất bên trong, thực tế có những trường hợp vì bức xúc, bất bình về vấn đề gì đó mà nhất thời có những lời nói, hành động thể hiện thái độ bất mãn thì đã vội vã cho là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà cần làm rõ nguyên nhân, bản chất sự việc. Việc kết luận một trường hợp nào đó có vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải hết sức thận trọng, khách quan trên cơ sở phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các dấu hiệu và hành vi diễn ra trong một quá trình. Trong đó, mấu chốt của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng theo hướng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở nhận diện được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và để phòng có hiệu quả đòi hỏi các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội và cả hệ thống chính trị cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp; áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với từng cán bộ, đảng viên và cơ quan, đơn vịNhận diện và phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một vấn đề hết sức cấp bách, cuộc đấu tranh vì sự tồn vong của Đảng, chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và bằng những biện pháp quyết liệt với tinh thần thái độ kiên quyết, không khoan nhượng thì mới đạt được kết quả như mong muốn, đặc biệt là trong tình hình hiện nay. 

Phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’

 Sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đã và đang len lỏi ngày càng sâu vào mọi mặt, mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Điều này cũng đã được Đảng ta chỉ rõ trong nhiều văn kiện. Gần đây nhất trong Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...”. Cùng với đó, Đảng ta cũng nhận định, cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, diễn ra rất gay go, phức tạp, thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chúng ta phải làm nhiều việc, nhưng trước hết phải có sự thống nhất về nhận thức. Trong thực tiễn hiện nay, vẫn có không ít người cho rằng, sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam chỉ có trong cán bộ, đảng viên, những người có chức, có quyền… cho nên đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là công việc riêng của Đảng… Nhận thức như vậy là rất sai lầm, mơ hồ và thể hiện thái độ thiếu trách nhiệm, đặc biệt là không thấy vai trò rất quan trọng của nhân dân với cuộc đấu tranh này.

Cần khẳng định đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội mà là trách nhiệm của toàn dân, của toàn xã hội.

Đề cập về mục tiêu lý tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay đã chứng minh rõ nét muốn hoàn thành mục tiêu lý tưởng của mình, muốn trường tồn và phát triển vững mạnh Đảng phải biết dựa vào nhân dân. Chính phong trào đấu tranh của nhân dân là cái nôi mà Đảng ta sinh ra và tôi luyện, phát triển. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà chính nhờ được nhân dân chở che, đùm bọc, bảo vệ và hiến kế mà Đảng ta ngày càng trưởng thành, lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được trong hơn 35 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước càng chứng minh rõ vai trò to lớn của nhân dân. Một trong những bài học sâu sắc, quý báu mà Đảng ta rút ra từ sự nghiệp đổi mới là: Ðổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc...

Công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa những năm gần đây càng thêm khẳng định vai trò của nhân dân. Tâm tư, nguyện vọng; những kiến nghị, đề xuất; những phát minh, sáng kiến nảy sinh từ thực tiễn lao động sản xuất và chiến đấu của nhân dân là yếu tố quan Cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ của Đảng ta những năm qua đạt được nhiều kết quả quan trọng. Không ít biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là nhiều hiện tượng tiêu cực, hành vi tham nhũng của cán bộ, đảng viên đã được phát hiện qua tai mắt nhân dân. Một yếu tố rất quan trọng tạo nên những kết quả ấy là Đảng ta đã biết phát huy tai mắt của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khái quát và khẳng định: “Nhân dân là tai mắt của Đảng”. Có thể nói nhân dân đóng vai trò rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh nói chung, trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” nói riêng. Đây là cuộc đấu tranh gay go, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, không thể xem nhẹ vai trò của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong". Theo tinh thần ấy dù khó khăn, phức tạp mấy có nhân dân nhất định chúng ta sẽ vượt qua và cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, nhất định sẽ đạt được mục tiêu đề ra./. góp phần hình thành, hoàn thiện đường lối, chủ trương, quyết sách của Ðảng. Không chỉ góp phần hình thành, hoàn thiện mà chính nhân dân còn là nguồn lực, sức mạnh để biến những chủ trương, quyết sách của Đảng đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực.


Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng chủ động phòng, chống "tự chuyển hóa", "tự diễn biên"

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là quá trình diễn biến bên trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, theo hướng tiêu cực, từ tiến bộ sang lạc hậu. Nếu không ngăn chặn, khắc phục kịp thời có thể dẫn đến làm biến chất cán bộ, đảng viên, biến chất Đảng và chế độ xã hội, trượt sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Có nghĩa là bị mòn dần, xa dần những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội, rồi biến chất. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói: “Cứ bào mòn dần, mòn dần từng bước như thế rồi sẽ dẫn tới đâu? Nói “thoái hoá” là như thế, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là thế”. Điều đó biểu hiện:

Trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị diễn ra rất phức tạp, đa dạng, nhiều cấp độ, như: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động về lập trường, quan điểm chính trị, sa sút ý chí chiến đấu, mơ hồ, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; phủ nhận các giá trị truyền thống cách mạng, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; không thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, nói và làm trái với đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; vi phạm những điều quy định đảng viên không được làm; thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, can ngăn, thậm chí có cá nhân ý thức chính trị kém, bị các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, phụ hoạ, cổ súy cho những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc, chống phá sự nghiệp cách mạng, gây tổn hại đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ta.

Trên lĩnh vực kinh tế là biểu hiện phủ nhận và làm thay đổi kinh tế xã hội chủ nghĩa bằng kinh tế tư bản chủ nghĩa, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tìm cách hạ thấp, làm mất vai trò quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa; đòi đẩy nhanh tư nhân hoá nền kinh tế, xoá bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất, thay bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa...

Trên lĩnh vực văn hoá, xã hội, đạo đức, lối sống là biểu hiện sùng bái, chạy theo lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống dân tộc, các giá trị xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc trắng trợn lịch sử, phủ nhận nền văn hoá; thương mại hoá các hoạt động văn hoá một cách thái quá, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, thói đạo đức giả, vị kỷ, xa hoa, trụy lạc,...

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là biểu hiện bóp méo, xuyên tạc thay đổi bản chất nền quốc phòng, thay đổi bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản; đánh đồng bản chất Quân đội nhân dân Việt Nam với bản chất quân đội tư sản...; chống phá về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, thúc đẩy chuyển hoá lực lượng vũ trang, thực hiện “phi chính trị hoá” quân đội và công an; lợi dụng chính sách mở cửa, hợp tác, hội nhập để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ bên trong. Tuyên truyền xuyên tạc các vấn đề nội bộ của quốc gia, hướng dư luận quốc tế ủng hộ cho mục đích can dự lật đổ từ bên ngoài của các thế lực thù địch.

Thời gian gần đây các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài móc nối với các đối tượng phản động trong nước tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chúng đã lập hàng nghìn trang web, blog, trang Facebook, Fanpage, Youtube, hàng trăm cơ quan báo chí, nhà xuất bản và các đài phát thanh, truyền hình có trụ sở, máy chủ ở nước ngoài để xuyên tạc, vu khống tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước, nhằm tạo sự hoài nghi, gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải luôn tỉnh táo, cảnh giác, nhận diện đúng và chủ động đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn, loại bỏ, nếu không chính mỗi cá nhân chúng ta có thể bị dính vào "bẫy" thông tin xấu, độc của kẻ thù khi nào không biết, dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống...

 Do đó, để kịp thời ngăn chặn, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có hiệu quả, cấp ủy đảng các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau: Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về lập trường, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kịp thời thông tin, tuyên truyền cung cấp thông tin chính thống, định hướng nhận thức đúng đắn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về những vấn đề được dư luận quan tâm, không để các thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động, chống phá. Đồng thời, luôn giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất vững chắc trong  cấp ủy cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những sai phạm theo quy định của pháp luật, đặc biệt là các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

Bên cạnh đó, không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, do đó cấp uỷ, tổ chức đảng phải tiếp đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ theo hướng đổi mới, lựa chọn, xác định nội dung trọng tâm để sinh hoạt định kỳ, đột xuất, tránh chung chung, qua loa, đại khái. Trong sinh hoạt đảng, cấp uỷ cần định hướng chi bộ nhấn mạnh, đi sâu thảo luận, làm rõ, giải quyết dứt điểm, thấu đáo có lý, có tình những vấn đề về tư tưởng, đạo đức có thể phát sinh trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị, địa phương cũng như trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm của cán bộ, đảng viên. Mặt khác, cấp uỷ, người đứng đầu cấp uỷ cần tăng cường kiểm tra, giám sát hoặc trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng. Mức độ tuân thủ và chấp hành tốt các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, ý thức tổ chức, kỷ luật, các quy chế, quy định của Đảng, của cấp uỷ, chi bộ là tiêu chí quan trọng để đánh giá lập trường, quan điểm, tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên. Đây là biện pháp rất quan trong trong việc chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.