Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

Ðổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với lĩnh vực văn hóa, văn nghệ

 TCCS - Văn hóa, văn nghệ là một lĩnh vực đặc thù đòi hỏi Đảng phải định hình phương thức lãnh đạo phù hợp ở từng giai đoạn cách mạng. Trong điều kiện mới, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, văn nghệ có ý nghĩa bảo đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Tiến trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa, văn nghệ

Trong bộn bề công việc của Nhà nước chống “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 24-11-1946, tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất diễn ra. Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở” và “Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ... Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”(1).

Trong những năm tháng đầy gian khổ hy sinh, chống thực dân Pháp xâm lược, từ ngày 16 đến 20-7-1948, tại Việt Bắc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai. Trong thư gửi các đại biểu tham dự hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vĩ đại của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng. Từ ngày chính quyền dân chủ thành lập đến nay, các nhà văn hóa ta đã cố gắng và đã có thành tích. Song từ nay trở đi chúng ta cần phải xây dựng một nền văn hóa kháng chiến kiến quốc của toàn dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thổi khèn do nhân dân Châu Yên (tỉnh Sơn La) tặng nhân lễ kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên (1954-1959)_Nguồn: vietnamnet.vn

Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã khởi xướng đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế, cùng với đó là đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) xác định, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tiếp đó, quan điểm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được bổ sung, phát triển đầy đủ và sâu sắc hơn trong các văn kiện của Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII, ngày 14-1-1993, “Về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt”, lần đầu đưa quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”. Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII ra Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, thể hiện tư duy lý luận văn hóa một cách toàn diện và sâu sắc trong giai đoạn cách mạng mới.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.

Như vậy, sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa của đất nước ta đã có chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trước những biến đổi nhanh chóng, đa dạng, phức tạp của đời sống trong nền kinh tế thị trường và bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, hoạt động văn hóa cũng bộc lộ không ít bất cập, hạn chế, yếu kém. Phương thức lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với văn hóa, văn nghệ chậm được đổi mới. Chúng ta chưa lường hết tính phức tạp và những tác động của mặt trái kinh tế thị trường đối với đời sống văn hóa. Tuy xác định “văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội”, nhưng trên thực tế, trong suy nghĩ và hành động, không ít tổ chức, cá nhân còn quá thiên lệch về kinh tế, coi nhẹ văn hóa. Văn hóa vô hình trung bị thu hẹp phạm vi và bị “hành chính hóa”, không còn là một phạm trù tổng thể các giá trị vật chất, tinh thần...

Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) khẳng định: “Tập trung nghiên cứu và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”(2) và “Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về văn hóa”(3).

Trong bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 24-11-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu một số hạn chế, yếu kém trên lĩnh vực văn hóa và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém đó, trong đó nổi lên là việc chậm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, văn nghệ: “Phương thức lãnh đạo và quản lý văn hóa chậm được đổi mới, chưa thích ứng kịp thời với sự vận động và phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối văn hóa của Đảng còn thiếu đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả. Công tác tổ chức và công tác cán bộ trên lĩnh vực văn hóa còn nhiều bất cập. Trách nhiệm của các cấp ủy đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo phát triển văn hóa chưa cao...”. 

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa, văn nghệ trước yêu cầu mới

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tham quan triển lãm ảnh kỷ niệm 80 năm Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943 - 2023) tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia: “80 năm Đề cương về văn hóa Việt Nam - Khởi nguồn và động lực phát triển”, ngày 27-2-2023 _Ảnh: TL

Thứ nhất, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa, văn nghệ bằng chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn

Tư duy lý luận và quan điểm của Đảng về văn hóa, nghệ thuật tiếp tục đổi mới, bổ sung, phát triển, nhất là quan điểm ngày càng quan tâm, coi trọng văn hóa, văn nghệ, khi xác định văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội. Đây chính là cơ sở chính trị để Đảng ta đổi mới phương thức lãnh đạo, trước hết là xây dựng các định hướng, chủ trương lớn, chiến lược quan trọng về phát triển văn hóa, văn nghệ. Các cấp ủy có nhiều cố gắng theo sát thực tiễn văn hóa, văn nghệ, nâng cao năng lực lãnh đạo và tìm tòi các phương thức chỉ đạo phù hợp, thiết thực; lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước thể chế hóa, tạo hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nhìn lại những năm qua, Đảng ta đã dày công đầu tư trí tuệ và tâm huyết để xây dựng các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Đây chính là những “bệ đỡ” chính trị - tinh thần quan trọng cho sự phát triển của nền văn hóa, văn nghệ nước nhà, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước; cổ vũ, khích lệ, tạo niềm tin cho các văn nghệ sĩ lao động sáng tạo, đóng góp nhiều tác phẩm xuất sắc trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật.

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực và thành tựu to lớn đã đạt được, cũng bộc lộ không ít hạn chế, nhất là việc thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng bằng pháp luật, chính sách, cơ chế, nguồn lực để phát triển nền văn hóa, văn nghệ nước nhà. Cho đến nay, một số chương trình, đề án thực hiện các nghị quyết lớn về văn hóa, văn nghệ(4) còn chậm được triển khai, gây những bất cập, khó khăn đối với sự phát triển của văn hóa, văn nghệ.

Một số chủ trương, chính sách đối với văn hóa, văn nghệ và văn nghệ sĩ đã lạc hậu, nhưng chậm được sửa đổi. Sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy về quan điểm, chủ trương, chính sách, về đầu tư kinh phí, ngân sách cho lĩnh vực văn học, nghệ thuật chưa đúng tầm và đúng mức. Một số cấp ủy chưa coi trọng và hiểu biết chưa đầy đủ về vai trò, tính đặc thù của văn hóa, văn nghệ, còn coi nặng kinh tế, xem nhẹ văn hóa, văn nghệ, nên ban hành nghị quyết lãnh đạo chưa sát, trúng, chậm đổi mới về phương thức lãnh đạo.

Thời gian tới, cần có chủ trương, chính sách cụ thể hóa quan điểm văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội, dành sự quan tâm, nguồn lực đầu tư cho văn hóa, văn nghệ tương xứng, thực chất. Trọng tâm là chuẩn bị tổng kết 50 năm nền văn hóa, văn nghệ nước nhà sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong đó có tổng kết về phương thức lãnh đạo của Đảng, từ đó đề ra những giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo phù hợp; thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030...

Thứ hai, Đảng lãnh đạo lĩnh vực văn hóa, văn nghệ bằng sự đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền, vận động, thuyết phục

Đối với lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bằng công tác tư tưởng, tuyên truyền, vận động, thuyết phục có ý nghĩa rất quan trọng. Văn hóa đề cao tính dân chủ, nhân văn, tính khoa học, tính xác thực, tính thuyết phục, từ đó tạo ra sự đồng thuận, thống nhất, tự giác trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Công tác tuyên truyền cần đi trước một bước, chủ động nắm sát diễn biến tư tưởng, tâm trạng trong Đảng và trong nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và đội ngũ những người làm công tác văn hóa, văn nghệ nói chung, từ đó định hướng tư tưởng đúng đắn và kịp thời trước những tác động cả tích cực và tiêu cực của đời sống tư tưởng - văn hóa trên thế giới cũng như trong nước; dự báo trước các vấn đề tư tưởng đã, đang và sẽ nảy sinh để có phương pháp lãnh đạo giải quyết kịp thời, hiệu quả.

Cần đổi mới nội dung, cách thức tuyên truyền, theo hướng phân nhóm đối tượng để có nội dung, hình thức, kênh tuyên truyền phù hợp. Cách thức tuyên truyền cần ngắn gọn, dễ nhớ, dễ vận dụng, phù hợp với từng đối tượng, từng vùng, miền trong cả nước. Đối với mỗi vấn đề tuyên truyền, cổ động, cần có lộ trình, quy trình, mục đích, bước đi cụ thể, dưới các hình thức khác nhau để đạt được các yêu cầu cần thiết, súc tích, rõ ràng, minh bạch, không hình thức, không gượng ép, không áp đặt, từ đó đạt được tính hiệu quả. Cần kết hợp đa dạng, nhiều hình thức, nhiều kỹ năng, công nghệ và phương tiện hiện đại, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Khi truyền đạt thông tin, nhất là với văn nghệ sĩ, cần chọn lọc kỹ những vấn đề quan yếu, thiết thực, tránh lối tuyên truyền áp đặt, phiến diện, một chiều, vừa thiếu tính thuyết phục, vừa gây phản cảm, phản tuyên truyền, tác dụng ngược.

Tăng cường đối thoại, tương tác, cùng lắng nghe, cùng thấu hiểu, tôn trọng ý kiến phản biện mang tính xây dựng. Thường xuyên nắm bắt chính xác dư luận xã hội để có những giải pháp định hướng đúng đắn, kịp thời, phát huy mặt tích cực, mặt đồng thuận, hạn chế những tác động tiêu cực, trái chiều. Tiến hành công tác tuyên truyền và cách thức tuyên truyền thông qua báo chí, xuất bản phẩm, tuyên truyền miệng, qua internet, các phương tiện truyền thông xã hội...; xây dựng những kênh thông tin có uy tín trên môi trường mạng vừa bảo đảm tính tin cậy của cơ quan đảng, nhà nước, các đoàn thể, vừa thân thiện, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội, nhất là cộng đồng mạng.

Cần tích cực, chủ động nắm bắt tư tưởng, tâm trạng, thái độ của đội ngũ cán bộ, nhân viên, văn nghệ sĩ trước những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm của đất nước hay của chính lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Mọi diễn biến về tư tưởng, tâm trạng, thái độ, hành động của con người đều bắt nguồn từ quan hệ lợi ích và tâm lý xã hội, do vậy, phải “bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc” đúng đắn, hợp lý cho từng nhóm người, từng “thể trạng”. Từ đó, hạn chế mặt bất đồng, tiêu cực, tăng tính đồng thuận, đồng tình, tích cực. Thường xuyên có sự bổ sung, điều chỉnh tiêu chí đánh giá khách quan tác động của việc thực hiện công tác tuyên truyền sau mỗi bước đi và so sánh với mục tiêu đặt ra. Có kế hoạch, lộ trình, các bước thực hiện và có điều tra dư luận xã hội đánh giá mức độ thành công cũng như phản ứng của dư luận đối với các vấn đề được tuyên truyền.

Xây dựng và thực hiện quy chế, quy định mọi tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở và mọi đảng viên đều có trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng. Bí thư cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải lập kế hoạch cụ thể chỉ đạo công tác tư tưởng, chủ động nắm bắt, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, nhân viên trong cơ quan, đơn vị mình, có biện pháp giải quyết kịp thời. Khẩn trương xây dựng và đưa vào thực tiễn cơ chế cấp ủy tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với đội ngũ những người làm công tác văn hóa, văn nghệ, nhất là các trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến cơ sở với các cơ quan làm công tác tư tưởng trong việc triển khai kế hoạch phát triển văn hóa, văn nghệ.

Gắn kết chặt chẽ công tác tuyên truyền với nhiệm vụ phát triển các lĩnh vực của đời sống văn hóa, văn nghệ. Công tác tuyên truyền cần và phải có mặt trong các tiến trình, sự kiện, hiện tượng, phong trào để có tiếng nói kịp thời, mang tính định hướng và có sức thuyết phục, có tác động thực tế. Chẳng hạn, trong các hoạt động văn hóa tâm linh, cần khuyến khích các hoạt động mang ý nghĩa tích cực, có ích cho việc xây dựng và phát triển các giá trị văn hóa tinh thần, đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam; đồng thời, kiên quyết đấu tranh loại trừ mặt tiêu cực, mặt xấu, các hành vi lợi dụng các hoạt động văn hóa tâm linh vì các mục đích phản văn hóa khác, trái với ý nghĩa cao đẹp của văn hóa tâm linh của người Việt...

Giải quyết tốt, rõ ràng, đúng đắn các vấn đề nêu trên cũng góp phần đấu tranh phản bác, đẩy lùi các quan điểm sai trái, thù địch, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ.

Thứ ba, Đảng lãnh đạo lĩnh vực văn hóa, văn nghệ thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong hệ thống chính trị và bằng công tác tổ chức, cán bộ

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức bộ máy, cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Đảng giới thiệu cán bộ đủ tiêu chuẩn, đủ năng lực, uy tín để có thể ứng cử hoặc bổ nhiệm vào cơ quan làm công tác văn hóa, văn nghệ các cấp.

Tổ chức đảng và đảng viên công tác trong cơ quan văn hóa, văn nghệ phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, chỉ thị của Đảng; tổ chức đảng lãnh đạo việc cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật của Nhà nước, chủ trương của đoàn thể; lãnh đạo thực hiện một cách sáng tạo, có hiệu quả.

 Trong tình hình mới, việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, trong đó có các cơ quan văn hóa, văn nghệ phải bám sát, cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm của Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng, đồng bộ với Hiến pháp năm 2013; bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ mới.

Đổi mới, hoàn thiện đồng bộ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, đồng bộ với đổi mới thể chế văn hóa, văn nghệ phù hợp với đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực quan trọng và đặc biệt tinh tế này. Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan văn hóa, văn nghệ phải gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, nêu cao tính tự giác, trách nhiệm công dân, trách nhiệm của trí thức, văn nghệ sĩ.

Mục tiêu tổng quát là tăng cường xây dựng Đảng trong các cơ quan văn hóa, văn nghệ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ở lĩnh vực được coi là nền tảng tinh thần xã hội, là sức mạnh nội sinh, động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Củng cố, đổi mới hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật ở Trung ương và các địa phương nhằm nâng cao khả năng tập hợp, động viên phát huy tiềm năng sáng tạo và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ của hội.

Cổ vũ, khích lệ, tạo niềm tin cho các văn nghệ sĩ lao động sáng tạo, đóng góp nhiều tác phẩm xuất sắc trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Bài học rút ra trong nhiều năm qua cần nhận rõ để phát triển văn hóa, văn nghệ là chăm lo xây dựng tổ chức đảng và công tác cán bộ trong lĩnh vực này. Tổ chức đảng phải thực sự vững mạnh, trong sạch, giàu tính chiến đấu, tính khoa học, tính nhân văn. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu về công tác văn hóa, văn nghệ, nhất là cấp chiến lược và ở cấp tỉnh phải được quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đúng việc, đúng người, tránh tình trạng vừa bất cập về trình độ, năng lực, kiến thức, vừa thiếu tính hệ thống, tính dài hạn. Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của đảng đoàn các hội, hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong các đơn vị hoạt động văn hóa, văn nghệ, quan tâm bồi dưỡng, kết nạp vào Đoàn, vào Đảng những văn nghệ sĩ trẻ tuổi.

Các cơ quan được Đảng, Nhà nước giao làm công tác chỉ đạo, quản lý văn hóa, văn nghệ (Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và ở địa phương là ban tuyên giáo tỉnh ủy, thành ủy, huyện ủy, thị ủy...) cũng cần xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, tránh tình trạng non về trình độ, năng lực, yếu về bản lĩnh, phương pháp, khi gặp phải những tình huống phức tạp, nhạy cảm thì lúng túng, bị động, sa vào hữu khuynh hay tả khuynh.

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược thuộc lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Thứ tư, Đảng lãnh đạo lĩnh vực văn hóa, văn nghệ bằng công tác kiểm tra, giám sát

Để góp phần xây dựng Đảng mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng”(5).

Do đó, cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát và đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan văn hóa, văn nghệ. Các cấp ủy cần coi trọng công tác dự báo tình hình vi phạm, từ đó chủ động có biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa sớm và có hiệu quả. Cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải nắm vững quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác xây dựng Đảng và công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Chú trọng học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, quan tâm đúng mức các nội dung về công tác kiểm tra của Đảng, góp phần tích cực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra, cán bộ, đảng viên và sự giám sát của công chức, viên chức trong các cơ quan văn hóa, văn nghệ đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp ở lĩnh vực văn hóa, văn nghệ cần chủ động thực hiện và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả chương trình hành động, phương hướng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ và hằng năm. Phải coi trọng khâu nắm tình hình, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu trong các cơ quan văn hóa, văn nghệ để chủ động ngăn ngừa, phát hiện, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm từ khi mới manh nha, chớm phát sinh vi phạm, không để vi phạm từ một người thành nhiều người, từ ít nghiêm trọng trở thành nghiêm trọng.

Tăng cường nắm bắt tình hình, coi trọng tuyên truyền, vận động, đối thoại, thuyết phục, mặt khác xử lý nghiêm minh tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan văn hóa, văn nghệ vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những hành vi dung túng, bao che cho khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Công khai các kết quả xử lý vi phạm trên các kênh thông tin phù hợp theo đúng quy định.

Xây dựng và hoàn thiện các quy định của Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong các cơ quan văn hóa, văn nghệ theo quy định của Đảng(6).

Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan văn hóa, văn nghệ, cần tránh hai khuynh hướng: hoặc buông lỏng, xuê xoa, hữu khuynh, nửa vời hoặc máy móc, áp đặt, thô bạo, tả khuynh.

Quan tâm công tác nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng ở cơ quan văn hóa, văn nghệ, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Thứ năm, Đảng lãnh đạo lĩnh vực văn hóa, văn nghệ bằng hành động nêu gương của cán bộ, đảng viên

Nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó coi trọng việc tiên phong gương mẫu, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp. Trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, vai trò nêu gương của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, những nhà văn hóa có uy tín, ảnh hưởng lớn là đảng viên có ý nghĩa rất quan trọng.

Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan văn hóa, văn nghệ phải có tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi chuyên môn, cống hiến tài năng, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống; nghiêm khắc với chính mình, giữ vững nguyên tắc dân chủ, công tâm, khách quan, minh bạch trong công việc, nhất là trong việc sử dụng và đánh giá cán bộ. Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành, nhân văn, tiến bộ.

Nâng cao nhận thức về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, của trí thức, văn nghệ sĩ. Nhiều người trong số các nhà văn, nghệ sĩ là “người của công chúng”, nên sự nêu gương tốt về tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống... có ý nghĩa quan trọng, có sức lan tỏa, ảnh hưởng tích cực đến xã hội và ngược lại. Do đó, cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ phải tự đặt mình trong kỷ luật của tổ chức, kiên quyết chống những biểu hiện vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; cá tính sáng tạo, tự do nghệ thuật không được đi ngược lại lợi ích chung, trái với quy định của Đảng, Nhà nước; đi đầu trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc, thù địch, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh, không để các thế lực thù địch, phản động “tác động chuyển hóa”, các phần tử cơ hội chính trị lôi kéo.

Văn hóa, nghệ thuật có những đặc thù, nên ngoài những phương pháp lãnh đạo chung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng cần có những cách thức lãnh đạo chuyên biệt, giữ vững nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, đồng thời thành tâm, tôn trọng, linh hoạt, cốt sao tập hợp, đoàn kết đông đảo lực lượng văn hóa, nghệ thuật quy tụ bên Đảng, tạo những điều kiện thuận lợi, môi trường tự do sáng tạo, khơi dậy những tiềm năng sáng tạo để cho ra đời ngày càng nhiều tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lớn, nuôi dưỡng và làm phong phú đời sống tinh thần xã hội, xứng tầm với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta./.

 XÁC ĐỊNH RÕ ĐỐI TƯỢNG MUA NHÀ Ở XÃ HỘI ĐỂ BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG

Nêu rõ có hiện tượng nhiều đối tượng không thuộc diện được mua nhà ở xã hội nhưng vẫn “xếp hàng” để nộp hồ sơ mua nhà, các đại biểu Quốc hội cho rằng cần phải có các biện pháp xác định rõ đối tượng được ưu tiên tiếp cận nhà ở xã hội, nhằm bảo đảm công bằng cho công nhân, người lao động có thu nhập thấp đang có nhu cầu cấp thiết.

Kênh thanh lọc chính xác và hiệu quả qua Ngân hàng Chính sách xã hội

Ngày 5/6, Quốc hội tiến hành thảo luận ở tổ về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi). Phát biểu thảo luận tại Tổ 16, đại biểu Trần Đình Gia - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh nhấn mạnh, phát triển nhà ở xã hội là chủ trương rất nhân văn, đúng đắn để giải quyết nhu cầu nhà ở cho người thu nhập thấp.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, vấn đề ở đây là cần kiểm soát việc xây dựng nhà ở phải gắn với các hạ tầng thiết yếu khác, như trường học, trạm xá…, cũng như bảo đảm an ninh trật tự.

Theo đại biểu, cần quy định rõ tỷ lệ bao nhiêu nhà ở thì cần bao nhiêu trường học và các cơ sở thiết yếu khác, để tránh tình trạng nhà đầu tư chỉ “chăm chăm xây nhà” mà không quan tâm đến các thiết chế khác để bảo đảm nhu cầu cơ bản của người ở trong khu vực.

Đại biểu tỉnh Hà Tĩnh cũng nêu rõ, trước nhu cầu nhà ở xã hội lớn, việc xét đối tượng được mua nhà ở xã hội cần phải được tiến hành một cách công bằng.

Đại biểu cho rằng, nếu cho mua thông qua quỹ vay của Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ là kênh thanh lọc rất chính xác và hiệu quả.

“Qua quỹ vay hỗ trợ nhà ở xã hội của Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ thanh lọc được đối tượng nào cần ở nhà ở xã hội, qua đó xác định được đối tượng nào có sở hữu đất, đối tượng nào có thu nhập phải đóng thuế, tức các đối tượng này sẽ không thuộc diện người nghèo và được tiếp cận nhà ở xã hội”, đại biểu Trần Đình Gia nêu rõ.

Quy định rõ vai trò Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong tham gia phát triển nhà ở xã hội

Đánh giá dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) đã có những sửa đổi, bổ sung rất cấp thiết và cụ thể liên quan đến nhà lưu trú cho công nhân, đại biểu Nguyễn Thị Như Ý - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai cho biết, nhu cầu nhà ở cho công nhân tại Đồng Nai rất lớn, song số lượng nhà ở xã hội cũng như nhà ở cho người lao động thu nhập thấp đang rất thấp.

“Đồng Nai có gần 1,3 triệu lao động và gần 800 nghìn đoàn viên Công đoàn, trong đó nhu cầu nhà ở là gần 400 nghìn nhưng tới thời điểm này, các dự án nhà ở mới chỉ thực hiện được hơn 6%, tương ứng với chỉ 24 nghìn chỗ ở”, đại biểu nêu thực trạng.

Theo đại biểu, việc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tham gia đầu tư, phát triển nhà ở xã hội cho công nhân lao động là hoàn toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ “chăm lo, bảo vệ quyền lợi, lợi ích chính đáng của người lao động" theo quy định tại Điều 10 Hiến pháp 2013 và Điều 1 Luật Công đoàn 2012, trong đó, chăm lo đến nhu cầu thiết yếu, bức xúc của đoàn viên, người lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trên cả nước, đó là nhu cầu về nhà ở và các điều kiện sinh hoạt thiết yếu phục vụ nhu cầu ở...

Tuy nhiên, đại biểu nêu rõ, Tổng Liên đoàn là một chủ thể đầu tư nhà ở xã hội mới được quy định trong dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) nên còn khá nhiều vấn đề cần phải quy định rõ ràng, thống nhất hơn trong dự thảo.

Từ đó, đại biểu Nguyễn Thị Như Ý kiến nghị, trong việc thực hiện dự án nhà ở cho người lao động, đề nghị coi việc Tổng Liên đoàn tham gia đầu tư như một hình thức nhà nước tham gia đầu tư để áp dụng các quy định pháp luật tương tự về quyền của chủ sở hữu và các cơ chế trong quá trình đầu tư, quản lý, vận hành nhà ở xã hội.

Về đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, đại biểu nêu rõ, Khoản 6, Điều 73 dự thảo Luật quy định đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội là “công nhân, người lao động, chuyên gia làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp” đã hạn chế hơn so với Luật hiện hành là “người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp”, không bảo đảm công bằng về thụ hưởng chính sách an sinh xã hội trong công nhân lao động nói chung.

Đại biểu nhấn mạnh, vì nhu cầu nhà ở của công nhân là như nhau, không nên phân biệt người lao động làm việc tại doanh nghiệp trong hay ngoài khu công nghiệp.

Về điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội: Điều 75 dự thảo Luật quy định công nhân, người lao động phải thuộc diện “không phải nộp, hưởng thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập từ tiền công, tiền lương theo quy định về thuế thu nhập cá nhân”.

Theo đại biểu, quy định như vậy là chưa hợp với thực tế, bởi lẽ, công nhân lao động đều có thu nhập từ tiền công, tiền lương. Tuy nhiên, người lao động có thu nhập thấp, dưới mức chịu thuế ngay cả khi tích lũy hàng chục năm cũng chưa chắc đã mua được một căn nhà ở xã hội, nhất là ở những khu vực đô thị, công nhiệp, có mặt bằng chung nhà ở, chi phí sinh hoạt cao như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh...

“Thực tiễn ở các thành phố lớn, ngay cả công nhân lao động có thu nhập trên mức chịu thuế (11 triệu đồng) cũng chưa được xem là có mức sống dư dả. Do vậy, đề nghị giữ nguyên đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội như quy định của Luật Nhà ở hiện hành, đó là: “Công nhân, người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp” đều được hưởng thụ hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Đồng thời, bỏ quy định về điều kiện thu nhập đối với công nhân lao động tại điểm b khoản 1 Điều 75. Theo đó, công nhân lao động được thụ hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, không phân biệt mức thu nhập”, đại biểu nêu kiến nghị.

Kiến nghị mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở trong lực lượng vũ trang

Nêu rõ Luật Nhà ở (sửa đổi) đã thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong việc phát triển nhà ở cho nhân dân, người có thu nhập thấp và người nghèo, đại biểu Đỗ Quang Thành (Cao Bằng) đánh giá cao Cơ quan chủ trì soạn thảo đã dành một mục riêng (Mục 4 Chương VI quy định về nhà ở cho Lực lượng vũ trang - Nhà ở xã hội).

Theo đại biểu, việc bổ sung Mục 4 Chương VI trên là phù hợp tình hình thực tiễn hiện nay, tháo gỡ những tồn tại, hạn chế mà Bộ Quốc phòng đang gặp phải; cũng như bảo đảm tính hợp hiến, sự thống nhất, đồng bộ với các Luật khác, đồng thời thể hiện rõ chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân.

Đại biểu kiến nghị bổ sung thêm đối tượng công chức, công nhân và viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng tại các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an vào điểm d khoản 1 Điều 47 (Đối tượng và điều kiện được thuê nhà ở công vụ) để phù hợp với Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Đối với đối tượng lao động hợp đồng chưa có quy định trong luật được thuê nhà ở công vụ, đại biểu nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa đối tượng này vào trong dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) lần này để thu hút được đội ngũ nhân lực có trình độ cao như chuyên gia, nhà khoa học (cán bộ kỹ thuật vũ khí đạn, thuốc phóng, thuốc nổ, khí tài quang học cho quân đội, công nghệ tàng hình cho tàu ngầm và các thiết bị bay, tổ hợp chống vũ khí công nghệ cao...) được đào tạo các trường ngoài quân đội, công an.

Ngoài ra, đại biểu cũng cho biết, đối tượng lao động hợp đồng tại các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng hiện nay nhu cầu về nhà ở công vụ khoảng 3.200 người, nếu không đưa đối tượng này vào, khi Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có nhu cầu cấp bách cần tuyển dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh sẽ trái quy định với các luật hiện hành, không bảo đảm được tính kịp thời khi triển khai thực hiện./.


 

Xây dựng động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho học viên các trường chính trị tỉnh, thành phố

(LLCT) - Động cơ, thái độ học tập có vai trò quan trọng đối với học lý luận chính trị. Trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động đến động cơ, thái độ học tập lý luận chính trị của học viên, bài viết đề xuất các giải pháp từ phía học viên và môi trường bên ngoài nhằm xây dựng động cơ, thái độ học tập lý luận chính trị đúng đắn.


Từ khóa: động cơ, thái độ học tập lý luận chính trị.

1. Các yếu tố tác động đến động cơ, thái độ học tập lý luận chính trị

Các yếu tố chủ quan từ phía học viên: trước hết là nhu cầu học tập lý luận chính trị, nhu cầu là khởi nguồn của động cơ và thái độ. Nhu cầu học tập lý luận chính trị của học viên rất đa dạng, chính nhu cầu cấp thiết sẽ chi phối động cơ và thái độ học tập lý luận chính trị của học viên. Thứ hai là, nhận thức về giá trị bản thân, đó là sự tôn trọng chính bản thân và tôn trọng người khác của học viên. Khi học lý luận chính trị, học viên phải tôn trọng với quyết định của mình, và tôn trọng môi trường học tập, tôn trọng những người xung quanh như giảng viên, nhân viên nhà trường, học viên khác. Thứ ba là, mức độ hứng thú, say mê trong học lý luận chính trị; khả năng tiếp thu và khả năng tự học, tự nghiên cứu.

Các yếu tố liên quan đến môi trường đào tạo, bồi dưỡng: giảng viên là cầu nối trực tiếp, giúp học viên tiếp thu những tri thức lý luận chính trị, đồng thời hỗ trợ học viên thực hành kỹ năng trong lãnh đạo, quản lý. Giảng viên lý luận chính trị vừa phải đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, vừa phải thể hiện phẩm chất đạo đức, phong cách giảng viên, góp phần truyền cảm hứng và cảm phục đối với học viên, qua đó giúp học viên xây dựng động cơ, thái độ học tập tích cực. Chương trình, giáo trình, tài liệu phục vụ học tập lý luận chính trị. Các phương pháp, phương tiện dạy học: sự đa dạng và đổi mới thường xuyên trong phương pháp và phương tiện dạy học sẽ làm tăng sự hấp dẫn, lôi cuốn đối với học viên.

Các yếu tố thuộc về môi trường xã hội

Thủ trưởng và cơ quan, đơn vị là yếu tố tác động lớn đến tâm lý học viên được cử đi đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Thực tế cho thấy, học viên bị phân tâm rất nhiều từ môi trường cơ quan, nhất là trong điều kiện vừa làm vừa học. Học viên vừa phải bảo đảm không vắng mặt tại lớp lại phải vừa bảo đảm công việc cơ quan. Do vậy, việc thủ trưởng và cơ quan, đơn vị quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho học viên yên tâm học tập sẽ góp phần quan trọng xây dựng động cơ và thái độ học tập đúng đắn.

Hoàn cảnh gia đình: bên cạnh áp lực phải hoàn thành công việc cơ quan, học viên còn phải đối mặt với nhiều vấn đề phát sinh từ gia đình khi tham gia học tập, điều này càng rõ đối với học viên nữ.

Công tác quản lý học viên và sự phối hợp của nhà trường: việc học viên lên lớp đều đặn và tích cực, chủ động rất cần sự tác động của nhà trường trong quản lý lớp học. Chẳng hạn như việc điểm danh đều đặn, hay thực hiện nghiêm túc việc phụ đạo, học lại, thi hết môn... đều có tác dụng nhất định giúp học viên nghiêm túc hơn trong học tập. Ngoài ra, sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với cơ quan, tổ chức cử học viên đi học có vai trò rất quan trọng.

Tập thể lớp học: mức độ phát triển của tập thể lớp học có thể ảnh hưởng đến quá trình phấn đấu của học viên trong quá trình học tập.

Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: dư luận xã hội, ảnh hưởng của kinh tế thị trường, yêu cầu chuẩn hóa cán bộ... cũng tác động đến động cơ và thái độ học tập lý luận chính trị của học viên.

2. Giải pháp xây dựng động cơ, thái độ học tập lý luận chính trị đúng đắn cho học viên ở trường chính trị

Việc xây dựng động cơ, thái độ học tập lý luận chính trị đúng đắn cho học viên ở trường chính trị cần tập trung vào các nội dung sau:

Một là, học viên cần tự xây dựng động cơ học tập lý luận chính trị đúng đắn.

Trong học tập lý luận chính trị, học viên phải xác định được mục đích của việc học đó: Học để làm gì? Thứ tự ưu tiên như thế nào?

Về mục đích và tính cần thiết của học tập lý luận chính trị, học viên cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về học tập lý luận chính trị. Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Phải xem việc học tập, trong đó có học tập lý luận chính trị là việc làm thường xuyên và lâu dài. “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”(1). Trong đó, cần xác định mục đích việc học trước hết là nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, phục vụ công tác tốt hơn. Từ đó, người cán bộ sẽ có nhiều cơ hội để phát triển, thăng tiến. Nếu chỉ coi việc học tập lý luận chính trị để đủ bằng cấp, bổ sung tiêu chuẩn quy hoạch, bổ nhiệm trước mắt thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả học tập.

Việc học lý luận chính trị có thể xuất phát từ nhiều mục đích, nhu cầu. Qua điều tra, khảo sát thực tế, mục đích học lý luận chính trị của học viên là: (i) để nâng cao kiến thức, (ii) để đủ chuẩn bằng cấp cho quy hoạch, bổ nhiệm, (iii) đủ chuẩn bằng cấp cho chức danh hiện tại, (iv) do cơ quan, đơn vị bắt buộc đi học.

Việc xác định đúng đắn mục đích và thứ tự ưu tiên có thể trở thành yếu tố kích thích nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, góp phần xây dựng động cơ và thái độ học tập của học viên.

Hai là, học viên cần tự xây dựng thái độ học tập lý luận chính trị đúng đắn.

Để việc học tập lý luận chính trị đạt kết quả, học viên cần có thái độ tôn trọng bản thân cũng như tôn trọng môi trường học tập. Tôn trọng giá trị bản thân phản ánh qua hình thức bên ngoài và cách ứng xử. Trong lớp học, có học viên lựa chọn trang phục nghiêm túc theo quy chế của nhà trường, thậm chí là đồng phục theo quy định của cơ quan, đơn vị. Song, cũng không ít học viên còn thiếu nghiêm túc trong trang phục khi lên lớp. Sự xem nhẹ này đã tác động nhất định đến động cơ và thái độ học tập của học viên.

Về thái độ ứng xử, học viên cần thể hiện sự tôn trọng mọi người, sẵn sàng tiếp thu, lĩnh hội tri thức mới, không làm việc riêng gây ảnh hưởng người khác, là sự lắng nghe, chia sẻ với những ý kiến khác, sự cầu thị khi ý kiến của mình không được chấp nhận v.v..

Tôn trọng môi trường học tập lý luận chính trị, trước hết học viên phải xây dựng thái độ tôn trọng đối với giảng viên, nhân viên nhà trường, với các học viên khác. Trong thực tế, không hiếm học viên có biểu hiện thiếu tôn trọng giảng viên, nhất là với những giảng viên trẻ, thậm chí còn thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi tiêu cực, gây phản cảm trong môi trường học tập và gây bức xúc cho giảng viên.

Học viên cũng cần xây dựng thái độ chủ động, tích cực tham gia học tập lý luận chính trị. Sự chủ động, tích cực thể hiện ở các hoạt động:

Trong thời gian trên lớp, đạt được ít nhất 2/3 các mục tiêu của bài học về kiến thức, kỹ năng, tư tưởng, thái độ; chuẩn bị đầy đủ tài liệu, dụng cụ phục vụ học tập. Thực tế không ít học viên khi lên lớp không mang theo bất kỳ một tài liệu và dụng cụ học tập nào. Đây là những học viên 3 không: không sách, không vở, không bút. Do đó, không ghi chép và thậm chí không nghe. Việc học viên tự đưa mình vào diện 3 không, 4 không hay 5 không phản ánh phần nào thái độ học tập của học viên. Do vậy, sự chủ động chuẩn bị các tài liệu và dụng cụ phục vụ học tập vừa thể hiện thái độ tích cực của học viên, vừa tạo không khí hào hứng cho việc học tập. Chủ động, tích cực tham gia vào bài học, như làm việc nhóm, xử lý tình huống,...

Trong thời gian nghiên cứu thực tế, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp và các hoạt động học tập khác, học viên cần tham gia đầy đủ, tập trung nghe hướng dẫn, tìm hiểu thực tế, thu thập thông tin, số liệu để hoàn thiện bài thu hoạch, bảo đảm nội dung bài thu hoạch bám sát với đề tài, đạt yêu cầu đề ra, v.v.; chủ động, tích cực trong tự học, tự nghiên cứu.

Chấp hành nghiêm túc các quy chế, quy định đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nội quy của trường chính trị và những văn bản khác có liên quan.

Chủ động, tích cực tham gia các hoạt động, các phong trào của nhà trường, tập thể lớp, tạo mối quan hệ gần gũi, làm chất xúc tác kích thích học viên gắn bó với môi trường học tập hơn, tạo hứng thú, niềm vui mỗi khi học tập.

Ba là, quan tâm đến các yếu tố bên ngoài, giúp học viên xây dựng động cơ, thái độ học tập lý luận chính trị đúng đắn.

Rõ ràng, để có động cơ, thái độ học lý luận chính trị đúng đắn, thì vai trò của học viên là quyết định. Song, cũng không thể thiếu những yếu tố khác, vừa tạo kỷ luật, vừa hỗ trợ, giúp đỡ, tạo không khí vui vẻ, hứng khởi cho môi trường học tập.

Giảng viên là cầu nối quan trọng nhất giúp học viên tiếp cận tri thức mới, tạo hứng khởi, say mê, thích thú cho học viên khi học tập lý luận chính trị. Thí dụ, bài giảng có hình ảnh, thậm chí âm thanh đi kèm, sẽ sống động hơn rất nhiều so với việc chỉ có những hàng chữ trên bảng truyền thống, hay việc vận dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, đòi hỏi học viên cùng tham gia sẽ khiến học viên tập trung, nhanh hiểu bài. Mặt khác, việc học viên tích cực tham gia xây dựng bài học lại trở thành động lực giúp giảng viên đầu tư nhiều hơn để nâng cao chất lượng bài giảng.

Do vậy, các giảng viên trường chính trị cần nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của mình trên lớp, thường xuyên đổi mới bài giảng, nâng cao kiến thức và kỹ năng giảng dạy. Muốn vậy, giảng viên phải thường xuyên đổi mới nhận thức, đổi mới phương pháp, đổi mới nội dung... tự mình phải trở thành một phần trong lớp học, có khả năng thu hút học viên đến lớp và hứng thú với học lý luận chính trị.

Đối với công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng, thời gian qua, để làm tốt công tác này ở trường chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã ban hành mới nhiều quy định, quy chế. Các trường chính trị đã áp dụng kịp thời vào công tác quản lý. Tuy nhiên, vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra ở một số nội dung, trong đó có quản lý học viên và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học viên. Việc thực hiện không đầy đủ hoặc chưa nghiêm chính là những kẽ hở, tạo cơ hội cho học viên có thái độ thiếu nghiêm túc.

Những biểu hiện trên nếu kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng học viên coi thường việc học lý luận chính trị, coi thường giảng viên và kỷ cương của nhà trường. Do vậy, các trường chính trị cần thực hiện đầy đủ và nghiêm túc hơn nữa các quy chế, quy định của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và nội quy của nhà trường về quản lý học viên, về đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học viên. Bên cạnh đó, cần đổi mới các cách thức quản lý học viên, đánh giá kết quả học tập của học viên. Thí dụ như trong quản lý học viên, có thể ứng dụng công nghệ hiện đại để thay thế cách thức điểm danh truyền thống... Trong đánh giá kết quả học tập, có thể đổi mới hình thức thi hết học phần, không chỉ là viết tự luận mà cần cân bằng giữa các học phần trong thi tự luận và thi vấn đáp, thậm chí thi trắc nghiệm. Hoặc trong việc đánh giá, chấm điểm khóa luận tốt nghiệp của học viên, có thể tiến tới tổ chức hình thức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp với sự tham gia đánh giá và chấm điểm của hội đồng...

Đối với tài liệu, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, hiện nay, các trường chính trị chủ yếu vẫn là sử dụng giáo trình do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn. Các trường đều có thư viện song vẫn chưa khai thác hiệu quả. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, các trường chính trị cần quan tâm đổi mới hoạt động của thư viện theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ việc học và nghiên cứu, vừa tạo môi trường hiện đại, vừa tạo điều kiện thuận lợi và hứng khởi cho học viên tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó, các trường chính trị cũng cần quan tâm đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy và học, như: máy chiếu, nâng cấp hệ thống âm thanh, thiết bị làm mát; phòng học phải đảm bảo rộng rãi, đáp ứng diện tích tối thiểu. Ngoài ra, cần thường xuyên theo dõi công tác quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, nhằm kịp thời thay mới hoặc sửa chữa.

Thủ trưởng và cơ quan, đơn vị nơi cử học viên đi học cần nhận thức và quan tâm đúng mức về học tập lý luận chính trị. Trên thực tế hiện nay, không ít trường hợp người đứng đầu cơ quan, đơn vị thiếu quan tâm, không xây dựng kế hoạch cho cán bộ đi học; hoặc đồng ý cho đi học nhưng lại không tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ chuyên tâm học tập. Chẳng hạn, trong quyết định cử đi học, có văn bản ghi nhận “cơ quan, đơn vị tạo điều kiện cho đi học”, theo đó thủ trưởng chỉ đạo mọi người chia sẻ, gánh vác công việc, tạo điều kiện tốt nhất cho người học. Song, cũng có văn bản ghi nhận “người đi học phải tự sắp xếp công việc”, hoặc chỉ đạo trực tiếp “muốn đi học thì phải sắp xếp công việc”... đã gây không ít áp lực cho học viên. Với hình thức đào tạo không tập trung - vừa làm vừa học, song vừa làm vừa học chứ không phải vừa học vừa làm hết. Do vậy, việc người đứng đầu quan tâm, chỉ đạo và cơ quan, đơn vị tạo điều kiện ngay từ đầu cho cán bộ được học và học đầy đủ, sẽ góp phần rất quan trọng giúp học viên có động cơ, thái độ học tập lý luận chính trị đúng đắn.

Nhà trường và cơ quan, đơn vị cử học viên đi học, là hai chủ thể quản lý học viên, cần có sự phối hợp chặt chẽ từ khâu tuyển sinh và xuyên suốt đến khi kết thúc lớp học. Song, ở nhiều trường mối quan hệ này còn lỏng lẻo. Vì vậy, nhà trường cần ban hành quy chế phối hợp với cơ quan, đơn vị cử học viên đi học, có báo cáo định kỳ về kết quả lên lớp, điểm danh, thái độ học tập của học viên... cho cơ quan, đơn vị cử đi học, nhằm uốn nắn kịp thời những biểu hiện thiếu tích cực của học viên.

Đối với tập thể lớp học, thông qua nhiều cách thức khác nhau, khích lệ tinh thần đoàn kết của tập thể lớp, tạo môi trường vui vẻ, hứng thú khi học tập... tác động tích cực đến việc xây dựng động cơ và thái độ học tập đúng đắn của học viên.

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.377.

Nguồn: ThS Phan Thị Thúy Hiển

Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi

 

Nâng cao năng lực tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp

(LLCT) - Tư duy của người lãnh đạo là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định hiệu quả lãnh đạo. Cùng với tư duy khoa học, tư duy hệ thống và tính sáng tạo... đội ngũ lãnh đạo cần phải nâng cao năng lực tư duy chiến lược nhằm đáp ứng các yêu cầu trong thực thi công vụ. Bài viết tập trung làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy chiến lược của đội ngũ lãnh đạo trong thực thi công vụ.


Từ khóa: tư duy chiến lược, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thực thi công vụ.

Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, hội nhập thành công với khu vực và thế giới, đội ngũ lãnh đạo phải có tư duy chiến lược nhằm thúc đẩy các cơ quan nhà nước không ngừng thích ứng với những điều kiện mới, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động. Đó là yếu tố quan trọng và cũng là điều kiện cần thiết để các cơ quan nhà nước phát triển, tạo thành những mắt xích vững chắc của bộ máy nhà nước, giúp cho Nhà nước ta tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc trên con đường hội nhập quốc tế.

1. Tư duy chiến lược và tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tư duy chiến lược của đội ngũ lãnh đạo trong thực thi công vụ

Tư duy chiến lược là cách thức, quy trình và năng lực tư duy, giúp cho chủ thể lãnh đạo có thể xác định được chiến lược phát triển, các điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức, biết cách liên tục cập nhập và rà soát môi trường để xác định các cơ hội và các nguy cơ cần khắc phục, từ đó tìm ra con đường và các giải pháp đưa tổ chức đến thành công.

Đó là sự kết hợp giữa cách tư duy rộng, tư duy sâu và tư duy dài hạn. Tư duy rộng là cách nhìn nhận có hệ thống và toàn diện về môi trường mà tổ chức đang tồn tại, thấy được xu hướng biến đổi của môi trường và vị trí mà tổ chức phải đạt tới trong môi trường thay đổi đó. Tư duy sâu là sự phân tích một cách sâu sắc về các cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức, nhìn thấy điểm tựa làm đòn bẩy cho sự phát triển của tổ chức. Tư duy dài hạn là khả năng nhìn thấy mục tiêu phía trước, nhận thức được các xu hướng thay đổi và không ngừng làm cho tổ chức thích nghi với môi trường để đạt tới mục tiêu mong muốn. Điều này đòi hỏi gắn tầm nhìn dài hạn với mục tiêu mong muốn và xử lý các vấn đề trong một tổng thể để đạt được mục tiêu đó.

Tư duy chiến lược là một quá trình sáng tạo và đa dạng, thể hiện tầm nhìn của các nhà lãnh đạo, đòi hỏi họ gắn kết các hoạt động hàng ngày với mục tiêu chiến lược dài hạn của tổ chức. Đây là một quá trình mang tính trí tuệ và nhận thức để xem xét cách thức đổi mới hoặc tái tạo lại tổ chức nhằm đáp ứng sự thay đổi của môi trường.

Tư duy chiến lược là một loại hình của tư duy ở cấp độ cao của con người. Tư duy chiến lược phản ánh được bản chất, quy luật, xu hướng vận động của hiện thực khách quan, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, có tính sáng tạo, từ đó đưa ra những dự báo, định hướng đúng để đạt mục tiêu chiến lược trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, phù hợp với quy luật phát triển của khách quan.

Tư duy chiến lược giúp chủ thể đưa ra các kế hoạch hiệu quả cũng như các bước để thực hiện thành công các kế hoạch đó. Tư duy chiến lược ngày càng trở nên cần thiết đối với tất cả mọi người và đặc biệt không thể thiếu đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, bởi sản phẩm của tư duy chiến lược của họ không thuần túy phục vụ cho những mục tiêu cá nhân, trong phạm vi nhỏ hẹp mà nó có ảnh hưởng, mang tính quyết định tới sự phát triển của cộng đồng, của vùng miền, của quốc gia dân tộc. Tư duy chiến lược của nhà lãnh đạo thể hiện những đặc trưng cơ bản gắn với hoạt động lãnh đạo; mang tính tổng hợp, hệ thống, có tầm nhìn xa trông rộng, có tính dự báo, thấy được xu thế phát triển và hướng tới các phương án thực hiện tối ưu; mang tính định hướng và sáng tạo, có khả nâng vận dụng một cách nhuần nhuyễn phép biện chứng, nhận thức rõ quy luật khách quan, bản chất của sự kiện, tình hình vận động của sự vật, biết phát hiện mâu thuẫn của sự vật, phát hiện cái mới phù hợp với sự phát triển của thực tiễn. Tư duy chiến lược của nhà lãnh đạo có phạm vi phản ánh sâu rộng, trong thời gian tương đối dài, tiếp cận vấn đề ở quy mô toàn cục, mang tầm nhìn thời đại và những thành quả văn minh của nhân loại; dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, là tư duy tổng hợp của tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy văn hóa, tư duy quân sự, tư duy đối ngoại, từ đó hình thành nên một tầm nhìn vừa khái quát, vừa sâu rộng lại đáp ứng được nhu cầu phát triển lâu dài của thực tiễn.

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, hội nhập quốc tế và xây dựng chính phủ liêm chính và kiến tạo, tư duy chiến lược là yêu cầu cần thiết đối với người cán bộ lãnh đạo. Tư duy chiến lược giúp cho chủ thể có tầm nhìn xa trông rộng, sớm phát hiện được các biểu hiện của sự thay đổi, của bước ngoặt, kịp thời phát hiện cái mới hợp quy luật. Nó giúp định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn; dự báo được các tình huống có thể xảy ra; trên cơ sở đó chủ động đề ra các phương án dự phòng, bổ sung các kế hoạch ứng phó. Trước những biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, với nhiều thời cơ nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức, chủ thể nào có được tư duy chiến lược đúng, vạch ra được những chủ trương, chính sách phát triển mang tầm chiến lược sẽ là người chiến thắng. Mỗi cán bộ lãnh đạo rất cần phải có được tư duy chiến lược bởi họ là những người trực tiếp hoặc góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và là người tổ chức thực hiện.

2. Thực trạng về năng lực tư duy chiến lược của đội ngũ lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta khẳng định được tầm nhìn xa trông rộng qua các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới. Những kết quả đạt được trong nâng cao trình độ tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay là kết quả của quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện qua các chặng đường cách mạng, trực tiếp từ công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới tư duy do Đại hội VI của Đảng ta khởi xướng.

Tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta ngày càng nhanh nhạy, thể hiện được tính sáng tạo, vượt trước. Phẩm chất năng động, sáng tạo trong tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay được thể hiện rõ nét trong việc nhạy bén, thích ứng nhanh, có khả năng phân tích các tình huống hết sức phức tạp của tình hình thế giới cũng như trong nước, thông qua việc thu nhận và xử lý thông tin, trên cơ sở đó xây dựng lên kế hoạch, dự án, soạn thảo nghị quyết và ra quyết định phù hợp với xu hướng phát triển, đạt hiệu quả cao trong thực tiễn.

Khả năng dự báo, định hướng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta có những bước tiến rõ nét. Người cán bộ lãnh đạo, ở những cương vị, lĩnh vực khác nhau, nhìn chung đều đã đưa ra được những dự báo sát với thực tế, chỉ ra được xu hướng vận động của thế giới, của đất nước, những việc cần phải nhận thức và thực hiện, đáp ứng được xu thế phát triển.

Để có được những điều đó là nhờ sự quan tâm chăm lo một cách toàn diện của Đảng và Nhà nước trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, cùng với đó là sự nỗ lực, cố gắng tự học tập, rèn luyện nâng cao trình độ tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta vẫn còn bộc lộ những hạn chế về trình độ; còn tồn tại những yếu tố là lực cản, kìm hãm sự phát triển của tư duy chiến lược dẫn tới việc đất nước ta phát triển chưa bền vững, nguy cơ tụt hậu về kinh tế còn lớn.

Trên thực tế, tư duy nhiệm kỳ làm giới hạn tầm nhìn của người lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo được bầu hoặc được bổ nhiệm thường chỉ giới hạn tầm nhìn về mục tiêu của tổ chức trong nhiệm kỳ mà mình phụ trách, coi những gì xa hơn là công việc của người phía sau. Đây là cách nhìn hạn hẹp, làm cho cơ quan nhà nước không thể đổi mới một cách mạnh mẽ trước những đòi hỏi của thực tiễn. Nhiều nhà lãnh đạo bị sa vào những vấn đề cụ thể của tổ chức và tìm cách giải quyết vấn đề trong khuôn khổ các điều kiện hiện tại của tổ chức. Khi quá bận rộn với các công việc quản lý hàng ngày, không ít lãnh đạo cho rằng việc suy nghĩ đến một tương lai xa là không cần thiết.

Còn một số lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến các ý kiến phản hồi và đánh giá của bên ngoài (các cơ quan có liên quan, các đối tác, các tổ chức và công dân) đối với tổ chức của mình. Trong bối cảnh dân trí được nâng cao và dân chủ hóa, những yêu cầu, đòi hỏi của người dân đối với Nhà nước ngày càng cao. Sự phản hồi của xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước là thước đo quan trọng và có tác động mạnh đến vị thế của cơ quan đó. Nếu không quan tâm theo dõi, khảo sát ý kiến từ phía các đối tác, các tổ chức và công dân để biết chính xác về các điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức mình, người lãnh đạo không thể tìm ra các giải pháp phù hợp để đưa tổ chức đến thành công.

Còn không ít cán bộ lãnh đạo các cấp tầm nhìn hạn hẹp, bảo thủ, giáo điều, nặng về chủ nghĩa kinh nghiệm, máy móc, cứng nhắc, thiếu tư duy sáng tạo, nhạy bén với cái mới, chưa nắm bắt được những quy luật khách quan dẫn đến việc đặt ra những mục tiêu, chủ trương, chính sách, giải pháp chưa phù hợp, chưa hiệu quả, thậm chí cản trở sự phát triển dài hạn.

Những hạn chế trên do một số nguyên nhân như: đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta được sinh ra từ một nước nông nghiệp lạc hậu; hậu quả chiến tranh nặng nề; thời gian khá dài tồn tại nền kinh tế tập trung bao cấp.

Quá trình đổi mới toàn diện đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp cách mạng vĩ đại với quy mô và tầm vóc to lớn, chưa có tiền lệ trong lịch sử, đặc biệt là chưa có sự chuẩn bị về lý luận. Khi công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều vấn đề mới, phức tạp về lý luận và thực tiễn không có sẵn trong di sản kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin nên không thể giải quyết ngay trong một sớm một chiều.

Chưa có sự nhận thức một cách tự giác về tầm quan trọng và những yêu cầu về tư duy chiến lược. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện còn lúng túng; chưa thực sự chủ động trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn; công tác tham mưu, đề xuất, tháo gỡ khó khăn còn thiếu tính chủ động; việc cập nhật thông tin khoa học công nghệ, học tập nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ lãnh đạo chưa theo kịp với sự phát triển của xu hướng mới; sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan hoạch định chính sách chưa thực sự chặt chẽ; công tác dự báo, định hướng còn hạn chế; công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn nhiều bất cập.

3. Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy chiến lược của đội ngũ lãnh đạo trong thực thi công vụ

Thứ nhất, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo theo hướng chú trọng rèn luyện tư duy chiến lược

Đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chọn lọc, thiết thực, sát hợp với đối tượng và mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng; tránh chồng chéo, trùng lắp, khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp, bằng cấp nhiều nhưng không phản ánh đúng năng lực tư duy và trình độ. Chương trình, nội dung phải bảo đảm tính khoa học, cơ bản và hệ thống, vừa bảo đảm tính hiện đại, thực tiễn và chuyên môn, nghiệp vụ. Coi trọng việc xây dựng và phát triển về tư duy chiến lược trong đào tạo lý luận chính trị. Phải cập nhật một cách nhanh nhạy, kịp thời nắm bắt thực tiễn, tổng kết thành lý luận những diễn biến mới của thời đại, những tác động từ quốc tế.

Đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy cao độ tính chủ động, tích cực, khả năng độc lập suy nghĩ, sáng tạo của người học; giảng viên cần khơi dậy tính chủ động của người học; đặc biệt là trong việc trao đổi kinh nghiệm công tác của học viên (cả kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại). Đó là những kinh nghiệm hết sức quý giá, là cơ sở để làm giàu thêm vốn hiểu biết và chia sẻ cho những lớp học viên sau.

Đa dạng hóa phương pháp, cách thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tư duy chiến lược đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thông qua các khóa học ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; thông qua trao đổi với giảng viên, chuyên gia trong và ngoài nước; học tập ở trong nước và nước ngoài; học tập trên giảng đường và trong thực tiễn. Đặc biệt, đẩy mạnh việc tham gia hoạt động tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận; hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, đồng thời giúp cho việc rèn luyện và không ngừng nâng cao năng lực tư duy lý luận, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều của người cán bộ lãnh đạo. Việc đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận là hai nội dung phải được chú trọng và tiến hành song song bởi lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau.

Thứ hai, đẩy mạnh việc học tập tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách tư duy lôgic và tầm nhìn xa trông rộng của Hồ Chí Minh

Trên thực tế, có nhiều phương pháp để rèn luyện tư duy chiến lược, trong đó việc học tập tư tưởng, đạo đức và phong cách, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh là phương pháp đặc biệt quan trọng. Học tập phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, thiết thực gắn với thực tiễn đất nước và thời đại. Học tập phương pháp kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính cách mạng và tính khoa học, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động ở Hồ Chí Minh. Học tập khả năng kết hợp nhuần nhuyễn tri thức, văn minh hiện đại với truyền thống văn hóa phương Đông, kết hợp phong cách làm việc khoa học, hiện đại với cốt cách truyền thống dân tộc Việt Nam. Học tập khả năng tư duy được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng của Bác. Bên cạnh đó, cán bộ lãnh đạo cần phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức trách nhiệm, hiểu và thực hành đúng những chuẩn mực, giá trị về đạo đức công vụ và văn hóa chính trị.

Thứ ba, cần coi trọng việc rèn luyện phương pháp tư duy biện chứng duy vật

Nói đến tư duy chiến lược là nói đến khả năng tư duy với tầm nhìn xa trông rộng, khả năng bao quát, khái quát, đưa ra những chủ trương, kế hoạch đúng đắn cho sự phát triển trong tương lai. Để có được tư duy chiến lược thì người cán bộ lãnh đạo nói chung trước hết cần được bồi dưỡng, trau dồi phương pháp biện chứng duy vật. Phương pháp biện chứng duy vật giúp chủ thể đi sâu nhận thức bản chất của sự vật, hiện tượng, gạt bỏ cái bề ngoài, ngẫu nhiên, hạn chế các phương pháp siêu hình, kinh nghiệm, giáo điều, giúp phát hiện ra mâu thuẫn, vấn đề cần phải giải quyết.

Thứ tư, tăng cường công tác thông tin đối ngoại và khoa học dự báo cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo

Chú trọng việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, xây dựng mạng lưới thông tin đối ngoại trong nước và quốc tế; phát huy vai trò các đại sứ quán, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài; phát huy vai trò của Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương trong việc tiếp nhận, xử lý, chắt lọc, cung cấp thông tin cho các cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước... Tăng cường thông tin đối ngoại để tiếp cận được những thành tựu trí tuệ của thế giới trên nhiều lĩnh vực khác nhau, mở rộng tầm nhìn, tham khảo kinh nghiệm thành công và cả những thất bại để trang bị thêm những cách nhìn mới, những khả năng xử lý phù hợp với tình huống đặt ra.

Thứ năm, phát huy những nhân tố chủ quan thuộc về đội ngũ cán bộ, lãnh đạo

Cán bộ lãnh đạo là những người được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện để có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, kiến thức chuyên môn tốt, có trách nhiệm cao với công việc được giao, có khả năng xây dựng khối đoàn kết để phát huy sức mạnh tập thể... Đó là mục tiêu cũng là mong muốn của toàn Đảng, toàn dân đối với đội ngũ này.

Đạo đức cách mạng là phẩm chất quan trọng của người cách mạng, thể hiện qua tình cảm, niềm tin, lý tưởng, ý chí, nhiệt tình cách mạng là những nhân tố bên trong thôi thúc cán bộ không ngừng học tập, rèn luyện về mọi mặt, trong đó có việc học tập, rèn luyện, bồi dưỡng tư duy chiến lược. Chỉ có những cán bộ có tâm huyết vì nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì trong các quyết định của mình mới thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng, đó là cơ sở vô cùng quan trọng để hình thành tư duy chiến lược.

Việc phát triển tư duy không chỉ dừng lại ở nhận thức cho kịp mà để có được tư duy chiến lược thì còn phải có sự vượt trước, nhất là khi thực tiễn ngày nay có nhiều biến chuyển nhanh chóng và phức tạp. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, kiên quyết khắc phục những biểu hiện lười học tập lý luận chính trị trong cán bộ hiện nay. Học tập, rèn luyện đạo đức theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh để có được tinh thần cầu thị trong học tập phát triển năng lực, nâng cao trình độ tư duy chiến lược. Trên thực tế, một người cán bộ, đảng viên có đạo đức, nhân cách, tâm huyết thì sẽ luôn cố gắng học tập để có kiến thức, năng lực đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra, có khả năng và kỹ năng giải quyết các tình huống một cách hiệu quả.

Bồi dưỡng, học tập, rèn luyện nhằm nâng cao trình độ tư duy chiến lược là yêu cầu cần thiết và cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược đã đề ra, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững, khẳng định được vị thế và vai trò của mình trên trường quốc tế.

Trong những năm tới, Việt Nam tiếp tục kế thừa và phát huy những thành tựu to lớn đạt được trong công cuộc đổi mới, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng sẽ tạo ra nhiều thời cơ phát triển mới, thúc đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, cũng còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức: tình hình thế giới biến đổi nhanh, phức tạp, khó lường, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng, suy thoái. Các thế lực thù địch tăng cường thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường... tiếp tục có những diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp tới đất nước ta... Do vậy, đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tư duy chiến lược cần tiếp tục được đổi mới và chú trọng hơn nữa nhằm phát huy có hiệu quả tầm nhìn xa, trông rộng; khả năng sáng tạo; năng lực dự báo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục đổi mới toàn diện công tác cán bộ, từ: phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ; chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài vào công tác lãnh đạo; thực hiện dân chủ, khách quan, công bằng về mọi mặt trong công tác cán bộ.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2021

Tài liệu tham khảo:

1. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

2. Nguyễn Mạnh Cường: Về bản chất của tư duy, Tạp chí Triết học, số 1 (152) - 2005.

 

3. Vũ Dương Huân: Về vấn đề đổi mới tư duy trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, tháng 3-2007.

Nguồn: TS Vũ Thị Mỹ Hằng

Học viện Hành chính Quốc gia


 NƯỚC NON VẠN DẶM

 "Nước non vạn dặm" là bộ tiểu thuyết lịch sử dự định gồm 4 tập của tác giả Nguyễn Thế Kỷ khắc họa hình tượng Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng những trang sử bi hùng của dân tộc từ cuối thế kỷ 19 và hơn nửa đầu thế kỷ 20. Hai tập đầu của bộ tiểu thuyết đã ra mắt độc giả cả nước.

Tập 1 có tên gọi "Nợ nước non" khắc họa hình tượng Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành và những người thân yêu từ mái tranh nghèo xứ Nghệ vào kinh đô Huế, tiếp đó là Bình Định, Phan Thiết, Sài Gòn.

Tập 2 có tên gọi "Lênh đênh bốn biển" khắc họa hình tượng Nguyễn Tất Thành, trong tên mới Nguyễn Văn Ba, rời thương cảng Sài Gòn ngày 5/6/1911 trên tàu Amiral Latouche Tréville vượt trùng khơi tìm đường cứu nước, đi trọn 30 năm từ Đông sang Tây, qua bốn biển năm châu để có chuyến trở về Tổ quốc ngày 28/1/1941. 

Cả tập sách là những đoạn hội thoại để người đọc có thể nhìn rõ hơn phẩm chất vĩ đại qua những điều bình dị, thân thương của Nguyễn Tất Thành-Văn Ba-Nguyễn Ái Quốc. 

Anh đã chủ đích tìm đến quê hương của những kẻ xâm lược và nô dịch đất nước mình để hiểu hơn về kẻ thù của dân tộc, tìm con đường cứu nước cứu dân.

Với các chương không quá dài và sự sáng tạo văn học đặc biệt, tập 2 bộ tiểu thuyết cho người đọc hình dung một cách sống động, chi tiết, hấp dẫn, chân thực về hành trình 30 năm của Nguyễn Ái Quốc qua biết bao quốc gia, trải biết bao công việc, gặp gỡ biết bao con người từ bình dị đến vĩ đại, những hoạt động chính trị sôi nổi của Người. Trọn vẹn trong tập 2 là hành trình của Người từ khi rời Việt Nam cho tới mùa Xuân 1941, Người trở về đất mẹ.

Tác giả Nguyễn Thế Kỷ đã biến những thông tin lịch sử khô khan thành những câu chuyện sống động gắn với cuộc đời một con người mà ngay sinh thời đã trở thành huyền thoại - Hồ Chí Minh. 

Cuộc đời một con người vừa mộc mạc, bình dị, vừa vĩ đại, cao quý và thấm sâu trong đó là khát vọng, ý chí, quyết tâm tìm ra cho dân tộc một lối thoát, giành độc lập, tự do đã được khắc họa sinh động qua "Lênh đênh bốn biển"

Đọc tập 2 bộ tiểu thuyết để thấy hành trình gian lao, vất vả, trải qua bao cực nhọc nhưng cũng thấm đẫm niềm vui, hạnh phúc và những dư vị ngọt ngào của tình người, tình đời trong 30 năm "Lênh đênh bốn biển" của Nguyễn Ái Quốc. 

Từ đó chúng ta trân trọng hơn những đóng góp của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho đất nước và dân tộc Việt Nam, thấu hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có thể nói, sau khi hoàn thành, đây sẽ là bộ tiểu thuyết đồ sộ về toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bộ tiểu thuyết không chỉ là một sản phẩm văn học đơn thuần mà hơn thế nữa, đây còn là một bộ tiểu thuyết lịch sử có giá trị cho việc tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của vị lãnh tụ yêu kính của bao thế hệ người Việt Nam - Bác Hồ.