Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2023

Càng xuyên tạc, chống phá, càng khẳng định danh giá Lãnh tụ V.I. Lênin

 Vì sao họ điên cuồng chống phá V.I. Lênin

Giống như trước đây, những người chống chủ nghĩa Mác – Lênin đã quy trách nhiệm cho “sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu là do sai lầm của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I Lênin. Lần này, lợi dụng cuộc xung đột quân sự Nga – Ucraina, người ta “mượn cái cớ ấy”, xúm lại, cùng vào hùa chống V.I. Lênin, nhất là vào dịp kỷ niệm 163 năm Ngày sinh của ông (22/4/1870-22/4/2023). Tại sao cho đế tận bây giờ, các thế lực thù địch lại phải để tâm sức chống phá V.I. Lênin một cách điên cuồng như vậy?
V.I. Lênin – một trong những nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và là người thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học. Ông là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế giới đương đại. Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp và chủ nghĩa Lênin gắn bó mật thiết và trở thành một cấu phần đặc biệt quan trọng trong chủ nghĩa Mác – Lênin, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của của các Đảng Cộng sản; trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.
V.I. Lênin đã kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, đã cùng các đồng chí của mình lãnh đạo nhân dân Nga làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, bất công; mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH và cách mạng vô sản trên phạm vi toàn thế giới. Đó là điều giải thích rõ ràng nhất tại sao mọi loại kẻ thù lớn, nhỏ của chủ nghĩa Mác – Lênin lại ra sức xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận vai trò, vị thế và tầm ảnh hưởng của V.I. Lênin trong phòng trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đồng thời, tìm mọi cách để xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng học thuyết của V.I. Lênin và thành quả Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại do V.I. Lênin lãnh đạo.
Nếu không tạo nên giá trị trong bảo vệ, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác, chắc chắn V.I. Lênin không phải chịu “búa rìu” dư luận và sự tấn công, chống phá điên cuồng từ nhiều phía của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị. Nếu không bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; chắc chắn chủ nghĩa Mác không thể đạt đến tầm cao về thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng, trở thành hạt nhân lý luận của hệ tư tưởng vô sản. Và do đó, không thể đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc cách mạng vô sản trong đấu tranh chống CNTB bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc và chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra, giành thắng lợi vĩ đại
Sự thâm thù, phản kháng và chống đối quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là muốn “phủ định sạch trơn” những cống hiến vĩ đại của V.I. Lênin vì ôngvà cộng sự đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, sâu sắc nhất, chắc chắn nhất, là “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới.
Làm sao các thế lực thù địch có thể “kê cao gối để ngủ” khi chủ nghĩa Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng vô sản.
Hơn thế, các thế lực thù địch không thể chịu dựng nổi cái tinh thần kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống mọi loại kẻ thù “lớn, nhỏ của chủ nghĩa Mác”, bảo vệ giá trị và ý nghĩa lý luận – thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.
Sức sống mãnh liệt của một học thuyết nhân văn, nhân đạo
Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn kết chặt chẽ tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp và số phận của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp – xã hội XHCN, giai đoạn đàu của CNCS. Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới – thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và cách mạng vô sản trên phạm vị toàn thế giới.
Chủ nghĩa Mác đã được tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa cộng sản và các giá trị nhân văn, nhân đạo. Điều đó cho phép toàn bộ học thuyết của V.I. Lênin hợp thành nền tảng tư tưởng, trở thành tài sản lý luận đồ sộ của giai cấp công nhân: chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác – Lênin – nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các Đảng Cộng sản. Trong chiều sâu của sợi dây truyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam -thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, V.I. Lênin đã đưa chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các Đảng Cộng sản; giúp họ có đủ sức mạnh để quy tụ, tập hợp, khai thác và phát huy sức mạnh tổng hợp của giai cấp công nhân và nhân dân tiến bộ, thực hiên cuộc cách mạng “đổi đời” trên cơ sở nhận định đúng đắn và chính xác bản chất, đặc điểm thời đại để định hướng chiến lược và sách lược đấu tranh; phản ánh đúng đắn các qui luật vận động, phát triển của thế giới khách quan và con đường tất yếu phải đi tới của cách mạng vô sản.
V.I. Lênin phân tích thấu đáo tình hình, tìm ra những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa đế quốc, các mâu thuẫn cơ bản của thời đại, của xã hội Nga và khẳng định chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của CNTB. Từ đó, V.I. Lênin phát hiện qui luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của CNTB, chỉ rõ giới hạn tồn tại của CNTB, thời cơ đang đến và giai cấp vô sản cần triệt để lợi dụng các mâu thuẫn trong lòng CNTB để chiến thắng nó ở nơi tập trung những mâu thuẫn gay gắt nhất, ở khâu yếu nhất của sợi dây truyền trong hệ thống TBCN.
Quan điểm của V. I. Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù. Luận điểm này đã làm cho các thế lực thù địch căm giận điên cuồng, đã tìm mọi cách xuyên tạc học thuyết của V.I. Lênin.
Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, V.I. Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản và không ngừng phát triển lý luận tiên phong. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn.
Giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga, đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của V.I. Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hoà bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, đã và đang làm cho các thế lực thù địch “ăn không ngon ngủ không yên”, tìm mọi cách chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN.
Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà diễn ra quanh co, phức tạp. Sự ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thể kỷ XX phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”; không vì thế mà xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, co rằng nó “đã hết thời”, “đưa vào bảo tàng lịch sử” như ai đó đã tuyên truyền sai sự thật.
Chúng ta đều biết rõ, theo quy luật tiến hoá của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH. Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xoá bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”2.
Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Còn sống mãi một niềm tin tất thắng
Học tập, tin theo V.I. Lênin, Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác – Lênin – nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.
Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một “sáng tạo” trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác – Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.
Đối với nhân loại, chủ nghĩa Mác– Lênin chỉ có một và Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chỉ có một, song con đường thực hiện lý tưởng XHCN mà chủ nghĩa Mác – Lênin và lý tưởng Cách mạng Tháng Mười đặt ra hoàn toàn không phải chỉ có một mà bằng nhiều con đường để đi tới đích, thực hiện mục tiêu, lý tưởng CSCN cao đẹp.
Không bao giờ đúng khi cho rằng CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ là kết quả sai lầm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự “phá sản” của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga. Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác – Lênin.
Điều đó cảnh báo chúng ta rằng, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải tỉnh táo, sáng suốt, phải hiểu đúng và thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc mácxít – lêninnít; phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Nếu kiên định, trung thành và biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng sẽ giành được thắng lợi. Ngược lại, nếu xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi thường hoặc giáo điều, rập khuôn máy móc thì nhất định sẽ mắc sai lầm và không thể tránh khỏi những tổn thất nặng nề, thậm chí phải trả giá đắt.
Một trong những bí quyết thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, nhất là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiêu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình, v.v.. Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin – ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và vì sao chúng ta phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; vì sao cả nhân loại kính trọng V.I.Lênin và kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin./.

THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG CHATGPT ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ

 Mặc dù mới chỉ ra mắt vào cuối năm 2022, phần mềm ChatGPT của OpenAI đã thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng mạng. Ngoài những tác động tích cực mà ChatGPT mang lại thì đây cũng chính là mảnh đất màu mỡ để các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng ứng dụng để cắt ghép, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vấn đề chính trị của đất nước.

Đấu tranh, bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống

 Văn hóa truyền thống là hồn cốt của dân tộc, được coi như giá trị thương hiệu, quyền lực mềm, vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam.

Tuy nhiên, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, giao lưu, tiếp biến văn hóa của Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi phương thức, thủ đoạn chống phá văn hóa truyền thống, sử dụng không gian mạng để du nhập, cổ xúy cho văn hóa ngoại lai, độc hại. 

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những tinh hoa, giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã được hun đúc, vun đắp và trở thành truyền thống quý báu, đó là: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”(1). Những giá trị văn hóa truyền thống này đã cố kết những người dân nước Việt thành một cộng đồng thống nhất trong mọi hoạt động sống, lao động, bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.


Những năm gần đây, các thế lực thù địch ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa truyền thống. Sự chống phá này đã tạo ra hệ lụy không hề nhỏ, là một thứ “giặc nội xâm” đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục, giá trị truyền thống của dân tộc. Xét về mục tiêu, nội dung và lực lượng tiến hành của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa bao gồm hai điểm chính, đan xen, hỗ trợ và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là:

Thứ nhất: Truyền bá, tiêm nhiễm các sản phẩm văn hóa ngoại lai có tính chất xấu độc, làm xói mòn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất của mỗi người dân; từng bước làm thay đổi các thang giá trị xã hội, đạo đức, lối sống, làm cho một bộ phận nhân dân nhận thức không đầy đủ về trách nhiệm cộng đồng; chạy theo lợi ích vật chất, chỉ biết đến “cái tôi” mà quên đạo nghĩa, quay lưng lại với truyền thống và những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Thứ hai: Từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, coi văn hóa là tự do sáng tạo, không cần tính định hướng và xa rời chính trị; từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Chúng vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước, tạo ra sự chống đối từ xã hội, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để tập hợp lực lượng phá ta từ bên trong nội bộ Đảng và xã hội ta. Đối tượng tác động mà chúng hướng tới là quần chúng nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ sinh ra trong thời bình, đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách, dễ dàng chạy theo cái mới, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, còn ít kinh nghiệm sống. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, chiêu trò thâm hiểm; đặc biệt là chiến thuật “tâm công” theo phương châm “mưa dầm thấm lâu” để đánh vào lòng người.

Về hình thức và thủ đoạn tiến hành: Trên nền tảng của mạng xã hội, các thế lực thù địch đã thành lập các website, nhiều chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt; lập hàng nghìn blog, trang Facebook, Twitter, YouTube, Zalo... để livestream, tung clip, đăng tải những nội dung xuyên tạc, bài xích; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm trực tuyến hoặc qua tiếp xúc với các cá nhân, cơ quan trong nước. Các kênh phát thanh, truyền hình trên không gian mạng được chúng tạo giao diện như thật, mô phỏng theo các kênh chính thống của Đảng, Nhà nước nhằm lập lờ, lộn sòng đen trắng, nhào nặn trộn lẫn những thông tin đúng-sai, thật-giả, đưa thông tin giật gân, lấp lửng giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người, gây tâm lý bi quan, hoài nghi, hoang mang trong dư luận.

Trong tập hợp lực lượng, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường dùng nhiều thủ đoạn rất nham hiểm, thường qua 4 bước gồm: 1. Đồng cảm: Chúng đóng vai “một người lạ” để tiếp xúc với một bộ phận người dân, những người đã từng vi phạm pháp luật, rồi giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng. 2. Tôn vinh: Chúng vờ coi những người có tư tưởng bất mãn, chống đối ở lĩnh vực văn hóa là những người đúng đắn, cấp tiến, đại diện của nền văn hóa hiện đại, rồi tổ chức tọa đàm, livestream để tôn vinh hoặc trao những “giải thưởng”. 3. Dụ dỗ, mua chuộc: Sau khi vờ đồng cảm và tôn vinh, các thế lực thù địch sẽ tìm mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc đối tượng mà chúng hướng tới. Sự dụ dỗ, mua chuộc được thực hiện bằng cả vật chất, tinh thần cũng như những viễn cảnh tốt đẹp do chúng tạo dựng lên. 4. Khống chế: Sau khi bị dụ dỗ, mua chuộc, những đối tượng này sẽ bị các phần tử phản động từng bước khống chế, nói và làm theo ý muốn của chúng.

Để góp phần đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống dân tộc trên không gian mạng, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về mục tiêu, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để thực hiện tốt biện pháp này, trước hết cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý của các cơ quan, tổ chức trên lĩnh vực văn hóa để đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cấp ủy, tổ chức đảng và tổ chức hành chính các cấp cần xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách phù hợp, chú ý đến tính đặc thù của hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nâng mức đầu tư một cách hợp lý từ các nguồn lực cho phát triển văn hóa, chú trọng đầu tư vào dòng chủ lưu của văn hóa cách mạng để làm nòng cốt và dẫn dắt, truyền cảm hứng chủ đạo trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tâm hồn, tình cảm trong sáng, lành mạnh, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội.

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, giáo dục ý thức sử dụng và xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng. Phát triển và ứng dụng dịch vụ internet, không gian mạng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, mang lại nhiều giá trị đích thực. Song, những mặt trái, tiêu cực của không gian mạng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý; đòi hỏi cần đẩy mạnh thực hiện những giải pháp công nghệ như: Cung cấp thông tin chính thống; bảo vệ thông tin cá nhân; kỹ thuật dự báo, phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của đối phương. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, hiệu quả, có tính răn đe cao đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật khi tham gia mạng xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động trên không gian mạng.

Ba là, chủ động hợp tác quốc tế, thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý mạng xã hội với các nước trên thế giới. Cơ quan chức năng cần chủ động hợp tác quốc tế, nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá trên mạng xã hội của các tài khoản, máy chủ ở nước ngoài để đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam trên mạng xã hội như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá; kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới. Chủ động hợp tác, nắm bắt và yêu cầu các tập đoàn truyền thông như: Google, YouTube, Facebook, Twitter... cần tuân thủ pháp luật Việt Nam khi tham gia hoạt động trên đất nước ta. Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các dịch vụ mạng xã hội để gỡ bỏ các clip, bài viết với nội dung xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống Việt Nam trên không gian mạng.

Văn hóa là sản phẩm của lịch sử và là phương thức tồn tại của một dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam luôn mang trong mình những yếu tố lịch sử, truyền thống, tâm lý gắn với các biểu tượng, phong tục, tập quán của một cộng đồng dân tộc. Nhận diện những luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống do các thế lực thù địch tiến hành trên không gian mạng là hết sức cần thiết, góp phần giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra sức mạnh vô song để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn vinh.ST

Xuyên tạc lịch sử- một trong những thủ đoạn phá hoại về tư tưởng của các thế lực thù địch hiện nay

Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ người dân tộc thiểu số, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS, thời gian tới, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, quyết tâm triển khai có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS; trong đó, đẩy mạnh triển khai Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức ban hành ngày 25-11-2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế về quy hoạch, đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, cất nhắc cán bộ người DTTS phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng là: Các dân tộc bình đẳng, trong đó có sự bình đẳng về công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ của cả hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, tiến hành sửa đổi, bổ sung chính sách có tính đặc thù trong tuyển dụng, nâng ngạch, thăng hạng, đào tạo, bồi dưỡng, tiêu chuẩn, điều kiện trong quy hoạch, bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ người DTTS; đồng thời, cần có chính sách đặc thù tuyển dụng công chức, viên chức đối với ĐBDTTS rất ít người, nhóm DTTS ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS.

Hai là, Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách trong công tác đào tạo cán bộ người DTTS; gắn đào tạo với tiêu chuẩn trong điều kiện tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý đối với đội ngũ cán bộ người DTTS. Thực tế cho thấy, cần đẩy mạnh xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù và ưu tiên đầu tư về cơ sở vật chất đối với các cơ sở đang trực tiếp đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận là con em đồng bào các DTTS, nhất là hệ thống trường chuyên biệt, Học viện Dân tộc và các cơ sở giáo dục đại học, sau đại học, đào tạo nguồn nhân lực là người DTTS; đồng thời, có chính sách hỗ trợ kinh phí hợp lý cho con em đồng bào các DTTS hiện đang theo học tại các cơ sở đào tạo.

Ba là, đẩy mạnh công tác đào tạo để tạo nguồn cán bộ người DTTS, bảo đảm sự tiếp nối vững vàng giữa các thế hệ. Cấp ủy các cấp và người đứng đầu phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí, tạo điều kiện, cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người DTTS; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng theo các nghị quyết, quyết định, đề án đã được ban hành; đặc biệt, tập trung thực hiện tốt các mục tiêu, giải pháp theo Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18-11-2019, của Quốc hội, về “Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030” và Quyết định số 1719/QĐ-TTg, ngày 14-10-2021, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025”. Tiếp tục triển khai chương trình đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng để củng cố, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng làm việc cho cán bộ người DTTS; tăng cường phối hợp giữa cơ quan sử dụng cán bộ với các cơ sở đào tạo nhằm xác định rõ nhu cầu đào tạo đối với từng loại cán bộ để có kế hoạch đào tạo thật cụ thể.

Bốn là, tăng cường về số lượng, nâng cao về chất lượng, vì hiện nay, tình trạng tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS trong các cơ quan quản lý nhà nước có xu hướng giảm; nhiều bộ, ngành và địa phương (nhất là cấp tỉnh) chưa đạt được tỷ lệ theo quy định tại Quyết định số 402/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, ở một số địa phương còn tồn tại tình trạng mất cân đối về đội ngũ cán bộ giữa các nhóm người DTTS, nhất là ở các tỉnh miền núi phía Bắc (trừ dân tộc Tày, Nùng, Mường, Thái, còn lại các DTTS khác có số lượng cán bộ rất thấp so với tỷ lệ dân số). Ngoài ra, một yêu cầu quan trọng khác là cần nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số cho đội ngũ cán bộ người DTTS, nhất là đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.

Năm là, quan tâm quy hoạch, sắp xếp, cất nhắc và sử dụng những người có năng lực, tài năng nhằm “Tăng tỉ lệ cán bộ lãnh đạo, cấp ủy là người dân tộc thiểu số”(11). Việc quan tâm quy hoạch, cất nhắc đối với cán bộ người DTTS sẽ động viên, khuyến khích cán bộ yên tâm công tác, gắn bó với công việc, có động cơ phấn đấu, trau dồi, nâng cao năng lực về mọi mặt. Một yêu cầu quan trọng khác là cần có cơ chế, chính sách tiếp nhận, tuyển dụng đối với con em đồng bào thuộc các dân tộc rất ít người. Bên cạnh đó, cần điều chỉnh và ban hành kịp thời các chính sách về chế độ đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ cán bộ người DTTS, nhất là ở các địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngoài ra, cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết để kịp thời đề ra các giải pháp mang tính hệ thống, hiệu quả, nhằm không ngừng nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ người DTTS, phù hợp với từng bộ, ngành và địa phương ở vùng ĐBDTTS&MN.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS không chỉ thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Người đối với vùng ĐBDTTS&MN, mà còn thể hiện tư duy chính trị tiến bộ và tinh thần nhân văn cao cả. Trên nền tảng tư tưởng đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm và đã đạt được những thành tựu to lớn. Việc đào tạo, cất nhắc đội ngũ cán bộ người DTTS đã tạo nên sự cân bằng, hài hòa về chất lượng hoạt động của cả hệ thống chính trị; đồng thời, giải quyết hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng ĐBDTTS&MN. Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với vùng ĐBDTTS&MN đã thực sự đi vào cuộc sống của ĐBDTTS, phát huy tiềm năng, khơi dậy ý thức, nội lực của các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được tăng cường, tạo nên sức mạnh tổng hợp của các dân tộc.

Thời gian tới, các bộ, ngành và địa phương có đông ĐBDTTS cần quyết tâm thực hiện tốt công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS để đưa vùng ĐBDTTS&MN phát triển toàn diện, nhằm góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, nhất là chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, “Về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, để sớm đưa nước ta trở thành một quốc gia phát triển phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng./.ST

TỔ QUỐC GỌI TÊN, EM TÌNH NGUYỆN LÊN ĐƯỜNG

 Vừa hiền vừa dịu lại vừa tươi

Mà lúc xông pha mạnh tuyệt vời
Đánh giặc lo nhà xây dựng nước
Đảm đang lừng lẫy bốn phương trời.
Đâu phải bây giờ em mới đảm đang
Nuôi mẹ chăm con thay chồng trăm chuyện
Đâu phải đợi khi quân thù ập đến
Tổ quốc gọi tên, em tình nguyện lên đường.
Cái tính đảm đang em chịu đựng yêu thương
Em có sẵn từ trong bụng mẹ
Thuở mới lên ba tập bồng, tập bế
Cái gối làm con em làm mẹ ru hời.
Từ thuở đánh chuyền ngắt lá đùa chơi
Tập xếp, tập đan, em làm người nội trợ
Bà mẹ Việt Nam nuôi con từ thuở nhỏ
Đã dạy cho con cách ăn ở nên người.
Mẹ có ngờ đâu trong thế kỷ hai mươi
Tổ quốc đã giao cho con làm người dung sỹ
Tay trằm nón bài thơ, tay câm dao đánh Mỹ
Chung một góc trời đâu phải chỉ riêng ta.
Ơi! cô gái Việt Nam hiền như một bông hoa
Chính em đó, em là người đẹp nhất
Chiếc áo nâu non hiền hòa chân thật
Rất quê hương và cũng rất đáng yêu.
Đôi mắt em nhìn như niềm mơ ước
Mà sâu thẳm bao nhiêu điều suy nghĩ
Dáng em đi trong khoan thai bình dị
Mà dịu dàng như mũi chỉ đường kim.
Khi em cười môi nở một hình tim
Khi em giận mắt hóa thành ánh lửa
Bởi lắm yêu thương em không hề biết sợ
Không biết kêu xin, em tin ở chính mình.
Biết cằm thù nên em biết hy sinh
Biết im lặng nên trở thành bão tố
Trung hậu đảm đang em làm người vợ
Anh dũng hiên ngang em lại hóa anh hùng./.
ST


Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta về đào tạo, cất nhắc cán bộ người dân tộc thiểu số hiện nay

 Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS trong chiến lược đoàn kết các dân tộc và phát triển toàn diện vùng ĐBDTTS&MN, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng ta luôn coi “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”(7). Trong những năm qua, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương nhằm đào tạo, cất nhắc đội ngũ cán bộ người DTTS(8). Ngoài ra, chủ trương về đào tạo, cất nhắc đội ngũ cán bộ người DTTS còn được đề ra trong văn kiện các kỳ đại hội của Đảng, các nghị quyết chuyên đề ở những cấp độ khác nhau.

Quán triệt chủ trương của Đảng về đào tạo, cất nhắc đội ngũ cán bộ người DTTS, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ DTTS(9). Đây là những cơ sở căn bản, quan trọng để các bộ, ngành và các địa phương xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể và tiến hành cử cán bộ DTTS đi học tại các học viện, nhà trường bằng nhiều loại hình đào tạo khác nhau nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học... Bên cạnh đó, nhiều bộ, ngành, địa phương còn cử cán bộ đi học tại chức, chuyên tu đại học, sau đại học... ở các cơ sở trong nước cũng như nước ngoài, nhằm nâng cao trình độ và dần từng bước đạt chuẩn chức danh cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng và nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

Nhờ triển khai thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ người DTTS, nên công tác đào tạo, tuyển dụng cán bộ người DTTS trong hệ thống chính trị các cấp thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Theo Báo cáo số 855/BC-UBDT, ngày 3-6-2022, của Ủy ban Dân tộc, về “Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc”, tính đến năm 2021, số lượng cán bộ, công chức, viên chức người DTTS của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 3.952.225 người. Trong đó, một số bộ, ngành quan tâm bố trí, sử dụng cán bộ, công chức người DTTS trên 5% tổng số biên chế, số lượng người được giao, như Ủy ban Dân tộc (25,4%), Bộ Tư pháp (7,2%), Bộ Quốc phòng (6,69%), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (5,45%), Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (5,64%),... Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, việc thực hiện đã đạt được mục tiêu tỷ lệ đề ra theo Quyết định số 402/QĐ-TTg, ngày 14-3-2016, của Thủ tướng Chính phủ, về phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới”; đặc biệt, một số tỉnh có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 10% đến trên 70% tổng dân số của tỉnh đã thực hiện theo đúng hoặc vượt mức tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS chiếm từ 5%, 10%, 15%, 20% tổng số biên chế được giao. Cũng theo Báo cáo số 732/BC-UBDT, ngày 10-6-2021, của Ủy ban Dân tộc, về “Tổng kết chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020”, có 50.696 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; 222.229 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước; 10.516 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về tin học. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ người DTTS ngày càng được trẻ hóa, có trình độ chuyên môn, đa dạng về thành phần dân tộc.

Cùng với công tác đào tạo, việc cất nhắc, bố trí cán bộ người DTTS trong những năm qua cũng đạt được những kết quả đáng ghi nhận. “Đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025: cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số đạt 11,68%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,72%; ủy viên ban thường vụ là người dân tộc thiểu số đạt tỷ lệ 11,86%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,51%; bí thư cấp ủy người dân tộc thiểu số có 6 đồng chí, đạt 9,23%, cao hơn nhiệm kỳ trước 1,54%”(10).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS vẫn còn những hạn chế, yếu kém nhất định. Báo cáo số 855/BC-UBDT của Ủy ban Dân tộc chỉ rõ, số lượng, cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức người DTTS ở các đơn vị, địa phương chiếm tỷ lệ thấp. Ngoài các bộ, ngành kể trên, như Ủy ban Dân tộc, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng,... nhiều bộ, ngành có số lượng cán bộ, công chức, viên chức người DTTS rất thấp (có 12 bộ, ngành có tỷ lệ dưới 1%). Nhiều địa bàn có tỷ lệ ĐBDTTS cao trong cơ cấu dân cư, nhưng tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS tham gia vào hệ thống chính trị vẫn chưa tương xứng.

Những hạn chế, yếu kém trên được xác định do nhiều nguyên nhân; đó là: Vùng ĐBDTTS&MN có địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn; trình độ dân trí vùng ĐBDTTS&MN còn một số hạn chế; sự ảnh hưởng của các yếu tố về văn hóa, phong tục, tập quán lạc hậu... Bên cạnh đó, các văn bản của Chính phủ, các bộ, ngành quy định và hướng dẫn thi hành về đào tạo, cất nhắc cán bộ người DTTS được ban hành còn chậm, thiếu thống nhất, chưa cụ thể, chi tiết, nhất là về số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức cho đối tượng là người DTTS, nên các địa phương gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện chính sách đào tạo. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ người DTTS chưa thực sự gắn với nhu cầu thực tế; chưa có quy định cụ thể về ưu tiên tuyển dụng đặc cách đối với  ĐBDTTS rất ít người. Việc đào tạo cán bộ ở nhiều nơi chưa gắn với quy hoạch và yêu cầu, nhiệm vụ của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan, đơn vị, chưa phù hợp với cán bộ người DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...ST

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH! CON NGƯỜI VĨ ĐẠI TỪ NHỮNG ĐIỀU GIẢN DỊ NHẤT

 Bác vẫn đi kia… giữa cánh đồng

Thǎm từng ruộng lúa, hỏi từng bông
Ghé từng hợp tác, qua thôn xóm
Xem mấy trường tươi, mấy giếng trong…
Bác vẫn về kia… Những sớm trưa
Hỏi lò than, xưởng máy, giàn tơ
Hỏi anh hỏi chị công nhân ấy
Vàng ngọc thi đua được mấy giờ?
Ơi anh bộ đội trên mâm pháo
Mắt lượn trời cao, dõi bóng mây
Có thấy, bốn mùa, quên nắng bão
Bên ta, Bác vẫn thức đêm ngày?
Biết chǎng, hỡi mẹ rất anh hùng
Con mấy lần đi lập chiến công
Hỡi chị hằng trông ngày thắng trận
Bác khuyên thương nhớ vững bền lòng.
Và các em, có hiểu vì sao
Lòng Bác mênh mông vẫn dạt dào
Yêu nụ mầm non, yêu tuổi trẻ?
Biển thường yêu vậy sóng xôn xao…
Vì sao? Trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh
Như một niềm tin, như dũng khí
Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh.
Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha?
Đời vui tiếng Bác ấm muôn nhà
Bác đi… Đâu cũng nghe chân bước
Như gió xuân về, đất nở hoa…
Nếu có hôm nào ta vắng Bác
Chắc là Người bận chuyến đi xa…
Ơi đàn em nhỏ quên ca hát
Hãy lớn ngoan như Bác có nhà!”
ST


Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, cất nhắc cán bộ người dân tộc thiểu số - Những nội dung cốt lõi

 Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (ĐBDTTS&MN) chiếm 3/4 diện tích của cả nước, là nơi sinh sống lâu đời của phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS), có tiềm lực kinh tế to lớn với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, là những địa bàn “phên dậu”, “cái nôi” của căn cứ địa cách mạng nên có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu rõ thực tiễn và đánh giá cao vị trí của vùng ĐBDTTS&MN và vai trò của ĐBDTTS trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người khẳng định, ĐBDTTS là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong thời gian hoạt động cách mạng và kháng chiến, Người đã lựa chọn vùng ĐBDTTS&MN làm căn cứ địa cách mạng, an toàn khu, luôn gắn bó với đồng bào và được đồng bào yêu thương, che chở.

Để phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng ĐBDTTS&MN, đồng thời tăng cường “đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào(1), ĐBDTTS phải là nòng cốt trong mọi chính sách, trong đó công tác cán bộ và việc đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số (DTTS) cần phải được đặc biệt quan tâm, chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết phải đào tạo và cất nhắc đội ngũ cán bộ người DTTS, vì họ hiểu rất rõ thực tiễn, đặc điểm văn hóa, tâm lý của đồng bào các dân tộc và là người tiếp thu, tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở vùng ĐBDTTS&MN. Theo Người, để phát triển đội ngũ cán bộ người DTTS thì cần “phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi. Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương, chứ không phải là bao biện làm thay”(2).

Trong công tác đào tạo, cán bộ người DTTS, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đào tạo phải gắn liền với nhiệm vụ thực tế; học tập tốt cả chính trị, văn hóa và phải gắn liền với lao động, sản xuất, không học dông dài. “Mục đích học là để làm kinh tế, chính trị, văn hóa đều tiến bộ, các dân tộc đều đoàn kết với nhau”(3). Theo Người, yêu cầu hàng đầu là phải nâng cao trình độ văn hóa, xây dựng loại hình trường, lớp phù hợp với vùng ĐBDTTS&MN, “chú ý phát triển loại trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm(4) nhằm mục tiêu “đào tạo cán bộ địa phương, vừa có văn hóa, vừa có kỹ thuật, vừa giỏi lao động”(5).

Đi cùng với công tác đào tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh đến yêu cầu cần phải cất nhắc cán bộ là người DTTS. Theo Người, đào tạo cán bộ người DTTS là để sử dụng; muốn sử dụng có kết quả thì phải giao cho họ những nhiệm vụ cụ thể, thậm chí là nhiệm vụ ngày càng nặng nề hơn nếu họ thể hiện được phẩm chất và năng lực tốt; đồng thời, phải chăm lo công tác bồi dưỡng thường xuyên và có kế hoạch cụ thể, sát hợp. Đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ là công việc trọng yếu, có quan hệ biện chứng với nhau, tạo thành chính sách cán bộ, không được coi nhẹ mặt nào, để giúp cán bộ người DTTS đảm đương tốt nhiệm vụ công tác của mình. Vì vậy, Người luôn nhắc nhở các cấp, các ngành phải “ra sức bồi dưỡng, giáo dục và cất nhắc cán bộ địa phương, cán bộ dân tộc. Dù lúc đầu cán bộ địa phương, dân tộc trình độ thấp, kinh nghiệm ít, công tác chưa tốt, cán bộ lãnh đạo phải dìu dắt họ, giúp đỡ họ, lâu ngày chắc chắn họ sẽ tiến bộ”(6).

Dành sự quan tâm, coi trọng công tác đào tạo, cất nhắc cán bộ là người DTTS nên trong quá trình hoạt động cách mạng, Người đã trực tiếp đào tạo, cất nhắc nhiều cán bộ người DTTS vào những vị trí quan trọng, và sau này họ đã trở thành các cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta, như Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Lê Quảng Ba, Đàm Quang Trung...ST


ĐÓN BỐ, NHƯNG...BỐ KHÔNG VỀ

 Chiến tranh luôn đi cùng mất mát, đau thương. Ngày mùa thu lịch sử, ông Phùng (nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Quang Phùng) đã chứng kiến, đã sống trọn vẹn với không khí hào hùng của thủ đô, và ông, cũng thấy rõ sự bi hùng trong những năm kháng Pháp: “Tôi đã đi qua những gia đình có con trở về và cũng đi qua những gia đình có con không trở về trong ngày vui giải phóng. Tôi đã thấy mình hòa vào cả tột cùng niềm vui cũng như tận cùng nỗi đau mất mát của người Hà Nội”.

Lật giở bức ảnh những đứa trẻ đánh đu cành cây, cười đùa bên sóng nước Hồ Gươm ngày giải phóng, ông kể:
“Đây là những đứa trẻ, con của các gia đình nghèo ở Hà Nội. Sáng 10/10/1954, tôi ra Bờ Hồ từ rất sớm, thế mà những đứa trẻ này còn đến đó sớm hơn tôi. Tôi hỏi: “Các cháu ở đây làm gì?”. Một cháu trả lời: “Cháu ở đây đợi bố”. Bảy đứa trẻ này, chỉ ba đứa đón được bố trở về. Còn bốn đứa, bố đã hy sinh…”.
ST


Phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

 Thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nếu như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đặt “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”(4) thì Đại hội XIII của Đảng xác định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5).

Theo đó, phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái thù địch, xuyên tạc, vu khống, phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, cần thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng dân chủ, nhân quyền; từ đó đổi mới nội dung, phương pháp đấu tranh, thực hiện nguyên tắc trong đấu tranh có đối thoại, trong đối thoại có đấu tranh; đa dạng hóa các hình thức đấu tranh nhưng không nên mở rộng, mà phải áp sát trực diện vào vấn đề cần phải đấu tranh, đối tượng đấu tranh, nhằm chủ động, tích cực nhận diện, phê phán, phản bác, ngăn chặn từ xa; xử lý công khai, minh bạch bằng pháp luật, trước hết đối với những người cầm đầu, phù hợp với các quan hệ, nguồn lực liên quan trực tiếp đến vấn đề đấu tranh và đối tượng đấu tranh nhằm kiên quyết làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn sử dụng dân chủ, nhân quyền như một công cụ chống phá chế độ chính trị - xã hội để góp phần làm sáng tỏ và thực hiện, phát huy nền dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Để hoàn thành nhiệm vụ đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về quyền con người. Thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch trên lĩnh vực quyền con người để đề xuất giải pháp phù hợp.

Thứ hai, tích cực, chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đồng thời, chủ động, tích cực tham gia và đóng góp trực tiếp vào việc định hình giá trị cũng như luật pháp về vấn đề quyền con người trong quan hệ quốc tế.

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh có hiệu quả trên lĩnh vực quyền con người. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp, công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Căn cứ vào nghị quyết và hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần xác định rõ nội dung, biện pháp, yêu cầu cụ thể trong nhiệm vụ phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phù hợp với từng giai đoạn, tình hình tại địa phương, cơ sở. Nâng cao cảnh giác cách mạng để mỗi cán bộ, đảng viên tự phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho mình và giúp đỡ những người xung quanh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp trong phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quyền con người trong cả hệ thống chính trị. Các bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương tiếp tục xây dựng, thực hiện kế hoạch giải quyết tốt các “điểm nóng” phức tạp, kéo dài, theo của Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20-7-2010, của Ban Bí thư khóa X,“Về công tác nhân quyền trong tình hình mới”, đặc biệt liên quan đến các vấn đề đất đai, tôn giáo, dân tộc,.... Chú ý trong xử lý các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân chủ, nhân quyền, phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập, phân hóa số ngoan cố chống đối. Phân biệt rõ mâu thuẫn địch - ta và mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân để lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp, không làm phức tạp thêm tình hình, tạo sơ hở cho địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Thứ năm, tiếp tục nâng cao năng lực của đội ngũ chuyên môn, chuyên trách (tư tưởng, lý luận, thông tin, truyền thông, văn hóa, ngoại giao, an ninh chính trị, bảo vệ chính trị nội bộ); xây dựng cơ sở dữ liệu chủ động công bố trên cổng thông tin điện tử bằng tiếng Việt và tiếng Anh về thành tựu trong bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và tư liệu về quyền con người bị xâm hại do hành động của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch gây ra đối với nhân dân Việt Nam để đấu tranh có hiệu quả về quyền con người.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội, thông tin đối ngoại về thành tựu bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân qua hơn 35 năm đổi mới. Phát huy hiệu quả vai trò của báo chí, truyền thông trong bảo vệ, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người, thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước(6).

Thứ bảy, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá, gây mất ổn định chính trị - xã hội tại Việt Nam. Đồng thời, chủ động công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng cả ở trong nước và quốc tế.

Thứ tám, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực quyền con ngườiĐồng thời, chú ý lắng nghe dư luận nhân dân, tiếp nhận ý kiến giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội để nâng cao hiệu quả đấu tranh. Coi trọng phát hiện các yếu tố tích cực, điển hình tiên tiến, những cán bộ, đảng viên, chức sắc tôn giáo, già làng, người có uy tín tiêu biểu để tuyên dương, rút ra những bài học, kinh nghiệm. Tiếp tục xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới./.ST

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG

 1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một Mùa, thì không thành Trời
Thiếu một Phương, thì không thành Đất
Thiếu một Đức, thì không thành Người.
2. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu
3. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.
4. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.
5. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.
6. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.
7. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.
8. Tự mình phải Chính trước, mới giúp được người khác.
9. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.
10. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm./.
ST