Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

Bản chất của quyền con người

 


Thứ nhất, quyền con người là giá trị chung của nhân loại, là mục tiêu hướng tới của mọi xã hội dân chủ và văn minh. Quyền con người là phạm trù tổng hợp, phức tạp, nên có nhiều quan niệm khác nhau, tuy nhiên quyền con người không trừu tượng, mà luôn gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột và “phụ thuộc vào bản chất của phương thức sản xuất và bản chất chính trị - xã hội với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị - xã hội ấy”(3), “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát nhằm bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động và sự lãng quên làm tổn hại đến các quyền tự do cơ bản và phẩm giá con người”(4)...

Tư tưởng quyền con người xuất hiện từ chế độ thị tộc, nhưng phải đến thời kỳ cận đại mới được thảo luận sôi nổi và được đề cập như một học thuyết thực sự. Vì vậy, quyền con người thường bị lợi dụng nhằm gây hiểu lầm rằng, nó là thành tựu của riêng văn minh phương Tây. Cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc năm 1945, những văn kiện quốc tế về quyền con người cũng được xây dựng và phát triển (Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948, Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1965, Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR) năm 1966...), quyền con người được khẳng định là những giá trị bẩm sinh, vốn có của mỗi cá nhân, được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và quốc tế; là những giá trị, ngôn ngữ và tiêu chuẩn chung của nhân loại. Thực tế, quyền con người trước khi chuyển hóa vào hiện thực trong cuộc sống, “phải trở thành quan niệm của chính con người, nghĩa là được con người coi là cái thiết yếu, cái cần phải như vậy - cần cho sự tồn tại”(5).

Ở Việt Nam, Đảng ta luôn coi quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Việc chỉ rõ nguồn gốc quyền con người là cơ sở bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, coi quyền con người như một phát kiến, sản phẩm của riêng giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản phương Tây; góp phần quan trọng trong đấu tranh chống các quan điểm cực đoan, phiến diện của các lực lượng thù địch, phản động luôn sử dụng thủ đoạn áp đặt cái gọi là “chuẩn mực” quyền con người tư sản vào các nước không “cùng quỹ đạo” hòng xóa bỏ chế độ chính trị ở những quốc gia này.

Thứ hai, quyền con người luôn gắn liền với quyền dân tộc tự quyết và chủ quyền quốc gia, gắn bó mật thiết trong toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử. Muốn có quyền con người, phải thực sự có chủ quyền quốc gia. Khi chủ quyền của một quốc gia, dân tộc bị xâm phạm, chà đạp thì không thể tồn tại các “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của nhân dân. Ở cấp độ quốc tế, quyền dân tộc tự quyết được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc(6) và được nhấn mạnh trong các văn kiện quốc tế, rằng: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết... Khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm quyền con người”(7). Vì vậy, không một quốc gia, không một tổ chức nào được phép tự coi mình là đại diện cho quyền con người toàn nhân loại, sử dụng cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền” hay “nhân quyền không biên giới” nhằm can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia có chủ quyền, bởi đó là hành động vi phạm nghiêm trọng quyền con người.

Đối với Việt Nam, thực tiễn lịch sử cho thấy, khi mất chủ quyền thì người dân không có tự do, dẫn đến các quyền con người bị chà đạp, “Thân phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô”(8). Do đó, để giành quyền tự do của mỗi cá nhân thì trước hết phải giành quyền tự do cho cả dân tộc. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là nền tảng, là điều kiện quan trọng để thực hiện quyền con người. Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Dân chủ Cộng hòa ra đời, địa vị của người dân Việt Nam mới được thay đổi từ nô lệ trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, các quyền công dân của người Việt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1946. Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, hiện nay Việt Nam đang từng bước thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” - đây chính là biểu hiện cao nhất và cụ thể nhất của quyền con người Việt Nam, của sự khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, quyền con người là giá trị phổ quát và mang tính tất yếu, song phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Quyền con người dù được thừa nhận, song lại không mặc định được áp dụng trực tiếp trong xã hội, chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền ấy mới chuyển thành những quyền con người mang đầy đủ giá trị hiện thực, và pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hoá đó. Trên phạm vi thế giới, việc pháp điển hóa các quyền ấy thành các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con người diễn ra một cách có hệ thống kể từ khi Liên hợp quốc ra đời. Theo đó, quyền con người đã trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp luật quốc tế, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người là thước đo về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thế giới. Trong phạm vi quốc gia, việc bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc ghi nhận các quyền trong pháp luật cùng với các thành quả phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, qua đó, cũng là cách để một quốc gia tuyên bố với thế giới về hiện thực quyền con người của mình. Vì thế, không thể có cái gọi là “nhân quyền không biên giới”, nhân danh quyền con người để thực hiện các hành động bất hợp pháp, như xâm phạm chủ quyền và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước.

Tại Việt Nam, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập cho đến nay, cả hệ thống chính trị Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm quyền con người. Cùng với sự phát triển của đất nước, những tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố. Trên cơ sở này, Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, tham gia các điều ước quốc tế, phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng nhằm thực hiện tiến bộ xã hội, mang lại những thành tựu quan trọng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Thứ tư, quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân. Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ được hiểu rằng, các quyền của con người chỉ ra những nghĩa vụ của xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân, đồng thời mỗi cá nhân phải tôn trọng và thực thi nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với xã hội và cộng đồng. “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”(9). “Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ”(10)... Điều này có nghĩa, mỗi cá nhân trong khi được hưởng thụ các quyền cần tôn trọng tự do của người khác và tôn trọng lợi ích của cộng đồng, cũng như vậy, “Nhà nước trong các chức năng của mình, vừa phải tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, vừa phải bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cũng như lợi ích chung của cả cộng đồng”(11). Mọi thành viên của xã hội đều có quyền và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của người khác. Do đó, tuyệt đối hóa quyền con người một cách máy móc mà không thấy nghĩa vụ cá nhân với cộng đồng và với xã hội là sai lầm.

Quan điểm quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân cũng được Đảng ta khẳng định: “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân”(12). Năm 2005, Sách trắng Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam cũng khẳng định: “... các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng”(13). Đây chính là cơ sở quan trọng để chúng ta bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền con người. 

          V3.

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

 


 

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.

Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh". 

Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam"(1). Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tổ chức UNESCO khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau"(2). Nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, các tổ chức tiến bộ trên thế giới đã thừa nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng. Thực tiễn những thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam đạt được nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn cách mạng đã củng cố vững chắc điều này.

 ​Thứ hai, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối của Đảng.

Một số người có nhận thức lệch lạc khi một mặt họ cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh khác và đối lập với Chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất; mặt khác, họ lại “tôn vinh" tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp giá trị, vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam.

Hai quan điểm này đều không đúng cả về lịch sử và logic. Về mặt lịch sử, Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc quan trọng dẫn tới hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Về mặt logic, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú Chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với Chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối lập như suy luận, xuyên tạc của một số người.

Về quan điểm thứ nhất, một số người đã hùa theo các luận điệu xuyên tạc, nhận thức lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh. Luận điệu này đã làm dư luận hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Về quan điểm thứ hai, một số người cho rằng, Chủ nghĩa Mác - Lênin từng có giá trị nhưng đã bị lịch sử vượt qua. Những người này còn ngụy biện rằng, cho dù chưa bị lịch sử vượt qua thì Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ phù hợp với các nước phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Do đó, họ ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua Chủ nghĩa Mác - Lênin".

Từ đó họ cho rằng, nên đưa Chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là quan điểm nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất nhằm phủ nhận cả Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có Chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất là Chủ nghĩa Mác - Lênin thì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không còn những đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn như vốn có.

Bên cạnh đó, một số người đã cố tình vin vào cớ hiện nay “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống" như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra để thổi phồng những khuyết điểm của một số cán bộ thoái hóa, biến chất mà bỏ qua những ưu điểm mang tính bản chất của đa số cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.

Từ đó, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay cũng đã thoái hóa, biến chất, khác xa với lý tưởng, khát vọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ yêu cầu phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, mang bản chất cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính"(3).

Vậy mà, khi Đảng kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ nhằm làm trong sạch Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ thì một số người lại có nhận thức lệch lạc, cố tình vu khống, quy kết là Đảng ta “đấu đá nội bộ", “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực". Họ làm ra vẻ khách quan khi dùng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu" để đánh giá, phán xét Đảng.

Danh nghĩa là họ đề cao Hồ Chí Minh nhưng thực chất lại đang hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Điều này gây hoang mang, mất niềm tin, chia rẽ nội bộ, đặc biệt, nó có thể làm một bộ phận dân chúng, thậm chí ngay cả một số ít văn nghệ sĩ, trí thức từng tin tưởng và kính trọng Hồ Chí Minh cũng có thể trở nên lung lay tư tưởng, rệu rã niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. 

Thứ ba, phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Một số người đã có nhận thức rất lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít", “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng" vì tư tưởng Hồ Chí Minh không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Những người này ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lý do họ đưa ra là Hồ Chí Minh là bậc thánh nhân trong khi chúng ta là người bình thường; Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.

Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa khổ hạnh và cũng chưa bao giờ tỏ ra mình là bậc thánh nhân, mà Người luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ" không nói, là tôi mang nhọ mãi"(4).

Những người này đã cố tình không hiểu rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tinh thần tinh túy trong tư tưởng, phương pháp, phong cách của Người để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong thực tiễn như sinh thời Người đã học tập, vận dụng sáng tạo thành công Chủ nghĩa Mác -Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, chứ không phải học rồi “làm theo" một cách máy móc để cho giống hoặc thành một “Hồ Chí Minh thứ hai". Do đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là chủ trương đúng đắn của Đảng, hợp với lòng dân và có giá trị thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử đã trở thành một phần của huyền thoại ngay từ khi còn sống. Cho đến nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Giá trị đó không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại; không chỉ được khẳng định trong thế kỷ 20, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Đấu tranh chống các nhận thức lệch lạc, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhằm bảo vệ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

Để việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự thuyết phục, chúng ta phải có cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử, không được chủ quan, áp đặt, thiên kiến hoặc máy móc trong việc nhận định, đánh giá, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng của Người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn".​

          V3.

Phương hướng cần tập trung đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền

 


Một là, đấu tranh với các biểu hiện suy  thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống,  “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền được hiểu  sự chủ động, tích cực nhận diện, phê phán, phản bác, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm minh bằng pháp luật nhằm làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn sử dụng quyền con người gắn với các lĩnh vực chính trị (dân chủ) như một công cụ có tính phổ biến và liên thông trong với ngoài nước, đặc biệt là với một số nước phương Tây, để chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Hai là, nhận diện rõ hạn chế của công tác tư tưởng chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền. Hiện nay, công tác tư tưởng chính trị không chỉ xây dựng niềm tin vào Đảng, vào chế độ, mà còn phải chăm lo xây dựng đời sống tinh thần của xã hội, trong đó có cán bộ, đảng viên, do đó, nội dung tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị chịu sự tác động to lớn của việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Vì thế, để giành được niềm tin của cán bộ, đảng viên và lòng dân, công tác này dễ sa vào chủ nghĩa thực dụng, mị dân vì những mục tiêu trước mắt. Khi Đảng cầm quyền, công tác tư tưởng chính trị trong nội bộ Đảng được xem như công tác tư tưởng đối với nhân dân. Từ chỗ phải lắng nghe, chia sẻ, thuyết phục cán bộ, đảng viên và người dân, công tác tư tưởng rất dễ biến thành tuyên truyền áp đặt, một chiều không xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thiết thực của cán bộ, đảng viên và người dân. Những hạn chế này của công tác tư tưởng chính trị cần phải được khắc phục để đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Ba là, nâng cao nhận thức về nền tảng tư tưởng và công tác tư tưởng chính trị. Tiếp tục bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học - công nghệ, nhất là thực tiễn đổi mới theo định hướng XHCN ở nước ta; đồng thời, tích cực ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, nhân phẩm của cán bộ, đảng viên qua một số biểu hiện cụ thể, như phai nhạt lý tưởng cách mạng; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; không gắn quyền cá nhân với quyền tập thể; mắc vào tham nhũng, hối lộ, vi phạm thuần phong, mỹ tục và đạo đức,....

Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của công tác tư tưởng chính trị của Đảng. Tăng cường các hoạt động bổ sung, phát triển, hoàn thiện, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với việc đẩy mạnh tập hợp, lôi cuốn, phát động phong trào hành động của cán bộ, đảng viên thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng nhằm xây dựng thành công xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. 

          V3.

Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay

 


 Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ là giải pháp đầu tiên, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong đó lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là rất quan trọng. Đây là giải pháp nền tảng chi phối, chỉ đạo các giải pháp khác trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, tiếp tục nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nêu cao trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, người đứng đầu các cấp nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Kết hợp chặt chẽ công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng chính quyền, xây dựng tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở vững mạnh.

 Kết hợp chặt chẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Kết hợp công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ luôn đòi hỏi Đảng phải có biện pháp, cơ chế kết hợp chặt chẽ việc lãnh đạo của hai công tác này. Trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, phải thấy rõ mối quan hệ của nó với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và coi đó là yêu cầu, nội dung và biện pháp quan trọng hàng đầu để tìm ra giải pháp làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Và ngược lại, trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phải thấy rõ mối quan hệ của nó với “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, cái này đan xen, bện chặt vào cái kia, tác động, chi phối lẫn nhau. Vì vậy, phải coi đó là yêu cầu có tính nguyên tắc để có biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Tăng cường đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo của Đảng; thực hiện nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp với yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; đồng thời, thực hiện nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, đủ hiệu lực của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, của cấp ủy các cấp đối với công tác này.

Duy trì nghiêm và phát huy hiệu quả cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, có tư duy mới và biện pháp lãnh đạo phù hợp. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát huy dân chủ, tạo động lực trong công tác đấu tranh. Tăng cường bồi dưỡng tri thức lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh giai cấp, dân tộc; nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng; sắp xếp, kiện toàn Ban Chỉ đạo 94 các cấp tinh gọn, hiệu quả; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và phổ biến kinh nghiệm về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để họ không mắc mưu địch.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, của cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Đề xuất được giải pháp mới nhằm phát huy vai trò của tổ chức đảng, cấp ủy đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên với việc chủ động lãnh đạo thực hiện chương trình, kế hoạch đấu tranh đã xác định. Tiếp tục thúc đẩy các Ban Chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hoà bình” các cấp hoạt động có kế hoạch, “chuyên nghiệp” và thực thi hơn, tránh mắc “bệnh” thành tích. Có cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, các lực lượng, khắc phục những bất cập, chồng chéo trong công tác lãnh đạo. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, phải tích cực, chủ động, tiên phong trong cuộc đấu tranh này.

Quan tâm chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; làm cho dân no, dân yên, dân tin yêu Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa

Đây là giải pháp hỗ trợ trực tiếp, rất hiệu quả; phục vụ đắc lực cho công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; là thực lực sức mạnh và ưu thế của chế độ ta. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; chăm lo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân; xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm cho chế độ xã hội luôn luôn ổn định, được đổi mới và phát triển. Cùng với đó, thực hiện tốt giải pháp này là góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; không để “khoảng trống chính trị” để các thế lực thù địch lợi dụng, xâm nhập chống phá cách mạng Việt Nam.

Tóm lại, âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch là dùng “diễn biến hòa bình” để xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, Đảng lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là yêu cầu khách quan - mệnh lệnh của cuộc sống.

Thực tiễn Đảng lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” thời gian qua đạt được nhiều kết quả quan trọng cả về nhận thức và thực tiễn lãnh đạo; song còn có hạn chế nhất định. Nhận diện đúng âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và tính chất nguy hiểm, tác hại to lớn của nó để đề xuất các giải pháp “xây” và “chống” sao cho hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các thế lực thù địch sử dụng “trăm phương ngàn kế” để chống phá ta, đó là ý muốn chủ quan của chúng; còn chúng có thực hiện được mưu đồ đen tối ấy hay không quyền quyết định là của chúng ta./.

T3.

 

 

Một số yêu cầu đối với công tác lãnh đạo của Đảng về đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

 


Một là, phải không ngừng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; giúp họ nhận diện sao cho trúng, cho đúng đối tác, đối tượng, bạn, thù; bản chất sự điều chỉnh âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các tổ chức, lực lượng thù địch, cơ hội, xét lại trong tình hình mới và tính chất nguy hiểm, tác hại của nó đối với cách mạng Việt Nam. Muốn vậy, Đảng phải có biện pháp hữu hieuj để lãnh đạo cuộc đấu tranh đạt hiệu quả: bảo vệ được Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc đòi hỏi bản lĩnh và trí tuệ của Đảng là bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào đều phải kiên định, vững vàng; tỉnh táo, sáng suốt phân biệt rõ ràng “phải trái, trắng đen”; đâu là nhận thức lệch lạc, không đúng, không đầy đủ mà sinh ra quan điểm sai trái; đâu là sự cố tình chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, bọn cơ hội, xét lại; đâu là những yếu kém, khuyết điểm và hạn chế của ta, của cán bộ, đảng viên; đâu là sự chống phá “giấu mặt”, “trá hình” và công khai của các thế lực thù địch…Trong tình hình mới phải tìm ra phương cách tối ưu nhất để quản lý chặt bọn cầm đầu, chủ mưu; có kế hoạch chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của địch từ trong “trứng nước”; không để xảy ra hiện tượng “tả khuynh” và hữu khuynh; không để đất nước rơi vào bị động, bất ngờ.

Hai là, phải đẩy mạnh nghiên cứu dự báonắm chắc tình hình địch - ta; dự báo chính xác những nơi có thể xảy ra “điểm nóng”, “vùng nóng”; tìm được biện pháp tối ưu trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với kiên định ý chí tiến công; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, làm sao cho thực lực của ta ngày càng mạnh lên; biết lấy xây vững mạnh là chính, là quyết định, còn đấu tranh chống là rất quan trọng. Đây là yêu cầu khách quan đang đặt ra cấp bách đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh, kết hợp giữa “xây” và “chống” gắn với khắc phục các nguy cơ khác đe dọa cách mạng Việt Nam sao cho hiệu quả.

Ba là, phải tăng cường và đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang. Yêu cầu này cần phải được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và quan hệ tác động qua lại giữa nó với “diễn biến hòa bình”; “diễn biến hòa bình” là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “kết quả lôgíc”, hệ quả trực tiếp của “diễn biến hòa bình”. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” chỉ đạt kết quả khi gắn liền với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, phải thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch trong tình hình mới./.

T3.

 

 

Một số kinh nghiệm về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Kinh nghiệm thứ nhất, thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân ở các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, xác định là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. Đây là mặt trận tư tưởng mang ý nghĩa quyết định nhất đối với việc đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Kinh nghiệm thứ hai, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng cầm quyền thật sư đoàn kết, thống nhất, trong sạch vững mạnh là nhân tố quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ ba, xây dựng mối quan hệ máu thịt hữu cơ sống còn giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ tư, nền kinh tế đất nước ổn định, phát triển bền vững là sức đề kháng tốt nhất của xã hội trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ năm, lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân là công cụ sắc bén chuyên chính có hiệu quả với kẻ thù trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bao loạn lật đổ, chống phá Việt Nam./.

T3.

Những thành công trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”

 


* Trên lĩnh vực chính trị:

Một là, đã làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ, phát triển và làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, xã hội Việt Nam. Hai là, đã vô hiệu hóa các luận điệu và hoạt động phá hoại tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; bảo vệ thành công các quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng. Ba là, góp phần củng cố giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; đã gắn chặt “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính. Bốn là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam về tổ chức, về công tác cán bộ; hệ thống chính trị của Việt Nam không ngừng được xây dựng và phát triển. Năm là, đã chủ động xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức lực lượng và các điều kiện bảo đảm cho công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 94 Trung ương, Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo 94 Đảng ủy Công an Trung ương; Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương và các Ban Chỉ đạo 94 trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47, cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

* Trên lĩnh vực kinh tế:

Một là, nền kinh tế của Việt Nam vẫn giữ được độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đã chủ động phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại ý đồ “tư nhân hóa” nền kinh tế, tiến công vào vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. 

Hai là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; từ năm 1986 đến nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. 

Ba là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định với tốc độ tăng trưởng cao từ 6 - 7%/năm. Bốn là, phát triển kinh tế đã gắn chặt với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm công bằng xã hội.

* Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội:

Một là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị văn hóa tư sản”; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình đổi mới.

Hai là, giữ vững được sự ổn định chính trị đất nước, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội về mọi mặt.

Ba là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng đổi mới để gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo, gây mâu thuẫn xã hội - giai cấp; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; không ngừng củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội.

* Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh:

Một là, lực lượng vũ trang nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; đạt nhiều thành quả quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số đơn vị, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. 

Hai là, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch phá hoại vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất - kỹ thuật. 

Ba là, xác định đúng đắn vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới; xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Bốn là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. 

Năm là, làm thất bại mưu đồ bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam, cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế; nhờ đó, Việt Nam tạo được môi trường thuận lợi phục vụ cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sáu là, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao; tranh thủ được nhiều diễn đàn quốc tế để tập hợp đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị./.

T3.

 

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

 


Lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là một bộ phận quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; góp phần quan trọng vào việc giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc tác hại vô cùng to lớn của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đã làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thoái trào và chính nó đã và đang gây không ít khó khăn, cản trở công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới của các nước chủ nghĩa xã hội còn lại, trong đó có Việt Nam và Cu Ba.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu kỹ bản chất, âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu và tìm ra được những nguyên nhân chủ yếu làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu mất quyền lãnh đạo, chế độ xã hội chủ nghĩ bị sụp đổ. Về nguyên nhân chủ quan: Một là, Đảng Cộng sản biến chất, nội bộ mất đoàn kết và chia rẽ sâu sắc. Hai là, Đảng Cộng sản từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện cải tổ, cải cách đất nước, xây dựng xã hội “dân chủ” kiểu phương Tây. Ba là, không thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang và làm trong sạch các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Về nguyên nhân khách quan, nổi lên hai điểm chính: Một là, chủ nghĩa đế quốc và một số nước phương Tây hỗ trợ đắc lực cho lực lượng đối lập chống đối trong nước chống phá Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội củ nghĩa; thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Hai là, lợi dụng thời điểm khó khăn, đời sống nhân dân không được đảm bảo, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và bộ máy nhà nước, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã lôi kéo, mua chuộc, tập hợp được một bộ phận đông đảo quần chúng đứng về phía họ để chống Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Từ nhận thức trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “diễn biến hòa bình” là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ cấp bách của cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội; là công cuộc giữ nước của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, gồm tổng thể hoạt động đối nội, đối ngoại về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,...được tiến hành bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa là vấn đề cơ bản, lâu dài; kết hợp giữa phòng ngừa, ngăn chặn và răn đe, trừng trị với việc tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Đây là cuộc chiến đấu trong thời bình, một “cuộc chiến không bom rơi, đạn nổ, không tiếng súng” nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, giữa dân tộc Việt Nam kiên cường trong chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc và đi theo con đường chủ nghĩa hội với “lũ giặc nội xâm”, đang tìm “trăm phương nghìn kế” để phá hoại công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là nhất quán và được khẳng định là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài gắn chặt với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thể hiện qua các kỳ đại hội và các hội nghị Trung ương kể từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986) đến nay.

Sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, tại Hội nghị Trung ương Ba khóa VII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hòa bình”. Vạch trần những âm mưu thâm độc và những luận điệu chiến tranh tâm lý. Quản lý chặt chẽ các cuộc hội thảo, các dịch vụ thông tin, ngăn chặn việc lợi dụng diễn đàn và các cơ hội để thu thập tin tức tình báo, truyền bá các quan điểm thù địch và lối sống tư sản”. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng xác định 4 nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam, đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ tham nhũng và các tệ nạn xã hội; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Hội nghị Trung ương Tám khóa IX, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, xâm hại chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta”. Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Hội nghị Trung ương Tám khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới khẳng định: “Chủ động đấu tranh với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không để hình thành tổ chức chính trị đối lập dưới bất kỳ hình thức nào”. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định 4 nguy cơ vẫn tồn tại, “có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. 

Những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiếp tục được khẳng định trong văn kiện Đảng qua các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương ở các khóa tiếp theo; đồng thời, được bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa trong thực tiễn lãnh đạo công tác đấu tranh này.   

T3. 

 

Công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”

 


Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam. Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

          T3.

Đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” bằng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh”.

 


Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong./.

T3.

 

Mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn.

 


Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”, nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép” mới.


             Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

T3.