Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2022

Quân đội đẩy mạnh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng


Chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cần phải phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh đó.

Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân, v.v. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của chúng là “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất công cụ bạo lực sắc bén, không còn giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

Nhận thức đúng tình hình đó, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp trong toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cùng với đó, toàn quân đã làm tốt công tác giáo dục, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng; huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng và thường xuyên đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh mạng được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Những kết quả quan trọng đó đã khẳng định Quân đội ta luôn xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thời gian qua còn có những hạn chế, như: lực lượng chuyên trách của một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; hình thức tiến hành chủ yếu vẫn là chia sẻ các bài viết có sẵn trên mạng; tần suất những bài viết, thông tin có chiều sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong công tác quan trọng này. Trước hết, cần xác định: đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, diễn biến phức tạp, quyết liệt, thường xuyên và lâu dài. Vì vậy, để thống nhất nhận thức và hành động, cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm và sự cần thiết phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh không khoan nhượng này. Thực hiện tốt Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; đưa nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ hoặc chuyên đề của cấp ủy đảng và nội dung sinh hoạt của tổ chức đảng, sát với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cấp ủy các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá phù hợp với nhận thức từng đối tượng cụ thể cần tuyên truyền, đấu tranh. Đồng thời, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình trong từng thời kỳ; không giáo điều, rập khuôn máy móc. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội qua blog, facebook,… của những quân nhân có biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; trường hợp cố tình vi phạm những quy định phải cương quyết xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Hai là, đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn đấu tranh có hiệu quả, cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ trì các cấp phải có bản lĩnh chính trị vững vàng và hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để làm được điều này, các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các học viện, nhà trường nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, nghiên cứu lý luận chính trị, cốt lõi là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn trong quan điểm của Đảng về quân sự quốc phòng; luận giải thuyết phục, thấu đáo những vấn đề mới nảy sinh. Đồng thời, kết hợp đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới. Nắm chắc, hiểu rõ về tính hai mặt của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Ba là, chủ động cung cấp thông tin, định hướng nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Hiện nay, Việt Nam có hơn 58 triệu người đã sử dụng tài khoản facebook và tiếp nhận rất nhiều thông tin qua mạng xã hội này. Thế nhưng, những nguồn thông tin chính thống và có thẩm quyền từ các cơ quan chức năng trên các trang mạng xã hội lại rất ít. Khi có sự việc nhạy cảm xảy ra thường phản ứng chậm, hình thức thông tin chưa phù hợp,... khiến cho tin giả, tin bịa đặt, tin suy diễn xuất hiện tràn lan, không có nguồn để xác thực, kiểm chứng tính đúng sai, thật giả lẫn lộn, gây xáo trộn, hoang mang dư luận công chúng. Vì vậy, các cơ quan chức năng phải nhạy bén, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin theo Luật An ninh mạng và Quy chế phát ngôn, nhất là các vấn đề có liên quan đến Quân đội. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần chỉ đạo cơ quan chức năng bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn đơn vị đóng quân. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 các cấp tập trung biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo,… làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng cho lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Ở từng cấp, cần duy trì tốt nền nếp chế độ hội ý cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp đấu tranh. Trong đó, cần chỉ rõ mục tiêu, luận điểm chống phá của các thế lực thù địch trong các tin, bài; cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác từ hệ thống ngân hàng đã được biên soạn sẵn, làm cơ sở cho lực lượng viết bài tham gia đấu tranh.

Bốn là, tích cực ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng, đặc biệt là Bộ Tư lệnh 86, theo chức năng, nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Hoàn thiện, đưa vào khai thác, sử dụng các phần mềm quản lý kết quả đấu tranh và hỗ trợ các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng, thực hiện các chiến dịch truyền thông chủ động. Nghiên cứu, đề xuất việc sử dụng phần mềm Mocha Viettel, sản xuất điện thoại di động nội bộ, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí bảo đảm an toàn, vừa góp phần quản lý tình hình tư tưởng, dư luận và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ Quân đội trên không gian mạng.

Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, các đơn vị Quân đội cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.


Phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong quân đội ta hiện nay

 

Chiến lược “diễn biến hoà bình” là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, chống các n­ước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc và đư­ợc tiến hành trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự, ngoại giao,v.v…theo ph­ương thức thẩm thấu dần từng b­ước tạo sự chuyển hoá từ bên trong. “Diễn biến hoà bình” sử dụng biện pháp phi quân sự là chủ yếu, kết hợp với bạo loạn lật đổ can thiệp vũ trang khi có điều kiện thời cơ nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, giành thắng lợi cho chủ nghĩa t­ư bản mà không cần chiến tranh. Trong đó, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng và đi sâu chống phá nội bộ Đảng cộng sản, chính quyền, chuyển hoá đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, phi chính trị hoá quân đội và công an.

Trong tình hình mới, âm m­ưu phi chính trị hoá quân đội của kẻ thù tuy chưa thể làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức chiến đấu của quân đội ta; như­ng sự tồn tại của nó là hết sức nguy hiểm. Bên cạnh đó, những tác động tiêu cực từ điều kiện kinh tế xã hội của đất n­ước, nhất là mặt trái của cơ chế kinh tế thị trư­ờng đã ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức lối sống của một số ít cán bộ, chiến sỹ trong quân đội ta, dẫn đến “Một số cán bộ, chiến sĩ thiếu yên tâm gắn bó với quân đội, kém cảnh giác với âm m­ưu thủ đoạn của địch, làm việc cầm chừng, thiếu chí tiến thủ, có những ngư­ời phai nhạt lý tư­ởng, dao động, cá biệt chịu ảnh h­ưởng của quan điểm sai trái, cơ hội. Một số ít biến chất sa đoạ, tự do vô kỷ luật, tham nhũng, thu vén cá nhân, quan liêu, quân phiệt, gây tác hại xấu” như trong Nghị quyết 79/ ĐUQSTƯ đã chỉ ra. Do vậy, để đấu tranh làm thất bại chiến lư­ợc “diễn biến hoà bình” đặc biệt là âm mư­u “phi chính trị hoá quân đội” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, cần làm tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là: Th­ường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị tư­ tư­ởng cho cán bộ chiến sỹ. Bởi vì, bản lĩnh chính trị của bộ đội ta là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội và từng đơn vị, giữ vai trò định hư­ớng thúc đẩy hành động và hành vi của bộ đội. Các thế lực thù địch hiểu rất rõ rằng: sức mạnh trong hành động của con ng­ười đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Chính niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý t­ưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của quân đội và nhân dân ta. Vì vậy, trong chiến l­ược “diễn biến hoà bình” của kẻ thù với âm m­ưu chiến thắng không cần chiến tranh, chúng đã tập trung phá hoại về chính trị t­ư t­ưởng trong quân đội ta. Yêu cầu về bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay có nội dung chủ yếu là: Sự kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Sắc sảo, nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị. Đồng thời,  kiên quyết đấu tranh bảo vệ đ­ường lối quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm t­ư t­ưởng sai trái và phản động, các biểu hiện  mơ hồ, ảo t­ưởng, hoài nghi dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Hai là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi ph­ương án chiến đấu, luyện tập thành thạo mọi ph­ương án không để bị bất ngờ khi có tình huống xảy ra. Đây là một trong những biện pháp quan trọng, nhằm bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống; là biện pháp trực tiếp đánh bại âm m­ưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hoá sức mạnh chiến đấu của quân đội làm ảnh hư­ởng trực tiếp đến yếu tố chính trị t­ư tư­ởng của mỗi cán bộ, chiến sỹ trong quân đội ta. Mặt khác xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phư­ơng án chiến đấu còn là cơ sở bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sỹ giữ vững niềm tin vào thắng lợi khi tình huống diễn biến phức tạp xảy ra. Đồng thời, phải coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn văn kiện chiến đấu, nhất là phư­ơng án phòng chống bạo loạn; tập trung nâng cao chất lư­ợng huấn luyện để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nề nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ đ­ược giao trong mọi tình huống.

Ba là: Lãnh đạo, duy trì chặt chẽ công tác quản lý nội bộ, ngăn chặn và đập tan các hoạt động chiến tranh tâm lý, gián điệp, tình báo của các thế lực thù địch. Đây là biện pháp tích cực và hữu hiệu nhằm chống lại có hiệu quả m­ưu đồ hoạt động gián điệp tình báo của chúng. Trong tình hình hiện nay, vấn đề này càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, đòi hỏi phải đư­ợc tiến hành chặt chẽ, chủ động và tích cực trong từng đơn vị quân đội. Mặt khác đối với các thế lực thù địch tiến hành chiến tranh tâm lý, hoạt động gián điệp và tình báo là một thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt nhằm khai thác bí mật quốc gia, bí mật quân sự, và lôi kéo mua chuộc cán bộ ta, gây tâm lý bất bình mơ hồ ảo t­ưởng, phá hoại về chính trị tư tư­ởng. Do đó, nội dung quản lý chính trị nội bộ ở trong từng đơn vị phải toàn diện; đặc biệt, trong nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hoà bình” về chính trị t­ư tưởng cần tập trung vào quản lý lập tr­ường quan điểm, thái độ chính trị, các mối quan hệ của từng quân nhân. Đồng thời phải coi trọng quản lý chặt chẽ cả tổ chức và con ngư­ời bảo đảm đơn vị luôn vững vàng kiên định về chính trị tư­ t­ưởng, trong sạch về tổ chức, thực sự xứng đáng là lực l­ượng chính trị tin cậy và trung thành của Đảng và nhân dân.

Bốn là: Phát huy vai trò trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên và các tổ chức, địa ph­ương, đơn vị bạn trong việc phòng chống “diễn biến hoà bình” về chính trị t­­ư t­ưởng. Trong tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ của quân đội cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực l­­ượng, các tổ chức tạo nên sức mạnh tổng hợp để phòng chống “diễn biến hoà bình”: Trong quân đội trư­ớc hết là các tổ chức đảng; tổ chức đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức chỉ huy điều hành của đội ngũ cán bộ các cấp, đây là các tổ chức cơ bản nhất trong tổ chức hiện các nhiệm vụ chính trị của các đơn vị trong quân đội ta. Vì vậy, trong phòng chống “diễn biến hoà bình” về chính trị tư­ tư­ởng cần phải coi trọng và phát huy vai trò của các tổ chức này.

Phòng chống “diễn biến hoà bình”, của các thế lực thù địch chống phá cách mạng n­ước ta là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hàng đầu, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của dân tộc ta. Kiên định sự lãnh đạo của Đảng, kiên định con đư­ờng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi đ­ường lối đổi mới của Đảng, thư­ờng xuyên cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội, kịp thời xử lý có hiệu quả và đúng đắn các tình huống có thể xảy ra là trực tiếp góp phần đánh bại chiến lược “diễn biến hoà bình”, của các thế lực thù địch đối với quân đội ta./.


KHẮC PHỤC BỆNH XA DÂN

     Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân ai cũng thấy đúng, thấy quan trọng, cần thiết, nhưng trong thực tế vận hành nguyên tắc thì còn tồn tại nhiều hạn chế, khuyết điểm. Nghị quyết Đại hội XIII xác định: “Công tác dân vận có nơi, có lúc còn hạn chế; một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận; việc nắm, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp chưa kịp thời, sâu sát. Công tác vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của nhân dân còn một số bất cập. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”.

     Không ít cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở chưa quan tâm, chú trọng phòng ngừa, phát hiện sớm, chưa kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chưa giải quyết triệt để những bức xúc chính đáng của nhân dân, vẫn để xảy ra những “điểm nóng” về chính trị-xã hội. Cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực vẫn ở tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” khiến người dân có cảm giác “quan ở xa, bản nha ở gần”. Các tổ chức chính trị-xã hội hoạt động còn nặng về hành chính, chưa thực sự thu hút, lôi cuốn quần chúng. Cán bộ làm công tác ở MTTQ các cấp còn bị xem nhẹ, chưa có cơ chế hoạt động hiệu quả, chưa có nhiều cán bộ giỏi đam mê làm công tác này. Tinh thần phục vụ nhân dân của không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính chưa tốt; công tác cải cách hành chính còn chậm. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn nặng về hình thức. Cấp ủy, tổ chức đảng ở một số nơi chưa thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên chưa bám sát đời sống một bộ phận nhân dân gặp khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, công nhân lao động ở các khu công nghiệp...

     Một bộ phận cán bộ, đảng viên vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Trong xã hội đang hình thành một tầng lớp thượng lưu “đặc quyền, đặc lợi”, sống xa xỉ, hưởng lạc, xa cách nhân dân lao động, trong đó có cả đảng viên hoặc vợ con của những đảng viên là cán bộ cấp cao. Một số cấp ủy, tổ chức đảng ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết thiếu khoa học, thiếu dân chủ, không đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII cho rằng: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

 

CẦN PHẢI GẦN DÂN


     Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Trong 5 năm qua, các cấp ủy đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị-xã hội tổ chức hơn 90.000 hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; MTTQ, tổ chức chính trị-xã hội các cấp và nhân dân đã có hơn 32.000 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

     Một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng ta rút ra từ những thành công của quá trình đổi mới, nhất là sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Đó chính là nguyên nhân quan trọng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, thu được những thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội. Nhiều lĩnh vực để lại dấu ấn nổi bật như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, chống tham nhũng, lãng phí...Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

  

Trái lòng dân là mất tất cả


     Có thể khẳng định, trải qua các thời kỳ phát triển của Đảng, việc xây dựng mối liên hệ, gắn bó với nhân dân luôn được Đảng coi trọng. Đảng thường xuyên khẳng định cần gắn bó mật thiết với nhân dân, coi đây là cội nguồn sức mạnh, nhân tố làm nên thắng lợi của Đảng, của sự nghiệp cách mạng. Đến Đại hội X (2006), trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Đảng chính thức nâng vấn đề này lên thành nguyên tắc và ghi vào trong Điều lệ Đảng: "Đảng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân". Đây thực sự là một bước ngoặt, đánh dấu nhận thức mới của Đảng đối với mối quan hệ Đảng với nhân dân trong tình hình mới.

     Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân có vai trò to lớn không chỉ đối với bản thân Đảng, mà còn có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với các tầng lớp nhân dân, đối với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân do Đảng lãnh đạo. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Gắn bó mật thiết với nhân dân trở thành quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.

     Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân xuất phát từ yêu cầu của đảng cầm quyền: Đảng muốn giữ được vị trí cầm quyền phải giữ được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân. Quần chúng nhân dân là đối tượng lãnh đạo của Đảng. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Vì thế, mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân tạo nên sức mạnh của Đảng, duy trì và củng cố vững chắc địa vị cầm quyền của Đảng. Từ thực tiễn sinh động, từ phong trào quần chúng, Đảng hoạch định, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách. Những sáng kiến đóng góp của quần chúng giúp Đảng đề ra được đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Khi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được ban hành, chính nhân dân là người thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách đó. Mục tiêu, đường lối của Đảng chỉ có thể trở thành thực tiễn trong đời sống của nhân dân khi Đảng huy động được mọi nguồn lực trong nhân dân, được nhân dân đồng tình và tự giác thực hiện. Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân góp phần trực tiếp khơi dậy nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, trí lực dồi dào của nhân dân, nhân lên thành sức mạnh để hiện thực hóa lợi ích của nhân dân.

 

Quyết liệt đấu tranh đẩy lùi các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa


     Con ngư­ời cá nhân và xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Con ng­ười với t­ư cách là chủ thể của xã hội mà hành động theo quy luật sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và ngư­ợc lại. Con ng­ười phát triển toàn diện và hài hòa trong chế độ XHCN là con người biết kết hợp hài hòa giữa 3 lợi ích là cá nhân-tập thể-xã hội. Đảng ta đã xác định lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp cho sự phát triển. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân hay coi lợi ích cá nhân là động lực duy nhất thì đó là tư tưởng cực đoan, dễ sa ngã vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ.

     Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh nhiều tàn dư lạc hậu của chế độ xã hội cũ chưa bị xóa bỏ hoàn toàn, trong khi những cái mới, cái tiến bộ, văn minh của chế độ xã hội mới chưa thực sự trở thành yếu tố bao trùm, chi phối đời sống tinh thần của quốc gia-dân tộc. Mặt khác, theo các nhà nghiên cứu văn hóa, trong tâm lý nhân cách của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại, đan xen nhiều đặc điểm tâm lý phức tạp. Đó là tâm lý tiểu nông manh mún, vụn vặt của con người thời phong kiến; tâm lý quan liêu, bảo thủ của con người thời bao cấp; tâm lý cơ hội, thực dụng, ích kỷ của con người thời kinh tế thị trường. Các đặc trưng tâm lý đó chính là những bất cập, hạn chế trong nhân cách, từ đó dẫn đến những thái độ, hành vi, việc làm mang nặng tính cá nhân chủ nghĩa-một điều rất xa lạ với chuẩn mực nhân cách của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

     Trong khi đó, trước những tác động tiêu cực từ quá trình hội nhập thế giới và nền kinh tế thị trường, nhiều giá trị văn hóa, đạo đức bị đảo lộn; thái độ tôn sùng vật chất, coi trọng tiền bạc, danh vọng cũng khiến nhiều người sa vào vũng lầy của chủ nghĩa cá nhân. Suy cho cùng, những biểu hiện như cơ hội, thực dụng, "mũ ni che tai", đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá, vừa là nguyên nhân sâu xa vừa là hệ quả tất yếu của bệnh cá nhân chủ nghĩa nảy sinh, làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội, làm mọt ruỗng văn hóa công quyền và đạo đức công vụ.

     Trước thực trạng đó, việc cần làm hiện nay là phải có các biện pháp đồng bộ, quyết liệt để phòng, chống, đẩy lùi bệnh cá nhân chủ nghĩa. Trước hết, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục mọi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ những biểu hiện mới và tác hại nghiêm trọng của bệnh cá nhân chủ nghĩa trong tình hình hiện nay. Quan tâm chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên đề cao lòng tự trọng, văn hóa liêm sỉ, đây là vấn đề được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc nhở: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập, ra sức tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao nhận thức, trình độ, trở thành những con người có văn hóa, có liêm sỉ”(2). Những người giàu lòng tự trọng, thấm nhuần các giá trị văn hóa tốt đẹp của ông cha và những phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” sẽ tự phòng ngừa được bệnh cá nhân chủ nghĩa.

    Nêu gương không chỉ là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng, mà còn là một trong những phương pháp rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để góp phần đẩy lùi bệnh cá nhân chủ nghĩa, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Những điều đảng viên không được làm”; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư khóa XI  về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.

     Một biện pháp cần phải làm thường xuyên, bền bỉ là thực hiện nghiêm túc, thực chất, hiệu quả nguyên tắc, chế độ tự phê bình và phê bình gắn với làm tốt công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên mắc trọng bệnh cá nhân chủ nghĩa, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị và lợi ích quốc gia-dân tộc.

     Giải pháp căn cơ là chăm lo, bồi dưỡng, đãi ngộ tương xứng cả về lợi ích vật chất và tinh thần cho cán bộ, đảng viên phù hợp với từng cương vị công tác, công việc chuyên môn, tính chất ngành nghề; đồng thời xây dựng môi trường làm việc dân chủ, nhân văn, bầu không khí nội bộ trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị thật sự lành mạnh. Vì suy cho cùng, bệnh cá nhân chủ nghĩa sẽ dần bị triệt tiêu khi chúng ta xây dựng được nền tảng vật chất, văn hóa xã hội hội tụ những giá trị tiến bộ, văn minh của thể chế chính trị ưu việt để góp phần bảo đảm lợi ích hài hòa giữa cá nhân, tập thể và xã hội.

Một số biểu hiện dẫn đến tình trạng mất đoàn kết


     Tình hình mất đoàn kết nội bộ trong một số tổ chức đảng có thể gây ra những nguy hại khôn lường. Hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên phải nhận thức rõ “chia rẽ, bè phái phải coi là phạm tội lớn nhất đối với Đảng, đối với nhân dân”. Một số biểu hiện sau đây về mất đoàn kết trong nội bộ tổ chức đảng là điều rất đáng chú ý.

     Mất đoàn kết do “lợi ích nhóm” giữa các cơ quan công quyền, địa phương. Do lợi ích cục bộ chi phối, có sự vận động tranh thủ, đấu đá, tranh giành giữa cơ quan này với cơ quan khác. Đặc biệt nguy hại nếu sự mất đoàn kết này xảy ra giữa các cơ quan làm chính sách. Mặc dù những biểu hiện chưa nhiều nhưng trên thực tế đã có những cơ quan làm chính sách theo kiểu “cuốc giật vào lòng”, tiến hành tuyên truyền, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan, đơn vị, địa phương khác ủng hộ những quyết định, chương trình, dự án... nhằm thu lợi cục bộ cho cơ quan mình.

     Hiện tượng “lợi ích nhóm” còn tạo ra sự “đoàn kết xuôi chiều” trong một số cấp ủy. Điều này dẫn đến tình trạng tham nhũng, tiêu cực tập thể. Một số cấp ủy thậm chí còn “quyết nghị” những vấn đề như chi “phần trăm hoa hồng”, “phí bôi trơn”, “quà tặng” trái pháp luật để mưu cầu lợi ích cục bộ cho cơ quan đó. Tình trạng “đoàn kết xuôi chiều” vì “lợi ích nhóm” này rất khó đấu tranh và là vấn đề đáng chú ý nhất trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

     Mất đoàn kết giữa người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền địa phương. Đây là điều từng xảy ra ở nhiều địa phương và đến nay vẫn là điều cần được cảnh báo. Vấn đề “quyền anh, quyền tôi” luôn được đặt ra trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa hai người đứng đầu. Đã có thời điểm, không ít địa phương có biểu hiện mất đoàn kết ở mối quan hệ này. Hiện nay và lâu dài về sau, cơ chế lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền địa phương sẽ còn nảy sinh những vấn đề mới, khó hoàn thiện trong một sớm một chiều. Nếu người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền địa phương sa vào chủ nghĩa cá nhân, chắc chắn sẽ dẫn đến mất đoàn kết. Đặc biệt, hiện nay Đảng ta đang thực hiện giải pháp luân chuyển cán bộ, nhiều bí thư cấp ủy không phải là người địa phương thì nguy cơ mất đoàn kết càng phải được quan tâm.

     Mất đoàn kết do cục bộ địa phương, đặc biệt trong công tác cán bộ (CTCB). Tình cảm quê hương là một giá trị truyền thống đặc sắc của người Việt Nam. Nhưng nếu để tình cảm này chi phối CTCB, dễ dẫn đến mất đoàn kết giữa những người được hưởng lợi và những người không được hưởng lợi. Trong những năm gần đây, vấn đề kiểm soát quyền lực được Đảng ta đặc biệt quan tâm nhưng những tiêu cực trong CTCB chưa phải đã được khắc phục triệt để. Vấn đề mất đoàn kết do cục bộ địa phương trong nội bộ cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là một trong những biểu hiện rất đáng lo ngại hiện nay.

     Mất đoàn kết do thu nhập và mức sống giữa các đảng viên quá chênh lệch. Đảng viên phải đi thuê nhà đương nhiên suy nghĩ khác xa đảng viên ở trong các biệt thự, lâu đài tráng lệ. Sự phân hóa với khoảng cách ngày càng xa về mức sống của đảng viên sẽ thúc đẩy sự khác biệt về tư tưởng, nhận thức, thậm chí dẫn đến mâu thuẫn, mất đoàn kết trong Đảng. “Đảng ta sau này sẽ là Đảng của ai?” là câu hỏi đầy trăn trở mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra. Rõ ràng, rất khó để có được sự đoàn kết, nhất trí cao giữa “kẻ ăn không hết” với “người lần không ra”.

     Trên đây là một số biểu hiện dẫn đến tình trạng mất đoàn kết trong một số cấp ủy, tổ chức đảng. Nguyên nhân có nhiều, nhưng trước hết và chủ yếu là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây nên. Nhìn nhận như vậy để thấy rằng, sự nghiệp đấu tranh bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng gắn chặt với sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà cụ thể hơn là đấu tranh, bảo vệ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

     Để nguyên tắc đoàn kết trong Đảng phát huy vai trò, tác dụng, trước hết cần tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả 10 nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thực sự coi trọng giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên. Sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng là cơ sở nền tảng cho việc thống nhất ý chí, thống nhất hành động. Không ngừng hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn. Kiên định và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng cùng với không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng.

     Giải pháp đột phá là tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, là hạt nhân đoàn kết của cấp ủy, tổ chức đảng cấp mình. Hoàn thiện thể chế về CTCB; xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; thực sự tiên phong, gương mẫu. Tiếp tục đổi mới CTCB, bố trí đúng người đứng đầu cấp ủy và chính quyền địa phương; chăm lo xây dựng cấp ủy, thường vụ cấp ủy từ cấp cơ sở đến Trung ương.

     Cấp ủy các cấp cần chú trọng xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế lãnh đạo. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp; kiên quyết xử lý dứt điểm hiện tượng mất đoàn kết trong các cấp ủy, tổ chức đảng. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách; giảm dần khoảng cách và sự bất bình đẳng về thu nhập, điều kiện làm việc của đảng viên. Đẩy mạnh công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ, gây mất đoàn kết trong Đảng của các thế lực thù địch, phản động

Đoàn kết - sức mạnh vô địch của Đảng


     Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc và của Đảng ta. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh: Đoàn kết là yêu cầu chiến lược để đảng cộng sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đoàn kết là sức đề kháng để Đảng phòng ngừa các nguy cơ bè phái, cục bộ, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...

     Ngay từ khi mới thành lập Đảng, những người cộng sản Việt Nam đã thống nhất từ bỏ mọi thành kiến và xung đột cũ, kết thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc. Tại Đại hội III của Đảng năm 1960, nhận thức rõ đoàn kết “là sinh mệnh của Đảng”, Đảng ta bổ sung vào Điều lệ Đảng nguyên tắc đoàn kết nhất trí và nhấn mạnh: “Đảng kiên quyết chống lại mọi hiện tượng chia rẽ, bè phái trong Đảng. Mỗi đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt... Tự phê bình và phê bình thành khẩn, thẳng thắn và đúng mức là một bảo đảm cho sự đoàn kết nhất trí đó”(1). Điều lệ Đảng hiện hành quy định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động... đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng”(2).

     Đánh giá kết quả thực hiện nguyên tắc đoàn kết, Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Đảng ta đoàn kết, thống nhất và trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới”(3). Tuy nhiên, Đảng ta cũng chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm”(4). Trước đó, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã cảnh báo: “Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty”.

 


Thanh niên và Đoàn thanh niên CAND là lực lượng xung kích, đi đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự

Biểu dương những thành tích, nỗ lực của phong trào thanh niên và hoạt động của các cấp bộ Đoàn trong CAND nhiệm kỳ qua, phát biểu chỉ đạo tại đại hội, Thứ trưởng Trần Quốc Tỏ yêu cầu, cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn nữa vai trò, vị trí của thanh niên và Đoàn Thanh niên CAND trong thời kỳ mới. Bản thân mỗi đoàn viên, thanh niên và tổ chức Đoàn Thanh niên CAND cần nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, sứ mệnh của mình từ đó, tiếp tục nâng cao ý thức trách nhiệm, không ngừng nỗ lực phấn đấu, học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ tri thức, đạo đức cách mạng để xung kích, đi đầu, khát vọng lập công trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, coi trọng và làm tốt hơn công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa cho đoàn viên thanh niên CAND. Đây vừa là yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài và là thước đo hiệu quả hoạt động của tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên. Các cấp bộ Đoàn trong CAND phải thường xuyên coi trọng, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đa dạng hóa các hình thức sinh hoạt, học tập để giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho đoàn viên thanh niên thông qua việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Sáu điều Bác Hồ dạy CAND. Xác định rõ Đoàn phải là lực lượng xung kích trong đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn trong CAND thực sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ Đoàn có phẩm chất, năng lực, chủ động, nêu gương, tâm huyết, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tập trung nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn và chất lượng đoàn viên.

Phát huy tinh thần tình nguyện, trách nhiệm xã hội của thanh niên Công an trong giải quyết các vấn đề an sinh xã hội và xây dựng phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc". Phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của đoàn viên, thanh niên Công an trong ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số phục vụ công tác Công an; là lực lượng tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế của lực lượng CAND./.

Tuổi trẻ CAND là nòng cốt trong phong trào “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”

Ghi nhận, nhiệm kỳ qua, công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Đoàn Thanh niên Bộ Công an có những bước phát triển tích cực, để lại nhiều dấu ấn quan trọng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Bùi Quang Huy bày tỏ thống nhất cao với tinh thần "khát vọng lập công vì an ninh Tổ quốc, vì hạnh phúc Nhân dân" được xác định trong khẩu hiệu hành động của Đại hội.

Nhấn mạnh tuổi trẻ CAND là nòng cốt trong phong trào “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”, vì vậy, ngoài nhiệm vụ thường xuyên rèn luyện để thực sự trở thành lực lượng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, Bí thư thứ nhất mong muốn các tổ chức Đoàn trong CAND cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đoàn viên, thanh niên đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc; tham gia tích cực cùng các lực lượng đoàn viên, thanh niên khác xây dựng xã hội hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh.

Tăng cường phối hợp với các tổ chức Đoàn, Hội các địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân, nhất là thanh thiếu nhi thực hiện chủ trương, đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, cảnh giác trước các âm mưu của các thế lực thù địch, tham gia củng cố quốc phòng.

Đoàn thanh niên các cấp cần quan tâm xây dựng Đoàn vững mạnh các về tư tưởng chính trị và hành động, chú trọng nâng cao chất lượng cán bộ. Quan tâm rèn luyện đoàn viên, công tác phát triển đảng trong thanh niên và đoàn viên trong lực lượng có chất lượng cao so với các khu vực khác, nhanh chóng thích nghi tham gia tích cực vận hành bộ máy tổ chức mới: Ban Thanh niên ở cấp trên cơ sở. Đây mặc dù không phải là mô hình mới trong lịch sử của ngành, nhưng là mô hình mới đối với đội ngũ cán bộ Đoàn đương nhiệm. Vì vậy cần quan tâm tập huấn, hướng dẫn cán bộ các cấp về các quy định của mô hình mới này./. 

Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là kết quả hoàn toàn khách quan

         Thời gian qua, vào trước thời điểm bỏ phiếu, các tổ chức phản động như Việt Tân và một số tổ chức nhân quyền, liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ thuộc châu Âu, Canada, Hoa Kỳ đã liên tục chống phá qua nhiều kênh thông tin, bằng nhiều cách thức tiếp cận khác nhau. Ngày 3/10/2022, đại diện của tổ chức khủng bố Việt Tân (Hoàng Tứ Duy) đã lên tiếng trong buổi họp báo do UN Watch tổ chức, phản đối mạnh mẽ việc Việt Nam tham gia là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, cho rằng Việt Nam không xứng đáng với vai trò này. Ngày 4/10/2022, 8 tổ chức nhân quyền đã đề nghị Liên hợp quốc không cho Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền. Ngày 8/10/2022, một liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ từ châu Âu, Hoa Kỳ, Canada đồng thanh kêu gọi các quốc gia là thành viên Liên hợp quốc bác tư cách ứng cử vào Hội đồng nhân quyền của Việt Nam. Không chỉ vậy, nhiều trang cá nhân của các đối tượng chống đối, phản động cũng đồng loạt lên tiếng với thái độ “chế giễu”, xuyên tạc, bôi nhọ về vị thế của Việt Nam, cho rằng việc Việt Nam tham gia vào Hội đồng nhân quyền là vô lý, cho rằng Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền, do đó không xứng đáng để tham gia vào Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc.

Với các luận điệu này, trước hết cần khẳng định việc Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là kết quả hoàn toàn khách quan, công tâm, phản ánh tính tất yếu của quá trình vận động, kiến tạo và nỗ lực đóng góp của Việt Nam vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới - một trong ba nhiệm vụ trụ cột của Liên hợp quốc. Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu đồng thuận cao, sự đánh giá tích cực của báo chí nước ngoài cũng như sự ủng hộ, ghi nhận và kỳ vọng của cộng đồng quốc tế với những đóng góp quan trọng của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người trên thế giới.

Có thể thấy, với vai trò là thành viên Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 và trở thành thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam ngày càng củng cố thêm uy tín và vị thế của mình trên trường quốc tế, cho thấy sự nỗ lực, sáng tạo trong tư duy chiến lược cũng như tính hiệu quả của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta những năm gần đây. Điều này cũng lan toả và truyền tải thông điệp mạnh mẽ về hình ảnh con người, đất nước Việt Nam yêu chuộng hoà bình, đề cao các giá trị nhân văn và nhân đạo, đồng thời giúp truyền tải chính xác, đúng đắn hơn về chủ trương, chính sách và thành tựu trong đảm bảo quyền con người ở nước ta.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán xác định con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển. Việc bảo vệ quyền con người luôn được lồng ghép, cụ thể hoá trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng được thể chế hoá trong Hiến pháp và pháp luật. Theo đó các quyền con người, quyền công dân về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 21 THÁNG 10 NĂM 1964!

     “Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”.
     Ngày 21 tháng 10 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Niu Di lân, ngài Mali Môđibô Câyta đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Người đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường. Trong bài nói, Hồ Chí Minh đã khẳng định những công lao to lớn của các thầy cô giáo đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
     “Tôn sư trọng đạo” là truyền thống quý báu, là bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, được vun đắp qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên nền văn hiến Việt Nam với bề dày hàng nghìn năm lịch sử. Từ xưa đến nay, nghề giáo luôn được xã hội tôn vinh là nghề cao quý; cha ông ta từng nói: “Không thầy đố mày làm nên”. Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa”; “Thầy cô giáo tốt là những anh hùng vô danh”; cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã nhấn mạnh: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”.
     Nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội luôn coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã chỉ rõ: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo”.
     Quán triệt các quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ giáo viên của Đảng và Nhà nước, công tác giáo dục - đào tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, xây dựng đội ngũ giáo viên các học viện, nhà trường quân đội nói riêng đã có sự trưởng thành và lớn mạnh, hòa nhập với tiến trình đổi mới chung của nền giáo dục quốc dân, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Các thế hệ nhà giáo Quân đội đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đào tạo hàng chục vạn cán bộ, hạ sĩ quan có chất lượng tốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của chiến trường trong những năm tháng kháng chiến giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế cao cả; là lực lượng nòng cốt trong xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng cao. Nhiều tấm gương nhà giáo tận tụy, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, đào tạo, vì học viên thân yêu là những biểu tượng cao đẹp để các thế hệ giáo viên, học viên mãi mãi học tập, noi theo, xứng đáng với sự đánh giá, ghi nhận của Bác Hồ kính yêu./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

 

Nhận diện, đấu tranh đẩy lùi những biểu hiện của bệnh cá nhân chủ nghĩa

      Thực dụng. Từ “thực dụng” có nghĩa ban đầu là coi trọng tính ứng dụng trong thực tế. Sau này từ “thực dụng” để chỉ những người luôn đề cao lợi ích vật chất, thậm chí coi đồng tiền là chiếc “chìa khóa vạn năng” trong việc giải quyết mọi mối quan hệ xã hội. Thiếu coi trọng ý nghĩa tinh thần và giá trị văn hóa, đạo đức nên những người thực dụng sẵn sàng hạ thấp nhân cách bản thân để mưu cầu, trục lợi cho mình. Một biểu hiện thực dụng khác ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là kén chọn chức danh, nhắm tới vị trí công tác có thể “hái ra tiền”, thậm chí có tư tưởng “đầu gà hơn má lợn”-tức là thà làm “quan nhỏ” mà có bổng lộc còn hơn là làm chuyên viên, trợ lý ở cơ quan cấp trên chủ yếu sống bằng tiền lương. Thế nên, những người này thường tìm mọi cách để không phải chuyển sang vị trí khác, kể cả vị trí cao hơn, nếu vị trí đó không mang lại nhiều lợi ích vật chất cho họ.

     “Mũ ni che tai”. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhiều người có bản lĩnh, phong cách và tư cách sống đàng hoàng; sống nhân nghĩa, trung thực, không cầu cạnh, bon chen, ích kỷ, vụ lợi. Đó là những vẻ đẹp đạo đức của những cán bộ, đảng viên chân chính.

     Tuy nhiên, xuất phát từ động cơ thiếu lành mạnh, một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay không dám sống trung thực với chính bản thân. Thấy cái đúng không biết bảo vệ, thấy cái sai không dám đấu tranh, họ thực hiện phương châm “im lặng là vàng” và “gió chiều nào theo chiều ấy”. Trong sinh hoạt Đảng, họ hiếm khi tự giác, xung phong phát biểu ý kiến, nếu có thì cũng chỉ nói dăm ba câu cho “phải phép”. Trước một vấn đề nhạy cảm cần có sự quyết đoán, nhưng khi cơ quan lấy ý kiến và biểu quyết, họ thường “ngó ngang, nhìn dọc” rồi mới giơ tay sau cùng. Thái độ dè dặt, bạc nhược như thế cũng xuất phát từ thói ích kỷ cá nhân mà ra.

       Đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá. Đây là biểu hiện nổi cộm của bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền của một bộ phận cán bộ có chức quyền. Biểu hiện khá phổ biến là không ít cán bộ nhận thức chưa thấu đáo, giải quyết không đúng mực mối quan hệ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, mà thực chất là coi nhẹ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của tập thể, trong khi lại đề cao vị trí của bản thân, lợi dụng chức quyền của mình để lèo lái, chi phối, thậm chí lấn át cả tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Dư luận trong nước và quốc tế ủng hộ Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc


Thực tế thời gian qua cho thấy, Việt Nam hoàn toàn xứng đáng và có thể làm tốt bất cứ vai trò quốc tế quan trọng nào. Việt Nam đã từng trúng cử và đã hoàn thành tốt vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Việt Nam đã hai lần trúng cử là Uỷ viên không thường trực chính thức của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020 - 2021). Kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây dựng hoà bình, phát triển và bảo đảm quyền con người. Hiện nay, Việt Nam là điều phối viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Hội đồng Nhân quyền. Việt Nam cũng đã hoàn thành Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng nhân quyền và đang tiến hành những khuyến nghị cho UPR chu kỳ 3. Việc Việt Nam quan tâm đến các công ước quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người cũng đã tạo ấn tượng sâu đậm tới cộng đồng quốc tế về nỗ lực đóng góp nâng cao đảm bảo quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Không chỉ dư luận nhân dân trong nước ủng hộ, tự hào mà các cơ quan báo chí nước ngoài cũng đưa tin bài, thể hiện sự ủng hộ Việt Nam trong vai trò thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc. Báo Washington Times ngày 21/9/2022 đã đăng bài viết trong đó ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025. Bài viết cho thấy Việt Nam tiếp tục được đánh giá cao tại Liên hợp quốc với việc cử cán bộ tham gia Phái bộ gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hoà Trung Phi, là thành viên tích cực trong các cuộc đàm phán nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Hơn nữa, cuộc chiến chống đại dịch COVID – 19 của Việt Nam cũng ghi nhận nhiều kết quả. Việt Nam đã hỗ trợ hiệu quả cho một số quốc gia về điều kiện, cơ sở vật chất để phòng chống dịch. Bài viết tổng kết rằng, kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây dựng hòa bình, phát triển và đảm bảo quyền con người.

Theo bà Caitlin Wiesen, Nguyên trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người là công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Không phải ngẫu nhiên Việt Nam được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Có thể thấy rằng, việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 có ý nghĩa rất quan trọng, là lời khẳng định đanh thép, đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các đối tượng, các tổ chức phản động, thù địch ở trong và ngoài nước đang cố tình phủ nhận thành quả của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người.

Sự kiện này một lần nữa khẳng định cho ý chí, quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người trong phát triển đất nước, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng ta trong tình hình mới. Với sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ trong cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cùng sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chắc chắn sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ tại Hội đồng nhân quyền, chung tay với cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới hoà bình, đảm bảo quyền con người trong xã hội./.

  

Cơ hội - một biểu hiện của bệnh cá nhân chủ nghĩa

     Một trong những nguyên nhân chủ quan cơ bản gây nên tình trạng suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ rõ là do bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa cũng là biểu hiện đầu tiên trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống.

     Căn bệnh này ngày càng có những biểu hiện tinh vi, phức tạp, gây ra những hệ lụy tai hại, làm nhức nhối dư luận xã hội. Do đó, việc kịp thời nhận diện, vạch mặt chỉ tên những biểu hiện nổi cộm của nó là việc làm cấp thiết trong tình hình hiện nay.. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân, gồm: Bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh, vô thực”; bệnh cận thị (tức là chỉ chú ý đến cái nhỏ nhặt, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tị nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè kéo cánh(1).Ngoài những bệnh nêu trên, những năm gần đây, bệnh cá nhân chủ nghĩa còn nảy sinh một số biểu hiện không thể xem thường, nhất là các biểu hiện như cơ hội, thực dụng, "mũ ni che tai", đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá...

     Cơ hội. Theo quan niệm thông thường, cơ hội thường được hiểu là biết tận dụng thời cơ để hành động đạt mục đích, kết quả cao nhất. Tận dụng cơ hội tốt để làm việc nghĩa, việc thiện là cử chỉ, hành động rất đáng khích lệ.

     Tuy nhiên, thời gian qua, một bộ phận cán bộ, đảng viên đã lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp và những sơ hở trong công tác quản lý, điều hành của bộ máy công quyền, coi đó như thời cơ “đục nước béo cò” nhằm vơ vét tài sản, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân. Cũng xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau “một tấc lên trời”, kéo bè kéo cánh, cục bộ địa phương, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác. Những kẻ cơ hội được người đứng đầu Đảng ta đã ví như “con lươn, con chạch”-loài vật mà người ta hay liên tưởng đến những kẻ ra luồn vào cúi, sống lươn lẹo, uốn éo, thoắt ẩn thoắt hiện, khó nắm bắt. Những biểu hiện cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng rất nguy hại.

TỔNG THƯ KÝ LIÊN HỢP QUỐC ANTONIO GUTIERRES THĂM CHÍNH THỨC VIỆT NAM!

         Nhận lời mời của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres thăm chính thức Việt Nam từ ngày 21 đến 22/10. 
     Tháp tùng Tổng Thư ký Liên hợp quốc thăm chính thức Việt Nam có Thư ký điều hành Ủy ban Kinh tế-Xã hội khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (ESCAP) bà Armida Salsiah Alisjahbana và một số quan chức Liên hợp quốc.
     Ông Antonio Guterres sinh ngày 30/4/1949, người Bồ Đào Nha. Ông có bằng kỹ sư, Học viện Instituto Superior Tecnico và thông thạo bốn thứ tiếng Bồ Đào Nha, Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Đầu những năm 1970, ông là người sáng lập Hội đồng Người tị nạn Tây Ban Nha, Hiệp hội Người tiêu dùng Tây Ban Nha DECO. Từ năm 1976 đến 1993, ông trở thành thành viên Quốc hội Bồ Đào Nha và đảm nhận các vai trò Chủ tịch Ủy ban Nghị viện Kinh tế, Tài chính, Kế hoạch; Ủy ban Nghị viện Hành chính lãnh thổ, Đô thị và Môi trường.
     Từ năm 1981 đến 1983, ông là thành viên của Hội đồng Nghị viện Hội đồng châu Âu, Chủ tịch Ủy ban Dân số, di cư và người tị nạn. Từ năm 1991 đến 2002, ông là thành viên của Hội đồng Nhà nước Bồ Đào Nha. Từ năm 1992 đến 1999, ông giữ cương vị Phó Chủ tịch Tổ chức Xã hội chủ nghĩa quốc tế, kiêm đồng Chủ tịch Ủy ban châu Phi và sau đó là Ủy ban Phát triển của tổ chức này. Từ năm 1995 đến 2002, ông trở thành Thủ tướng Bồ Đào Nha. Từ năm 1999 đến 2005, ông là Chủ tịch Tổ chức Xã hội chủ nghĩa quốc tế. Năm 2000, ông là Chủ tịch Hội đồng châu Âu. Từ năm 2002 đến nay, ông là thành viên Câu lạc bộ Madrid (một liên minh lãnh đạo dân chủ của các cựu tổng thống, thủ tướng của các nước trên thế giới). Từ năm 2005 đến 2015, ông là người đứng đầu Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR).
     Ông Antonio Guterres đảm nhiệm vai trò Tổng Thư ký Liên hợp quốc từ năm 2017 đến nay./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

Bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tưởng Hồ Chí Minh


    Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng chỉ là một nhà yêu nước như bao nhà yêu nước khác ở Việt Nam đầu thế kỷ 20: Chung một khát vọng giải phóng dân tộc, mong muốn giành lấy tự do, độc lập nhờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài.Nếu không đọc Luận cương của Lê-nin, chưa đến được với Chủ nghĩa Lê-nin, chưa trở thành người cộng sản chân chính thì quan điểm, tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa thể tạo ra bước ngoặt cách mạng, không có điều kiện để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và do đó, Người không thể đặt nền móng cho tư tưởng mác-xít đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa kết trái trên quê hương Tổ quốc Việt Nam.

    Chính Chủ nghĩa Mác-Lênin đã trang bị cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để Người tìm ra con đường cứu nước mới, đưa Người vượt lên phía trước mọi thiên kiến hẹp hòi, khắc phục căn bản sự khủng hoảng về chính trị, sự bế tắc về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, “gieo mầm cộng sản” trên quê hương Việt Nam.

     Sự phát triển tư tưởng mác-xít ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là kết quả tất yếu của quá trình xâm nhập, thẩm thấu Chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, gắn liền với công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; nhờ đó mà tư tưởng yêu nước gắn liền với tư tưởng quốc tế vô sảnMục tiêu cứu nước, cứu dân ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 được dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, vũ trang lý luận cho con đường đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, giúp họ thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

    Rõ ràng, với việc trang bị thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho đội ngũ cán bộ cốt cán ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã giúp họ hòa nhập vào cách mạng thế giới, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng mácxít-lêninnít kiểu mới, đội tiên phong của giai cấp công nhân, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.

    Từ đây, tinh thần “biện chứng pháp” của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thể hiện sâu sắc trong các văn kiện, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng. Các văn kiện thành lập Đảng như Chính cương vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi thảo và các nghị quyết của Đảng ta soạn thảo từ năm 1930 đến nay đều thể hiện tinh thần sống động của Chủ nghĩa Mác-Lênin, thấm nhuần sâu sắc giá trị khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học.

 

Những điều nêu trên đã giải nghĩa sâu sắc lý do vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, nhất quán với lập trường, quan điểm lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; vì sao chúng ta phải kiên định, trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong bối cảnh mới; không được mắc sai lầm trong nhận thức, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam sao cho phù hợp.

 

Đó cũng là điều giải thích rõ ràng vì sao bên cạnh Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Vì sao Bộ Chính trị khóa XII lại ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với mục tiêu và ý nghĩa là phải bảo vệ bằng được thành trì lý luận chính trị của Đảng, bảo đảm cho kim chỉ nam của Đảng luôn chỉ đúng hướng và ngày càng chi phối, thấm sâu vào tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên và đời sống tinh thần xã hội.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.


Với mục tiêu xuyên suốt không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thời gian gần đây, nhất là khi chúng ta đang chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chúng càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn diện, trong đó tập trung vào các lĩnh vực tư tưởng chính trị, kinh tế, pháp luật, quốc phòng, an ninh, nguyên tắc tổ chức, cán bộ, công tác nhân sự đại hội...

Có thể nói, chủ nghĩa đế quốc là lực lượng đi đầu thúc đẩy chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam rất quyết liệt, nhưng không ra mặt trực diện, mà hoạt động ngấm ngầm thông qua lôi kéo, liên kết, hợp tác để từng bước “thẩm thấu, chuyển hóa” (hợp tác để chuyển hóa), sử dụng thế lực phản động ngoài nước câu kết với nhóm phản động và những kẻ cơ hội trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam. Ngoài ra, một số đảng viên thoái hóa, biến chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cũng hùa theo các luận điệu của các thế lực thù địch, phản động, hòng làm cho tình hình an ninh chính trị ở Việt Nam trở nên phức tạp.

Hiện nay, họ đang sử dụng thủ đoạn là tập trung tác động vào nhận thức, tâm lý, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bôi đen hình ảnh, thành tựu của đất nước, hình ảnh lãnh tụ. Họ thường lợi dụng những hạn chế, thiếu sót của ta để “chính trị hóa” các vấn đề về kinh tế-xã hội, từ đó tác động, làm thay đổi nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Một mặt, họ ra sức kêu gọi thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa cương lĩnh, hiến pháp, “phi chính trị hóa” quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập” ở Việt Nam. Thúc đẩy, kích động phong trào “bất tuân dân sự”, tuần hành, biểu tình, bạo động, khiếu kiện, gây điểm nóng về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; mặc cả, đối kháng chính quyền, coi đây là sự “tập dượt” cho “cách mạng màu”. Thời gian qua, họ luôn cho rằng, các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, an sinh xã hội, đất đai, cơ sở thờ tự, môi trường, giao thông, giáo dục, Biển Đông... là những vấn đề nhạy cảm có thể lợi dụng để chống phá. Hiện nay, họ triệt để lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các sự kiện chính trị, các vấn đề phức tạp, nhạy cảm về an ninh chính trị để phân hóa, chia rẽ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, hòng làm cho đảng viên và nhân dân hiểu sai lệch, hoài nghi, thiếu niềm tin vào bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ cũng tìm cách thẩm thấu, cấy sâu vào trong xã hội Việt Nam tư tưởng chia rẽ đường lối đối ngoại của Đảng, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, nước láng giềng, khu vực. Về phương tiện, họ triệt để lợi dụng công cụ truyền thông, báo chí, không gian mạng và coi đây là ưu thế, mũi nhọn, phương tiện, chất xúc tác để chuyển hóa, gây rối loạn nhận thức tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn dắt phong trào “bất tuân dân sự” chống Đảng, chống Nhà nước XHCN...

Chính vì vậy, đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước việc chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên. Để công tác đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có hiệu quả, các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau đây:

Một là, thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, ban chỉ đạo, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; quan tâm lãnh đạo toàn diện lý luận chính trị, tư tưởng, văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí; tích cực đấu tranh trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Tức là phải phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong xây dựng lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu, nhất là cơ quan nghiên cứu, cơ quan báo chí, các học viện, nhà trường, đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên. Duy trì, tổ chức thực hiện tốt việc đấu tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng, lấy các cơ quan báo chí làm nòng cốt để vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, đồng thời định hướng dư luận xã hội. Đồng thời, thiết lập các trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội nhằm tiếp cận, chia sẻ thông tin tham gia đấu tranh phản bác trên internet, mạng xã hội với các hình thức, phương pháp linh hoạt; chú trọng chia sẻ thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu của các cơ quan báo chí, học viện, nhà trường tạo “dòng chủ lưu” thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.

Hai là, thường xuyên bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo thế chủ động trong mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội.Với phương châm chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu; không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá, Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo 35 các cấp cần quan tâm biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo, xây dựng ngân hàng comment làm tài liệu phục vụ tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh cho các lực lượng. Thực hiện tốt việc cung cấp thông tin cho cán bộ theo định kỳ, gặp mặt các đồng chí cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác hằng năm; chủ động gặp các cán bộ có quan điểm khác với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận về nhận thức và hành động.

Ba là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các lực lượng chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu, các hội nghị rút kinh nghiệm và các cuộc “diễn tập” đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả, “cầm tay, chỉ việc”. Chú trọng tổ chức một số cuộc “diễn tập” đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội làm cơ sở cho các lực lượng hoàn thiện, phát triển kỹ năng đấu tranh. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, bổ sung kinh nghiệm thực tiễn. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính Đảng, tính khoa học, tính xây dựng cao.

Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị điện tử phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Ở tầm vĩ mô: Nhà nước cần xây dựng hệ thống thông tin phong phú, hiện đại, có khả năng tiếp cận, xử lý và khuếch tán vào dòng thông tin truyền thống quốc tế với lượng thông tin đủ lớn, đủ mạnh để tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Ở tầm vi mô: Cần tăng cường và đổi mới cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm phát huy tính hiệu quả của các cơ quan báo chí truyền thông, hòa nhập vào trình độ kỹ thuật thông tin thế giới. Các bộ, ngành chức năng, các cơ quan, đơn vị liên quan cần nghiên cứu, tổ chức triển khai hệ thống giải pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ quốc tế để phục vụ việc đấu tranh ngăn chặn, xử lý các nguồn tán phát thông tin tiêu cực, xấu độc, sai sự thật, nhằm tạo môi trường thông tin trung thực, khách quan.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên cần được triển khai đồng bộ, có hệ thống các chủ trương, giải pháp. Thực hiện tốt những vấn đề cơ bản trên sẽ góp phần ngăn chặn hữu hiệu, giảm tác hại từ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, nhất là khi Đảng ta chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.


Âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự”để tạo “kênh phản biện” nhằm công khai chống đối Đảng, Nhà nước ta.


      Mưu đồ của các thế lực thù địch trong việc thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” tại Việt Nam là nhằm thông qua đó chuyển hóa nhận thức tư tưởng, tiến tới xóa bỏ nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm phai nhạt mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với âm mưu đó, chúng thực hiện thủ đoạn núp dưới cái gọi là “dân chủ hóa” đất nước Việt Nam, để từng bước hình thành các tổ chức đối trọng với Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội để “giám sát” hoạt động của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý điều hành của Nhà nước, xây dựng một xã hội “dân chủ”, “tự do” không có nguyên tắc tại Việt Nam.

      Để thực hiện âm mưu, thủ đoạn này, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền về “xã hội dân sự”, phủ nhận học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ nội bộ tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước.

      Mặt khác, chúng còn tán phát các ấn phẩm trái với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước.

Các ấn phẩm văn hóa phổ biến được các thế lực thù địch tán phát hiện nay là các tin, bài, hình ảnh và các video clips sai lệch, phủ nhận, xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; bôi nhọ hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội. Qua đó, gây tâm lý hoang mang, doa động, thiếu niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

      Bởi vậy, mỗi chúng ta phải nêu cao cảnh giác, vạch trần và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch./.


Âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

    “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là âm mưu, thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm của các thế lực thù địch hiện nay. Do đó, nâng cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn này của chúng là cơ sở để phòng chống một cách hiệu quả, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

    Để thực hiện được mưu đồ “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam, thì vấn đề trước tiên mà các thế lực thù địch xác định là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, phải xây dựng ý thức hệ mới, hệ thống lý luận mới có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một giai cấp – xã hội mới kiểu tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo đó, các thế lực thù địch thực hiện các thủ đoạn là tăng cường hợp tác toàn diện, tiến tới “lộ trình dân chủ toàn diện”. Chúng lấy tiến công trên lĩnh vực kinh tế là mũi nhọn, làm cho nền kinh tế Việt Nam chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tạo môi trường, điều kiện để hình thành “chính trị dân chủ”, “xã hội dân sự”, tạo ra môi trường và cơ hội cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho Đảng ta không kiểm soát được tình hình, từ đó tạo tình thế không thể không thay đổi, buộc Đảng hoặc phải chấp nhận “dân chủ”, hoặc tan vỡ do bạo động, đột biến chính trị, xã hội. Đồng thời, chúng kêu gọi dân chủ kiểu tư sản nhằm “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng và đảng viên ra khỏi quần chúng để tạo áp lực, lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Âm mưu, thủ đoạn xâm nhập, móc nối, gây nhân tố tác động tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

    Từ thực tế sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, các thế lực thù địch cho rằng: Lực lượng ngầm trong nội bộ là lực lượng có tính chất quyết định, nòng cốt cho việc chuyển hóa, thúc đẩy gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ từ trung ương đến cơ sở. Việc thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta phải được thực hiện bằng cách thức, phương pháp vừa cổ điển, vừa hiện đại. Đó là tìm mọi cách xây dựng cho được lực lượng đối lập trong bộ máy của Đảng, Chính quyền và hệ thống chính trị; đẩy mạnh việc gieo rắc, tạo ra những “mầm mống dân chủ” kiểu tư sản, tập trung khoét sâu vào nội bộ ta. Chúng âm mưu nhằm vào các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và hệ thống chính trị để hình thành lực lượng đối lập ngay trong nội bộ ta, đặc biệt là việc tuyên truyền, kích động, lôi kéo và hình thành các phe phái, các khuynh hướng tư tưởng đối lập trong các tổ chức chính trị – xã hội.


    Âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của các thế lực thù địch là lợi dụng công cụ và bộ máy truyền thông để chống phá, thực hiện mục tiêu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam. Chúng cho rằng, để thúc đẩy nhanh quá trình “dân chủ hóa” ở Việt Nam, nhất thiết phải có hai yếu tố: Thứ nhất, “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam; Thứ hai, “dân chủ hóa” trong truyền thông và trong xã hội. Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” nhưng nếu không có yếu tố thứ hai thì không thể đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trên, từ bên trong của đất nước ta. Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa “dân chủ” vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Đồng thời, thúc đẩy vai trò truyền thông phi chính thức như các trang mạng xã hội facebok, blog, youtube… để lên tiếng đòi tự do ngôn luận, tự do báo chí, và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông.


Thầy Nguyễn Ngọc Ký - Tấm gương sáng ngời về nghị lực vượt lên số phận


                                             

Nguyễn Ngọc Ký là một tấm gương sáng ngời về nghị lực vượt lên số phận. Ông đã chứng minh cho mọi người thấy một người tật nguyền như ông vẫn có thể trở thành người có ích cho xã hội. Tên tuổi Nguyễn Ngọc Ký đã được mọi người biết đến với lòng trân trọng, ngưỡng mộ, cảm phục. Mãi mãi, cái tên Nguyễn Ngọc Ký sẽ còn in sâu trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam hôm nay và cả mai sau.

Sinh năm 1947, quê ở Hải Hậu, Nam Định, đến nay thầy giáo ưu tú Nguyễn Ngọc Ký đã ngoài 60 tuổi, sức khỏe đã có phần giảm sút song tình yêu và niềm đam mê đối với nghề giáo vẫn luôn vẹn nguyên trong con người đầy nghị lực này.

Năm lên 4 tuổi, cậu bé Nguyễn Ngọc Ký gặp cơn bạo bệnh và bị liệt cả hai tay. Bản thân ông và gia đình đều rất buồn và xót xa. Tuy vậy, Nguyễn Ngọc Ký vẫn nuôi ước mơ được đi học như chúng bạn cùng trang lứa.

Năm lên 7 tuổi, cậu bé Ký lân la đến trường, đứng ngoài nghe cô giáo giảng bài, xem các bạn học. Về nhà, cậu bắt đầu hì hụi tập viết bằng ... chân. Thời gian đầu việc tập viết với Ký quả như cực hình. Dần dần Ký viết được chữ O, chữ V... Không những thế, Ký còn vẽ được hình bằng thước và com-pa, làm được lồng chim để chơi... Nhờ sự cố gắng tuyệt vời đó, cậu đã được đi học và học rất giỏi. Năm 1962, Nguyễn Ngọc Ký được Bác Hồ tặng Huy hiệu cao quý của Người. Năm 1963, Ký tham dự kì thi chọn học sinh giỏi Toán toàn quốc và xuất sắc đứng thứ 5. Cậu lại được Bác Hồ tặng Huy hiệu cao quý lần thứ 2.

Lên cấp III, theo lời động viên của bạn bè khắp nơi trên cả nước, Nguyễn Ngọc Ký đã chọn ngành Văn. Năm 1966, ông nhận được giấy báo nhập học ngành Ngữ Văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong 4 năm học Đại học, dù bệnh tật luôn đe dọa tính mạng, song Nguyễn Ngọc Ký vẫn miệt mài đèn sách.

Ông quan niệm: “Xa trường, xa lớp nhưng không xa sách vở”. Năm 1970, ông bảo vệ thành công Luận văn Tốt nghiệp và cho ra đời tập truyện ký viết bằng chân đầu tiên với nhan đề : “Những năm tháng không quên” (sau đó là “Tôi đi học”, “Tôi học đại học” tái bản nhiều lần).

Tốt nghiệp Đại học ngành Ngữ Văn, Nguyễn Ngọc Ký đã nghe theo lời khuyên của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về Hải Hậu, Nam Định (quê ông) làm thầy giáo để “dạy các em phấn đấu vượt mọi trở ngại, khó khăn, góp phần thống nhất nước nhà”.

Để có thể giảng bài với đôi tay tật nguyền, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký đã suy nghĩ, tìm tòi nhiều phương pháp, cách thức dạy học. Ông đã nghĩ ra phương pháp dạy học rất sáng tạo, hiệu quả. Ông  tự thiết kế các mô hình, dàn bài trên bìa một tờ giấy cứng, bên ngoài có một tờ giấy trắng che lại. Giảng đến đâu, ông dùng chân kéo tờ giấy che ở bên ngoài xuống, thế là những con chữ xuất hiện. Cùng với đó là giọng giảng sinh động, truyền cảm, ông đã thuyết phục được học sinh. Không những thế, trong bất cứ bài học nào ông cũng nghĩ ra những câu đố bằng thơ rất độc đáo.

Cứ thế, người thầy tật nguyền nhưng sáng ngời ý chí và nghị lực ấy đã truyền lửa cho biết bao thế hệ học sinh. Trong lần về thăm huyện Hải Hậu, Nam Định, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký là đại diện cho sự phấn đấu phi thường và kỳ diệu, là tấm gương sáng cho các bạn trẻ hôm nay, nhất là những người khuyết tật noi theo”. Ngày 20/11/1992, ông được vinh dự nhận danh hiệu Nhà giáo ưu tú.

Năm 1993, sau khi vào Thành phố Hồ Chí Minh chữa bệnh, sức khỏe của ông suy giảm nghiêm trọng. Năm 1994, ông chuyển công tác từ Nam Định vào làm việc tại Phòng giáo dục quận Gò Vấp để vừa công tác vừa chữa bệnh.

Thầy còn đi giao lưu khắp nơi, khắp các vùng, miền trong cả nước. Từ trường tiểu học đến trường đại học, các bạn đều rất thích được thầy tiếp xúc, trò chuyện, trao đổi về nhân sinh và cuộc sống. 1500 buổi nói chuyện tại các nhà trường THCS, THPT, THCN là một con số đáng nể phục! Chẳng thế mà một thầy giáo trẻ từng bày tỏ “Thầy Ký giao lưu một tiết bằng chúng em dạy giáo dục công dân cả năm… Thầy đã thực sự truyền lửa và lòng nhiệt huyết đến các bạn trẻ”.