Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan

 

Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.

Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.

Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...

Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.

Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.

T3.

Suy thoái không trừ một ai

 


          Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...

Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.

Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.

Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.

Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.

Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.

T3.


 

Về mặt tổ chức đội ngũ chuyên gia và xây dựng tuyến bài tập trung có chất lượng

 


Kinh nghiệm cho thấy, đi liền với tuyên truyền, nghiên cứu phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận không chỉ đông về lượng mà phải bảo đảm chất lượng, đủ tầm trí tuệ và bản lĩnh để có những bài viết chất lượng. Hiện nay đội ngũ lý luận của chúng ta còn thiếu và còn không ít hạn chế. Cần tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Nên có chính sách đặc thù thu hút, ưu tiên đào tạo và sử dụng đội ngũ này. Bên cạnh đó, nghiên cứu đổi mới hình thúc và gia tăng thời lượng giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống nhà trường, nhất là ở bậc đại học. Cần có cơ chế bồi dưỡng đối với những người học tốt nghiệp các cấp học ở nước ngoài về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ nội dung, chương trình, giáo trình và phương pháp giảng dạy lý luận chính trị trong hệ thống các nhà trường phù hợp với đối tượng và cấp học; truyền thụ đầy đủ những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật những nội dung mới, phù hợp tình hình hiện nay, làm cơ sở cho việc vận dụng trong chỉ đạo thực tiễn.

Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức, trên cơ sở phát huy hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo 35 các cấp làm lực lượng lòng cốt trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thu hút các cộng tác viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia. Các cơ quan báo chí truyền thông cần tiếp tục nâng cao chất lượng trong xây dựng các chuyên trang, chuyên mục với hệ thống các tuyến bài đấu tranh sắc sảo với các quan điểm sai trái, có tính toán liều lượng và thời điểm hợp lý, bảo đảm tính liên tục, có trọng tâm. Kết hợp chặt chẽ những giải pháp về mặt tư tưởng với quy định mang tính pháp luật, cùng giải pháp công nghệ và chế tài xử phạt nghiêm minh, đủ sức răn đe đối với những thế lực, phần tử thực hiện các hoạt động hướng đến phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng./.

T3.

 

 

Cần tập trung vào trọng điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường mạng

 


Thực tế, các thế lực thù địch, cơ hội, thoái hóa biến chất thường lợi dụng các phương thức khác nhau để liên kết, phát tán thông tin chống phá, hòng phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng thường thông qua các phương thức: 1-Gửi đơn thư góp ý, khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan Đảng, chính quyền, cơ quan dân cử và các cơ quan ngôn luận; 2- Thông qua các quan hệ, các tổ chức dưới dạng các tài liệu, sách truyền tay, thông tin truyền miệng; 3- Thông qua các hội nghị, hội thảo, tổ chức các sự kiện chuyên đề; 4- Thông qua lập các trang Web của các tổ chức, hoặc của các cá nhân để đăng thông tin; 5- Thông qua mạng xã hội phát tán các thông tin và liên kết tạo thành đợt tấn công theo chuyên đề, theo các sự kiện. Chính vì vậy, đòi hỏi chúng ta cũng phải vận dụng các phương thức thông tin để phản bác lại các quan điểm xuyên tạc, phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong các phương thức trên, cần đặc biệt chú ý phương thức thông qua môi trường mạng.

Mạng xã hội là thành quả của cách mạng khoa học kỹ thuật, toàn thế giới áp dụng. Tuy nhiên, cả thế giới cũng đang đứng trước những thách thức lớn trong quản lý mạng xã hội, đối phó với mặt trái của mạng xã hội. Chúng ta đi sau, nhưng chúng ta phải quản lý, định hướng mạng xã hội vì mục đích của chúng ta. Vì vậy, cần tiếp tục bảo đảm sự thống nhất cao về tầm quan trọng của cuộc đấu tranh trên không gian mạng hiện nay, từ đó xây dựng và phát triển mạnh mẽ lực lượng đấu tranh trên mặt trận này, ngăn chặn và triệt phá kịp thời mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; chủ động kịp thời định hướng thông tin, đưa thông tin chính thống đến người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm môi trường ổn định cho phát triển. Để làm tốt việc đó, một trong những giải pháp là đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực thông tin truyền thông, cần xem thông tin truyền thông là một trong những lĩnh vực cần có ưu tiên cùng với 8 lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số: Y tế, Giáo dục, Tài chính - Ngân hàng, Nông nghiệp, Giao thông vận tải và logistics, Năng lượng, Tài nguyên và Môi trường, Sản xuất công nghiệp, đã được Chính phủ thông qua.

          T3.

 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chí tập trung trực diện vào các nội dung trong học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

 


Trong mục tiêu xuyên tạc phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực phản động cơ hội, thoái hóa biến chất không chỉ trực diện hướng tới phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng mà chúng con thông qua hình thức, biện pháp gián tiếp để thực hiện ý đồ của mình. Bên cạnh mưu toan phủ định trực tiếp chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn tập trung phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi xấu lãnh đạo, phủ định đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, xuyên tạc quan hệ đối ngoại, bịa đặt vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người, đàn áp tôn giáo… Bên cạnh đó ca ngợi, tuyên truyền về các giá trị dân chủ, nhân quyền, văn hóa theo lối sống phương Tây…Tất cả những chiêu bài đó nhằm cố minh chứng việc chúng ta lựa chọn sai con đường, sai mô hình do xuất phát từ học thuyết và tư tưởng lỗi thời, ảo tưởng. Thực chất mục tiêu suy cho cùng là phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng, kêu gọi theo con đường mới, từ bỏ vai trò của Đảng, vai trò của lực lượng vũ trang.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là bảo vệ trực diện nội dung các quan điểm, nguyên lý cụ thể của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhh, mà còn chính là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều cần chú ý là, những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị bền vững nằm trong một hệ thống và bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ tính hệ thống, toàn vẹn của những nguyên lý lý luận. Cần phản bác khuynh hướng tách rời, trích dẫn cắt xén các luận điểm và luận giải không phù hợp với bối cảnh lịch sử./.

          T3.

 

 

 

 

Cần chủ động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Đi liền   nhận diện các luận điểm họ chống phá để đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm, chúng ta cần chủ động tuyên truyền, luận giải tính khoa học và cách mạng của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bấy lâu nay chúng ta đã quyết liệt đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử thoái hóa biến chất nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc nhận diện diện rõ các thế lực và các quan điểm của họ để phản bác khá thuyết phục. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới hiện nay, các thế lực chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng khá đa dạng. Ngoài các thế lực như chúng ta chỉ rõ như: “1- Nhóm đối lập về mặt hệ tư tưởng; 2- Các thế lực thù địch về chính trị, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta; 3- Là những người vốn là cán bộ đảng viên nhưng không chịu tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng đạo đức cách mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phai nhạt lý tưởng, mà Đảng ta đã chỉ rõ là “tự chuyển hóa, tự diễn biến” trong nội bộ”, còn không ít thế lực dưới những vỏ bọc khác nhau. Chẳng hạn, cùng phối hợp hay phụ họa các thế lực này là sự xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, chúng tác động làm suy yếu các tổ chức từ bên trong, chúng đã và đang xuất hiện cũng hết sức tinh vi. Ph.Ăngghen đã nói rằng chủ nghĩa cơ hội biến chủ nghĩa Mác thành một thứ “chủ nghĩa Mác” bị xuyên tạc méo mó”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”. Bên cạnh chủ nghĩa cơ hội là thế lực cũng rất nguy hại, tuy không ra mặt phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng giải thích, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo mục tiêu, lợi ích của họ. Đây chính là những thế lực không muốn Việt Nam phát triển, mà muốn Việt Nam phụ thuộc, hỗ trợ cho lợi ích của họ. Họ cho rằng chúng ta không vận dụng đúng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tổn hại trong quan hệ quốc tế, ảnh hưởng đến môi trường và sự phát triển của chính Việt Nam.

Chính vì vậy để đấu tranh phản bác cùng với nhận rõ các luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội, suy thoái, biến chất, chúng ta cần chủ động giáo dục tuyên truyền và nghiên cứu, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tưởng Hồ Chí Minh. Làm rõ bản chất cách mạng, khoa học, như chính các nhà kinh điển chỉ ra. V.I.Lênin đã không ít lần nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Trong quá trình nghiên cứu phát triển cần làm rõ những luận điểm nào có giá trị bền vững, mang tính phổ quát, những luận điểm nào phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể, và kể cả những luận điểm nào không còn phù hợp do điều kiện lịch sử hiện nay đã thay đổi. Phát triển lý luận Mác-Lênin là trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp nhau, của những người mácxít chân chính. Ngay bản thân các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình nghiên cứu và hoạt động trong phong trào công nhân cũng đã điều chỉnh một số luận điểm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói:  “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”.

Như vậy đẩy mạnh việc tuyên truyền làm rõ bản chất cách mạng và khoa học, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái là phương cách tất yếu và cần luôn được quán triệt, gắn bó chặt chẽ nhằm bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

T3.

 

 

Đấu tranh trên phương diện lý luận cần gắn chặt hơn nữa với đấu tranh trong hoạt động thực tiễn.

 


Điều cần thấy là, các thế lực thù địch và cơ hội luôn tìm mọi thủ đoạn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên phương diện lý luận chúng hướng đến phủ định các nguyên lý triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó tập trung vào xuyên tạc, phủ định học thuyết hình thái kinh tế xã hội, về chuyên chính vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phủ định học thuyết giá trị thặng dư, phủ định lý luận về sự quá độ lên CNXH…Cùng với đó là phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt tư tưởng Hồ Chí minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng không chỉ cố luận chứng trên phương diện lý luận mà còn thông qua các hoạt động thực tiễn minh chứng sự phát triển vượt trội của chủ nghĩa tư bản. Lấy sự đổ vỡ mô hình CNXH ở Liên xô cũ và các nước Đông Âu để luận giải tính không hợp lý của CNXH hội cũng như hướng vào phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin.

Ngay ở Việt Nam, không chỉ xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh trên phương diện lý luận, chúng còn xuyên tạc rằng, việc Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam là gượng ép, sai lầm, và vì vậy đây chính là nguyên nhân đẩy đến các cuộc chiến tranh hao người tốn của, làm kìm hãm sự phát triển của đất nước. Trên thực tế, họ lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên để làm minh chứng, từ đó xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là không phù hợp, là lỗi thời với xu thế phát triển chung của thế giới.

Chính thực tế đó đòi hỏi trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chúng ta phải gắn chặt hơn nữa đấu tranh trên phương diện lý luận với đấu tranh trong hoạt động thực tiễn. Thông qua các kết quả thực tiễn để minh chứng sự đúng đắn đường lối của Đảng, của lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời công khai những hạn chế, sai lầm do các nguyên nhân chủ quan và khách quan trong quá trình xây dựng xã hội mới. Muốn vậy phải có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ hơn nữa của các lực lượng tham gia đấu tranh lý luận với công tác tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế xã hội, với đấu tranh phòng chống sự suy thoái tư tưởng đạo đức, lối sống cũng như phòng chống tham nhũng.

          T3.

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2023

Chức năng giao tiếp của văn hóa

 


Chức năng giao tiếp là chức năng khá đặc biệt của văn hóa. Khi các sản phẩm văn hóa được hình thành cũng có nghĩa là tạo ra sự liên kết giữa con người với con người, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Những sản phẩm văn hóa đều hàm chứa bên trong nó các lực lượng tinh thần của con người theo các chuẩn mực chân, thiện, mỹ, có sự trao đổi “những sản phẩm người” này một cách sinh động trong đời sống xã hội. Lễ hội, du lịch, vui chơi giải trí, nghệ thuật… là những hoạt động văn hóa liên kết con người, tạo ra sự giao tiếp giữa con người với nhau, học hỏi lẫn nhau và cùng sáng tạo văn hóa chung của xã hội, dân tộc, đất nước, đóng góp những sắc màu phong phú, đa dạng cho bức tranh văn hóa nhân loại.


 

Chức năng giải trí của văn hóa

 


Văn hóa (mà chủ yếu là văn hóa nghệ thuật, văn hóa truyền thông, công nghiệp văn hóa) còn có chức năng giải trí, thỏa mãn những nhu cầu, sở thích cá nhân hoặc cân bằng các trạng thái tinh thần, giải tỏa những mệt mỏi cơ bắp của con người sau lao động. Con người trong hoạt động thực tiễn xã hội nảy sinh nhu cầu giải trí, do sự mệt mỏi trong quá trình lao động, do sự căng thẳng của cuộc sống, sự nhàm chán của chuyên môn hóa, sự thúc đẩy của khoa học công nghệ, sự dồn ép của kinh tế thị trường, sự dồn nén của đời sống đô thị… Con người cần được bù đắp sự hao tổn về năng lượng vật chất và tinh thần. Nếu chỉ bù đắp năng lượng vật chất thì chưa đủ mà cần phải bù đắp về mặt tinh thần. Văn hóa chính là nguồn lực tinh thần đáp ứng nhu cầu giải trí cho con người. Thông qua văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa nghệ thuật, văn hóa truyền thông, văn hóa vui chơi giải trí… con người sẽ được bù đắp sự mệt mỏi tinh thần, giải tỏa sự căng thẳng, hơn nữa còn được nâng cao năng lực tinh thần.

Ngày nay, trong xã hội hiện đại, nhu cầu giải trí của con người ngày một tăng lên, văn hóa trở thành nền công nghiệp giải trí không chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí cho con người mà còn trở thành một nguồn lực kinh tế to lớn cho các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, nhu cầu giải trí không chỉ có ý nghĩa bù đắp lại sức lao động đã mất đi mà còn phát triển những năng khiếu tiềm tàng và bẩm sinh ở con người. Trong một mức độ nào đó, thông qua văn hóa giải trí, con người có thêm những cơ hội để phát triển toàn diện. Với ý nghĩa đó, chức năng giải trí của văn hóa không tách rời chức năng giáo dục và hoàn thiện con người.

Chức năng dự báo của văn hóa

 


Gần đây, giới học thuật đề cập nhiều đến chức năng dự báo của văn hóa. Điều này cũng dễ hiểu vì càng ngày con người càng nhận thức ra vai trò chủ thể sáng tạo của mình đối với lịch sử. Con người có nhu cầu nắm bắt tương lai để định hướng hoạt động, nhằm đem lại kết quả như mong muốn. Văn hóa cung cấp cho con người những tri thức, dữ kiện và quy luật để dự báo tương lai. Đó là những tri thức (thông tin), những quy luật (khoa học), những kinh nghiệm lịch sử phóng chiếu vào tương lai và đưa ra những đáp án cần thiết. Từ đó có thể xây dựng những dự án, những lộ trình cho quá trình hoạt động hướng đến tương lai một cách chủ động và tích cực hơn.

Ngày nay, do sự phát triển nhanh chóng của xã hội khoa học công nghệ nên vấn đề dự báo luôn phải được đặt ra. Điều đó đòi hỏi con người càng cần đến văn hóa như nguồn lực của sự dự báo cho mọi lĩnh vực của cuộc sống và cảnh tỉnh cho con người.

Văn hóa là tổng thể những hoạt động về tinh thần và trí tuệ, là sự phát hiện dần dần những quy luật của tự nhiên, của xã hội và của con người, nhằm mở rộng sự hiểu biết, sức tưởng tượng khám phá và sáng tạo của con người. Chính với ý nghĩa đó, văn hóa có thể đưa ra những dự báo về tự nhiên, xã hội và con người.

Trong mấy thập kỷ qua, sự phát triển ồ ạt như vũ bão của văn minh công nghiệp, hậu công nghiệp, đặc biệt là sự nhảy vọt của các cuộc cách mạng công nghiệp 3.0, 4.0 5.0 trên toàn cầu đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống nhân loại. Bên cạnh những tác động tích cực, các cuộc cách mạng công nghiệp này cũng đem đến những thách thức to lớn và khó lường. Các nhà khoa học đã dự báo về những tấn bi kịch khủng khiếp có thể ập xuống cuộc sống loài người trên trái đất khi sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ, quá trình ô nhiễm bầu khí quyển gia tăng, hiệu ứng nhà kính tăng cao, trái đất nóng lên, tư tưởng cực đoan và sự hung hăng của một số nhóm xã hội trong đời sống nhân loại ngày càng tràn lan, thảm họa biến đổi khí hậu toàn cầu, băng tan, nước biển dâng cao, lũ lụt, hạn hán, mất mùa, nạn đói, dịch bệnh lan tràn khắp các châu lụcđang rất khó thể kiểm soát. Những dự báo đó đang được dần dần chứng thực và cảnh báo nhân loại trong thời đại ngày nay.

 

Chức năng thẩm mỹ của văn hóa

 


Bên cạnh chức năng giáo dục là chức năng thẩm mỹ - chức năng có tầm quan trọng đặc biệt, nhưng cũng dễ bị coi nhẹ. Cần khẳng định rằng, cùng với nhu cầu hiểu biết, con người có nhu cầu hướng tới cái đẹp. C.Mác viết: “Con người biết nhào nặn vật chất theo quy luật cái đẹp1. Nhu cầu và năng lực sáng tạo cái đẹp là dấu hiệu phân biệt giữa loài người với loài vật. Cảm xúc thẩm mỹ, tức khả năng biết rung động trước cái đẹp, ở một mức độ nào đó tạo nên giá trị đạo đức của con người.

Lịch sử phát triển của nhân loại chứng minh rằng, mỗi bước tiến của xã hội cũng là một bước con người vươn tới cái đẹp. Thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng luôn gợi mở cho con người những cảm hứng thẩm mỹ. Vai trò của văn hóa nói chung và văn hóa thẩm mỹ nghệ thuật nói riêng là bồi dưỡng khả năng phát hiện ra cái đẹp của thế giới xung quanh. Chức năng thẩm mỹ do đó không tách rời chức năng nhận thức. Con người trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội dần dần sẽ hình thành năng lực và nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu hướng tới cái đẹp để hoàn thiện cá nhân và xã hội. Con người khác động vật ở chỗ không chỉ bị quy định bởi quy luật sinh học mà còn bị chi phối bởi quy luật thẩm mỹ.

Trong mối quan hệ với tự nhiên, con người luôn luôn lao động sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Văn hóa (mà chủ yếu là văn hóa nghệ thuật) sẽ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người, đem đến cho con người những giá trị thẩm mỹ cùng các phương thức hưởng thụ và sáng tạo cái đẹp. Và theo đó, cái đẹp sẽ giúp con người vươn lên trong cuộc sống, phấn đấu cho sự hài hòa, hoàn thiện đời sống cá nhân đời sống cộng đồng.

 



1 C.Mác: Bản thảo kinh tế - triết học 1844, Nxb.Sự thật, H.1962, tr.94.

Chức năng giáo dục của văn hóa

 


Chức năng cơ bản thứ hai có tính bao trùm của văn hóa là chức năng giáo dục. Đó là sự định hướng xã hội, định hướng lý tưởng, đạo đức và hành vi của con người theo những chuẩn mực xã hội, thể hiện tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân, tính nhân loại của nền văn hóa. Chức năng giáo dục của văn hóa tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc.

Chức năng nhận thức của văn hóa

 


Trước hết, cần phải đề cập đến chức năng nhận thức của văn hóa. Có thể nói, đây là chức năng xã hội hết sức quan trọng của văn hóa. Bởi lẽ, văn hóa là toàn bộ hệ thống tri thức vĩ mô và vi mô vô tận của loài người, cho nên văn hóa sẽ cung cấp vô số những kiến thức, hiểu biết cho nhân loại một cách đa dạng để con người sinh sống, tồn tại và phát triển. Chức năng nhận thức luôn được thể hiện trong bất kỳ lĩnh vực văn hóa nào (như viện bảo tàng, các công trình kiến trúc, các di tích lịch sử, hệ thống tiếng nói, chữ viết, các huyền thoại dân gian, các tác phẩm trong bảy loại hình nghệ thuật cơ bản...).

 

Chức năng của văn hóa

 


Xét về phương diện cấu trúc, văn hóa là hoạt động tinh thần của con người hướng tới sáng tạo các giá trị chân, thiện mỹ. Tổng thể các hoạt động văn hóa tạo nên “thiên nhiên thứ hai” nuôi dưỡng con người. Chính với ý nghĩa đó, văn hóa có những chức năng xã hội đặc biệt. Chức năng của một sự vật, hiện tượng là mối quan hệ, là sự tác động của sự vật, hiện tượng ấy với các sự vật, hiện tượng khác trong cùng một hệ thống. Văn hóa là một sự vật, một hiện tượng trong đời sống xã hội nên nó cũng có quan hệ và tác động đến các sự vật, hiện tượng khác của đời sống xã hội.

Chức năng của một sự vật cũng là lý do tồn tại của sự vật đó trong hệ thống. Một sự vật không có hoặc không còn chức năng gì trong hệ thống thì sẽ không thể tồn tại hoặc bị đào thải. Đề cập đến chức năng của văn hóa bao gồm nhận thức; chức năng giáo dục; chức năng thẩm mỹ; chức năng dự báo; chức năng giải trí; chức năng gia tiếp… Nghiên cứu chức năng của văn hóa là rất cần thiết để hiểu biết sâu hơn về văn hóa và phát huy vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Các chức năng xã hội sẽ làm rõ thêm bản chất và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội.

ĐỂ BÁC QUẠT

 Năm ấy, Bác Hồ đến thăm trại điều dưỡng thương binh ở Hà Nội.

Tin Bác đến nhanh chóng lan ra khắp trại. Anh chị em thương binh ai cũng muốn len vào gần Bác, quên cả nạng phải dùng để đi.
Đang lúc Bác thăm hỏi sức khỏe thương binh bỗng một đồng chí hỏng mắt nhờ một y tá dẫn đến xin đứng bên Bác. Đồng chí Ninh đi với Bác định bước lại đỡ đồng chí ấy, nhưng Bác đã đi tới, giơ hai tay ra đón. Đồng chí thương binh ôm chầm lấy Bác nghẹn ngào "Bác ơi"! Bác lặng đi giây lát rồi mới tiếp tục câu chuyện thăm hỏi.
Bác đến từng giường anh chị em đau nặng hỏi thăm bệnh tật đã đỡ chưa, mỗi bữa ăn được bao nhiêu bát cơm.
Hôm ấy, trời nóng bức, Bác lấy cái quạt giấy vẫn dùng, quạt cho các thương binh. Có người định làm thay, Bác nói:
- Để bác quạt.
Hôm ấy, lúc ra về Bác không vui.
Và có lẽ vì thế mà khi cơ quan định lắp máy điều hòa nhiệt độ nơi Bác ở, Bác bảo đem ra cho các đồng chí thương binh./.
ST


Anh hùng Phạm Tuân - người Việt Nam và Châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ ngày 23/7/1980

 "Cảm giác lần đầu tiên nhìn quả đất tròn nằm lơ lửng giữa không gian xanh thẳm rất đặc biệt. Tôi đã cố tìm dải đất hình chữ S thân thương để ngắm nhìn..."

Ông là người Việt Nam duy nhất ba lần được trao tặng danh hiệu Anh hùng (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng Lao động Việt Nam, Anh hùng Liên Xô)./.
ST


BIỂU TƯỢNG CỦA SIÊU ANH HÙNG

 Đại tá anh hùng LLVT Nhân dân Phùng Văn Khầu (1930-2012), người con dân tộc Nùng. Ông là biểu tượng của lòng trung thành tuyệt đối với Quân đội, với Đảng và Tổ quốc

Tháng 3 - 1954, ông tham gia đánh đồi E1 trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Đại đội của ông có 3 khẩu đội (mỗi khẩu đội 9 người) được cấp 3 khẩu sơn pháo 75 ly, mỗi khẩu nặng gần 500kg, tầm bắn xa nhất là 6km.
Chiều ngày 30 tháng 3 năm 1954, khẩu đội của ông được giao nhiệm vụ tiêu diệt 4 lô cốt địch tại đồi E1. Bằng 22 phát trúng mục tiêu bằng phương pháp ngắm bắn qua nòng pháo, khẩu đội của ông đánh sập cả bốn lô cốt, tiết kiệm được 8 viên đạn so với chỉ tiêu mà cấp trên giao. Ngày 2 tháng 4 năm 1954, Đại đội của ông đưa 3 khẩu sơn pháo lên đồi E1, chiếm giữ điểm cao để yểm trợ các mũi tấn công của bộ binh.
Ngày 23 tháng 4 năm 1954, quân Pháp mở đợt phản công lớn nhằm chiếm lại đồi E1. Hỏa lực Pháp đánh sập hầm ngụy trang của 2 khẩu sơn pháo, 18 đồng đội của ông hy sinh và bị thương, chỉ còn 1 khẩu đội của ông là còn chiến đấu được. Sau một lúc, khẩu đội sơn pháo của ông cũng bị trúng hỏa lực địch, bị hy sinh hoặc bị thương gần hết, chỉ còn một mình một pháo, ông vẫn kiên cường bám vị trí, tự mình làm tất cả mọi công đoạn bắn (nạp đạn, chỉnh hướng, ngắm bắn), bắn trúng 4 khẩu pháo 105 ly và 2 khẩu đại liên của Pháp, tạo điều kiện cho bộ binh xông lên chiếm lĩnh trận địa.Nhiều lúc ngất đi, tỉnh lại Ông vẫn tiếp tục chiến đấu .
Trong trận này ông đã lập công xuất sắc, góp phần tiêu diệt cứ điểm E1 của quân Pháp.
Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngay sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc./.
ST


XIN ĐỪNG QUÊN NHỮNG NGƯỜI TỪNG LÀ MỘT PHẦN CỦA LỊCH SỬ

 Chúng tôi ra trận mỗi người một ngày

Tháng đẻ năm sinh không trùng tuổi tác
Đứa vào Nam, đứa lên ải Bắc
Chiến trường nào cũng đổ máu, hi sinh
Sống chết tấc gang hiện hữu, vô hình
Bom đạn giống nhau chia đều chung hưởng
Nhiều đứa cùng quê cùng một ngày ngã xuống
Giỗ cả làng như hội, chẳng ai vui
Chúng tôi giống nhau đến cả nụ cười
hiếm hoi giữa hai đầu trận đánh
Được giấc ngủ yên trong căn hầm giá lạnh
Sướng như tiên và quý hơn vàng
Vài thỏi lương khô, mấy nắm gạo rang
Ngày giữ chốt nhìn nhau quên cơn đói
Chung cái thèm thuồng thiếu cơm thiếu muối
Trăng đục ngầu thèm một khoảnh trời trong
Nhớ thời thơ đánh trận giả... xung phong
"Bắn vang xóm" không đứa nào chịu chết
Thua thắng quây quần cười vui như pháo tết
Hả hê, khoe tố chất anh hùng.
Nay giữa chiến hào pháo dội bom rung
Mấy mét vuông vẫn lạnh sườn hở gáy
Nơi ngọn lửa trong mắt ta rực cháy
Đạn cầu vồng, đạn thẳng xối như mưa
Ta hiểu chiến tranh khômg phải trò đùa
Máu đâu phải là mạch nguồn vô tận
Trong tầm ngắm đường đi từng viên đạn
Xương sắt da đồng là chỉ có trong thơ.
Tắt lửa chiến tranh một nửa chúng tôi về
Và một nửa bạn bè nằm lại
Ngày đất nước đỏ rợp cờ như hội.
Cả triệu vòng tang trắng xoã trên đầu
Nhớ buổi lên đường, hừng hực tiễn đưa nhau
Nay trở về đứa không đứa có
Giữa trận mạc tựa trên bàn quay số
Khéo, khôn - đâu có phép nhiệm mầu
Chúng tôi về lo cuốc bẫm cày sâu
Đứa một cánh tay, nhận hai sào ruộng khoán
Đứa trở lại trường vã mồ hôi trán
Đứa thị thành xoạc cẳng vá săm xe.
Giữa mặt bằng mình khập khiễng thì kê
Người lính trở về như đôi đũa lệch
Gắp miếng trượt, miếng dính vào nhạt thếch
Mấy ai lần ra diệu kế mưu sinh
Đêm nằm mơ...hồn vọng gọi tên mình
Sáng lộn ba lô đi tìm đồng đội
Bát gạo đồng tiền giữa thời thiếu đói
Cuộc hành trình khi gối mỏi chân rung.
Bươn bả tảo tần trong khốn khó lao lung
Phải mấy mươi năm để cơm đầy áo đủ
Lật những trang đời không nằm trong sách vở
Mới thấm giá băng một thuở phong trần
Đồng đội bạn bè thời máu lửa tình thân
Trăm đứa trăm quê lại tìm về hội tụ
Chén tạc chén thù giữa vơi đầy thiếu đủ
Rượu không màu, bình cũ hoá say sưa.
Rủ nhau về thăm lại chiến trường xưa
Áo lính đã sờn và đầu đã bạc
Nơi ngày xưa mình nằm gai nếm mật
Ngất ngưởng lâu đài cuộc sống xa hoa
Chúng tôi về thăm lại chiến trường xưa
Nơi thời trẻ máu xương mình dâng hiến
Mua tấm vé vào tìm kỷ niệm
Mà ngậm ngùi, lưu luyến, xuýt xoa.
Chúng tôi về thăm lại chiến trường xưa
Đứng ngắm nghĩa trang,
quặn đau từng khúc ruột
Mồ đồng đội những hàng bia trắng muốt
Trắng tuổi trắng tên, trắng cả chốn sinh thành
Mấy chục năm rồi tắt lửa chiến tranh
Hương đã cháy đến tận cùng nỗi nhớ
Chị vẫn tìm anh cho trọn đời làm vợ
Ấp ủ cuộc tình trong cách trở âm dương
Chức Nữ - Ngưu Lang dang dở đoạn trường
Còn bến hẹn sông Ngân chờ tái ngộ
Chị như con thuyền nhổ neo rời bến đỗ
Một đi là trọn kiếp không cùng.
Chúng tôi hoà mình đồng vọng tiếng chuông rung
Ru đồng đội thoả giấc thời đói ngủ
Mặc sương gió, mặc đất trời vẫn vũ
Như giữa chiến trường sinh tử vẫn nương nhau.
Thế hệ chúng tôi như một bức tranh màu
Có núi, có sông, có đồng, có phố
Có khói lửa, có yên bình, bão tố
Lấm láp bụi trần chẳng hoen ố, phôi phai.
ST


CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT

 Anh hùng Cù Chính Lan (1930-1952) là một trong 7 cá nhân đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam. Ngày 13 tháng 12 năm 1951, trong trận tấn cô.ng cứ điểm Giang Mỗ, anh đã một mình đuổi xe tăng Pháp, nhảy lên thành xe, ném lựu đ.ạn vào buồng lái để ti.êu diệt xe.

Cù Chính Lan sinh năm 1930 trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Cha anh là ông Cù Khắc Nhượng, mẹ là bà Hồ Thị Hạ. Anh là con thứ ba và là con út. Mẹ mất khi anh mới 4 tuổi. Sau đó cha anh tục huyền với bà Hồ Thị Hoe và sinh hạ tiếp 4 người con nữa. Gia đình nghèo, từ nhỏ anh phải lao động vất vả để giúp đỡ sinh kế cho gia đình . Thuở nhỏ, anh còn có tên là "cu Nâu".
Với lập trường ủng hộ dân nghèo, Việt Minh đã nhận được sự ủng hộ của nhiều người dân nghèo Việt Nam thời bấy giờ, trong đó có cả Cù Chính Lan. Anh tham gia cư.ớp chính quyền và tham gia đội du kích xã của Việt Minh năm 1945.
Năm 1946, quân Pháp nổ sún.g tái chiếm Bán đảo Đông Dương. Anh xung phong tình nguyện nhập ngũ năm 1946, trở thành chiến sĩ liên lạc, lên dần đến chức vụ tiểu đội trưởng bộ binh. Anh được bạn đồng đội nhận xét là một người dũng cảm, táo bạo, mưu trí trong chi.ến đấu. Anh từng nổi tiếng với thành tích với 1 lưỡi d.ao cùn bắt sống được một binh sĩ Pháp và thu được một khẩu tiểu liên, được tặng Huân chương Chiến công vì thành tích "tay không bắt giặc" này.
Tại Ch.iến dịch Hòa Bình, trong một trận phục kích trên đường số 6 tại Giang Mỗ (Hòa Bình) ngày 7 tháng 12 năm 1951, do bị lộ trận địa, quân Pháp phản kích dữ dội. Anh là người đi sau cùng, dùng s.úng máy b.ắn kiềm chế đối phương cho đơn vị rút, rồi quay lại tìm người bị thương, đưa được ba đồng đội trở về đơn vị an toàn.
Ngày 13 tháng 12 năm 1951, đơn vị lại bố trí phục kích quân Pháp lần thứ 2 tại Giang Mỗ. Bất ngờ có một xe tăng Pháp tiếp viện, b.ắn dữ dội vào đội hình, chặn đường rút và làm nhiều lính Việt Minh thương vong. Cù Chính Lan xông lên, nhảy lên xe tăng kề tiểu liên vào khe hở trên tháp xe bóp cò, nh­ưng không may tiểu liên bị hóc, chiếc xe vẫn vừa chạy vừa bắ.n. Cù Chính Lan hô anh em tập trung l­ưu đ.ạn đến cho mình rồi lại nhanh nhẹn nhảy lên xe, giật nắp quăng lựu đ.ạn vào trong xe, lính tăng Pháp nhặt l­ựu đạ.n ném ra và hốt hoảng lái xe tăng chuyển hướng. Thời cơ d.iệt xe tăng ngay trư­ớc mắt, Cù Chính Lan dũng cảm mở chốt lựu đạ.n, chờ cho khói thuốc xì ra được một vài giây rồi mới ném vào buồng lái, lựu đạ.n nổ di.ệt hết lính tăng trong xe, chiếc xe dừng lại tại chỗ, tạo điều kiện cho đồng đội hoàn thành nhiệm vụ. Do thành tích này, anh được tuyên dương trước đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc.
Ngày 29 tháng 12 năm 1951, đơn vị anh được lệnh đá.nh đồn Gô Tô (Hòa Bình). Tiểu đội anh được giao nhiệm vụ mở cửa hàng rào cho đại quân t.ấn công. Dù bị thương nặng 3 lần, anh vẫn cố gắng tham gia chiến đấu cho đến khi tử thương do mất máu.
Trong Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ Nhất tháng 5 năm 1952, anh được Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh truy tặng Huân chương Quân công hạng hai, Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Ngày 19 tháng 5 năm 1952, anh được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hiện nay tên của anh được đặt cho nhiều đường phố là "phố Cù Chính Lan" thuộc phường Khương Mai - Quận Thanh Xuân, Hà Nội. Tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình có con đường mang tên Cù Chính Lan ở phường Nam Lý (nối đường Nguyễn Thái Học với đường Nguyễn Tri Phương) và các đường Cù Chính Lan ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, thành phố Hòa Bình, thành phố Ninh Bình, thành phố Nam Định.
Di tích ghi dấu chiến công diệt xe tăng của Cù Chính Lan hiện nằm ở dốc Giang Mỗ cạnh đường 6A (cũ) thuộc địa phận xóm Giang Mỗ, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình. Xác chiếc xe tăng hiện vật chính của di tích nằm ở giữa khu đất có kè đá xung quanh, chiếc xe tăng mang nhãn hiệu Mỹ: "B2885498USA". Trên tấm bia liệt sĩ Cù Chính Lan đặt ở nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hoà Bình đư­ợc xây cất chu đáo, khang trang, giữa bia có một ngôi sao vàng năm cánh, vành ngoài bia ốp gạch màu nâu nhạt. Mặt trư­ớc bia trân trọng ghi dòng chữ màu trắng: "Liệt sĩ Cù Chính Lan, Anh hùng quân đội"./.
ST