Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

Phản bác ý kiến cho rằng Việt Nam chưa đảm bảo được tự do tôn giáo

 

          Ngày 15/5/2023, Bộ Ngoại giao Hoa kỳ đưa ra cái gọi Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế năm 2020; trong đó, phần về Việt Nam, bên cạnh việc đề cập đến những nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo thúc đẩy đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, thì bản Báo cáo vẫn đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam. Lợi dụng nhận định thiếu khách quan trong bản Báo cáo này, một số tổ chức phản động ra sức tuyên truyền xuyên tạc sai sự thật về bảo đảm tự do tôn giáoViệt Nam, nhằm chống phá, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. 

          Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam sau này đều luôn khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo một trong các quyền cơ bản của con người. Hiến pháp 2013 quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quyền của mọi người. Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 phù hợp với đời sống thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáoViệt Nam, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/11/2016. Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. 

Trên thực tế, quyền tự do, tín ngưỡng quy định trong pháp luật đã được thực thi đầy đủ. Bằng chứng đến nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng hoạt động tôn giáo cho 4 tổ chức 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Hiện cả nước trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân số cả nước), hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc 29.658 cơ sở thờ tự; hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong đó các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoàitrú hợp pháp tại Việt Nam. Đặc biệt, những ngày này, đại lễ Phật đảnPhật lịch 2567 đã được tổ chức trang trọngkhắp cácsở Phật giáo trên cả nước. Dịp này, Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã Thông điệp kêu gọi tất cả tăng ni, phật tử hãy cùng nhau dấn thân hơn nữa trên con đường thực hành Bồ-tát hạnh. Mỗi tăng ni, phật tử các giới ra sức làm các thiện sự, tích cực góp phần xây dựng đất nước, kiến tạo hòa bình tự thân để kết nên một đài sen cúng dường Đức Thế Tôn trong mùa Phật đản năm nay. Không chỉ với mùa Phật đản, dịp lễ Giáng sinh hằng năm cũng trở thành một dịp lễ hội của rất nhiều người chung vui với đồng bào Công giáo. Với đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn, lễ hội Katê còn được Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tháng lễ Ramadan của đồng bào Chăm theo đạo Hồi cũng được cộng đồng tôn trọng, các cấp chính quyền tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào thực hành nghi lễ, v.v. Đó những hoạt động tôn giáo đa dạng, phong phú đã đang diễn ra bình thường trên lãnh thổ Việt Nam. Những điểm chung của các hoạt động tôn giáo đó phù hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc, đáp ứng được nhu cầu đời sống tín ngưỡng tinh thần trong cộng đồng được pháp luật bảo hộ. Bức tranh sinh động trên cho thấy: các tôn giáo đã được tạo điều kiện tối đa để phát triển đáp ứng nhu cầu của các tín đồ. 

Song cần phải phân biệt những hội nhóm, tổ chức nhân danh tôn giáo để hoạt động trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc, xâm phạm lợi ích Nhà nước, cộng đồng các nhân nên không được pháp luật công nhận. thể kể đến như đạo Mònmột số tỉnh Tây Nguyên, đạo Giê Sùa, Dợmột số tỉnh Tây Bắc, v.v. Các đối tượng chủ chốt của các đạo này tuyên truyền chủ yếu những nội dung mê tín dị đoan, đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục truyền thống của đồng bào, tuyên truyền về ngày tận thế, kích động li khai tự trị,… nên cần phải xử nghiêm minh theo pháp luật. Đó việc làm hết sức bình thường cần thiết trong việc quản các tôn giáo bằng pháp luật xử những hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật không chỉViệt Nam cònnhiều nước trên thế giới. dụ như: mới đây, tại Kenya, chính quyền đã bắt giữ 26 nghi phạm liên quan đến giáo pháituyệt thực”, xúi giục các tín đồ bỏ đói con cái nhịn ăn để thể lên thiên đường trước ngày tận thế. Giới chức đã tìm thấy 201 thi thể số người được báo cáo mất tích 610 người. 

Bởi vậy, những ý kiến cho rằng Việt Nam chưa đảm bảo được tự do tôn giáo chỉ thể cố tình xuyên tạc hoặc chưa thông tin đầy đủ; cần đấu tranh bác bỏ./. 

 

QUỐC HIỆU, QUỐC KỲ, QUỐC HUY, QUỐC CA, QUỐC KHÁNH CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc khánh là những biểu thị cơ bản của một quốc gia. Nó nói lên danh xưng, thể chế chính trị và mục tiêu chính trị của một đất nước và con người về cội nguồn, truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam.

1. Quốc hiệu

Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một quốc gia, nó có ý nghĩa biểu thị chủ quyền lãnh thổ, bên cạnh đó danh xưng chính thức được dùng trong ngoại giao, thể chế và mục tiêu chính trị của một nước. Dù thể hiện dưới dạng tiếng nói hay chữ viết, đối với mỗi công dân, quốc hiệu luôn là lòng tự hào dân tộc.

Quốc hiệu của quốc gia Việt Nam là “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” được quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 351/2017/UBTVQH14.

2. Quốc kỳ

Quốc kỳ có nghĩa là lá cờ của quốc gia, là loại cờ được dùng làm biểu trưng cho một quốc gia.

Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. (Được quy định khoản 1 Điều 13 Hiến pháp 2013).

3. Quốc huy

Quốc huy là huy hiệu tượng trưng cho quốc gia, Quốc huy của mỗi quốc gia thường được quy định trong Hiến pháp.

Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (Được quy định tại khoản 2 Điều 13 Hiến pháp 2013).

4. Quốc ca

Quốc ca là bài hát chính thức của một quốc gia được dùng trong các nghi lễ trọng thể. Quốc ca của mỗi quốc gia thường được quy định trong hiến pháp của quốc gia đó.

Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài Tiến quân ca. (Được quy định tại khoản 3 Điều 13 Hiến pháp 2013)

5. Quốc khánh

Quốc khánh là ngày khai sinh ra một nước, một dân tộc, có thể xem đây là ngày lễ lớn nhất của một quốc gia và là sự kiện trọng đại nhất của đất nước đó.

Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945. (Được quy định tại khoản 4 Điều 13 Hiến pháp 2013).

QUẢN LÝ KỶ LUẬT - NHÂN RỘNG NHỮNG KINH NGHIỆM HAY

  Tuy có nhiều chuyển biến quan trọng nhưng tình hình chấp hành kỷ luật trong Quân đội vẫn luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm. Những năm gần đây, nhiều đơn vị đã có cách làm hay, tạo ra sự chuyển biến từ đơn vị có lúc tình trạng vi phạm kỷ luật được xem là “có vấn đề” thì dần dần những khâu yếu của các đơn vị này đã được giải quyết một cách triệt để. Từ quá trình xây dựng mối đoàn kết, tính kỷ luật ở những đơn vị ấy có thể rút ra nhiều kinh nghiệm.

Một trong những bài học mang lại thành công ở các đơn vị này là tập trung làm chuyển biến nhận thức, trước hết là từ đội ngũ cán bộ các cấp. Mọi chuyến biến đều phải bắt đầu từ nhận thức, từ trách nhiệm gắn với sự tâm huyết của cán bộ. Cán bộ trước tiên phải thể hiện được vai trò đầu tàu gương mẫu để bộ đội học tập. Qua phương pháp xử lý các trường hợp vi phạm của đội ngũ cán bộ ở một số đơn vị thì họ không chỉ thể hiện được vai trò, trách nhiệm của mình mà còn thể hiện đúng cái tâm, cái tầm, tình thương yêu chiến sĩ của người cán bộ. Ngoài mục đích để đơn vị hoàn thành nhiệm vụ thì phương pháp giáo dục, quản lý của đội ngũ cán bộ còn hướng đến tính nhân văn trong ứng xử giữa cấp trên với cấp dưới, giữa đồng chí, đồng đội. Để có được những cán bộ như vậy thì việc xây dựng mô hình điển hình, cá nhân điển hình trong phong trào thi đua là rất quan trọng. Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với tập thể lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đặc biệt đội ngũ chính ủy, chính trị viên phải tích cực tìm tòi, phát hiện những nhân tố tích cực, những cách làm hay có sức thuyết phục, có tầm ảnh hưởng với bộ đội để bồi dưỡng. Đây là một trong những mục tiêu mà nhiều đơn vị đặt ra và thực hiện. Quan điểm và cũng là kinh nghiệm của các đơn vị này là: Không được che giấu khuyết điểm, che giấu vi phạm. Đặc biệt cấp dưới càng không được giấu khuyết điểm, vụ việc vi phạm với cấp trên. Chỉ có báo cáo trung thực mới có hướng chỉ đạo giải quyết đúng. 
Đội ngũ cán bộ quản lý ở các đơn vị này cũng đặt vấn đề phải tranh thủ học tập, trau dồi kiến thức thì mới có thể đáp ứng kịp yêu cầu quản lý, rèn luyện kỷ luật. Hiện nay, trình độ của chiến sĩ ngày càng được nâng lên. Bên cạnh đó, thông tin cũng ngày một phong phú, đa dạng và cập nhật, nếu cán bộ không thường xuyên trau dồi kiến thức sẽ khó có phương pháp giáo dục, quản lý tốt. Phương pháp quản lý hiệu quả chỉ có được khi cán bộ trăn trở, tìm tòi trên cơ sở kiến thức. Tư tưởng ngại học không chỉ còn ở một số ít cán bộ mà các đơn vị trong toàn quân đều có. Tuy nhiên, thực tế nhiều đơn vị cho thấy, các điều kiện cho cán bộ tự học, tự nghiên cứu rất nghèo nàn và gặp nhiều khó khăn. Đôi khi chính những khó khăn ấy là nguyên nhân dẫn đến một số cán bộ có tư tưởng buông xuôi, ngại học hỏi, lười động não và dẫn đến bảo thủ trong công việc. Một thời điểm nào đó, lúc nào đó, nếu cán bộ bằng lòng với chính mình, thỏa mãn với những gì đã có thì chắc chắn sẽ chững lại và tụt hậu. Sự chững lại, tụt hậu của cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì sẽ dẫn đến sự yếu kém của cơ quan, đơn vị.
  Một biện pháp quản lý được một số cán bộ đánh giá rất hữu hiệu và đã được đơn vị thực hiện thành công là kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị, gia đình và địa phương trong giáo dục, quản lý chiến sĩ. Sự kết hợp này trước đây chưa được coi trọng đúng mức nhưng càng ngày nó càng trở nên cấp thiết. Từ thực tế, nhiều cán bộ cho rằng: với sự phát triển nhanh của mạng lưới thông tin hiện nay thì chiến sĩ vừa “sổ mũi, hắt hơi” gia đình, thậm chí địa phương cũng đã biết. Bởi thế, nếu đơn vị không thường xuyên liên lạc với gia đình, địa phương thì nhiều khi sự việc bị xuyên tạc, bóp méo làm sai lệch bản chất và sẽ rất khó giải quyết. Nhiều cán bộ cho rằng, phải sử dụng triệt để mạng thông tin liên lạc, coi đó là kênh kết nối đơn vị - gia đình - địa phương để tạo thành sức mạnh trong quản lý, giáo dục chiến sĩ. 
Việc phối hợp với địa phương nơi đóng quân để quản lý, duy trì kỷ luật cũng được các đơn vị đặc biệt chú trọng. Không chỉ phối hợp trong xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, mà đơn vị còn phân công cụ thể cán bộ tăng cường bám nắm địa bàn, tổ chức trao đổi thông tin hai chiều nhằm giải quyết kịp thời những vướng mắc nảy sinh. Nhờ thực hiện chặt chẽ biện pháp này nên tình hình kỷ luật ở các đơn vị tiến bộ rõ rệt, nhiều năm nay không xảy ra những vi phạm kỷ luật nghiêm trọng. Cán bộ nhiều địa phương cho rằng: Mối quan hệ giữa đơn vị với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương không chỉ thể hiện qua các sự cố thiên tai, dịch bệnh, hay các hoạt động xã hội… mà nhân dân địa phương còn nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc phối hợp với đơn vị để giáo dục, quản lý, duy trì kỷ luật…
 Những biện pháp quản lý, giáo dục kỷ luật ở nhiều đơn vị mà chúng tôi đã tìm hiểu không chỉ mang lại hiệu quả cao mà còn tạo được tính vững chắc. Tuy còn những vấn đề cần bàn thêm nhưng theo chúng tôi những kinh nghiệm xây dựng đoàn kết, quản lý kỷ luật ở những đơn vị này thời gian qua đáng để các cơ quan, đơn vị toàn quân nghiên cứu, trao đổi, học tập./. 

GIÀN KHOAN SAO VÀNG - ĐẠI NGUYỆT, CỘT MỐC THÉP KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN VÙNG BIỂN VIỆT NAM.

Ngày 18 tháng 8 năm 2019, khối chân đế nặng 14000 tấn của Sao Vàng CPP thuộc dự án Sao Vàng-Đại Nguyệt, được hạ đặt thành công trên thềm lục địa Nam Côn Sơn cách bờ biển Vũng Tàu hơn 350km, ngay trên khu vực bãi Tư Chính thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.


Dự án Sao Vàng-Đại Nguyệt gồm khối thượng tầng giàn xử lý trung tâm (topsides) nặng khoảng 14000 tấn và khối chân đế (jacket) và cọc (pilet) nặng khoảng 15000 tấn.

Quá trình lắp đặt, Trung Quốc đã huy động rất nhiều tàu hải cảnh và các tàu "dân binh" vờn quanh xâm nhập khu vực hạ đặt chân đế. Tuy nhiên khi chân đế được phóng xuống biển, tàu hải cảnh Trung Quốc chỉ có thể dừng cách đó 3 hải lý và chạy quanh thị uy.

Việc hạ đặt thành công chân đế giàn khoan này thể hiện ý chí của Việt Nam không thể lùi bước thêm nữa trước sự ngang ngược của Trung Quốc.

Vậy là một cột mốc khổng lồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện trên biển. Một việc làm quyết liệt cho thấy trên vùng biển của Việt Nam, Việt Nam hoàn toàn có thể làm bất cứ điều gì mà mình muốn, nếu Việt Nam cứng rắn và quyết liệt, Trung Quốc cũng không thể làm gì.

Không chỉ Trung Quốc, dự án còn là lời cảnh cáo cho các nước Đông Nam Á khác về việc nhòm ngó đến vùng biển của Việt Nam chúng ta.

Đến nay, dự án đã đi vào hoạt động, đưa vào đất liền dòng khí đầu tiên vào năm 2020 và chính phủ ra quyết định mở cảng dầu khí Sao Vàng- Đại Nguyệt từ năm 2021./

“4 TRÁNH" - "4 KHÔNG”- “9K” VÀ "4 GIỮ VỮNG" KHI GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO

 

🇻🇳 “4 TRÁNH": 
1. Tránh xung đột về quân sự.
2. Tránh bị cô lập về kinh tế.
3. Tránh bị cô lập về ngoại giao.
4. Tránh bị lệ thuộc về chính trị.

🇻🇳 “4 KHÔNG”: 
1. Việt Nam chủ trương không tham gia bất cứ liên minh quân sự.
2. Không liên kết với nước này để chống nước kia.
3. Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác.
4. Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

🇻🇳 "9K" là: 
1. Kiên quyết.
2. Kiên trì.
3. Khôn khéo.
4. Không khiêu khích.
5. Kiềm chế.
6. Không nổ súng trước.
7. Không mắc mưu khiêu khích.
8. Không để nước ngoài lấn chiếm biển đảo
9. Không để xảy ra xung đột.

🇻🇳 "4 GIỮ VỮNG" là:
1. Giữ vững chủ quyền quốc gia.
2. Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển.
3. Giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt - Trung.
4. Giữ vững ổn định chính trị trong nước.

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng internet và mạng xã hội, thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức phản động đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Description: Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn 

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc.

Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.