Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023

  ĐỘC LẬP DÂN TỘC PHẢI GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam luôn là một trong những chủ đề thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước quan tâm. Vấn đề này một lần nữa được đề cập và phân tích sâu sắc, đầy sức thuyết phục trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. 

 

🌿 Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nào? Vì sao Việt Nam lại lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội?

 

Trên cơ sở tổng kết lịch sử phát triển của nhân loại, và từ bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa, C. Mác cho rằng: chủ nghĩa tư bản là chế độ áp lức bóc lột, tất yếu sẽ bị lịch sử vượt qua, thay thế nó bằng chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, C. Mác, Ph. Ănghen, và sau này là V.I. Lênin đã chỉ rõ quy luật ra đời của chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Vậy, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nào? Vì sao Việt Nam lại lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội? Về vấn đề này, trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn sai đường, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?”.

 

Xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là chế độ nữa phong kiến, nữa thuộc địa, đã thối nát và lạc hậu. Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc hết sức sâu sắc, không thể điều hòa, điều kiện cho một cuộc cách mạng xã hội đang đến gần. Trong bối cảnh đó, đã có rất nhiều phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi khắp Bắc, Trung, Nam. Từ phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài đến đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng có xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, phong trào có xu hướng cải cách của Phan Chu Trinh, đến cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học. Các phong trào này đều sáng ngời tinh thần yêu nước theo những ý thức hệ khác nhau, từ những phong trào theo hệ tư tưởng phong kiến, theo lập trường nông dân, hoặc theo hệ tư tưởng tư sản, đều đã được lịch sử kiểm nghiệm, song tất cả đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Thực tiễn đó cho thấy, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải tìm con đường khác, phù hợp với thực tiễn dân tộc và xu thế phát triển khách quan của thời đại.

 

Trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911), theo tiếng gọi của ngọn cờ “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản, với mong muốn sang các nước tư bản phát triển để học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây để về giúp đồng bào thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Vì vậy, Người đã đến các nước tư bản phát triển như: Pháp, Anh, Mỹ và nhiều nước thuộc địa của các nước đế quốc, quan sát và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở chính quốc và các nước thuộc địa. Từ đó, Người nhận ra rằng, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản là không triệt để, vì cách mạng thành công nhưng chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số giai cấp tư sản, còn đông đảo quần chúng lao động vẫn chịu cảnh áp bức bóc lột. Vì vậy, nếu đi theo con đường dân chủ tư sản cùng lắm chỉ giải phóng được dân tộc. Điều đó không đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

 

Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã mở ra thời đại mới - quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Chính từ “tiếng vang” của Cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau này như Người nói: giống như một mặt trời chói lọi, cách mạng Nga đã chiếu rọi khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, chỉ khi Nguyễn Ái Quốc đến với Cách mạng tháng Mười, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó Người tin rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Trong bối cảnh lịch sử đó, khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, thì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được cả dân tộc đón nhận như là hệ quả tất yếu. Bởi vì, “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Trong đó, có nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp là, trong cải tổ, Ðảng Cộng sản Liên Xô đã mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ðó là đường lối xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin của một số nhân vật lãnh đạo đảng. Chủ nghĩa đế quốc đã lợi dụng những khó khăn và sai lầm về đường lối của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Ðông Âu, chúng đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”, “không đánh mà thắng”.” cực kỳ thâm độc, can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn vào nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa.  Dĩ nhiên, chúng không thể làm được điều này, nếu cải tổ có đường lối đúng đắn, nếu hơn 20 triệu đảng viên cộng sản Liên Xô có tinh thần cảnh giác cách mạng và sức chiến đấu cao, không để nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khiến cho bọn cơ hội, xét lại và phản bội thao túng cơ quan lãnh đạo của Ðảng, nếu có sự cố kết chặt chẽ giữa Ðảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô.

Trước hiện thực đó, Đảng ta chỉ rõ, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đó là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, chứ không phải là sự lạc hậu hay sụp đổ của một học thuyết khoa học và cách mạng, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Tại Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), trước những khó khăn và phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định con đường cách mạng của nước ta là “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đây cũng là lần đầu tiên trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta phác thảo ra mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đã đưa ra quan niệm, cách thức, biện pháp, bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể đất nước. Để từ đó, chúng ta định hướng con đường, để không mắc phải những sai lầm, đồng thời khẳng định Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

 

🌿 Một vấn đề rất quan trọng được đề cập trong cuốn sách là, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào cho đúng và đầy đủ?

 

 Như V.I.Lênin từng nhắc nhở: các dân tộc sẽ tùy vào điều kiện cụ thể sẽ có những hình thức và bước đi khác nhau, song sớm hay muộn tất cả các dân tộc sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nếu chủ nghĩa xã hội trước Mác nó chỉ là mơ ước, khó trở thành hiện thực, thì chủ nghĩa xã hội khoa học đã chỉ ra con đường, lực lượng, biện pháp, cách thức, bước đi để thực hiện được mục tiêu. Vấn đề đặt ra là, chúng ta phải nhận thức đúng bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo vào điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, những hạn chế, khó khăn của quá trình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta không phải là bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là do cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực không tuân theo những nguyên lý chỉ dẫn của chủ nghĩa xã hội khoa học và sự nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội chưa đầy đủ. Vì vậy, “trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự  tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...”.

 

Từ quá trình đổi mới đất nước cho thấy, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì còn có nhiều khó khăn, thách thức. “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”. Chính điều đó, Đảng ta đã đưa ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, “nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đôla Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài…Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Những thành tựu đạt được đó đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Chủ nghĩa tư bản hiện có điểm chung là sự phát triển không đều và không phải cứ quốc gia nào đi theo chủ nghĩa tư bản thì đều phát triển, mà phần lớn là đói nghèo, xã hội bất ổn. Chính chủ nghĩa tư bản đang tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc, dựa trên bóc lột người lao động, đó là bản chất của chủ nghĩa tư bản. Mặc dù, “từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức “tự điều chỉnh”, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó… Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: Đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế…Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ…”. Vì thế, chủ nghĩa tư bản không phải là mục tiêu của nhân loại, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải quyết được những tồn tại, bất công mà chủ nghĩa tư bản đã và đang tạo ra, đưa xã hội loài người đến dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là, chỉ bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, hay nói cách khác là bỏ qua việc xác lập thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, còn những thành tựu nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản chúng ta phải kế thừa để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhất là những thành tựu về kinh tế, khoa học và công nghệ. Do đó, chúng ta bỏ qua mà không bỏ qua, chỉ bỏ qua chế độ chính trị áp bức bóc lột. Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

 

Đặc biệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng… Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.

 

Dù thời thế có đổi thay, nhưng mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta là không bao giờ thay đổi. Độc lập dân tộc là điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, ngược lại chủ nghĩa xã hội là điều kiện để đảm bảo độc lập dân tộc. Vì đây là mục tiêu đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đương nhiên, vấn đề không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà điều không kém phần quan trọng là phải tìm ra giải pháp, bước đi, cách làm khoa học, sáng tạo nhằm thực hiện cho bằng được mục tiêu, lý tưởng đã xác định. Chủ nghĩa xã hội của chúng ta xây dựng là chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa xã hội đổi mới đúng đắn trên tinh thần phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn đất nước. Với những đặc trưng và phương hướng, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có giá trị khoa học và thực tiễn rất to lớn, là định hướng chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, để tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, phát huy sức mạng tổng hợp trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

 

 

 

"Truy vết" chính mình

 

Đại hội Chi bộ Tổ dân phố 10 thành công tốt đẹp. Để chúc mừng thành công của đại hội và chia tay nguyên bí thư chi bộ chuyển về sống, sinh hoạt đảng ở quê, tổ dân phố tổ chức bữa tiệc nhỏ.

VIỆT NAM XUẤT SẮC NHẢY 6 BẬC, VÀO TOP 20 TRÊN BẢNG XẾP HẠNG SỨC MẠNH QUÂN SỰ HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI!

         Theo bảng xếp hạng sức mạnh quân sự 2023 của trang web phân tích quốc phòng độc lập Global Firepower, Việt Nam đã xuất sắc vươn lên vị trí 19, vượt qua cả Ba Lan trên bảng xếp hạng.
     Như thường lệ, tổ chức Global Firepower vẫn xây dựng chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu căn cứ vào điểm PwrIndx dựa trên 50 thông số có ý nghĩa quyết định đến khả năng đương đầu với chiến tranh thông thường, được thu thập từ CIA và các báo cáo truyền thông để xác định thứ hạng các cường quốc quân sự toàn cầu.
     Những yếu tố đó bao gồm tài nguyên, tài chính, sức mạnh Hải - Lục - Không quân, hậu cần, dân số… điểm PwrIndx lý tưởng là 0,0000.
     Trong đó, các tiêu chí bao gồm quy mô nền quân đội, số lượng quân nhân, binh lính tại ngũ, số lượng thiết bị công nghệ cao (khí tài quân sự), số lượng xe tăng và tàu ngầm, chi tiêu quốc phòng hàng năm…đến khả năng cung ứng hậu cần và địa lý (không tính số lượng vũ khí hạt nhân sở hữu).
     GFP đưa ra xếp hạnh dựa trên các dữ liệu công khai từ các nguồn mở như báo chí, các chuyên trang quân sự và báo cáo của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), để xác định chỉ số sức mạnh PowerIndex (PwrIndx).
     Đồng thời, mỗi quốc gia cũng được GFP đánh giá dựa trên các yếu tố liên quan đến một chiến dịch quân sự tấn công hoặc phòng thủ kéo dài. Điều này cho phép cho phép các quốc gia nhỏ hơn, công nghệ tiên tiến hơn, cạnh tranh với các quốc gia lớn hơn, công nghệ kém phát triển hơn, các công cụ tính toán dưới dạng điểm thưởng và điểm phạt, được áp dụng để hoàn chỉnh bảng xếp hạng hàng năm.
     Điểm càng thấp, quân đội càng mạnh (điểm hoàn hảo là 0, nhưng chưa có quân đội nào trên thế giới đạt được điều này kể cả Hoa Kỳ).
     Cùng với đó, công thức đánh giá của GFP cũng thay đổi theo từng năm, nhằm cập nhật các nhân tố mới và loại bỏ các nhân tố cũ. Do đó, tương đối khó để có thể so sánh trực tiếp giữa các năm (đặc biệt là so sánh theo công thức cơ bản hơn được sử dụng trong những năm trước đó).
     Tại BXH năm ngoái, Việt Nam giữ vị trí 24. Sang 2023, Việt Nam đã xuất sắc vươn lên vị trí 19, bỏ xa nhiều quốc gia khác trên thế giới. Riêng Hải quân, Việt Nam vượt cả Canada, đứng thứ 38 nước hàng đầu hành tinh và xếp thứ 5 khu vực Đông Nam Á với số lượng khí tài và nhân lực ngày càng được nâng cao.
     Cụ thể, 20 nền quân đội mạnh nhất hành tinh lần lượt là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Hàn Quốc, Pakistan, Nhật Bản, Pháp, Anh, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Indonesia, Ai Cập, Ukraine, Australia, Iran, Israel, Việt Nam và Ba Lan.
     Theo số liệu mới nhất, điểm PwrIndx của Việt Nam là 0,2855, đứng thứ 19 thế giới và thứ 2 ASEAN sau Indonesia.
     Trong khu vực Đông Nam Á, đứng đầu là Indonesia, họ giữ chắc hạng 13 với điểm PwrIndx là 0,2221, chỉ số rất cao. Thái Lan vẫn đứng sau Việt Nam ở vị trí 24, với điểm PwrIndx là 0,3738.
     Các vị trí đứng đầu trong bảng xếp hạng được Global Firepower công bố năm nay không có gì thay đổi khi lần lượt vẫn là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Anh.
     Cần lưu ý thêm rằng các số liệu do trang Global Firepower đưa ra chỉ mang tính tham khảo mà thôi, chúng không thực sự có giá trị khi so sánh sức mạnh quân sự của từng quốc gia một cách chính xác.
Theo TTXVN./.





Yêu nước ST.

ĐÒI BỎ TẾT CỔ TRUYỀN LÀ Ý ĐỒ RŨ BỎ VĂN HÓA DÂN TỘC!

     Mỗi năm, khi Nhân dân cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài hân hoan chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, thì trên mang xã hội lại “lao nhao” các bài viết xuyên tạc, phủ nhận giá trị tốt đẹp Tết cổ truyền (Nguyên đán). Với suy nghĩ chủ quan, một số “nhà thông thái” chê bai Tết cổ truyền của dân tộc ta; cho rằng: Tết Nguyên đán “làm cho nền kinh tế èo uột”, “thủ phạm của sự đình trệ kinh tế”, gây lãng phí thời gian, tiền của… Từ đó, đề nghị “gộp” Tết Nguyên đán vào “Tết Tây”; hoặc bỏ Tết Nguyên đán.  Đó là những luận điệu xỏ xiên, bởi đòi bỏ Tết cổ truyền là rũ bỏ văn hóa dân tộc.
     Việt Nam ta đã và đang thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Song, để trở thành quốc gia văn minh, không có nghĩa chối bỏ quá khứ tốt đẹp; gạt bỏ giá trị văn hóa dân tộc.
     Tết cổ truyền Việt Nam là nét văn hóa độc đáo tổ tiên truyền lại; bởi nó lưu giữ hồn cốt tổ tiên, cội nguồn, gốc tích dân tộc. Ở đó, là những giá trị tinh thần, tín ngưỡng, tâm linh, ước vọng, nuôi dưỡng tâm hồn Việt; đặc biệt, nó đã được “sàng lọc” qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của tổ tiên ta. Chối bỏ Tết cổ truyền là hành vi cổ súy chối bỏ tổ tiên, chối bỏ văn hóa Việt! TS. Sin Harng Luh chua chát: “Nếu cội nguồn truyền thống của mình mà không giữ được thì sao dám trông mong phát triển những thứ lớn lao hơn”.
     Bác Hồ của chúng ta đã dạy “… Cái gì cũ mà tốt phải phát triển thêm”. Tết cổ truyền có lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, cần gìn giữ. Ai đó, nếu quan tâm văn hóa dân tộc, thay vì “đề xuất” bỏ Tết Nguyên đán, sao không “hiến kế” các giải pháp góp phần hạn chế những tiêu cực phát sinh? Chớ nên “tạo cớ” để các thế lực phản động lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ta./.

Yêu nước ST.

CHUYỆN GÌ RA CHUYỆN NẤY!

         Việc Ban Quản lý Sân Vận động Quốc gia Mỹ Đình thời gian qua đang thực hiện không tốt nhiệm vụ của mình từ đó dẫn tới những sự cố ê chề khiến báo người ngao ngán từ khung thành bị bật tung, ghế ngồi của các cầu thủ bị gió cuốn lật bay đến cỏ sân xấu mà người ta hay ví là “bò gặm” và những hàng ghế “lôi thôi”, “bẩn thỉu” với bụi bám đầy,… Cho dù có bất cứ lý do gì đi chăng nữa thì đó cũng là kết quả của sự quản lý yếu kém của một bộ phận những người có trách nhiệm. Họ đã hứng phải những chỉ trích của dư luận, xã hội và phải chịu trách nhiệm trước cơ quan chức năng. 
     Tuy nhiên, đứng trước những điều “trái tai, gai mắt” đó với hình ảnh của một sân vận động mang thể diện quốc gia trưng ra với thiên hạ thì bất cứ người dân Việt Nam nào cũng không thể ngồi yên hay đơn thuần chỉ buông vào những lời chỉ trích mà không chung tay hành động. Trước hết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo để Trường đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh huy động các em sinh viên vào cuộc đóng góp sức lực của mình cho những việc có thể làm như lau, chùi, quét tước. 
     Sự huy động đó mang tinh thần chỉ đạo của Bộ chủ quản với trường Đại học của mình là hoàn toàn hợp lý. Các em sinh viên đi học và mong muốn được đóng góp sức lực của mình vào cái điều mà nhiều người dân Việt Nam đang muốn làm, đó là sứ mệnh và sự tự hào bởi lẽ học ở mọi lúc, mọi nơi, từ những hành động nhỏ nhất vì sứ mệnh ngành thể thao nước nhà. Thực tế có rất nhiều người muốn nhưng không được lựa chọn để làm việc cần làm cấp bách ngay lúc này thay vì xỉa xói và chỉ biết nhiếc móc nhau. 
     Chúng ta vì thể diện Quốc gia trên hết và trước hết lúc này, đã là người dân Việt Nam thì không ai có thể ngồi yên để “đo giọt nước mắm, đếm cọng dưa hành” đâu lũ Việt Tân bô nhếch kia ạ!
Yêu nước ST.

QUAN HỆ VIỆT NAM VÀ HOA KỲ - CHỈ LỢI ÍCH QUỐC GIA LÀ MÃI MÃI TRƯỜNG TỒN!

         Mới đây trên không gian mạng, Việt Tân và các tổ chức lưu vong ở hải ngoại vẫn tiếp túc luận điệu cho rằng "Đời cha đánh đuổi Mỹ nhưng đời con cháu du học, lấy quốc tịch Mỹ". Xin có đôi lời luận giải như sau: 
     Cổ nhân có câu “Thương hải tang điền” ngụ ý nói về sự thay đổi khó lường của cuộc đời. Còn nhà triết học Heraclitus đã từng khẳng định “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” để nói về dòng đời chảy trôi với những biến thiên của cuộc sống. Cuộc sống luôn chứa đựng những điều bất ổn, còn bước đi của lịch sử thì luôn song hành với nhịp điệu của thời gian. Vì vậy, mọi mối quan hệ chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian hữu hạn, chúng ta cần phải học cách thay đổi để thích nghi. Nếu không biết cách hội nhập thì cá nhân hay cả một dân tộc sẽ trở thành những kẻ trì trệ, bảo thủ. Chính vì lẽ đó, mối quan hệ “ta và địch” sẽ được biến thiên theo dòng chảy của cuộc đời. Nhà thơ Tố Hữu từng viết: 
"Thù, bạn thời này có khác xưa
Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa?
Chợ trời thật giả đâu chân lý?
Hàng hoá lương tâm cũng thiếu thừa?"
     Hoa Kỳ và Việt Nam trong những năm qua và trong bối cảnh hiện nay đến với nhau trên tinh thần khép lại quá khứ đau thương của 02 dân tộc, hướng đến tương lai. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển thành quan hệ đối tác toàn diện và chính Hoa Kỳ chứ không phải Việt Nam đề xuất nâng tầm lên thành quan hệ đối tác chiến lược. Việt Nam chào đón người Mỹ đến với quốc gia tươi đẹp và yêu chuộng hòa bình trên cơ sở hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; đóng góp cho sự nghiệp chung, vì sự phát triển của hai nước, vì hoà bình của nhân loại. 
     Điều này khác xa với việc quân đội chính quy Hoa Kỳ và đồng minh đến Việt Nam 1965 để xâm lược và nuôi dưỡng bọn bán nước VNCH chống lại dân tộc Việt Nam. Người Mỹ đến Việt Nam bao giờ cũng được đón tiếp nồng hậu! Hiện nay Việt Nam chúng ta sẵn sàng mở rộng vòng tay đón chào bè bạn năm châu, bốn biển trong đó có Hoa Kỳ đến với đất nước hùng anh và văn hiến ngàn đời này bằng "hoa hồng và đại bác chào mừng", chứ không còn là AK 47 và những tràng đại bác để vùi đầu giặc trong biển lửa hờn căm kiểu 1965, khi người Mỹ chính thức đưa quân đội của mình và chư hầu sang để xâm lược nước ta. Ngày xưa, Mỹ sang ta là đi xâm lược; do đó, chúng ta phải chiến đấu để quét sạch nó đi. Ngày nay thời và thế khác xưa, ta và họ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau.
     Việt Nam đánh Mỹ nhưng bây giờ lại đưa con, cháu sang Mỹ định cư và học tập, sinh sống: thưa với các bạn đu càng tụt quần và cả đám nhân danh đấu tranh cho "dân chủ nhân quyền" trong và ngoài nước thân mến! Các bạn phải hiểu rằng Hoa Kỳ là quốc gia mà đại đa số công dân của họ hiện nay có gốc gác là những người đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới. Người ta đến với Hoa Kỳ, mang theo cả tinh hoa của dân tộc họ để gộp thành một hợp chúng quốc đa văn hoá, đa sắc tộc, đa dạng và phong phú về mọi mặt. Hoa Kỳ là quốc gia có nền kinh tế và khoa học công nghệ tiên tiến nhất thế giới, là nơi quy tụ trí tuệ của nhân loại (không chỉ riêng của người Hoa Kỳ).
     Con em Việt Nam đến Hoa Kỳ học tập và sinh sống cũng là lẽ đương nhiên. Học tập những tinh hoa nhân loại để sau này về phục vụ đất nước hay ở lại để phát triển tài năng, để thế giới biết về người Việt không chỉ anh hùng trong chiến đấu mà còn thông mình, sáng dạ, làm rạng rỡ non sông. Tuy nhiên muốn nhắc cho các bạn nhớ rằng, người Việt Nam đến Mỹ hiện nay là quang minh chính đại, nghĩa là đàng hoàng với tâm thế của những người công dân của một dân tộc tự do, độc lập và yêu chuộng hòa bình; sánh bước ngang hàng với người Mỹ, ngẩng cao đầu bước vào cửa chính và "ngồi chung mâm", "thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay". Khác xa so với việc phải đu càng máy bay trực thăng và cướp thuyền của dân vượt biên đến với nước "Mẹ" của đám chống cộng cực đoan sau ngày 30/4/1975!
     Từ những lẽ trên, có thể khẳng định là người Việt đến Mỹ hay người Mỹ đến Việt Nam để học tập, làm ăn, sinh sống, đó là chuyện thường tình. Ngày nay, khi Việt Nam đang phất lên thì đừng nói, ai sẽ chơi với Việt Nam mà hãy nói rằng: Việt Nam sẽ lựa chọn ai để chơi. Đại hồng kỳ của Việt Nam kiêu hãnh tung bay khắp năm châu là bằng chứng sinh động nhất, trung thực nhất. Chúng tôi tự hào là công dân của nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc./.


Yêu nước ST.

SAU VƯỢNG RÂU, CHẾ LINH...LẠI ĐẾN BẰNG KIỀU - THẤT VỌNG ĐẾN TỘT CÙNG VỚI MẶT TRẬN VĂN HOÁ, TƯ TƯỞNG!

         Sau khi rời tổ quốc sang Mỹ bằng con đường du lịch - biểu diễn - kết hôn, ca sĩ Bằng Kiều đã có những phát biểu xuyên tạc, nói xấu chế độ nhân quyền Việt Nam để những thế lực phản động, thù địch lợi dụng vu cáo, chống phá công cuộc xây dựng chế độ CNXH trong nước. Điều này gây nhiều phản ứng bất bình cho giới văn nghệ sĩ và khán giả.
     Rời bỏ những thành công danh vọng nơi quê nhà, Bằng Kiều đặt chân lên nước Mỹ với những toan tính vật chất tầm thường. Nhưng mọi thứ không dễ như họ nghĩ. Để tồn tại, Bằng Kiều trở thành những con bài chính trị trong tay bọn phản quốc, quay lưng phủ nhận tất cả những gì đất nước, quê hương đã ưu ái ban tặng họ. Được gì và mất gì có lẽ chỉ có họ mới thấm thía hơn cả…năm 2004, Bằng Kiều bị tước quyền công dân Việt Nam, cấm biểu diễn. 
     Sau nhiều năm theo đóm ăn tàn, phản bội tổ quốc, giờ đây Bằng Kiều mò về Việt Nam kiếm ăn, bất chấp liêm sỉ. Cũng phải thôi, hiện nay thời thế đã khác, thế hệ F1 ngụy tàn dư ở hải ngoại đã xuống cửu tuyền gần hết, F2,3 thì không rành tiếng Việt. Vậy nên giới văn nghệ sĩ ở Mỹ hiện nay không còn dễ dàng kiếm ăn như xưa. Họ lũ lượt kéo nhau về biểu diễn, kiếm sống. Một thời chê bai đất nước khó khăn, bây giờ lại mặt dày quay về, đúng là vô liêm sỉ. 
     Nhưng đáng trách hơn vẫn là VTV và một số đài địa phương đã mời Bằng Kiều tham gia một số chương trình và giờ đây là cấp phép cho hắn biểu diễn ở Trung tâm hội nghị Quốc gia. Hết Vượng râu, Chế Linh...và bây giờ là tên phản quốc Bằng Kiều. Hà Nội tự hào có ngàn năm văn hiến thế nhưng giờ đây lại thất bại trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Dư luận có quyền đặt câu hỏi là tại sao lại liên tục để những kẻ phản quốc được hiện diện một cách đường bệ ngay tại Trung tâm hội nghị Quốc gia. Ai sẽ chịu trách nhiệm việc này. Thất vọng, nếu không chấn chỉnh thì mất nước là điều khó tránh khỏi./.

Yêu nước ST.

BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM ĐÂY SAO?

         Cố nhà báo Hữu Thọ từng có câu nói để đời, dù rất ngắn gọn nhưng lại vô cùng sâu sắc rằng: "“Mắt sáng – Lòng trong – Bút sắc”, mỗi khi nói, viết về nhà báo, nghề báo và "“Làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng”. Nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Thế nhưng VTC News, "chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng" lại tuyên truyền sai sự thật, giống luận điệu của báo chí phương Tây và những người thuộc chế độ ngụy quân, ngụy quyền và bọn xuyên tạc lịch sử lưu vong ở hải ngoại. 
     Cần khẳng định rõ ràng, "chiến tranh Việt Nam" là luận điệu xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Ý đồ của chúng là xuyên tạc rằng, cuộc chiến từ 1954-1975 đơn thuần là cuộc nội chiến, phủ nhận thành quả, máu xương của quân và dân ta. Với cách gọi chiến tranh Việt Nam, người ta lập lờ đánh lận con đen, rửa cái tội xâm lược miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ trong giai đoạn này. Cần khẳng định rõ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là cuộc chiến diễn ra giữa một bên là quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một bên là đế quốc Mỹ xâm lược, chư hầu và tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn.
     Để minh chứng cho luận điểm này, chúng ta dễ dàng nhận thấy: Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, người Mỹ đã thay chân Pháp chiếm miền Nam Việt Nam, dựng lên chế độ tay sai, bán nước Ngô Đình Diệm, phá hoại nội dung hiệp định Giơnevơ (quy định sẽ tổng tuyển cử để thống nhất trước năm 1956). Người Mỹ làm chủ hoàn toàn từ quân đội mà cao điểm nhất là 500.00 quân Mỹ vào thời điểm 1968. Vũ khí, khí tài và tiền của đều do một tay Hoa Kỳ cung cấp, ngụy Sài Gòn đơn thuần chỉ là con rối để Hoa Kỳ giật dây, sai khiến. Đại sứ Mỹ mới toàn quyền quyết định, cái gọi là "Tổng thống VNCH" phải xin ý kiến, chỉ thị trước khi hành động. Hơn 58.000 quân Mỹ bị khai tử, 305.000 lính trở thành phế nhân. Vậy nên không thể xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. "Chiến tranh Việt Nam" là cách gọi của phương Tây và bè lũ phản quốc. Không lý VTC news cũng cùng chung quan điểm với họ? Tư duy và nhãn quan chính trị của những người này thật sự thấp kém hoặc cố tình tuyên truyền, rửa mặt cho giặc, xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam. 
     Tiêm kích mà VTC news cho rằng "không bán được chiếc nào trong 7 năm" thực chất là MIG21 huyền thoại, được mệnh danh "những con én bạc", một thời là nỗi khiếp sợ của giặc Mỹ xâm lược khi những anh hùng như Phạm Tuân, Nguyễn Văn Bảy, Nguyễn Văn Cốc...dùng chính MIG 21 để xóa sổ hàng loạt B52, F4, F111 của cái gọi là "niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ". Chính MIG21 đã góp phần đưa Hoa Kỳ về thời kỳ đồ nhôm. Hiện nay, đã có nhiều loại máy bay hiện đại thay thế MIG 21 thế nhưng những chiến công vang dội trong 12 ngày đêm trên bầu trời thủ đô anh hùng của nước Việt đời đời văn hiến vẫn là bảo vật quốc gia. VTC news có ý đồ gì khi đăng tải thông tin này khi cả nước đang kỷ niệm 78 năm thành lập quân đội nhân dân Việt Nam và 50 năm chiến thắng oanh liệt 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội. Thất vọng./.

Yêu nước ST.

KHƠ ME ĐỎ DIỆT CHỦNG VÀ TÀN SÁT NHÂN DÂN VIỆT NAM, LIÊN HỢP QUỐC VÀ CẢ THẾ GIỚI NỢ NHÂN DÂN VIỆT NAM LỜI XIN LỖI CHÍNH THỨC!

     Kỷ niệm 44 năm ngày Quân đội nhân dân Việt Nam giúp Campuchia thoát hoạ diệt chủng!
     Từ nhiều năm nay, phương Tây đã hiểu rõ về bản chất tốt đẹp của người Việt Nam khi mang quân đội sang Campuchia để tiêu diệt bè lũ diệt chủng, khát máu Khơ Me Đỏ. Thế nhưng, họ biết sai nhưng không hề nhận sai, không có bất kỳ lời xin lỗi nào được gửi đến nhân dân Việt Nam, sau những gì họ đã hùa cùng Mỹ và Trung Quốc, Asean...gây ra khổ đau cho dân tộc ta! Các thủ lĩnh của chúng đã được Tòa án quốc tế đưa ra ánh sáng, bắt chúng phải trả giá, đền nợ máu với nhân dân Campuchia và nhân dân Việt Nam ta! Phiên tòa xét xử các tội ác chiến tranh do Liên Hiệp Quốc bảo trợ tại Phnom Penh, Campuchia ngày 17/11/2018 đã tuyên phán quyết lịch sử, kết án chế độ Khmer Đỏ của Campuchia đã phạm tội diệt chủng trong giai đoạn từ 1975-1979. Phán quyết được tuyên ngày 16-11 có ý nghĩa đòi lại công lý cho khoảng 1,7 triệu người Campuchia và hàng ngàn người Việt Nam từng bị chế độ Pol Pot hành quyết hoặc chết vì bệnh tật, lao động khổ sai hoặc chết đói trong giai đoạn từ 1975-1979. 
     Thế nhưng, đâu đó vẫn còn nhiều kẻ cố tình xuyên tạc, bôi nhọ sự hy sinh cao cả, không tiếc máu xương của người Việt Nam; thậm chí có người là nguyên thủ quốc gia của một nước cũng có cái nhìn lệch lạc về bản chất của cuộc chiến, bôi nhọ, chà đạp lên tính chính nghĩa đất nước ta. Họ cho rằng chúng ta xâm lược Campuchia; dựng chính quyền theo ý mình và đặt ra những thuyết âm mưu kiểu như: Tại sao Việt Nam không rút quân về ngay trong năm 1979, khi đã giúp Campuchia dựng chính quyền; sao không bàn giao lại cho Liên Hiệp Quốc, thậm chí có những kẻ ăn cơm dân, hưởng lộc nước cũng cho rằng, chúng ta ở lại Campuchia đến năm 1989 là sai lầm…Xin có đôi lời luận giải như sau:
     Thứ Nhất: Vì sao chúng ta mang Quân đội sang giúp Campuchia? Lý do: từ 1975 đến 1979, Khơ Me Đỏ đã gây bao nhiêu tội ác với đồng bào ta và nhân dân Campuchia. Chúng ta đã nhẫn nhịn và cố níu kéo bằng giải pháp hòa bình, thế nhưng chúng không chấp nhận đàm phán; trong vòng 4 năm từ 1975 tới 1979, người Việt Nam vẫn liên tục bị tấn công, chúng mang những sư đoàn chủ lực tấn công và giết hại đồng bào ta hết sức man rợ, thảm sát Ba Chúc là một ví dụ điểm hình về tội ác tày trời của chúng. Trong suốt 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường. Chỉ có ba người sống sót sau vụ tàn sát. …Nếu chúng ta không phản công thì chúng sẽ được đà làm tới, với mưu đồ tiêu diệt toàn bộ người Việt Nam, chúng ta tự đứng lên để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng và bảo vệ chính nhân dân mình!
     Thứ Hai: Binh pháp tinh diệu ở chỗ là phải biết nắm thời cơ, tạo thế và lực để quyết thắng giặc, đánh địch làm chúng không kịp hồi phục nguyên khí, đánh cho giặc “chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn”; sau khi đẩy lùi chúng khỏi đất nước ta, quân đội ta thừa thắng truy kích và nhổ cỏ tận gốc để chúng không còn khả năng gây ra những tội ác tày trời. Nếu chúng ta rút hết quân về nước, đó mới là phạm vào đại kỵ của binh gia. Ngày xưa Hạng Vũ vì quá trượng nghĩa mà tha cho Lưu Bang nhiều lần, dù trên chiến trường Lưu Bang luôn thất bại trước Hạng Vũ, nhưng chính vì không nhổ cỏ tận gốc, không đánh dập đầu rắn để rồi sau này chỉ một trận ở Cái Hạ đã làm cho nước Sở và Hạng Vũ mang mối hận ngàn thu (tất nhiên sự việc và bản chất của hai sự kiện này không giống nhau).
     Thứ Ba: Tại sao chúng ta không rút quân ngay? Giao cho Liên Hiệp Quốc tiếp quản...? Hãy nhìn xem trước khi người Việt Nam bị Khơ Me Đỏ tàn sát và Campuchia bị diệt chủng thì LHQ ở đâu? Chúng hùa theo Trung Quốc, Hoa Kỳ ủng hộ bọn diệt chủng Pôn Pốt. Mỹ, Anh, Tàu và một số nước khác vẫn ủng hộ tiền bạc cho tàn quân khơ me đỏ mượn đất Thái Lan lập căn cứ. Vậy nếu Việt Nam giao lại cho LHQ thì hậu quả sẽ thế nào? Khơ me đỏ sẽ vực dậy và Việt Nam sẽ liên tục bị tấn công. Cụ thể vào những năm 1984 - 1985 tàn quân khơ me đỏ được viện trợ từ nước ngoài đã gây nhiều tổn thất cho Quân đội Việt Nam. 
     Thứ Tư: Nếu chúng ta không ở lại Campuchia (theo đề nghị của chính quyền cách mạng Campuchia) thì liệu một chính quyền non trẻ vừa mới ra đời sau bao nằm bị tàn phá nặng nề, xác người còn phơi đầy đồng ruộng. Vậy họ có đủ sức để đánh trả Khơ Me Đỏ đang chực chờ để phản công ở phía bắc Campuchia và Thái Lan, khi mà sau lưng Pôn Pốt luôn có sự hậu thuẫn đến từ các nước được cho là “Liên hiệp quốc”? 
     Thứ Năm: QĐND Việt Nam vào tận sào huyệt của để đào tận gốc, tróc tận rễ, tiêu diệt hết giống loài lang sói là việc làm chính nhân để chiến thắng bất nhân, giúp chính quyền Campuchia xây dựng lực lượng đủ sức chiến đấu và chiến thắng quân Pôn Pốt đó là chính nghĩa và được nhân dân Campuchia khẩn cầu ủng hộ nhiệt thành, chính Hunsen và các cộng sự đã sang Việt Nam cầu cứu chúng ta giúp họ thoát họa diệt chủng! Chúng ta giúp bạn bảo vệ chính quyền non trẻ; chính quyền Campuchia lúc đó là sự lựa chọn của lịch sử, của những người dân Campuchia, chúng ta chỉ hỗ trợ, giúp đỡ chứ không hề “dựng lên” theo ý của chúng ta. Lòng người Campuchia đứng về chúng ta và Hunsen, xem chúng ta là đội “quân nhà Phật” đã cứu sống, hồi sinh dân tộc họ; họ mang ơn của chúng ta đến muôn đời; đó chính là nhân hòa!
     Ngày 07/1/1979 là ngày mà cả nhân loại không thể nào quên khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào Phnôm Pênh. Sự trợ giúp hào hiệp, chí tình của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cứu rỗi đất nước Chùa tháp, thoát hoạ diệt chủng, giúp họ tái sinh và có cơ đồ như hôm nay. Xuyên tạc, bôi nhọ cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam của tổ quốc và việc giúp nhân dân Campuchia thoát họa diệt chủng là tội ác và thật kinh tởm. Liên Hợp quốc và cả thế giới nợ nhân dân Việt Nam một lời xin lỗi chính thức./.

Yêu nước ST.

Kỷ niệm 44 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh, bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc (07/1/1979-07/1/2023)

 

CHIẾN THẮNG CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG POL POT - NHỮNG SỐ LIỆU BIẾT NÓI

1) Năm 1969, Pol Pot theo sự khuyến khích của Trung Quốc yêu cầu Việt Nam rút quân đội và các cơ sở hậu cần ra khỏi Campuchia (qua ngoại giao, Trung Quốc cũng gián tiếp kích động Lon Nol đưa tối hậu thư đòi Việt Nam rút quân trong 48h, đóng cửa cảng trung chuyển Sihanoukville) gây thêm khó khăn cho cách mạng Việt Nam thời kỳ 'Hậu Mậu Thân". Điều này trái với các thỏa thuận trước đó trong Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương (3/1965).

Tháng 1/1971, Pol Pot xác định trong Nghị quyết IV: "Việt Nam là kẻ thù số 1, Mỹ là kẻ thù số 2". Từ 1970 - 1974, Khmer Đỏ đã bắt cóc, sát hại gần 1.000 chiến sĩ Việt Nam; thực hiện hàng trăm vụ tịch thu hàng hóa, cướp bóc kho tàng với hàng chục tấn lương thực, vũ khí.

Ngày 1/2/1978, Pol Pot và đồng bọn ra Nghị quyết, ghi rõ: "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam"

2) Từ tháng 5/1975 đến tháng 12/1978, Khmer Đỏ lấn biên giới nước ta 9.872 vụ; giết hại tại chỗ 5.200 người, bắt và thủ tiêu sau đó 20.700 dân thường; đốt 21.200 ngôi nhà, trường học, bệnh viện, đình chùa... làm cho hơn 400.000 người Việt chịu cảnh tị nạn chiến tranh.

Ở trong nước, sau hơn 3 năm cầm quyền, Khmer Đỏ gây ra cái chết của từ 1,7 - 3,3 triệu người dân Campuchia (chiếm khoảng 1/3 dân số nước này) - sự kiện diệt chủng ghê sợ nhất thế kỷ XX tính theo tỷ lệ dân số. Chưa kể số người tàn tật (15 vạn), trẻ mồ côi (20 vạn)...

3) 211.800 lính là tổng quân số (3 thứ quân) Khmer Đỏ vào tháng 12/1978, trong đó có 23 sư đoàn chủ lực. Quân đội Pol Pot được trang bị 450 pháo lớn (85, 105, 155mm); 3 trung đoàn tăng - thiết giáp với 294 xe các loại; 1 sư đoàn phòng không với 200 khẩu pháo; 1 sư đoàn không quân với 96 máy bay; 1 hải đoàn gồm 94 tàu, xuồng cao tốc.

22/12/1978, Pol Pot điều động 19 trong tổng số 23 sư đoàn chủ lực tiến công toàn diện Việt Nam, tính đánh một trận vang danh thế giới. Hướng chủ yếu đánh vào Tây Ninh, nhằm chiếm bàn đạp nhanh chóng tiến về 'lấy lại' Sài Gòn.

4) Lực lượng Việt Nam đối chọi trên chiến tuyến lúc đầu ước khoảng 250.000 người (18 sư đoàn bộ binh, các trung đoàn, lữ đoàn độc lập và bộ đội địa phương). Tiến công sang đất Campuchia ước khoảng 150 - 200.000 người. Lực lượng trên được trang bị khoảng 600 xe tăng- thiết giáp, hơn 400 pháo lớn và 139 máy bay chiến đấu, vận tải, 10.000 ôtô. Kể cả các đợt bổ sung, thay quân trong 10 năm ở Campuchia, đã có hàng chục vạn lượt người chiến đấu tại đây - biến đội quân viễn chinh sang Campuchia là lực lượng đánh ra nước ngoài lớn nhất trong lịch sử dân tộc.

5) Trong vòng 16 ngày phản công (23/12/1978 đến 7/1/1979), quân đội Việt Nam sau khi đánh bật quân địch ra khỏi biên giới đã tiến vào giải phóng Phnom Penh, lật đổ chế độ Khmer Đỏ. Đây là chiến dịch hiệp đồng binh chủng lớn nhất của quân đội Việt Nam cho đến hiện tại.

6) Từ tháng 5/1977 đến tháng 1/1979, đã có 12.000 cán bộ, chiến sĩ Việt Nam hi sinh và 43.000 người bị thương tật.

Quân đội Việt Nam tiếp tục ở lại theo yêu cầu của chính quyền mới nhằm truy quét tàn quân Khmer Đỏ, giúp xây dựng cơ sở vật chất, kinh tế, văn hóa - giáo dục - khoa học của nước Campuchia hiện đại. Hàng vạn người con Việt Nam tiếp tục đổ máu để bảo vệ thành quả ngày 7-1 cho đến khi tất cả họ hoàn thành nhiệm vụ và rút hết quân 10 năm sau đó (1989).

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 25/12:

 

“Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.

Đây là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối ngày 25 tháng 12 năm 1958 nhân dịp Người về thăm và nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy cơ khí Hà Nội – nhà máy cơ khí hiện đại đầu tiên của nước ta do Liên Xô giúp đỡ xây dựng. Tại đây, Người giao trách nhiệm cho cán bộ, công nhân nhà máy phải phấn đấu xây dựng nhà máy trở thành nhà máy kiểu mẫu, hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1959, chuẩn bị cho kế hoạch dài hạn sau này. Muốn vậy, Người căn dặn phải đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng hơn nữa; bởi tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc và lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng. Muốn làm tốt công tác tư tưởng, để cho đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương đến được với mọi người, động viên, khích lệ mọi người hăng hái, thi đua lao động, sản xuất, chiến đấu… thì phải làm tốt công tác tuyên truyền để cho tư tưởng được thông suốt; qua đó, để dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm; làm tốt công tác tuyên truyền sẽ không còn hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.

Dưới sự lãnh đạo, giáo dục của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị hoạt động công tác đảng, công tác chính trị nói chung, công tác giáo dục chính trị tư tưởng nói riêng được cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả cao, đã động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… Càng trong khó khăn, gian khổ bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng được khẳng định, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với lời khen của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

13. LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 29/12

 

“Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng phải luôn luôn nhớ:

– Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng,

– Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không theo”.

Ngày 29 tháng 12 năm 1966, tại phiên họp cuối năm của Hội đồng chính phủ, khi đề cập đến khuyết điểm của công tác lưu thông phân phối Bác đã căn dặn những điều trên. Ở đây, Bác đề cập đến “không sợ thiếu”, “không sợ nghèo” không phải là cam tâm chịu nghèo, chịu thiếu. Cách mạng là để cuộc sống con người giàu có hơn, sung sướng hơn. Nhưng trước cái thiếu, cái nghèo còn đang hiện hữu thì phải làm sao thiếu mà được công bằng, nghèo mà lòng dân vẫn yên. Sợ sự không công bằng và sợ  lòng dân không theo là biểu thị thái độ, trách nhiệm của người quản lý. Trước đó, năm 1947 để giữ nghiêm pháp luật và kỷ luật Bác đã phải thức trắng đêm để suy nghĩ và đi đến quyết định bác đơn xin ân xá của Đại tá Trần Dụ Châu, nguyên Cục trưởng Cục Quân nhu vì những vi phạm nghiêm trọng về mặt đạo đức, quản lý không tốt, bớt xén của bộ đội để dùng vào việc riêng.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người, đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác phân phối hàng hóa trong hệ thống phân phối của nhà nước đã đề cao trách nhiệm, tận tâm, tận lực hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất là giai đoạn đất nước còn trong chiến tranh và thực hiện cơ chế bao cấp, góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trong Quân đội, mọi chế độ, tiêu chuẩn, chính sách của cán bộ, chiến sĩ được quy định cụ thể trong các văn bản, được phổ biến và niêm yết công khai theo quy định ở từng cấp để mọi quân nhân biết, thực hiện. Hằng tháng, các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp Ngày Chính trị văn hóa tinh thần để bộ đội được dân chủ tham gia góp ý trên mọi mặt công tác; qua đó tạo bầu không khí dân chủ, tin cậy đã trực tiếp xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 30/12

 

“Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí học tập số 12 tháng 12 năm 1958.

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác, đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng, là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo của lòng cao thượng của con người, là gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và vô luận trong mọi hoàn cảnh phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở đây, chính là việc người đảng viên thực hiện trọn vẹn lời hứa tại Lễ kết nạp đảng viên và giải quyết tốt ba mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc).

Người đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại tạm thời… cũng không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công, vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật sự có đức thì bao giờ cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là tấm gương sáng về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; thuyết phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính đạo đức cách mạng, năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng Quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; luôn giữ vững và không ngừng phát huy tốt phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng, rèn luyện và phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 31/12

 

“Cá nhân chủ nghĩa đẻ ra hàng trăm tính xấu như siêng ăn, biếng làm, kèn cựa, nghĩ đến mình không nghĩ đến đồng bào, tham danh lợi, địa vị.v.v…”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi nói chuyện với giáo viên và học sinh Trường Phổ thông cấp III Chu Văn An – Hà Nội ngày 31 tháng 12 năm 1958.

Chủ nghĩa cá nhân được Hồ Chí Minh ví như “giặc nội xâm”, “giặc trong lòng” và nó như một thứ vi trùng độc hại, là rác rưởi làm tha hóa các mối quan hệ vốn có của mỗi cán bộ, đảng viên. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà cán bộ, đảng viên phạm nhiều sai lầm, cần phải kiên quyết đấu tranh, sửa chữa, quét sạch.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra tội ác của chủ nghĩa cá nhân; đó là: Sống ích kỷ, sống thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, muốn quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn học tập để nâng cao và thấm nhuần đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận; nâng cao dân trí, thực hiện và phát huy quyền dân chủ thực sự và rộng rãi, tăng cường mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng nhân dân; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, đề cao tự phê bình và phê bình và tích cực xây dựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp, để dẹp cái xấu, lấy xây là chính… Quan niệm và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phòng tránh, đấu tranh hiệu quả chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng có giá trị lâu dài và tính thời sự cấp thiết.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; đặt ra yêu cầu cao về tính tập thể, về mối quan hệ gắn bó đồng chí, đồng đội, quan hệ quân – dân… đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân, tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta, được nhân dân yêu mến, tin tưởng tặng cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 01/01

 

“Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”.

Là lời thư chúc năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 1 tháng 1 năm 1952, đăng trên Báo Nhân dân ngày 03-1-1952, trong bối cảnh nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua gần 7 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc: "Nhân dịp Nguyên đán dương lịch 1952, tôi gửi lời thân ái chúc: Toàn thể đồng bào và kiều bào, Toàn thể chiến sĩ, Các anh chị em cán bộ, Các cụ phụ lão, các vị thân sĩ, Các cháu thanh niên, nhi đồng. Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”.

Lời Bác trong thư đầu năm mới thể hiện tấm lòng thương nhớ da diết và trân trọng của Người đối với đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta đang sinh sống ở nước ngoài và khích lệ, khơi dậy, động viên, thôi thúc “con dân nước Việt” nêu cao truyền thống yêu nước, cống hiến sức mình cho thắng lợi sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc.

Đầu năm 1952, ngay khi đăng tải trên báo, lời chúc đầu năm mới của Người đã được các tầng lớp nhân dân, kiều bào, cán bộ chiến sĩ quân đội đón nhận, chuyển hóa thành khẩu hiệu “hành động cách mạng” trên khắp tiền tuyến, hậu phương trong cả nước; cán bộ, chiến sĩ quân đội dấy lên phong trào thi đua học tập, huấn luyện, đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân cả nước, trên dưới đồng lòng, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn phản công chiến lược, tạo ra thế phát triển tiến công trên diện rộng, làm tiền đề đẩy nhanh thực hiện chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954, mau chóng kết thúc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược.

Vang vọng lời Bác năm xưa, mỗi dịp vui xuân, đón tết Nguyên đán của dân tộc, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi lời chúc năm mới tới toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài, phát huy trí tuệ, bản lĩnh, truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất của dân tộc, nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, đoàn kết thi đua yêu nước, giành thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vẻ vang, sánh vai cùng bè bạn năm châu.

Trong những giờ phút thiêng liêng chuyển sang năm mới, tự hào vững bước dưới Quân kỳ "Quyết chiến, quyết thắng", cán bộ, chiến sĩ Quân đội khắc sâu lời chúc năm mới của Bác; tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tay súng, giữ vững biên cương, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống ấn no hạnh phúc của nhân dân.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 02/01

 

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”.

============

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Phát biểu tại buổi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước ngày 2-1-1967: “…Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 4660, ngày 10-1-1967, trong bối cảnh nhân dân trên hai miền Nam, Bắc phát huy tinh thần yêu nước, không sợ hy sinh, gian khổ, đang gắng sức thi đua xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Trong lời phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận, tôn vinh những cá nhân, tập thể đã cống hiến, hy sinh xương máu vì sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong suốt mấy chục năm; động viên, huấn thị mọi người, mọi tập thể hãy cố gắng hơn nữa, thi đua sản xuất, công tác và chiến đấu, lập nhiều thành tích to lớn, góp phần cùng toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

Lời phát biểu năm ấy của Hồ Chí Minh đã lan tỏa tới quốc dân đồng bào, thâm nhập sâu vào quân đội, trở thành động lực thúc đẩy mọi cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua học tập, công tác, huấn luyện, chiến đấu, lập nên nhiều chiến công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đến hôm nay, lời phát biểu năm xưa của Người vẫn tỏa hào khí mãnh liệt, đang được mọi cán bộ, chiến sĩ toàn quân khắc ghi, đoàn kết thi đua, nỗ lực thực hiện thắng lợi Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; xây dựng và nhân rộng nhiều tập thể, cá nhân Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới và tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; quan tâm tạo điều kiện để các tập thể, cá nhân anh hùng, điển hình tiên tiến tiếp tục phát huy thành tích cao hơn nữa; phát động, khuyến khích, cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực học tập, làm theo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 04/01

 

"…Anh chị em trí thức ta cũng nên có cuộc vận động để góp phần vào phong trào chung đó".

============

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện tại Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ, cứu nước, được đăng trên Báo Nhân dân, số 4296, ngày 8-1-1966; trong lúc đồng bào miền Nam đang đi từ thắng lợi này sang thắng lợi khác; phong trào chống Mỹ, cứu nước sôi nổi ở miền Bắc, quân và dân cả nước giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Trong bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước, công nhân có cuộc vận động "3 xây, 3 chống", nông dân có cuộc vận động "cải tiến, quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật", phụ nữ có phong trào "ba đảm đang", thanh niên có phong trào "ba sẵn sàng", phụ lão một số nơi có phong trào "bạch đầu quân". Những cuộc vận động ấy, nảy nở nhiều con người mới rất anh hùng. Anh chị em trí thức ta cũng nên có cuộc vận động để góp phần vào phong trào chung đó.

Lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời điểm ấy, không chỉ đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ trí thức, mà còn định hướng, thôi thúc, dấy lên phong trào "người người thi đua, nghành ngành thi đua; ngày ngày thi đua của mọi người, mọi ngành, mọi cấp, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Trong giai đoạn hiện nay, phong trào thi đua yêu nước của các hội trí thức từ Trung ương đến địa phương đã có bước phát triển rộng sâu, tạo động lực, đòn bẩy tinh thần, khích lệ, động viên, cổ vũ hội viên trí thức phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, những năm qua, các tổ chức hội trí thức đã quan tâm, ghi nhận, tôn vinh những điển hình tiên tiến, có công lao, đóng góp xuất sắc trong hoạt động; qua đó tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, đẩy mạnh hơn nữa phong trào thi đua yêu nước "đoàn kết, sáng tạo" cống hiến sức lực, trí tuệ, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Trong quân đội, tinh thần thi đua yêu nước được cụ thể hóa thành phong trào thi đua quyết thắng, gắn chặt chẽ với các cuộc vận động, các phong trào thi đua của các ngành, các cấp; khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng hy sinh quên mình của cán bộ, chiến sĩ trên tuyến đầu của Tổ quốc, nơi đầu sóng ngọn gió để canh trời, bám biển vì bình yên của Tổ quốc; tinh thần cháy bỏng khát vọng và đam mê của những nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu; tinh thần miệt mài, tích cực, sáng tạo của những người thợ mặc áo lính trong nhà máy, xí nghiệp, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu tuyệt đối trung thành của Đảng, của nhân dân trong thời kỳ mới.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 05/01

 

“Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

============

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa: “Gửi anh chị em họa sĩ, biết tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được. Tôi gửi lời thân ái hỏi thăm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo. Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1986,  ngày 5 tháng 1 năm 1952; trong bối cảnh toàn thể dân Việt Nam đang thực hiện đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện” chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong thư năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa, nghệ thuật đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời tin tưởng, mong muốn công tác giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ họa sĩ đi đầu xung kích, sáng tạo trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; xứng đáng là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, một trong những lực lượng tiên tiến trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc.

Lời của Người trong thư năm ấy đã nhanh chóng  được anh chị em họa sĩ nói chung, họa sĩ trong quân đội nói riêng vui mừng đón nhận, hun đúc tinh thần thi đua yêu nước, hăng say, sáng tạo nhiều tác phẩm văn hóa, nghệ thuật phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nâng cao chất lượng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ - người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; thực sự là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".