Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2023

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự Lễ dâng hương Giỗ Tổ Hùng Vương năm Quý Mão - 2023

Sáng 29-4 (mồng 10-3 năm Quý Mão), tại Điện Kính Thiên (Đền Thượng) trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh thuộc Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Đền Hùng (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dẫn đầu Đoàn đại biểu lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan Trung ương, địa phương, cùng đông đảo nhân dân trong cả nước và kiều bào dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng, tưởng nhớ, tri ân công đức tổ tiên đã có công dựng nước.

0:00
/ 6:37
Nam miền Bắc

Cùng dự buổi lễ có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trần Thanh Mẫn, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội; Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an; Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Dự lễ còn có các đồng chí: Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Trần Lưu Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ. Đại diện đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam còn có Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đại diện lãnh đạo các cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành phố và hàng ngàn người dân cũng đã có mặt từ sớm để dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước làm lễ tại Đền Thượng.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước làm lễ tại Đền Thượng.

 Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng đoàn đại biểu vào Thượng cung dâng hương, hoa bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc các bậc tiền nhân.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng đoàn đại biểu vào Thượng cung dâng hương, hoa bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc các bậc tiền nhân.

Đúng 6 giờ 30 phút, trong tiếng nhạc lễ âm vang, đoàn dâng hương khởi hành từ sân trung tâm lễ hội qua Nghi môn (cổng đền), Đền Hạ, Đền Trung, lên Đền Thượng. Đi đầu đoàn hành lễ là đội tiêu binh gồm 6 cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam rước Quốc kỳ, cờ hội và vòng hoa mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước”.

Theo sau là 18 thiếu nữ trong trang phục áo dài, khăn xếp truyền thống màu đỏ mang hương, hoa, lễ vật. Tiếp đó là 100 thanh niên tượng trưng cho con cháu Lạc Hồng, tay giương cao cờ hội, thể hiện sức sống mãnh liệt của dòng giống Tiên Rồng, cùng đoàn rước kiệu dâng lễ vật hương, hoa, bánh chưng, bánh giầy gắn liền với truyền thuyết về hoàng tử Lang Liêu và quan niệm trời tròn - đất vuông của cha ông ta. Đi sau khối nghi thức là Ðoàn đại biểu lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, địa phương và nhân dân, du khách thập phương về dự lễ dâng hương.

Tại Điện Kính Thiên, trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh linh thiêng, với tấm lòng thành kính tri ân công đức tổ tiên, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và lãnh đạo địa phương vào Thượng cung dâng hương, hoa, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc các bậc tiền nhân đã có công dựng nước để con cháu nối tiếp truyền thống Lạc Hồng xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh như ngày hôm nay.

Trong giờ phút thiêng liêng của ngày Giỗ Tổ, triệu triệu con tim người Việt ở trong và ngoài nước, cùng hướng về Đền Hùng với tấm lòng thành kính để tưởng nhớ, tri ân công đức các Vua Hùng, các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước.

 Đúng 6 giờ 30 phút, đoàn hành lễ khởi hành lên đỉnh Nghĩa Lĩnh linh thiêng.

Đúng 6 giờ 30 phút, đoàn hành lễ khởi hành lên đỉnh Nghĩa Lĩnh linh thiêng.

Thay mặt hơn 90 triệu con dân đất Việt, ông Bùi Văn Quang, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ kính cẩn đọc Chúc văn tưởng niệm các Vua Hùng, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng và các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước; kính cáo trước anh linh các bậc tiền nhân về những thành tựu to lớn mà toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt được trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước. Tưởng nhớ về tổ tông, các Vua Hùng đã khơi mạch nguồn dân tộc, lập nên Nhà nước Văn Lang, đặt nền móng cho sự phát triển trường tồn của quốc gia, dân tộc.

Năm 2022 và những tháng đầu năm 2023, tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước ta phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức; nhiều vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn cần giải quyết. Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ; sự chủ động, tích cực, đồng hành của Quốc hội; sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương; cùng sự đoàn kết, đồng lòng của toàn dân, đất nước ta đã từng bước vượt qua khó khăn; xử lý hiệu quả các vấn đề tồn đọng; ứng phó kịp thời những thách thức phát sinh; thích ứng linh hoạt, phù hợp với tình hình mới; tạo thuận lợi thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế phục hồi tích cực, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm trong điều kiện gặp nhiều khó khăn. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế tiếp tục được triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả. Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; giữ vững độc lập, chủ quyền, môi trường hòa bình, ổn định. Tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước, sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc không ngừng được nâng cao; tiếp tục khẳng định bản lĩnh, trí tuệ lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Trước anh linh tiên tổ, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Phú Thọ nguyện tiếp nối truyền thống Tiên Rồng, phát huy cao độ lòng yêu nước và tinh thần cách mạng; nỗ lực phấn đấu hết mình vì sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cha ông. Tiếp tục đổi mới tư duy và hành động tích cực, hiệu quả hơn nữa, phát huy ý chí tự lực tự cường và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, đưa đất nước phát triển ngày càng hùng cường, thịnh vượng, làm rạng danh cơ đồ dân tộc.

Thay mặt hơn 90 triệu con dân đất Việt, ông Bùi Văn Quang, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ kính cẩn đọc Chúc văn tưởng niệm các Vua Hùng, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng và các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước.

Thay mặt hơn 90 triệu con dân đất Việt, ông Bùi Văn Quang, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ kính cẩn đọc Chúc văn tưởng niệm các Vua Hùng, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng và các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước.

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ vinh dự được thay mặt đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài giữ gìn lăng miếu tổ tiên. Nguyện đoàn kết một lòng, xây dựng quê hương đất Tổ ngày càng giàu mạnh; chăm lo tu bổ, tôn tạo nơi thờ tự để con cháu Lạc Hồng đời đời thờ phụng.

Con cháu Lạc Hồng nguyện mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước/ Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Cầu mong Thánh Tổ phù hộ cho xã tắc thịnh vượng, quốc thái, dân an, bách gia trăm họ, vạn đại trường tồn. Độ trì cho mưa thuận, gió hòa, nhân khang, vật thịnh; cả nước vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra. Con cháu Lạc Hồng trên khắp mọi miền đất nước, kiều bào ta ở nước ngoài luôn mạnh khỏe, bình an, vui hưởng thái hòa.

* Tiếp đó, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng các đại biểu đặt vòng hoa, thắp hương tại Lăng Hùng Vương; dâng hoa tại Bức phù điêu Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong tại Ngã năm Đền Giếng.

Sau Lễ dâng hương tại Đền Thượng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và các đại biểu đã đặt vòng hoa và dâng hương tại Lăng Hùng Vương thứ 6. Vòng hoa có dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước”. Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng các đại biểu cũng đã dâng hoa tại bức phù điêu "Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong" tại ngã năm Đền Giếng.

Sau Lễ dâng hương tại Đền Thượng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và các đại biểu đã đặt vòng hoa và dâng hương tại Lăng Hùng Vương thứ 6. Vòng hoa có dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước”. Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng các đại biểu cũng đã dâng hoa tại bức phù điêu "Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong" tại ngã năm Đền Giếng.

Cùng thời điểm này, tại các địa phương nơi có đền thờ Hùng Vương và các danh nhân, danh tướng thời Hùng Vương trên cả nước và trong toàn tỉnh Phú Thọ đồng loạt tổ chức Lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng theo nghi lễ truyền thống.

Ngay sau Lễ dâng hương, hàng triệu đồng bào trong nước, kiều bào ở nước ngoài và bạn bè quốc tế đã thành kính tri ân công đức Tổ tiên, dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng và tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống.

Để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 2023, từ 6 giờ sáng, gần 1.000 cán bộ, chiến sĩ công an, quân đội và đoàn viên thanh niên được huy động để bảo vệ an ninh trật tự cho lễ dâng hương. Ban tổ chức bố trí lực lượng công an, đoàn viên thanh niên lập hàng rào mềm hai bên từ sân trung tâm lễ hội lên tới cổng đền.

Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần lễ du lịch Đất Tổ năm nay diễn ra trùng vào dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5, vì vậy du khách thập phương, đồng bào cả nước về Đền Hùng tham gia các hoạt động Giỗ Tổ tăng cao.

Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần lễ du lịch Đất Tổ năm nay diễn ra trùng vào dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5, vì vậy du khách thập phương, đồng bào cả nước về Đền Hùng tham gia các hoạt động Giỗ Tổ tăng cao.

Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần lễ du lịch Đất Tổ năm nay diễn ra trùng vào dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5, vì vậy du khách thập phương, đồng bào cả nước về Đền Hùng tham gia các hoạt động Giỗ Tổ tăng cao. Ngày chính giỗ, hàng ngàn người dân đã có mặt từ sớm chờ dâng hương.

Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm nay được gắn với Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ năm 2023 với nhiều hoạt động phong phú, thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo vùng Đất Tổ. Tỉnh Phú Thọ đã chuẩn bị kỹ lưỡng bảo đảm phần lễ trang nghiêm, trọng thể, thành kính mang tính cộng đồng sâu sắc.

Các hoạt động phần hội được tổ chức vui tươi, lành mạnh gắn kết chặt chẽ với du lịch, nhằm giới thiệu, quảng bá, tôn vinh những giá trị của di sản văn hóa độc đáo vùng đất Tổ.

Nguồn: QĐND


TRI ÂN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ

 Tối 28/4/2023, tại Nghĩa trang Liệt sĩ TPHCM (phường Long Bình, TP Thủ Đức), Thành đoàn TPHCM tổ chức lễ thắp nến tri ân các anh hùng, liệt sĩ, nhân kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 – 30-4-2023).

Tham dự chương trình có các đồng chí: Nguyễn Văn Đua, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM; Nguyễn Thành Trung, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM; Trương Mỹ Lệ, nguyên Quyền Bí thư Thành đoàn, Phó Chủ nhiệm Thường trực Câu lạc bộ Truyền thống Thành đoàn; Đoàn Lê Phong, Phó Ban Liên lạc Thường trực Cựu tù chính trị và tù binh TPHCM; Phan Thị Thanh Phương, Bí thư Thành đoàn TPHCM.

Các lãnh đạo, nguyên lãnh của TPHCM cùng các đoàn viên thanh niên đã thành kính dâng hương, dâng hoa và dành phút mặc niệm tưởng nhớ công ơn to lớn của các anh hùng, liệt sĩ và thực hiện dâng hương, thắp nến đến các phần mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ TPHCM.

Kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh hùng liệt sĩ, thay mặt tuổi trẻ TPHCM, Phó Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam TPHCM, Chủ tịch Hội Sinh viên Trường Đại học Sư phạm TPHCM Nguyễn Khánh Tùng bộc bạch, với tuổi trẻ hôm nay, ngày 30-4 không chỉ là ngày chiến thắng mà còn là ngày tự hào, là ngày tri ân vô hạn đối với sự cống hiến to lớn của các thế hệ cách mạng đi trước đã dâng hiến tuổi thanh xuân, cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất non sông, đem lại hòa bình, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Tuổi trẻ TPHCM mãi mãi tri ân sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ và quyết tâm tham gia tốt Cuộc vận động “TPHCM - Thành phố tôi yêu”, “hiểu - tin - yêu - hành động” và luôn vun đắp sự tự hào về TPHCM - Thành phố Anh hùng - Thành phố vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Anh Nguyễn Khánh Tùng cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những anh hùng liệt sĩ, các chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quốc tế; các liệt sĩ đã chiến đấu, hy sinh để giữ gìn cuộc sống bình yên, bảo vệ sức khỏe của nhân dân trong thời bình. 


PHÁT HUY PHẨM CHẤT TỐT ĐẸP BỘ ĐỘI CỤ HỒ, GÓP PHẦN XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG GIÀU ĐẸP

 Nhân dịp kỷ niệm 48 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2023), chiều 28/4, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng gặp mặt Đoàn đại biểu Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên B3-Quân đoàn 3.

Bày tỏ vui mừng được gặp các đại biểu cựu chiến binh, những người đã từng sống, chiến đấu trên mảnh đất Tây Nguyên kiên cường, bất khuất, với những chiến thắng vang dội, đã góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, nhân dân cả nước hoàn thành sứ mệnh lịch sử giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng gửi lời thăm hỏi ân cần tới các cựu chiến binh, các thương binh, gia đình liệt sĩ mặt trận Tây Nguyên B3-Quân đoàn 3.
Nhắc đến những đóng góp to lớn của các cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận Tây Nguyên B3-Quân đoàn 3 đã không tiếc máu xương và tuổi xuân, sẵn sàng xả thân vì đất nước, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định sự sáng suốt của Đảng, của Quân ủy Trung ương-Bộ Tổng tư lệnh trong đánh giá tình hình, xác định chính xác vị trí chiến lược của chiến trường Tây Nguyên. Từ đó, có chủ trương đúng đắn xây dựng lực lượng vũ trang đủ mạnh để đánh thắng kẻ thù.
Các lực lượng vũ trang Tây Nguyên chiến đấu ở một chiến trường trọng điểm, có nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt nhưng rất kiên cường, dũng cảm, mưu trí sáng tạo, liên tục giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn. Đặc biệt là chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 mở ra thời cơ lớn, góp phần làm nên Đại thắng mùa xuân 1975.
Chủ tịch nước chúc mừng những chiến công và thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng của Quân đoàn 3 - đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được tặng thưởng 3 Huân chương Hồ Chí Minh; Nhà nước Campuchia tặng thưởng Huân chương Ăng-co; nhiều đơn vị và cá nhân trong Quân đoàn được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Chủ tịch nước cũng đánh giá cao những cống hiến, đóng góp của các cựu chiến binh trong quá trình tham gia phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ở địa phương.
Chủ tịch nước nêu rõ, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài hơn 30 năm của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là một giai đoạn lịch sử chói lọi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên, những đau thương, mất mát do chiến tranh vẫn còn hiện hữu.
Riêng Quân đoàn 3 có hơn 40 nghìn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đảng, Nhà nước và nhân dân mãi mãi ghi nhớ công ơn của các Anh hùng, Liệt sĩ, các cựu chiến binh đóng góp cho độc lập, tự do của Tổ quốc, trong đó có các Liệt sĩ, thương binh, cựu chiến binh của Mặt trận Tây Nguyên B3-Quân đoàn 3.
Chủ tịch nước vui mừng được biết, với nghĩa tình đồng đội sâu sắc, trong nhiều năm qua, Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên B3-Quân đoàn 3 đã tập hợp anh em cựu chiến binh từng chiến đấu ở Tây Nguyên, thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động thiết thực; động viên, thăm hỏi, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống; thu thập thông tin, tìm kiếm đồng đội hy sinh mà đến nay chưa tìm được hài cốt; viết lại những ký ức của một thời lửa đạn; xây dựng các di tích nhằm tri ân những người đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc để giáo dục các thế hệ trẻ không quên sự hy sinh của thế hệ cha, ông mình.
Trên tinh thần đó, Chủ tịch nước mong muốn các cựu chiến binh mặt trận Tây Nguyên B3-Quân đoàn 3 dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ; truyền thống kiên trung, bất khuất của bộ đội Tây Nguyên, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.
Các cựu chiến binh tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết đấu tranh chống lại các thói hư, tật xấu, những tiêu cực, lạc hậu ngoài xã hội và nơi cư trú, tích cực đóng góp xây dựng đảng, xây dựng chính quyền.
Cùng với đó, phát huy tinh thần “trẻ xông pha, già mẫu mực”, làm gương cho con cháu, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ; phát huy nghĩa tình đồng đội thủy chung, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn, hoạn nạn, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc./.
ST


GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA - CHIẾN CÔNG KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN

 48 năm trước, đúng 9 giờ ngày 29/4/1975, cờ Giải phóng tung bay trên đảo Trường Sa. Giải phóng kịp thời các đảo thuộc quần đảo Trường Sa là chiến công đặc biệt xuất sắc, có ý nghĩa chiến lược của lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam nói riêng, Quân đội Nhân dân Việt Nam nói chung trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Ngày 2-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ thị "phải nắm lực lượng ở Khu 5 và Hải quân để tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa”. Ngày 4-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi bức điện đặc biệt cho Quân chủng Hải quân và Quân khu 5 giao nhiệm vụ: "Nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo do quân ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa, không cho bất cứ kẻ nào xâm chiếm các nơi đó. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng”.
Chấp hành mệnh lệnh trên, Bộ tư lệnh Hải quân khẩn trương chuẩn bị lực lượng làm nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa, một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị, quân sự và kinh tế, góp phần giải phóng hoàn toàn đất nước. Quyết tâm của Đảng ủy, Bộ tư lệnh là bám sát tình hình, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, kiên quyết không để lực lượng nào khác đến đánh chiếm đảo trước ta.
Ngày 11-4-1975, các lực lượng của ta bí mật xuất phát từ Đà Nẵng và chọn đảo Song Tử Tây làm mục tiêu giải phóng đầu tiên. Rạng sáng 14-4, đảo Song Tử Tây được giải phóng, khiến quân địch trên toàn quần đảo Trường Sa hoang mang, dao động, tạo điều kiện cho ta giải phóng các đảo còn lại thuận lợi. Tiếp đến, 3 giờ ngày 25-4, ta giải phóng hoàn toàn đảo Sơn Ca; 10 giờ 30 phút ngày 27-4, ta làm chủ đảo Nam Yết; 10 giờ 20 phút ngày 28-4, ta hoàn toàn làm chủ đảo Sinh Tồn. Đến 9 giờ ngày 29-4, phân đội chiến đấu cuối cùng của Lữ đoàn 126 đổ bộ làm chủ đảo Trường Sa.
9 giờ ngày 29-4-1975, cờ Giải phóng đã tung bay trên hòn đảo lớn nhất, hòn đảo thứ năm và cũng là cuối cùng mà quân ngụy Sài Gòn đóng giữ ở quần đảo Trường Sa. Quân chủng Hải quân cùng lực lượng phối thuộc của Quân khu 5 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa, nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chiến công này khẳng định sự chỉ đạo sáng suốt, chính xác, kịp thời của Thường trực Quân ủy Trung ương, Bộ tổng Tư lệnh và Quân chủng Hải quân trên mũi tiến công trên hướng biển trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Chiến công giải phóng Trường Sa cũng khẳng định ý thức tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, tinh thần khắc phục khó khăn, biết nắm thời cơ, triệt để tận dụng thời cơ, táo bạo, mưu trí, dũng cảm chiến đấu; đặc biệt là ý thức rất cao về chủ quyền, về trách nhiệm quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc của bộ đội Hải quân. Đặc biệt, việc giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa từ quân đội Sài Gòn đóng giữ chính là bằng chứng có tính pháp lý để khẳng định trước cộng đồng quốc tế quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. 13 giờ cùng ngày, lực lượng của Quân chủng Hải quân tiến vào tiếp quản Bộ tư lệnh Hải quân ngụy ở trại Bạch Đằng, Bộ tư lệnh hạm đội, Công xưởng Ba Son, Bộ tư lệnh Sư đoàn lính thủy đánh bộ, trại Trịnh Minh Thế và một số vị trí khác.
Sau khi giải phóng 5 đảo trên quần đảo Trường Sa năm 1975, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao về củng cố, xây dựng Trường Sa, Quân chủng Hải quân đã nhanh chóng triển khai lực lượng đóng giữ thêm 16 đảo, nâng tổng số lên 21 đảo với 33 điểm đóng quân.
48 năm qua, đảo Trường Sa nói riêng và quần đảo Trường Sa nói chung bước vào thời kỳ lịch sử mới, thời kỳ xây dựng chiến đấu và trưởng thành bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.
ST


KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG TRỞ VỀ

 Ngày 28-4, Ban liên lạc Chiến sĩ cách mạng (CSCM) Việt Nam bị địch bắt tù đày huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tổ chức Hội nghị gặp mặt lần thứ 7 và Kỷ niệm 50 năm Ngày chiến thắng trở về.

Trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, phát huy truyền thống quê hương, thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người, những người con của quê hương Hưng Hà nghe theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ kính yêu hăng hái lên đường tòng quân đánh Mỹ. Mặc dù gặp muôn vàn khó khăn gian khổ, ác liệt, hy sinh, nhưng các anh đều dũng cảm chiến đấu kiên cường, lập nhiều chiến công hiển hách, nhiều đồng chí đã bị địch bắt tù đày trong các trại giam trên khắp miền Nam.
Trong lao tù của Mỹ-ngụy, dù phải hứng chịu biết bao ngón đòn tra tấn cực kỳ dã man, như: Điện giật, bóc móng tay, móng chân, đóng đinh vào đầu, vào các khớp xương, uống nước xà phòng, nhổ răng, nhốt chuồng cọp, cho vào thùng phi đổ nước đầy, đậy nắp kín và gõ... nhưng những người con Hưng Hà vẫn luôn luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản với niềm tin sắt đá vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, không hề phản bội, xưng khai.
Ông Phạm Đức Loan, Trưởng ban liên lạc CSCM Việt Nam bị địch bắt tù đày huyện Hưng Hà cho biết: Ban liên lạc được thành lập năm 1993. 30 năm qua, Ban liên lạc luôn duy trì sinh hoạt có nền nếp, có tính tổ chức và kỷ luật cao, thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đã tổ chức được 7 kỳ họp mặt cấp huyện. Cấp tổ, cụm đều tổ chức sinh hoạt đều đặn. Công tác hoạt động tình nghĩa được quan tâm chu đáo như thường xuyên: Thăm hỏi, tặng quà động viên các hội viên bị ốm đau trong bệnh viện. Chu đáo tổ chức đưa tiễn các hội viên không may qua đời. 100% các đồng chí hội viên thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, luôn gương mẫu và nghiêm chỉnh thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước, mọi quy định của địa phương; tích cực tham gia hoạt động trong các đoàn thể, đi đầu trong mọi phong trào thi đua, đặc biệt là hưởng ứng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", phong trào "Đảng bộ và nhân dân huyện Hưng Hà chung sức xây dựng nông thôn mới"... Trong những năm qua, 100% hội viên tích cực tham gia giữ vững an ninh trật tự, góp phần ổn định chính trị tại địa phương; không có hội viên vi phạm pháp luật hay dính các tệ nạn xã hội.
Thời gian tới, Ban liên lạc tăng cường đoàn kết thống nhất, gương mẫu chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, nêu gương sáng cho cháu con học tập và noi theo; làm tốt hơn nữa công tác tình nghĩa, thường xuyên động viên, giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất, đặc biệt là trong công tác xóa đói, giảm nghèo. Phấn đấu các cấp tổ, cụm, xã xây dựng được “Quỹ tình nghĩa” để hoạt động ngày càng có hiệu quả./.
ST


TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG CỦA BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN

 Năm1975, Biệt động Sài Gòn đã gầy dựng lại được lực lượng, sẵn sàng bước vào chiến dịch cuối cùng - chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử - giải phóng Thành phố Sài Gòn - Gia Định.

Tháng 4/1975, nhận chỉ thị của Bí thư khu ủy Sài Gòn - Gia Định Mai Chí Thọ, đại tá Trần Minh Sơn (Bảy Sơn) khi ấy là Thành đội phó Thành đội Sài Gòn - Gia Định, cho thành lập 60 tổ Biệt động để chiến đấu, giữ cầu, điện nước, dẫn đường…
“Tiếng súng bắt đầu tại Buôn Ma Thuột và sẽ êm ở Sài Gòn” - Đại tướng Mai Chí Thọ chỉ thị Thành đội thực hiện những nhiệm vụ quan trọng để làm chủ trận địa, bám chắc cửa ngõ, chiếm giữ và bảo vệ các cây cầu huyết mạch, chuẩn bị cho đại quân từ năm hướng tiến nhanh vào Sài Gòn.
Đầu tháng 4 được sự chỉ đạo của cố vấn Mỹ, quân Việt Nam Cộng Hoà gấp rút xây dựng tuyến phòng thủ xung quanh Sài Gòn hòng ngăn chặn lực lượng ta tấn công, quyết tâm “tử thủ” để chờ thời cơ phản kích.
Ngày 30-4, khi ông Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng thì một bộ phận nhỏ của địch co cụm tại nhà thờ Vinh Sơn. Một tổ Biệt động tấn công vào nhưng vấp phải sự kháng cự quyết liệt khiến một cán bộ ta hy sinh. Trong bối cảnh này, ta phải điều động Trung đoàn Gia Định đem súng lớn tấn công, địch buộc phải đầu hàng, ta thu súng và bắt tù binh” - ông Bảy Sơn nhớ lại trận đánh cuối cùng.
Những ngày ấy, ban chỉ huy Biệt động chia làm hai cánh, cánh nội thành do ông Bảy Sơn chỉ huy hoàn thành nhiệm vụ cùng các lõm chính trị xây dựng chính quyền Cách mạng thay cho các phường của ngụy trước đây. Việc tiếp sau của Biệt động là cùng địa phương làm công việc quản giáo, kêu gọi các sĩ quan, công chức ngụy ra hàng, đăng ký học tập cải tạo trong chủ trương ôn hòa của ta. Ông Bảy Sơn cho hay lực lượng biệt động trong thời điểm này làm nhiệm vụ phục vụ và bảo đảm chiếm giữ các cơ sở hành chính, kinh tế của Sài Gòn và tém dẹp các phường tự quản, tạo điều kiện cho chính quyền Cách mạng hình thành lúc mới vào./.
ST


Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2023

Học tập tấm gương tinh thần trách nhiệm, phong cách khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã trở thành di sản lớn lao của dân tộc Việt Nam. Do vậy, việc học tập và làm theo Bác, đặc biệt học tập và làm theo tấm gương tinh thần trách nhiệm, phong cách khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng và yêu cầu cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn dân ta. Tấm gương tinh thần trách nhiệm Xuất phát từ ý chí dân tộc, từ hoài bão cứu nước, năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc sang phương Tây tìm đường cứu nước. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kiên trì chịu đựng mọi khó khăn gian khổ, Người chú ý xem xét tình hình các nước, suy nghĩ về những điều mắt thấy, tai nghe, hăng hái học tập và tham gia các cuộc diễn thuyết của nhiều nhà chính trị và triết học. Người đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người bôn ba khắp năm châu bốn biển, vừa lao động, học tập, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các nước để tìm đường cứu nước, cứu dân, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ, áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Về vấn đề học tập, Hồ Chí Minh quan niệm “Học để làm người trước, sau đó mới học làm cán bộ” và Người đã không ngừng mở rộng tầm nhìn ra thế giới, tiếp thu tinh hoa văn hóa - khoa học của nhân loại, nâng cao trình độ bằng phương pháp tự học. Trong phong cách diễn đạt, bất cứ đối tượng nào, ở bất cứ trình độ nào khi nghe Bác nói chuyện đều cảm thấy thoải mái, kính nể. Đặc biệt, Người khi là một nhà thơ, nhà văn, nhà báo, khi là người chính luận sâu sắc, tác giả của những áng hùng văn, những lời kêu gọi cả dân tộc, đồng bào, cho đến những lá thư giản dị cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Trong cách ứng xử của Người cũng rất văn hóa, lịch lãm mà bình dị, tự nhiên, cởi mở và chân tình. Nói đến phong cách Hồ Chí Minh bất cứ ai cũng có thể nhận thấy ở Người có một phong cách rất riêng, rất Hồ Chí Minh thể hiện trong lĩnh vực tư duy, làm việc, ứng xử cũng như trong sinh hoạt cuộc sống đời thường. Thực tế đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là dấu cộng những tư tưởng sẵn có của người khác. Từ những vấn đề mang tính quy luật vận động của xã hội, Hồ Chí Minh đã đặt vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước ta, đưa ra những câu trả lời không có trong kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin. Tư tưởng cách mạng khoa học của Người là sản phẩm của quá trình tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Là Cán bộ Đảng viên càng phải tiên phong, đi đầu trong thực hiện và học tập theo phong cách của chủ tịch Hồ Chí minh hơn nữa để hoàn thiện bản thân, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Học tập Bác thực hiện tiết kiệm chống lãng phí

Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là học tập và làm theo chuẩn mực 'cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư' đã trở thành phong trào thi đua rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên, tình trạng lãng phí sức người sức của, lãng phí thời gian, lãng phí công quỹ của Nhà nước vẫn còn khá phổ biến ở các cơ quan, đơn vị, địa phương. Chính vì thế, việc đẩy mạnh học tập và thực hiện chữ "Kiệm" theo lời dạy của Bác Hồ là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết hiện nay. Theo Bác Hồ, “Kiệm” là tiết kiệm, không xa xỉ, hoang phí, bừa bãi. Người còn chỉ rõ, kiệm và cần phải đi đôi với nhau, nó như hai chân của một con người vậy. Người đã từng phân tích rằng, cần mà không kiệm thì "làm chừng nào xào chừng ấy", nó như cái thùng không đáy, nước đổ chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Mặt khác, kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển và sẽ dẫn tới thoái bộ, thụt lùi. Về nội dung tiết kiệm, Bác Hồ xác định nó được thể hiện ở các vấn đề chủ yếu sau: - Một là, tiết kiệm sức lao động. Theo Người, có nhiều biện pháp để tiết kiệm sức lao động, nhưng quan trọng nhất là phải biết tổ chức sắp xếp lực lượng cho khéo, phải nâng cao năng suất lao động, phải phấn đấu để "1 người làm bằng 2, 3 người" - Hai là, tiết kiệm thời giờ. Đây là nội dung tiết kiệm rất quan trọng, nhưng nhiều người lại thường xem nhẹ, bỏ qua. Để mọi người thấu hiểu vấn đề này, Bác Hồ đã khẳng định rằng, thời giờ là tiền bạc. Và, Người đã có lời dạy rất sâu sắc: "Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại"2. Người luôn nhắc nhở cán bộ và nhân dân phải biết tiết kiệm thời giờ cho mình và tiết kiệm thời giờ cho người khác. - Ba là, tiết kiệm tiền của. Theo Bác Hồ, tiết kiệm tiền của có quan hệ mật thiết với tiết kiệm sức lao động và tiết kiệm thời gian. Người luôn yêu cầu tất cả các cơ quan, đơn vị, địa phương, tất cả cán bộ, đảng viên phải hết sức chú ý tiết kiệm tiền của của Nhà nước, của nhân dân và của chính mình. Tiến hành tốt các biện pháp trên, đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó các đồng chí bí thư cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu trong tổ chức thực hiện. Chỉ có trên cơ sở như vậy, việc thực hiện chữ "Kiệm" theo lời dạy của Bác Hồ mới ngày đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

TẠI SAO CHÚNG TA LẠI XÓA NỢ CHO CUBA!

     Năm 2018, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sang thăm Cuba trao cho bạn một món quà quý giá cho bạn đó là Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam quyết định xóa hết những gì mà Cuba nợ Việt Nam (số liệu cụ thể chưa rõ) lập tức nhiều kẻ phản động lên tiếng la ó, Việt Nam đã nghèo mà còn chơi sang. 

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Cuba gửi hàng chục vạn liều máu sang cho Việt Nam để cứu chữa thương binh và Nhân dân Việt Nam bị thương, Nhân dân Miền Bắc bao năm dùng đường Cuba, bạn viện trợ không biết bao nhiêu tấn đường cho Việt Nam.

Học sinh chúng tôi được tiêm Vaccine miễn phí do Cuba cung cấp.

Năm 1973 chính phủ Cuba viện trợ cho chúng ta 5 công trình mà đến bây giờ vẫn còn sử dụng Tốt:
1. Khách sạn Thắng lợi.
2. Bệnh viện Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
3. Đường Xuân Mai, Hòa Bình.
4. Một Trại Gà.
5. Một trang trại bò sữa Ba Vì.
Tổng giá trị 80 triệu USD tương đương bây giờ khoảng 600 triệu USD.
Cuba là nước đi đầu lên án Mỹ xâm lược Việt Nam và vận động các nước ủng hộ Việt Nam trên mọi mặt ngoại giao và ủng hộ Việt Nam vào Liên Hiệp quốc.

Khi mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ra đời Cuba là nước ủng hộ đầu tiên và cử đại diện vào khu giải phóng nơi đặt chính phủ Miền Nam Việt Nam để thể hiện sự ủng hộ.

Sau chiến thắng Vịnh Con Lợn Cuba bắt được khá nhiều tù binh, Mỹ muốn chuộc lại Cuba bắt trả bằng USD, sau đó bạn dùng số tiền này ủng hộ Việt Nam, sang Nhật mua máy ủi máy húc đưa sang Việt Nam làm đường sau đó để lại cho Việt Nam đưa vào đường Trường Sơn mở đường và lấp hố bom. 

Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu, một câu nói này thôi tiền nào mua được, vì thế ta xóa nợ cho bạn cũng là một lẽ thường tình, mình thường xuyên mang gạo sang giúp đỡ bạn khi bạn khó khăn.

Bây giờ mình đang giúp đỡ bạn phát triển thông tin và cải cách kinh tế dần dần xóa bỏ bao cấp và hội nhập kinh tế thị trường mà Việt Nam là một gương sáng cho nhiều nước nghèo đói học tập để vươn lên./.





Yêu nước ST.

Tăng cường đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Không gian mạng (Facebook, Zalo, Youtube, Instagram, Linkedin, Zingme, Google…) đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, do có tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xóa nhoà ranh giới giữa thực và ảo, vì vậy không gian mạng mang đến không ít thách thức đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, chuyển hóa chính trị, khủng bố. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi người, lực lượng thực thi nhiệm vụ này trên không gian mạng phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình mới. Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm hơn, có tác động đến các tầng lớp trong xã hội. Thủ đoạn tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Về hình thức tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu qua các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, duy trì sử dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn website, blog... để liên tục phát tán những thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng lập ra nhiều trang web mạo danh các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, một số nhân vật được xã hội chú ý hoặc nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “bảo vệ môi trường”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… để trích dẫn, bình luận, xuyên tạc, hạ uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đồng thời, đưa lên internet và mạng xã hội những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, chưa rõ ràng để dẫn dắt, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó, chuyển hóa dần sang tư tưởng sai trái, phản động, thù địch. Chúng còn xuất bản các xuất bản phẩm có nội dung xấu, độc; biên soạn tài liệu, video lồng ghép nội dung thổi phồng, xuyên tạc, bóp méo sự thật; tiến hành rải truyền đơn, tờ rơi, viết vẽ khẩu hiệu phản động. Các thế lực thù địch tiếp tục tổ chức viết nhiều tài liệu, “tác phẩm” dưới dạng văn học nhằm dựng chuyện, vu cáo, bôi nhọ, từ đó xóa bỏ học thuyết Mác - Lênin và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa… Do đó chúng ta cần tăng cường thực hiện các giải pháp một cách thiết thực, cấp bách cụ thể như sau: Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”. Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bốn là, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trong nước xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các trang mạng phản động./.

NHỮNG NGƯỜI GỐC NGA VÀ UKRAINE BÊN KIA CHIẾN TUYẾN!

         Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, đã có nhiều chuyên gia Xô Viết sang giúp đỡ chúng ta. Sự giúp đỡ về nhân lực, vũ khí khí tài đó vô cùng quý giá, góp công lớn vào chiến thắng cuối cùng tháng 4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Họ có thể là người Nga, người Ukraine, Belorussia, Uzbekistan, Azerbaijan... Nhưng họ đều là những người con của Tổ quốc Liên Xô, đất nước chiếm 1/6 diện tích địa cầu.

Về chuyện này, báo chí Nga và Việt Nam đã nhắc đến nhiều, với nhiều số liệu, nhiều câu chuyện cụ thể.

Nhưng, rất ít người Việt Nam biết rằng, trong cuộc chiến tranh đó, có những người Nga, người Ukraine lại đứng ở phía bên kia chiến tuyến... Đa phần, chúng là hậu duệ của quân Bạch vệ lưu vong, là con cháu của sư đoàn phát xít Ukraine trong Chiến tranh thế giới lần thứ 2.

Các nhà sử học Nga bằng nhiều nguồn khác nhau, cho đến nay vẫn không xác định được có bao nhiêu người Nga nằm trong quân đội Mỹ và lính đánh thuê đã ở miền Nam Việt Nam. Họ chỉ tìm được một số người như thế.

Như chúng ta đã biết, Ausralia là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Năm 1962, đã có các chuyên gia Australia được cử sang chiến trường miền Nam. Năm 1965, tiểu đoàn lính của nước này được điều sang tham chiến. Năm 1966, bổ sung quân, thành lập 1st Australian Task Force, 1 ATF. Từ 1962-1975, có khoảng 60.000 lính Australia (bộ binh, lính thủy đánh bộ, lính dù) đã có mặt ở miền Nam Việt Nam.

Trong số này có Aleksandr Ilin (ảnh 1), người Nga, có 2 người ông từng phục vụ trong quân đội Sa hoàng. Sau Cách mạng Tháng Mười, gia đình Ilin chạy dạt sang Trung Quốc, rồi chạy sang Philippines và từ đó sang Australia. Theo lời kể, năm 1965, anh này mới 20 tuổi, là sinh viên ở Australia bị sung lính sang Việt Nam, làm lính thông tin...

Trong một phỏng vấn của trang SBS năm 2016, Ilin vẫn giữ nguyên vẻ kinh hoàng khi nhớ về những năm tháng ở Việt Nam, về chiến tranh du kích, về trận Long Tân - được coi là trận đánh nổi tiếng nhất của quân đội Australia trong chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Ông ta bày tỏ sự thất vọng khi chính quyền nước này đã "phản bội" các cựu binh khi họ trở về nước.

Người Nga thứ hai trong quân đội Australia mà các nhà báo gặp được là Evgeny Konashenko, cũng là con cháu Bạch vệ lưu vong. Konashenko sang Việt Nam năm 1968, là sĩ quan hậu cần phi đội trực thăng số 6 RAAF đóng tại Vũng Tàu.

Trong số những người Nga tham chiến trong quân đội Australia có những kẻ đã bị Quân Giải phóng tiêu diệt. Bao nhiêu người, không ai biết. Năm 1968, chỉ có một dòng tin ngắn ngủi trên báo chí của dân lưu vong Nga tại Bỉ: "Đại úy Anatoly Danilenko đã chết trong trận chiến tại Việt Nam".

Chưa có thống kê về số lính Mỹ gốc Nga trong chiến tranh tại Việt Nam. Chúng ta chỉ nhớ trong phim "Người săn hươu" (The Deer Hunter) của điện ảnh Mỹ năm 1978 có kể về số phận của vài tên trong số này. Chính vì chi tiết lính Mỹ gốc Nga đã đứng về phía quân xâm lược Mỹ, nên Liên Xô đã cấm tiệt không cho chiếu phim này.

Ngoài người Nga, còn có khá đông người gốc Ukraine trong quân đội Mỹ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, đám tàn quân phản động lưu vong Ukraine đã thành lập lữ đoàn lê dương Ukranie tại Mỹ. Tham gia vào lữ đoàn này là cựu binh Ukraine từng chiến đấu trong quân đội Hitler thuộc sư đoàn lính Ukraine SS Galitcha - có tên tiếng Đức là Waffen-Grenadier-Division der SS (galizische Nr. 1)- và con cháu của chúng. 

Mặc dù chính quyền Mỹ, rồi đa số cộng đồng Ukraine tại Mỹ không ủng hộ thành lập đội quân lê dương Ukraine, nhưng chúng vẫn âm thầm hoạt động. Đến năm 1967, theo số liệu trong bài báo của Ярослав Тинченко mà trang FOCUS (Ukraine) dẫn lại năm 2007, có khoảng 200-500 lính gốc Ukraine đã sang Việt Nam tham chiến.

Những tên lính này đã trực tiếp gây tội ác với nhân dân Việt Nam. Có thể kể đến Stepan Olek đã trực tiếp ném bom miền Bắc. Y không bị bắn hạ, nhưng ấn tượng khủng khiếp nhất với Olek là năm 1968, đã lái chiếc máy bay chở về Mỹ đám lính bị thương hoảng loạn tâm thần sau trận chiến đường 9 Khe Sanh.

Trung sĩ Vladimir Stepaniak (ảnh 2) là cố vấn cho Lữ Đoàn 2 của Sư Đoàn dù số 1 Sài Gòn là kẻ đã tham gia trận Khe Sanh. Thất bại thảm hại trong trận này, và một số trận "phản công" Quân Giải phóng, Stepaniak đã rơi vào tâm lý hoảng loạn. Trong nhiều tuần liền, đi đâu y cũng kè kè lá cờ Ukraine, dặn nếu mình bị chết, hãy chôn với lá cờ này. Sau 19 tháng tham chiến, y rời Việt Nam và sau đó không ai biết y ở đâu.

Không "may mắn" như Stepaniak, nhiều tên lính gốc Ukraine đã bỏ mạng tại Việt Nam. Trong số này có thể kể đến trung sĩ dù Yury Leshinsky, là con trai của Mikhail Leshinsky, cựu sĩ quan sư đoàn phát xít SS Galitcha.

Tháng 7 năm 2017, một tài khoản twitter là Ukr Che đã đăng lên mạng ảnh một lính Mỹ gốc Ukraine là Bogdan Kopystyansky (ảnh 3)trong rừng rậm miền Nam Việt Nam năm 1969. 

Chiến tranh đã lùi xa. Chúng ta không bao giờ quên ân tình của những người bạn đã luôn bên cạnh trong những ngày tháng rực lửa chiến đấu để thống nhất đất nước. Nhưng chúng ta cũng cần phải ghi nhớ tội ác của những kẻ xâm lược, cho dù chúng mang dòng máu của bất cứ dân tộc nào.

Trong bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc, có đoạn:
"...Đứa nào bắn anh đó
Súng nào nhằm trúng anh
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh!

Tên nó là đế quốc
Tên nó là thực dân
Nó là thằng thổ phỉ
Hay là đứa Việt gian?"
Người Nga cũng có câu "Врага нужно знать в лицо", tức Phải biết tận mặt kẻ thù. Những kẻ đã có nợ máu với chúng ta, phải chỉ tận mặt, tận tên./.

Yêu nước ST.

Tấm lòng nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Trước lúc đi xa, Bác đã để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng; đồng thời cũng “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời về lòng nhân ái, vị tha mà mỗi chúng ta tự hào Suốt cuộc đời, từ khi bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước đến khi Bác ra đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều một lòng vì nước, vì dân. Trong thời gian ở nước ngoài, chứng kiến cảnh công nhân bị áp bức bóc lột, Bác đã nghĩ đến những người lao động nghèo khổ cùng cảnh ngộ ở đất nước mình. Bác đã từng nói: “Ở đời và làm người phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”. Ngay từ ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Bác đã nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành. Để làm được điều đó, Bác đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và giặc dốt. Thương nhân dân đời sống khó khăn, Bác nhắc nhở nhiệm vụ thường xuyên là xóa đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển; người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm. Kinh tế có phát triển, đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh. Bác luôn căn dặn cán bộ, đảng viên, khi đã có chính quyền, phải xây dựng bộ máy trong sạch vững mạnh, đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu, xa dân; phải dựa vào dân, khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong nhân dân. Tình yêu thương con người của Bác không phân biệt miền xuôi hay miền ngược, già hay trẻ, gái hay trai, hễ là người Việt Nam yêu nước đều có chỗ trong trái tim của Bác. Tấm lòng nhân ái, hết lòng vì con người của Bác, không chỉ dừng lại đối với nhân dân Việt Nam, mà còn mở rộng ra với nhân dân lao động toàn thế giới. Bác Hồ đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, cho áo ấm, cơm no của dân tộc. Học tập Bác, chúng ta cần sống vì mọi người, luôn nêu cao tinh thần tương thân tương ái “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Trong xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, đời sống chúng ta phát triển kéo theo đó là sự bận rộn của cuộc sống thường ngày nên đôi khi chúng ta không để ý đến những người xung quanh. Hiện nay, chúng ta cần nhận thức rõ ngoài việc công tác tốt thì cần quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ đối với người khác, đặc biệt là những người gặp khó khăn, hoạn nạn bằng những hành động, việc làm cụ thể như: tích cực tham gia đóng góp quỹ tương trợ tại cơ quan, tham gia đóng góp các cuộc vận động vì người nghèo do công đoàn cấp trên phát động. Thời gian qua, công cuộc xóa đói, giảm nghèo của nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, cả nước vẫn còn nhiều hộ nghèo và hộ cận nghèo, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên cương hải đảo… vẫn đang rất cần được sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội một cách mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn. Do đó, chúng ta cần góp phần cùng với Đảng, Nhà nước chăm lo người nghèo, đóng góp vào sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đóng góp vào thành tựu chung của cả nước. Ngoài ra, bản thân cần tự rèn luyện phẩm chất, tư cách của người công chức, làm tròn nhiệm vụ được cấp trên phân công, sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, hòa nhã, thân ái với đồng nghiệp, hết lòng vì công việc để bản thân mình được hoàn thiện hơn nhằm phục vụ tốt hơn cho con đường cách mạng của Đảng./.

Đoàn viên thanh niên tích cực học tập và làm theo lời Bác dạy

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dâng hiến trọn cuộc đời mình cho dân, cho nước, vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Đến trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng Người còn để lại những dặn dò hết sức cụ thể cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cho mỗi con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ thanh niên, lực lượng quyết định cho sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc trong hiện tại cũng như trong tương lai. Thời gian và không gian đã thay đổi, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng những lời căn dặn của Người mãi mãi như là ánh hào quang soi sáng đường chúng ta đi, luôn luôn nhắc nhở chúng ta trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ của mình đối với dân, với nước dù ở bất kỳ tình huống và hoàn cảnh nào. Bác nói: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất quan trọng và cấp thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt kỳ vọng vào thanh niên. Năm 1945, khi nước nhà vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Muốn đạt mục đích đó, thì mỗi thanh niên, nhất là một cán bộ thanh tra phải kiên quyết làm bằng được những điều sau này: 1. Đoàn viên, thanh niên phải suốt đời phấn đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng, của dân tộc. Đó chính là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Xuất phát từ đó mà Lý Tự Trọng đã từng nói: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác!”. 2. Đoàn viên, thanh niên phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và lên trước hết, ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nguyên tắc: “Lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài”. 3. Đoàn viên, thanh niên phải có một đời tư trong sáng, phải là một tấm gương sáng trong cuộc sống. Điểm nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh so với nhiều danh nhân khác ở trong nước và trên thế giới là toàn bộ cuộc đời của Người là tấm gương sáng về đạo đức. Sức mạnh của đạo đức đã lan tỏa, thẩm thấu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, trở thành giá trị cốt lõi, vĩnh hằng của văn hoá trong các thế hệ các dân tộc ở trên đất nước Việt Nam. Nếu đoàn viên, thanh niên không có một đời tư trong sáng thì sẽ không thuyết phục, vận động được nhân dân trong các phong trào cách mạng. Người đoàn viên, thanh niên, ngoài việc phải hoàn thành tốt công việc chung của Đảng đã được phân công, lại phải còn là một thành viên tốt của gia đình, là một người công dân tốt, kiểu mẫu ở khu dân cư và ngoài xã hội, sống cuộc sống chan hoà, gần gũi với mọi người chung quanh. 4. Đoàn viên, thanh niên phải có đạo đức cách mạng. Đây là yêu cầu “gốc”, “nguồn” đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu. Đây cũng chính là quan điểm xuất phát, một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ cách mạng. Không ít lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, người cán bộ cách mạng không phải là người “làm quan cách mạng”, không phải vào Đảng, không phải làm cán bộ là để “thăng quan tiến chức”, không phải như dưới thời thực dân phong kiến “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm cán bộ để “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân, phong kiến”,…Người đoàn viên, thanh niên phải tận tụy với sự nghiệp cách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Trung thành ở đây trước hết đòi hỏi đoàn viên, thanh niên phải hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì không kiêu căng, chủ quan, tự mãn; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động; phải luôn luôn có ý thức và hành động bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc. Trung thành với cách mạng là phải hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, là việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ, cũng gắng sức làm, việc gì có hại cho dân, dù nhỏ, cũng hết sức tránh.

Rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” chiếm một vị trí đặc biệt trong lòng mỗi người Việt Nam và có sức cảm hóa lớn. Dù ở bất kỳ cương vị nào, từ một người phụ bếp trên con tàu “Amiran Latouche Tre ville” lúc ra đi tìm đường cứu nước, cho đến khi trở thành lãnh tụ của một nước, Bác vẫn giữ được lối sống giản dị và khiêm tốn hết mực, luôn một lòng vì nước, vì dân. Từ việc ăn, mặc, ở đến sinh hoạt, chi tiêu hàng ngày, Bác đều hết sức giản dị, tiết kiệm. Mỗi bữa ăn của Bác chỉ có vài ba món rau dưa ... khi ăn, Bác không làm rơi vãi hạt cơm nào. Ngày còn ở chiến khu, Bác sống trong hang đá, trong những ngôi nhà sàn đơn sơ. Khi đất nước độc lập, Bác từ chối những tòa nhà to lớn, đồ sộ mà sống trong ngôi nhà ba gian ngói đỏ, rồi ngôi nhà sàn mộc mạc. Bác được tặng nhiều đồ vật có giá trị giúp việc sinh hoạt được dễ dàng hơn như điều hòa, tủ lạnh... nhưng Bác từ chối tất cả và đem tặng lại cho đồng bào, chiến sĩ. Bác nói: Ở đời ai chẳng thích ăn ngon, mặc đẹp, nhưng nếu miếng ngon đó lại đánh đổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì không nên. Trong trang phục hàng ngày, Bác chỉ có bộ quần áo dạ màu đen (Áo dạ là một loại áo khoác mùa Đông làm từ vải dạ hoặc vải nỉ) mặc khi ra nước ngoài; chiếc mũ cát Bác đội khi đi ra ngoài trời; chiếc áo bông, áo len Bác mặc trong mùa lạnh và một vài bộ quần áo gụ (màu nâu sẫm, có vân đen) Bác mặc làm việc mùa hè. Hai mươi lăm năm sau bài viết trên, năm 1971, sau khi Bác mất, một người Mỹ - nhà báo, nhà văn Đâyvít Hanbơcstơn - trong cuốn sách của mình, do Nhà xuất bản Răngđôm Haosơ ở New York ấn hành đã viết: “... Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này - hơi giống Găngđi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới, ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc quần áo đơn giản nhất - cách ăn mặc của ông không khác mấy người nông dân nghèo nhất - một phong cách mà phương Tây đã chế giễu ông trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày, họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông… Địa vị càng cao, ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của người Việt: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Ông Hồ không cố tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân, với lịch sử...”. Hiện nay, Đảng ta đang tập trung đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư - Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Việc cần thực hiện trước mắt đó là đẩy mạnh giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc làm theo gương Bác một cách thiết thực, hiệu quả. Đây chính là yêu cầu vừa mang tính lâu dài, vừa là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay, vừa là yếu tố cơ bản để hình thành đạo đức cách mạng của người Việt trong thời đại mới. Vì vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên không những phải luôn nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lý, mà còn phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác, tránh những biểu hiện vun vén cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí... luôn đề cao tinh thần làm việc có trách nhiệm, có lương tâm, sâu sát quần chúng, sâu sát cơ sở, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 1963!

     “Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ, làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan”!
     Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ. Làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan, phải có kế hoạch chu đáo, phải có quyết tâm bền bỉ”. Trích trong bài nói chuyện của Bác tại Hội nghị cán bộ ngành Công an năm 1963. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện Công an nhân dân thành một lực lượng trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt. Người luôn nhắc nhở rằng, người chiến sĩ công an sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân chiến đấu là người lính có lý tưởng cao cả, kiên quyết hăng hái làm tròn nhiệm vụ. Thực tế lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, lực lượng công an luôn dũng cảm trong chiến đấu, giữ vững bản chất cách mạng, ý chí chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong cuộc chiến giữ gìn an ninh nội bộ và xây dựng thế trận an ninh nhân dân.
     Nội dung, ý nghĩa trong lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dành riêng cho lực lượng công an, mà còn dành cho các cấp, các ngành, các lực lượng; trong đó có Quân đội nhân dân. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội phải được bắt đầu từ sức mạnh đoàn kết nội bộ. Nội bộ thống nhất, chặt chẽ mới có thể đưa mọi việc được triển khai đồng bộ; phải nghiên cứu kỹ mọi việc, lập kế hoạch sâu sát, tỉ mỉ trước khi thi hành để đảm bảo chắc chắn thành công. Nghiên cứu công việc kỹ lưỡng chưa đủ, khi thực thi còn phải thận trọng và không được chủ quan mới có thể đi đến đích thắng lợi. Suy rộng ra, đoàn kết nội bộ ở đây cũng có nghĩa là đoàn kết nội bộ Đảng, đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
     Muốn làm được điều đó mỗi tổ chức, mỗi cá nhân, mà trước tiên là cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp phải tiền phong gương mẫu chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, giữ gìn đoàn kết nội bộ tốt, có tác phong lãnh đạo dân chủ, quần chúng, sâu sát, cụ thể, tới nơi, tới chốn và thực hành nêu gương trước cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, chủ nghĩa kinh nghiệm, độc đoán, gia trưởng, xa rời, lãnh cảm với cấp dưới và quần chúng…
Môi trường ST.

Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

 Gọi “30/4/1975 là ngày giải phóng” vì đây là sự kiện đánh dấu lãnh thổ miền Nam Việt Nam thoát khỏi ách thống trị của kẻ thù xâm lược của đế quốc Mỹ cùng với các lực lượng tay sai và chính quyền Ngô Đình Diệm (ngụy quyền) cùng những người Việt đi lính cho Diệm (ngụy quân) cản lại con đường thống nhất Tổ quốc. Gắn liền với đó là sự thất bại hoàn toàn của kẻ xâm lược và bọn tay sai phản quốc; chính là thất bại của tư tưởng, âm mưu, thủ đoạn chia cắt đất nước cùng với hệ thống tổ chức, bộ máy, quân đội… sinh ra để nuôi dưỡng tư tưởng đó.

Gọi “30/4/1975 là ngày thống nhất” đây là sự kiện đánh dấu lãnh thổ đất nước Việt Nam được trả lại đúng nghĩa như nó đã có trong lịch sử về cả tư tưởng, ý chí và thực tiễn; đáp ứng nguyện vọng ngàn đời của các thế hệ người Việt Nam yêu nước, thương nòi. Đó là một cơ thể đất nước Việt Nam thống nhất từ Bắc vào Nam về lãnh thổ và tư tưởng, ý chí, hành động. Nó kết thúc thời kỳ chia cắt một cơ thể Việt Nam làm 2 nửa với 2 lối nghĩ và 2 cách làm hầu như trái ngược nhau./. 

Tôn trọng lịch sử, hướng đến tương lai

 Chiến thắng 30/4/1975 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai, thống nhất Nam – Bắc, đưa giang sơn thu về một mối. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt Nam đã có sự phát triển toàn diện, vị thế, uy tín trên trường quốc tế được khẳng định rõ nét. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá.  

Theo quy luật, mỗi khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ 30/4 thì một số đối tượng xấu, chống đối lại đào xới, xuyên tạc quá khứ. Một số người Việt Nam định cư tại nước ngoài có cái nhìn lệch lạc, phiến diện, hận thù, cực đoan đã tụ tập tiến hành kỷ niệm “ngày quốc hận”, đòi “phục hồi danh dự cho những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa”, đòi Việt Nam phải thừa nhận cuộc chiến vệ quốc là cuộc “nội chiến”. 

Thậm chí, dưới danh nghĩa hòa hợp, hòa giải dân tộc, các đối tượng cơ hội chính trị, phản động, chống phá còn đưa ra luận điệu cho rằng chỉ khi nào Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ quyền lãnh đạo đất nước, chỉ khi nào Việt Nam lựa chọn đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có thể thực hiện việc hòa hợp, hòa giải dân tộc. Hài hước hơn, một số kẻ đánh lừa quần chúng bằng cách đưa ra lập luận phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm, là tương lai của dân tộc”! 

Thực tiễn, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc; xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của tất cả các bên. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử. 

Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của chính nghĩa và sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc; là thắng lợi trọn vẹn nhất, vững chắc nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, của độc lập, tự do, đi lên CNXH. Những quan điểm, luận điệu, yêu sách sai trái, tiêu cực không phải xuất phát từ thiện chí hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ là một thủ đoạn để khoét sâu hận thù, kích động, gây thêm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của những thế lực chống phá đất nước./.