Thứ Ba, 31 tháng 1, 2023

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968-Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử


Cách đây 55 năm (1968 - 2023), vào thời khắc Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, trên Ðài Tiếng nói Việt Nam ngân vang những vần thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”.

Ðó cũng chính là lời hiệu triệu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên khắp miền Nam. Ðây là cuộc Tổng tiến công đầy táo bạo, bất ngờ, đánh thẳng vào sào huyệt của kẻ thù, thể hiện sâu sắc tư tưởng chiến lược tiến công, là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, mang tầm vóc và ý nghĩa to lớn, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 - Dấu ấn sâu đậm trong dòng chảy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Trước những thất bại liên tiếp của địch và thắng lợi dồn dập của ta trên khắp chiến trường, từ cuối năm 1966 đầu năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đi tới chủ trương tạo điều kiện tiến tới mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”, “vừa đàm vừa đánh”; đó là sách lược hỗ trợ cho dấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quân và dân ta.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, khóa III, họp từ ngày 23 đến ngày 26-1-1967, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trình bày “Đề cương báo cáo về công tác đấu tranh ngoại giao”, trong đó chỉ rõ: “Để đánh bại kẻ thù hết sức ngoan cố và xảo quyệt là đế quốc Mỹ xâm lược, ta phải giữ vững quyết tâm cao độ, nắm vững phương châm chiến lược, đồng thời phải biết cách đánh thắng địch, vận dụng sách lược khôn khéo, giành thắng lợi từng bước”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 khóa III, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về mặt ngoại giao bây giờ là đúng lúc” và chỉ rõ: “Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.

Quan điểm của Đảng được quán triệt trong các hoạt động chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo chiến tranh từ giữa năm 1968 trở đi. Trước mắt, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 13, ngày 28-1-1967, Bộ Ngoại giao ta ra tuyên bố khẳng định lập trường trước sau như một của nhân dân Việt Nam là kiên quyết chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do; đồng thời chỉ rõ: “Phía Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chỉ sau khi Mỹ thực hiện điều này thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện được”.

Tháng 5-1967, ngay sau khi cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của quân Mỹ kết thúc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá tình hình, xem xét dự thảo “Kế hoạch chiến lược Đông-Xuân 1967-1968”. Tiếp đó, tháng 6-1967, Hội nghị Bộ Chính trị được triệu tập và bàn bạc rất kỹ dự thảo kế hoạch chiến lược này. Hội nghị nhận định, thắng lợi của quân và dân ta giành được trên cả hai miền Nam, Bắc là to lớn, toàn diện. Thắng lợi đó đã làm thất bại một bước rất cơ bản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, đẩy Mỹ vào thế lúng túng, bị động cả về chiến lược lẫn chiến dịch.

Hội nghị nhận định, về phía ta, cả thế và lực đang có những tiến bộ, cho phép ta “trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn”. Nhưng tương đối ngắn là bao lâu? Tuy bàn bạc rất tỉ mỉ về tương quan lực lượng lúc đó, Hội nghị cũng chỉ có thể dự kiến sẽ giành thắng lợi quyết định trong năm 1968 theo phương hướng “ĐÁNH LỚN”. Muốn vậy, nhiệm vụ quân sự của ta là phải tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân Mỹ, làm mất khả năng tiến công của chúng, đồng thời phải tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, khiến cho chúng không còn là lực lượng chiến lược trong tiến công và phòng ngự mà Mỹ dựa vào đó để tiến hành chiến tranh.

Nhằm chuẩn bị tốt nhất theo phương hướng trên, trong 5 ngày, từ ngày 20 đến 24-10-1967, Bộ Chính trị họp bàn cụ thể hơn về chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968. Đây là hội nghị rất quan trọng để vạch ra kế hoạch tiến công táo bạo “Tết Mậu Thân 1968” lịch sử. Tại Hội nghị, thay mặt Quân ủy Trung ương, đồng chí Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo “Kế hoạch chiến lược Đông Xuân Hè 1967-1968” làm cơ sở cho Bộ Chính trị bàn bạc và thảo luận. Ngoài bản dự thảo kế hoạch trên đây, Bộ Chính trị còn dành thời gian nghe báo cáo về tình hình địch của Cục 2, về tình hình ta của Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, về các kế hoạch tác chiến của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ. Trên cơ sở đường lối độc lập, tự chủ và thảo luận kỹ các báo cáo, đặc biệt là “Kế hoạch Đông Xuân Hè 1967-1968” do Quân ủy Trung ương dự thảo, Bộ Chính trị chủ trương tạo một bất ngờ lớn về chiến lược đánh địch. Để tạo được bất ngờ về chiến lược, Bộ Chính trị quyết định thời gian bắt đầu mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

Sau Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1967, các chiến trường bắt tay chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Ngày 28-12-1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt, chính thức thông qua “Kế hoạch chiến lược năm 1968 và nhiệm vụ của quân và dân ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh dự, chỉ đạo Hội nghị. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng báo cáo toàn bộ vấn đề và quán xuyến việc thảo luận. Bộ Chính trị chủ trương: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định”. Đây là nhiệm vụ trọng đại và cấp bách. Bộ Chính trị quyết định: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”.

Bộ Chính trị dự kiến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có thể phát triển theo ba khả năng: Một là, ta giành thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, công kích và khởi nghĩa thành công ở các đô thị lớn, ý chí xâm lược của địch bị đè bẹp, địch phải chịu thương lượng đi đến kết thúc chiến tranh theo mục tiêu, yêu cầu của ta. Hai là, tuy ta giành thắng lợi quan trọng nhiều nơi nhưng địch vẫn còn lực lượng dựa vào những căn cứ lớn và tăng thêm lực lượng từ ngoài vào phản công giành lại những vị trí quan trọng và các đô thị lớn - nhất là Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu với ta. Ba là, Mỹ tăng cường nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, sang Lào và Campuchia hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh, gỡ thế đang thua của chúng. Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: Ta phải nỗ lực phi thường giành thắng lợi cao nhất theo khả năng một, nhưng phải chuẩn bị sẵn sàng chủ động đối phó với khả năng hai, khả năng ba, tuy ít.

Tháng 1-1968, để giữ bí mật ý đồ chiến lược, Ban Chấp hành Trung ương lên họp ở huyện Kim Bôi (tỉnh Hòa Bình) để thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12 năm 1967. Hội nghị Trung ương phân tích sâu sắc toàn diện các vấn đề Bộ Chính trị nêu ra, tính kỹ các phương án, cuối cùng Trung ương nhất trí với Bộ Chính trị và lấy đó làm Nghị quyết Trung ương lần thứ 14. Phát biểu trong Hội nghị, đồng chí Trường Chinh cho đây là “MỘT SÁNG TẠO LỚN CỦA ĐẢNG”.

Đêm 29 rạng sáng ngày 30-1-1968 (tức đêm Giao thừa Tết Mậu Thân theo lịch miền Nam, ngày mồng Một Tết theo lịch miền Bắc), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra ở khắp các tỉnh và thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam. Bộ binh, đặc công, pháo binh, biệt động đánh mạnh, đánh trúng các mục tiêu trọng yếu của địch ở Sài Gòn - Gia Định, Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt, Tây Ninh, Bến Tre, Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, Biên Hòa, Mỹ Tho, Cần Thơ, Trà Vinh, Châu Đốc, Vĩnh Long, Cà Mau, Sóc Trăng, Rạch Giá, Kiên Giang, Tuyên Đức… Trải qua ba đợt tấn công, quân và dân ta đã đánh vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân đội tay sai Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự địch bị tiến công đồng loạt. Chúng ta tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn quân địch, trong đó có 4 vạn quân Mỹ, 600 ấp chiến lược, giải phóng thêm 100 xã với hơn 1,6 triệu dân.

Có thể khẳng định, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, với đường lối độc lập, tự chủ, đồng thời căn cứ vào đặc điểm tình hình mọi mặt, Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 giành thắng lợi quyết định. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương về “Tình hình và nhiệm vụ mới” tháng 10-1968 đánh giá “đó là một chủ trương chiến lược đúng đắn và sáng tạo, là một sáng kiến lịch sử của Đảng ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”. Với thực tiễn đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là dấu ấn sâu đậm, tạo nên bước đột phá trong dòng chảy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam.

Tầm vóc, ý nghĩa cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 diễn ra khi nỗ lực xâm lược của Mỹ ở Việt Nam lên tới đỉnh cao, khi lực lượng so sánh giữa ta và địch trên chiến trường nghiêng mạnh về phía Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn. Bằng cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt, táo bạo, dũng mãnh, nhằm vào đô thị trên toàn miền Nam, quân và dân ta đã đánh đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải đơn phương “xuống thang chiến tranh”, khởi đầu cho một quá trình đi xuống về mặt chiến lược. Quá trình đó là không thể đảo ngược, cho dù phải 5 năm sau Mỹ mới rút hết quân ra khỏi miền Nam và phải 7 năm sau chế độ tay sai Sài Gòn mới sụp đổ, nhưng về mặt chiến lược, Mỹ đã thua cuộc từ mùa Xuân năm 1968. Ngày 31-3-1968, Tổng thống Lyndon B. Johnson phải tuyên bố ba điểm: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Paris; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai. Đây là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ - chiến lược chiến tranh quan trọng nhất được Mỹ công phu chuẩn bị và đánh giá cao trong chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của Mỹ trong thập niên 60 của thế kỷ XX. Đến tháng 5-1968, Mỹ phải bắt đầu khởi động quá trình đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Như vậy, thắng lợi lớn nhất và quan trọng nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là ta đã làm đảo lộn chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ - một cường quốc đế quốc giàu mạnh nhất, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của chúng. Trong chiến tranh, thắng lợi ở quy mô chiến dịch, chiến thuật là rất quan trọng, song chỉ khi làm đảo lộn kế hoạch chiến lược chiến tranh của đối phương mới tạo chuyển biến lớn, thay đổi cục diện chiến trường. Đó là vấn đề có tính quy luật thuộc nghệ thuật chỉ đạo và điều hành chiến tranh, có tác động lớn đến tiến trình và kết cục cuộc chiến tranh. Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ta đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của chúng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Thắng lợi oanh liệt Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đưa tới nguy cơ, lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân Mỹ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh với Việt Nam - một dân tộc nhỏ ở cách xa nước Mỹ.

Ngày 1-3-1968, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ MacNamara bị cách chức, sau đó Westmoreland cũng bị bãi quyền. Clark Clifford nhậm chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thay MacNamara tỏ ra hoang mang: “Tôi không biết bao giờ cuộc chiến tranh kết thúc, không biết nó kết thúc bằng cách nào… Không biết liệu bao giờ quân đội Nam Việt Nam có thể thay thế được quân Mỹ”.

Nghị quyết Bộ Chính trị (8-1968) khẳng định: “Thắng lợi to lớn nhất là chúng ta đã tạo ra một sự thay đổi đột biến trong cục diện chiến tranh”. Năm 1973, khi đánh giá về ý nghĩa của cuộc tổng công kích, Trung ương Đảng khẳng định: “Thắng lợi của cuộc tiến công Tết Mậu Thân là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra một bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ… Ta đã giành thắng lợi to lớn này chỉ sau ba năm, kể từ khi địch chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, trong lúc địch đã có trên 20 vạn quân Mỹ, ngụy và quân chư hầu trên chiến trường… Sự kiện này chứng minh rực rỡ sức mạnh của phong trào cách mạng của quần chúng và sức mạnh của chiến tranh nhân dân ở miền Nam”. Với ý nghĩa đó, “kết quả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy chứng tỏ Đảng ta không máy móc, mà luôn luôn có những phát kiến chiến lược lớn, luôn luôn sáng tạo trong chủ trương cũng như trong chỉ đạo toàn dân, toàn quân hành động. Đánh giá về sự kiện Tết Mậu Thân 1968, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng sau ngày toàn thắng (12-1976) nêu rõ: “Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris”.

Hơn nữa, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là biểu tượng sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và dân Việt Nam, là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, tài mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, nổi bật là nghệ thuật nắm bắt thời cơ để chủ động giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh; nghệ thuật tiến công bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào thành thị; là nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng “lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy chất lượng cao thắng số lượng đông”, lấy trí tuệ của con người Việt Nam để chiến thắng vũ khí và trí tuệ của bộ máy điều hành chiến tranh của Mỹ.

Sau 55 năm nhìn lại, ngẫm suy về quyết định Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chúng ta càng thấy rõ đường lối độc lập, tự chủ và và đầy tính sáng tạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh khi quyết định một vấn đề có tính bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến nhằm tiến lên đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù. Hơn nữa, thực tiễn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.

Trước hết đó là bài học về xây dựng quyết tâm chiến đấu và ý chí quyết đánh Mỹ, quyết thắng Mỹ cho toàn thể quân và dân miền Nam.

Thứ hai, Đảng ta đã sớm đánh giá đúng kẻ thù, có chủ trương, lựa chọn phương pháp tác chiến phù hợp, lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 thắng lợi.

Thứ ba, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ta thực hiện đồng loạt tiến công kết hợp với nổi dậy ở nhiều thành phố; sử dụng lực lượng với quy mô lớn, kết hợp cả đấu tranh quân sự và chính trị bất ngờ tiến công đồng loạt thẳng vào cơ quan đầu não của địch, vào tận hậu phương, sào huyệt của chúng, nơi chúng cho là an toàn nhất. 

Thứ tư là bài học tạo yếu tố bất ngờ về thời cơ, thời điểm tiến hành tiến công và nổi dậy.

Thứ năm là bài học về giữ bí mật tuyệt đối, từ ý đồ chiến lược của Trung ương đến kế hoạch tiến công và nổi dậy ở cơ sở, nhất là ở các trọng điểm lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng.

Những bài học đó có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc, cần được chắt lọc và vận dụng sáng tạo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới; đồng thời qua đó củng cố sự tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam, để đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước - Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng - Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm Thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Trở thành nước phát triển, thu nhập cao như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (1-2021) đã xác định.MT

Nghệ thuật sử dụng pháo binh trong Chiến dịch Mậu Thân 1968

 

Lực lượng pháo binh tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 gồm hầu hết các loại pháo trực thuộc các bộ chỉ huy chiến trường miền, pháo trong biên chế của các đơn vị chủ lực, pháo của tỉnh đội, huyện đội, súng cối của dân quân xã.

Chỉ tính pháo dự bị quân khu đã có 56 tiểu đoàn pháo cối (gồm 34 tiểu đoàn pháo mang vác và 22 tiểu đoàn pháo xe kéo), từ pháo chiến thuật đến pháo chiến dịch. Đặc biệt, có một số loại pháo tầm xa, uy lực mạnh nhưng kết cấu gọn nhẹ, như pháo A12 và ĐKB. Nhiệm vụ chủ yếu của pháo binh là chi viện cho bộ binh đánh chiếm, chốt giữ các căn cứ trong thị trấn, thị xã, quận, huyện, thành phố; tiêu diệt sinh lực địch trong và ngoài công sự; tập kích hỏa lực vào cơ quan đầu não, sở chỉ huy các cấp, các trận địa hỏa lực, khu trung tâm thông tin, kho tàng, sân bay, bến cảng, đầu mối giao thông... làm rối loạn hệ thống chỉ huy, ngăn chặn sự tiếp tế, chi viện của hậu phương địch. 

Do công tác chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng tốt ngay từ đầu nên pháo binh đã hình thành được thế bố trí rộng khắp, đủ sức tiến công liên tục, dài ngày. Riêng trong đợt 1 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 (từ ngày 30-1 đến 31-3), lực lượng pháo binh đã đánh 652 trận hiệp đồng và độc lập lớn (trung bình mỗi ngày đánh 11 trận), góp phần tiêu diệt hơn 14.500 tên Mỹ, ngụy; phá hủy rất nhiều máy bay, xe cơ giới và pháo hạng nặng, kho hậu cần, tàu chiến, tàu vận tải lớn của địch.

Nghệ thuật sử dụng pháo binh trong Chiến dịch Mậu Thân 1968
Xe tăng của quân đội Mỹ bị Quân Giải phóng đánh chiếm trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu  

Trong cuộc tổng tiến công, các hình thức chiến thuật của pháo binh có bước phát triển mới, đặc biệt là chiến thuật độc lập tập kích hỏa lực. Khi tổ chức hỏa lực đã kết hợp tốt việc tổ chức các trận địa cấp đại đội, tiểu đoàn pháo binh với cấp cụm pháo binh quy mô 4 tiểu đoàn pháo xe kéo; kết hợp linh hoạt nhiều chủng loại pháo; giữa pháo bắn trực tiếp với bắn gián tiếp, pháo mang vác với pháo xe kéo, pháo phản lực; tổ chức lực lượng pháo binh ở nhiều cấp, hình thành hệ thống hỏa lực pháo binh nhiều tầng, nhiều tầm, tập trung có trọng điểm vào hướng, khu vực mục tiêu tiến công chủ yếu để tạo ưu thế về hỏa lực đánh thắng địch.

Lần đầu tiên trong lịch sử, pháo binh đã chi viện cho bộ binh, xe tăng đánh địch trong công sự vững chắc. Nổi bật là trận Làng Vây, lực lượng pháo binh đã giải quyết được vấn đề hiệp đồng chiến đấu cùng bộ binh, xe tăng; giữa xe tăng tiến công với hỏa lực pháo binh chi viện tiến công. Các trận chiến đấu đã đánh dấu sự phát triển mới về chiến thuật pháo binh. Cũng trong cuộc tổng tiến công này, ta đã sử dụng hai trung đoàn pháo binh (675 và 45) với 24 khẩu Đ74 và 36 khẩu ĐKB tham gia tập kích hỏa lực vào Tà Cơn để chi viện cho bộ binh tiến công, vây hãm Tà Cơn. Trận đánh diễn ra trong 54 ngày đêm, pháo binh chi viện cho các lực lượng chuyển từ vây hãm phát triển thành vây lấn. Bên cạnh đó, ngoài việc sử dụng hỏa lực pháo binh chiến dịch tầm xa, ta còn kết hợp dùng hỏa lực pháo binh mang vác (súng cối, ĐKZ) để tập kích vào các sân bay nhằm cắt đứt sự tiếp tế bằng đường bộ và hạn chế tiếp tế bằng đường không của địch, buộc địch phải nhanh chóng đưa quân ứng cứu Tà Cơn theo đúng dự kiến của ta.

Chiến thuật tập kích của pháo binh cũng có bước phát triển mới, tuy không lớn về quy mô nhưng rất phong phú về cách đánh và sự chỉ đạo vận dụng chiến thuật. Pháo binh đã tổ chức tốt việc cơ động, đưa một lực lượng lớn pháo, đạn qua vùng địch chiếm đóng để vào sát mục tiêu, bất ngờ tập kích hỏa lực vào sào huyệt của địch; phối hợp thực hiện nhiều trận tập kích trong cùng một thời điểm. Có những trận đánh trực tiếp vào cơ quan đầu não của địch trong nội thành Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn. Các trận tập kích hỏa lực pháo binh đạt hiệu suất cao điển hình, như: Trận tập kích hỏa lực vào sân bay Kon Tum, chỉ với 9 viên đạn ĐKB, pháo binh đã phá hủy 16 máy bay; tập kích vào sân bay Pleiku, với 30 quả đạn cối 82mm đã phá hỏng 20 máy bay; trận tập kích hỏa lực vào kho xăng Nhà Bè... Quá trình phát triển chiến thuật tập kích của pháo binh đã góp phần giành quyền chủ động trên chiến trường và thúc đẩy các hình thức chiến thuật binh chủng hợp thành khác phát triển giành thắng lợi.

Đánh giá về vai trò của pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Trung ương Cục miền Nam đã nhận xét: “Trong chiến thắng chung, pháo binh đã với tới những mục tiêu quan trọng trong trung tâm các thành phố mà Bộ đội Đặc công chưa vào tới được. Pháo binh đã đánh phá liên tục, kéo dài trong lúc bộ binh phải tạm dừng lại hoặc rút ra để củng cố. Hoạt động của pháo binh đã buộc địch phải điều chỉnh lớn về lực lượng, tăng cường phòng thủ các vành đai và ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự”.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thể hiện sức mạnh của nhiều thành phần lực lượng, trong đó có sức mạnh to lớn của lực lượng pháo binh Việt Nam. Sức mạnh đó thể hiện nghệ thuật tổ chức, xây dựng lực lượng pháo binh chiến lược; nghệ thuật sử dụng lực lượng pháo binh tập trung trong từng chiến dịch, từng trận đánh quan trọng, đặc biệt là các trận then chốt, then chốt quyết định để giành thắng lợi; đồng thời, còn là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp và kỹ năng tác chiến.

Với những bài học kinh nghiệm quý báu tiếp tục được nghiên cứu đúc rút và phát triển để vận dụng hiệu quả trong thực tế huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu hiện nay, cùng với khả năng tác chiến độc lập cũng như tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, lực lượng pháo binh sẽ tiếp tục giữ vững và phát huy tốt truyền thống “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”, xứng đáng với vai trò là hỏa lực mặt đất chủ yếu của lục quân và Quân đội ta.MT

Tác động của Chiến dịch Mậu Thân 1968 đến chiến lược toàn cầu của Mỹ


Đêm 30, rạng sáng 31-1-1968, quân và dân ta đồng loạt nổ súng tổng tiến công, tổng khởi nghĩa vào hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn và các căn cứ quân sự của địch trên khắp miền Nam, trọng điểm là Sài Gòn-Gia Định, Huế, Đà Nẵng, làm chấn động nước Mỹ.

Bằng lối đánh táo bạo và dũng mãnh, LLVT ta đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của địch, giáng đòn quyết liệt vào uy thế của quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam, làm suy giảm vị trí và ảnh hưởng của ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn, khiến cho giới lãnh đạo cao cấp Washington phải bàng hoàng, sửng sốt. 

Ngày 30-3-1968, tướng Westmoreland, Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam đến Sài Gòn phổ biến chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh của Chính phủ Mỹ. Chủ trương này nhằm thay thế chủ trương “Mỹ hóa” chiến tranh (tức “Chiến tranh cục bộ”) của Tổng thống Johnson đã thất bại. Ngày 31-3-1968, Johnson tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai, đồng thời thông báo quyết định hạn chế hoạt động của Mỹ ở Việt Nam. Cùng với đó, ra lệnh ngừng ném bom bắn phá hạn chế miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra (đến ngày 1-11-1968 thì ngừng ném bom bắn phá hoàn toàn miền Bắc) và cử người đàm phán hai bên từ ngày 13-5-1968. Bản thông báo đó của Johnson là sự thừa nhận thất bại của Mỹ trong “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Tết Mậu Thân 1968 và những tác động mạnh mẽ của nó đã dội về nước Mỹ, cùng với những biến động ở thế giới và trong lòng nước Mỹ đã khiến giới lãnh đạo Mỹ phải soát xét lại toàn bộ đường lối, cách thức tiến hành chiến tranh ở Việt Nam cũng như chiến lược toàn cầu của mình.

Tác động của Chiến dịch Mậu Thân 1968 đến chiến lược toàn cầu của Mỹ
 Lính Mỹ bị thương khi lực lượng biệt động tiến công tòa Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu

 

Trước những yêu cầu của chiến lược toàn cầu, Mỹ phải tính toán để càng rút ngắn thời gian cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam càng tốt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã chấm dứt ảo tưởng “đánh nhanh, thắng nhanh” của chính quyền Johnson; đặt ra trước quân đội viễn chinh Mỹ triển vọng “một cuộc chiến tranh kéo dài không bao giờ dứt”, điều mà phía Mỹ không thể nào chịu đựng nổi. Từ năm 1968, trong nội bộ chính quyền Johnson, mâu thuẫn giữa nhóm chủ trương tiến hành chiến tranh đến cùng và nhóm chủ trương tìm lối thoát qua thương lượng hoặc qua một biện pháp dung hòa nào đó càng trở nên gay gắt hơn.

Nhóm cố vấn cấp cao của Mỹ về Việt Nam đã xây dựng kịch bản để Tổng thống Johnson có một cuộc rút lui chia thành nhiều đợt dài, nhằm cứu vãn danh dự và uy tín được chừng nào hay chừng ấy. Các Thượng nghị sĩ McCarthy và F.Kennedy, trên các diễn đàn ra sức thách thức vị trí đề cử của đảng đối với Johnson. Quốc hội hủy bỏ tấm chi phiếu đã trao cho Nhà Trắng trong Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ. Hạ viện Mỹ cũng quyết nghị rút tất cả quân đội Mỹ ở Việt Nam về nước trong thời gian ngắn nhất.

Tác động của Chiến dịch Mậu Thân 1968 đến chiến lược toàn cầu của Mỹ
Những người biểu tình tại Chicago (Mỹ) đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, năm 1968. Ảnh: ARTHUR ROTHSTEIN 

 

Sau Tết Mậu Thân 1968, phong trào phản đối chiến tranh, đòi Chính phủ rút quân ở Việt Nam của nhân dân Mỹ lại bùng lên. Đại diện truyền thông in ấn của giới kinh doanh, như tờ Wall Street Journal, ngày càng nghi vấn "sự khôn ngoan" của cuộc chiến ở Đông Dương. Mỹ đã bất chấp luật pháp quốc tế, thực hiện chiến lược toàn cầu của mình với ý đồ bành trướng thế lực và ảnh hưởng. Tuy nhiên, trên thực tế, sai lầm của Mỹ trong các chiến lược toàn cầu đã gây ra sự sai lầm ở Việt Nam. Sau khi thất bại, Mỹ mới rút ra một điều: Dù vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể thay thế tinh thần chiến đấu của người Việt. Cho tới năm 1982, có đến 70% người dân Mỹ vẫn coi cuộc chiến ở Việt Nam căn bản là sai lầm và phi đạo đức.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có tầm vóc chiến lược Xuân Mậu Thân 1968 đã gây nên một cơn chấn động làm lung lay ý chí của những người đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Sau Xuân Mậu Thân 1968, Mỹ đã thấy rõ rằng “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại, Chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” đứng trước nguy cơ phá sản. Ngay khi chưa bị ám sát, Kennedy cũng đã thấy Chiến lược “Phản ứng linh hoạt” thí điểm ở Việt Nam không mang lại kết quả mong muốn. Và “đáp án” rõ nhất cho sự xóa sổ của Chiến lược “Phản ứng linh hoạt” là sự kiện Mậu Thân 1968 ở Việt Nam, nơi mà Mỹ đã không “linh hoạt phản ứng” được trước sự tiến công bí mật, bất ngờ của quân và dân miền Nam.MT

Liên hệ bản thân về phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức lối sống

 

          Để có thể thực hiện được mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, không chỉ cán bộ, đảng viên mà mỗi cá nhân đều phải thực hiện nghiêm những biện pháp nhằm phòng chống vấn đề suy thoái ấy.

          - Bản thân cần phải phấn đấu, rèn luyện tu dưỡng về đạo đức lối sống theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cụ thể: 

 + Cần nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong công việc; học và làm theo Bác bằng thái đội, cách ứng xử trong việc xử lý và giải quyết công việc hàng ngày.

          + Mỗi cá nhân luôn nỗ lực học tập về ý thức, về tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của Bác Hồ.

          + Bản thân cần phải luôn cố gắng phấn đấu rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, năng lực chuyên môn để hoàn thành được tốt các nhiệm vụ, công việc được phân công.

 - Cần phải chống lại chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng:

          + Bản thân cần tích cực học tập, lao động với tinh thần lao động sáng tạo, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công việc; phải biết quý trọng tài sản tập thể.

          + Cần phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chống lối sống thực dụng; phải thẳng thắn, trung thực, bảo vệ người tốt, bảo vệ quản điểm của Đảng; chân hành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích; không bao che khuyết điểm, ...

          + Cần phải kiên quyết chống bệnh lười biếng, lối sống ích kỷ chỉ muốn hưởng thụ, nói nhiều làm ít. Có ý thức trong việc giữ gìn đoàn kết toàn dân, giữ gìn đoàn kết trong Đảng, trong cơ quan và đơn vị; kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng trước những mưu đồ của thế lực thù địch.

 - Về việc tự phê bình và phê bình theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh

          + Bản thân luôn đặt mình trong tập thể, trong tổ chữ, luôn tôn trọng pháp luật, kỷ cương; không kéo bè kéo cánh gây rối loạn kỷ cương, ...

          + Luôn gần giữ với mọi người, có tinh thần học hỏi, có trách nhiệm với những người xung quanh. Coi trọng việc tự phê bình và phê bình đối với bản thân. Bản thân không được sợ phê bình mà chỉ sợ không nhận ra khuyết điểm dẫn tới sai phạm nghiêm trọng. Do đó cần phải tự nghiêm khắc với chính bản thân mình.

          + Phê phán, lên án những biểu hiện xuất phát từ động cơ cá nhân, vụ lợi, nhân danh việc phê bình để lôi kéo, chia rẽ trong nội bộ.

 - Phương hướng phấn đấu, rèn luyện trong việc phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Bản thân luôn học hỏi, trau dồi kiến thức phấn đấu để hoàn thành tốt nội dung công việc được giao. Tích cực tham gia các hoạt động chung của tập thể, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân; nêu cao tính tự giác, nỗ lực học tập và rèn luyện, tu dưỡng đạo đức theo gương Chủ tích Hồ Chí Minh.

STPQ

Biện pháp phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức lối sống

 


          Để phòng, chống tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay, cần triển khai thực hiện một số giải pháp như sau: 

          - Cần nhìn thẳng vào sự thật để thấy nguyên nhân sâu xa nhất của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên nằm trong sự lạc hậu, hạn chế của công tác lý luận; trong công tác xây dựng Đảng; trong thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị; trong quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội ... Nếu không nhận thức sâu sắc và quyết tâm xóa bỏ được các nguyên nhân này, mọi giải pháp khác sẽ khó phát huy hiệu quả, hoặc chỉ có tính chất nhất thời, không thể giải quyết được về cơ bản vấn đề. Khắc phục các nguyên nhân sâu xa này có thể được coi vừa là điều kiện cơ bản nhất, vừa là giải pháp chủ yếu nhất để ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội.

          - Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận về đúng vị trí dẫn đường cho sự phát triển của thực tiễn. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận trong toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là các học viên, trường đại học. Đưa vào nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

          - Tăng cường công tác tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đangr viên gắn với việc kiểm điểm, đánh giá và biện pháp giải quyết vấn đề cấp bách trong công tác xây dụng Đảng của các cấp, tạo niềm tin trong nhân dân. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đối với công tác tư tưởng. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý báo chí, xuất bản trước yêu cầu mới. Chấn chỉnh hoạt động thông tin, tuyên truyền; quản lý có hiệu quả hoạt động báo chí theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước.

 - Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, gắn với công việc, rèn luyện, tu dưỡng hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên để việc làm theo gương Bác hiệu quả, thiết thực. Phát huy vai trò chủ động, tự giác của bản thân cán bộ, đảng viên, toàn dân trong việc rèn luyện, nâng cao phẩm chất, tư tưởng, đạo đức, lối sống.

          - Tăng cường việc kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng. Công tác kiểm tra giám sát cần phải được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ để đạt được hiệu quả thực tế.

 - Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tập trung mọi nguồn lực, đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, phấn đấu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về số lượng và chất lượng. Xây dụn và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính thống nhất nội tại, rõ ràng về thứ bậc, chính xác , minh bạch và dễ hiểu, dễ thực hiện, có tính khả thi cao.

 - Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của nhân dân. Bên cạnh phản biện của các cấp Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, cần tạo nên những diễn đàn trao đổi trên báo chí, thông tin đại chúng nhằm thu hút sự tham gia thảo luận đóng góp ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân về các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là những chủ trương, chính sách có liên quan, tác động đến đông đảo nhân dân.

 - Tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch xung quanh vấn đề tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về tình hình, nhiệm vụ cách mạng và nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế.

          - Ngăn chặn hiệu quả những kênh thông tin bất hợp pháp. Thực hiện tốt phương châm kết hợp "chống" và "xây", trong đó xác định chống quyết liệt và xây tích cực. Rà soát, bổ sung, sửa đổi, ban hành mới các văn bản để thể chế hóa quy định của Đảng và Nhà nước. Xây dựng quy chế, quy định bảo đảm quyền của các cơ quan nhà nước. Hạn chế tác động của lối sống thực dụng trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

 STPQ

Nguyên nhân của sự suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức lối sống

 

 

          Tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức lối sống trong đời sống có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân từ khách quan và chủ quan, trong đó là xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.

          Nguyên nhân khách quan:

 - Tác động từ sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới và các mặt tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa, sự lợi dụng các phương tiện truyền thống hiện đại bởi các thế lực phản động, thù địch để xuyên tạc, bóp méo tình hình thực tế của Việt Nam, cổ xúy cho lối sống hưởng lạc, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, vì đồng tiền.

 - Tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường.

 - Âm mưu, chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

          Nguyên nhân chủ quan: 

          - Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Có biểu hiện xem nhẹ giáo dục chủ nghĩa Mác - lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xem nhẹ giáo dục đạo đức cách mạng.

 - Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn nhiều bất cập, hiệu quả thấp.

          - Công tác quản lý cán bộ, đảng viên bị buông lỏng. Nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng chưa được chấp hành nghiêm túc.

 - Bản thân một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập, để chủ nghĩa cá nhân phát triển, chi phối, làm xói mòn bản chất tốt đẹp của người Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

 - Những yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội  vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Với cách nhìn biện chứng và nghiêm túc thì đây chính là nguyên nhân chính của hiện tượng suy thoái trên.

 STPQ

Những biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức lối sống

 

          Đối với cán bộ, đảng viên

          Sự suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức lối sống trong bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay là không hề ít, thường có những biểu hiện như sau: 

 - Thứ nhất, không tích cực học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, thỏa mãn với những nhận thức giản đơn, chung chung về chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 - Thứ hai, dao động về lý tưởng, mục tiêu và con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc.

 - Thứ ba, phủ nhận các thành quả cách mạng và giá trị truyền thống của dân tộc.

 - Thứ tư, thiếu thống nhất với các quan điểm, chủ trương của Đảng, từ đó nói và làm không theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cơ hội chính trị dưới những biểu hiện khác nhau.

 - Thứ năm, không chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

 - Thứ sáu, lơ là, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, đồng thời không kiên quyết phê phán, đấu tranh với những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc lịch sử, thực tế đất nước, bôi nhọ Đảng, chế độ, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta.

 - Thứ bảy, phát tán tài liệu, truyền bá các quan điểm trái với Cương lính, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước.

          Đối với toàn dân, toàn xã hội

          Không chỉ đối với một bộ phận không nhỏ các cán bộ, đảng viên, sự suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức lối sống đang ngày một lan rộng ra toàn dân, toàn xã hội với đủ mọi ngành nghề, mọi cấp bậc, mọi đối tượng. Cụ thể như:

          - Một là, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ trong cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn và đẩy lùi.

 - Hai là, tệ nạn tham nhũng, hối lộ, bòn rút, lãng phí của công không giảm.

 - Ba là, sự suy thoái về đạo đức biển hiện ở lối sống cơ hội, buông thả ngày càng nhiều.

 - Bốn là, trong thái độ với công việc được giao, tình tràn lời nói không đi đôi với việc làm còn phổ biến. 

          - Năm là, tệ quan liêu, xa dân, thích nghe thành tích, ngại nghe và ngại nói sự thật.

 - Sáu là, đạo đức nghề nghiệp không được để cao, kể cả trong những lĩnh vực rất nhạy cảm, như giáo dục, y tế; giáo dục nhân cách con người không được quan tâm đúng mực.

 - Bảy là, lối sống thực dụng, sự toan tính vụ lợi, ích kỷ đang tác động trực tiếp đến quan hệ đạo đức trong gia đình, đến nền nếp gia phong của gia đình truyền thống Việt Nam.

 STPQ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH TỰ DIỄN BIẾN TỰ CHUYỂN HÓA TRÊN MẶT TRẬN CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG

 


Quán triệt tinh thần đó, để đấu tranh ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị - tư tưởng, chúng ta cần phải tập trung các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển.

Hai làđề cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Ba là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có tính định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về những vấn đề kinh tế, chính trị, đối ngoại… quan trọng của đất nước; chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với mọi cán bộ, đảng viên, nhất là với những cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cần đến những chủ trương, giải pháp hành động mạnh mẽ, đồng bộ. Cần kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục đạo đức trong đảng và trong xã hội với tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải bắt đầu “tu thân”, phải học làm người rồi mới làm cán bộ như Bác Hồ đã dạy. Tăng cường kỷ luật, pháp luật, sự công khai, minh bạch, dân chủ trong quy hoạch, đào tạo, bố trí và quản lý cán bộ, bảo đảm lựa chọn đúng người có đức, có tài vào bộ máy và cơ quan lãnh đạo các cấp; tạo môi trường xã hội, thể chế kinh tế lành mạnh, văn minh, khoa học để cán bộ, công chức không có điều kiện sa vào những tiêu cực, vi phạm đạo đức. 

Bốn là giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất vững chắc trong Đảng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, “lợi ích nhóm”. Phải giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng đồng thời tích cực đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong của các thế lực thù địch, nhất là trên mặt trận tư tưởng, lý luận; tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng ngày càng hợp lý, có hiệu quả. 

          Năm là, nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Cuối cùng là sự kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên về mọi mặt là chính, nhất là giữ vững ổn định chính trị và định hướng XHCN; xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại. Chăm lo xây dựng nhân tố con người, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trước những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao “sức đề kháng” của mọi cán bộ, đảng viên trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, hội nhập. Đây là biện pháp tốt nhất, tích cực chủ động nhất để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Với sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thì công tác này nhất định thành công.

STPQ

Phòng, chống biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ: một trong những nhiệm vụ trong tâm trong thời gian tới


Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có xu hướng diễn biến phức tạp trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong xã hội, v.v... làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong dư luận, là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ ta.

Nhận rõ tính chất nguy hiểm của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, những năm qua, trong nhiều kỳ đại hội, hội nghị Trung ương, Đảng ta từng cảnh báo về tình trạng này. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta chỉ rõ: “Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”. Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá XI) đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện cụ thể về “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng ta hiện nay là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc”. Tình trạng này “làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Do vậy, Trung ương yêu cầu phải “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”. Văn kiện Đại hội XII của Đảng một lần nữa chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”. Những năm tới, Đảng ta yêu cầu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả sáu nhiệm vụ trọng tâm, trong đó cần tập trung nhiệm vụ: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

“Tự diễn biến” ở phạm vi tổ chức là có những thay đổi ở tầm quản lý vĩ mô về đường lối, chủ trương, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị, thậm chí làm suy yếu và tan rã tổ chức đó. “Tự diễn biến” đối với cá nhân là sự thay đổi về nhận thức chính trị- xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên nhận thức chính trị và hành động xa rời, thậm chí đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm tư tưởng của Đảng. “Tự diễn biến” của cá nhân có thể dẫn đến sự thay đổi của tập thể, tổ chức.Tự diễn biến” của tổ chức chi phối, áp đặt, điều khiển đối với cá nhân trong tổ chức đó. “Tự diễn biến” do nhiều nguyên nhân khác nhau, ở đây chủ yếu nói đến nguyên nhân chủ quan của cán bộ, đảng viên, như: lập trường, tư tưởng không vững vàng, thiếu bản lĩnh chính trị, hoang mang, dao động trước tác động của các yếu tố bên ngoài; thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân thường xuyên; không chủ động học tập, nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… “Tự chuyển hóa” là hậu quả tất yếu của quá trình “tự diễn biến”, nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Đó là thời điểm đã có sự thay đổi về bản chất.

Biểu hiện chuyển hóa chính trị ở Việt Nam xuất hiện từ hai hướng: Một mặt, đó là âm mưu và hoạt động tác động chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch. Mặt khác, đó là sự “tự chuyển hóa” chính trị của nội bộ ta. Hai hướng này có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau. Yếu tố bên ngoài thúc đẩy, tạo điều kiện cho yếu tố bên trong; yếu tố bên trong tạo sự chú ý và điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài. Trong đó, “tự chuyển hóa” bên trong sẽ quyết định sự thay đổi về chính trị nên hết sức nguy hiểm. Do vậy, phương châm, nguyên tắc bảo đảm an ninh nội bộ, phòng, chống chuyển hóa chính trị phải chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là trước tiên.

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hoá” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ gây ra tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo chí, văn nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng muốn thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hoá từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

Đại hội XII của Đảng nhận định: “Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hóa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ có mặt bị giảm sút”. Và dự báo: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra tiếp tục tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước”. Trong khi đó mặt trái của cơ chế thị trường là nguyên nhân cộng hưởng trực tiếp làm gia tăng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều này được minh chứng khi một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hạn chế về năng lực, phẩm chất, lối sống thiếu lành mạnh; tình trạng tham nhũng, tiêu cực chưa đẩy lùi; xuất hiện ngày càng nhiều các biểu hiện mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ ở không ít tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Nguy hiểm hơn đó là xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, không tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự tồn tại, phát triển của chế độ XHCN. Một số cá nhân, tổ chức lợi dụng danh nghĩ “phản biện”, “góp ý” để bày tỏ “quan điểm” chính trị tự do dân chủ theo kiểu phương Tây... Đứng trước tình hình đó, Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Sự nhấn mạnh này không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng, mà còn xuất phát từ thực tiễn tình hình, từ quyết tâm giải quyết triệt để một vấn đề cấp bách hiện nay, đáp ứng nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Còn nhớ, trong lời nói chuyện tại lễ bế mạc Lớp bổ túc trung cấp, được Báo Vệ quốc quân đăng lại trên số 15, ngày 10/10/1947, Bác Hồ ví một tập thể, một tổ chức như một cơ thể và mỗi khâu, mỗi cá nhân là một bộ phận hợp thành cơ thể ấy. Người nói: “Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà tắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại thì người sẽ yếu đi”. Chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cũng như “dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi”, tắc ở bộ phận nào là “bại” ở bộ phận ấy, “bại” ở một bộ phận cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện chủ trương lớn của Đảng.

Bởi vậy, trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Từng tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác làm. Từng cán bộ, đảng viên từ cấp cao đến cơ sở cùng làm. Nếu mỗi người tự chỉnh đốn bản thân mình trước thì cả tổ chức sẽ chuyển động”.

ST PQ