Thứ Tư, 4 tháng 10, 2023

ĐƯA RA KHỎI ĐẢNG NHỮNG ĐẢNG VIÊN “HỮU DANH VÔ THỰC”


Làm trong sạch nội bộ Đảng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm, chú trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tiến hành đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa, biến chất đang được Đảng ta đẩy mạnh, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu” (1).
Làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh
Việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, đưa những người không còn đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng và góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Theo V.I.Lênin, đưa những người không còn đủ tiêu chuẩn ra khỏi đảng là tất yếu khách quan, bởi khi đảng giành được chính quyền, trở thành đảng cầm quyền thì nhiệm vụ chính trị của đảng đã có sự phát triển, đòi hỏi phải tăng cường công tác xây dựng Đảng nhằm đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới: “Ngày nay... mặt trận quân sự đã nhường chỗ cho mặt trận kinh tế, vì chúng ta đã chuyển sang chính sách kinh tế mới... Để thực hiện việc cải thiện đó, chúng ta phải gạt bỏ ra khỏi đảng những phần tử xa rời quần chúng (cố nhiên không cần nói đến những phần tử làm ô danh đảng trước quần chúng)” (2). Mặt khác, do vị trí của đảng cầm quyền đã làm cho một số kẻ cơ hội, vì sự hấp dẫn của đảng, tìm mọi cách luồn lách, chui vào đảng, dẫn đến tình trạng bè cánh, phe nhóm trong đảng. Bên cạnh đó, một số người cộng sản khi có chức quyền đã tha hóa, biến chất, mắc bệnh kiêu căng, quan liêu, tham nhũng và ăn hối lộ. Do đó, V.I.Lênin cho rằng: “Những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không, chúng ta không cần. Đảng độc nhất nắm chính quyền trên thế giới quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào đảng” ra khỏi hàng ngũ mình, chứ không phải quan tâm là làm tăng thêm số lượng đảng viên” (3).
Hiện nay, Đảng ta đang đẩy mạnh việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, thậm chí là những đảng viên được đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển, tương lai rộng mở nhưng lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “gục ngã” trước những cám dỗ vật chất tầm thường. Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm như vừa qua, từ vụ án công ty Việt Á, vụ Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), vụ liên quan đến Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát đến vụ công ty AIC, dự án đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đây là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm”(4). Những sai phạm của cán bộ, đảng viên không thể để tiếp diễn, kéo dài, phải kiên quyết xử lý, kịp thời, nghiêm minh và công khai, làm nghiêm từ trên xuống dưới, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.
Để Đảng trong sạch cần phải làm gì?
Tiến hành xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện cao độ tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng ta hiện nay. Đây cũng là cơ sở quan trọng để đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật là “thanh trừng, đấu đá nội bộ”. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đặt ra nhiều vấn đề đối với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của Đảng ta hiện nay nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ:
Nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21-1-2019 của Ban Bí thư về “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”. Chú trọng công tác xây dựng kế hoạch tạo nguồn kết nạp đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng cần tiến hành chặt chẽ, cẩn trọng việc thẩm tra lý lịch và lấy ý kiến nhận xét của tổ chức chính trị-xã hội đối với người được xem xét kết nạp vào Đảng. Chú trọng việc kết nạp đảng viên ở cơ sở trọng điểm còn ít đảng viên hoặc chưa có đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa kết nạp đảng viên với giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và sàng lọc đảng viên. Đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng. Kiên quyết chấn chỉnh những biểu hiện sai trái trong công tác kết nạp đảng viên, khắc phục triệt để tình trạng chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng.
Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Đa dạng hóa các nội dung giáo dục, rèn luyện đảng viên, trong đó tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng; chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn; các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị, học tập nghị quyết; chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường công tác quản lý đảng viên toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; các quan hệ xã hội; về việc lập và sử dụng các trang thông tin trên internet, mạng xã hội; quản lý chặt chẽ đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 2-1-2020 của Bộ Chính trị về “Trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú”. Quan tâm, tạo điều kiện và phát huy tính tích cực, tự giác của đội ngũ đảng viên trong tự học, tự rèn luyện, tự quản lý.
Đề cao tính đấu tranh tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Thường xuyên giáo dục cho đội ngũ đảng viên nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, mục đích của tự phê bình và phê bình; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Thường xuyên đổi mới nội dung, cách thức tiến hành tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình cần có động cơ trong sáng, thái độ chân thành, không nể nang, né tránh, bao che khuyết điểm; không lợi dụng tự phê bình và phê bình để nói xấu, gây mất đoàn kết, hạ uy tín của các cá nhân, tổ chức. Mặt khác, cần có biện pháp bảo vệ người phê bình đã dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời cần có quy định cụ thể đối với cá nhân, tổ chức có khuyết điểm, bị phê bình phải kiên quyết sửa chữa, khắc phục khuyết điểm không để kéo dài; các cá nhân, tổ chức khi được phê bình cần tôn trọng và tiếp thu những đóng góp để đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa cho phù hợp. Kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong Đảng với phê bình của quần chúng. Nêu cao vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, thực hiện “trên trước, dưới sau”, làm “từ trong ra, từ ngoài vào”. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện có thái độ thành kiến, trù dập người phê bình khuyết điểm; thiếu trách nhiệm cả trong phê bình và tự phê bình; chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cục bộ bè phái, mất đoàn kết trong thực hiện tự phê bình và phê bình.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, thực hiện tốt Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đối với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; chủ động nắm chắc tình hình tổ chức đảng, đảng viên, nâng cao năng lực dự báo các tình huống, các vấn đề phức tạp, nổi cộm có thể nảy sinh trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Thực hiện chặt chẽ nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tăng cường công tác giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề, kiểm tra đảng đột xuất đối với các tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm để ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm. Kịp thời củng cố, kiện toàn, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có đủ phẩm chất, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và có dũng khí đấu tranh trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các đơn, thư tố cáo, khiếu nại theo đúng quy định; không để xảy ra tình trạng đơn, thư kéo dài hoặc lợi dụng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng để gây mất đoàn kết, chia rẽ trong các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên.
Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về nhiệm vụ “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Tập trung xây dựng đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sạch, lành mạnh; luôn năng động, sáng tạo, đi đầu trong các hoạt động, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; đồng thời luôn vững vàng trước những cám dỗ của lợi ích vật chất. Triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt”. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Tiếp tục cụ thể hóa nội dung đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường công tác tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt trong công tác xây dựng Đảng. Bên cạnh đó, cần kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; hoặc lợi dụng công tác xây dựng Đảng để đưa ra khỏi Đảng những người không cùng phe cánh, những người mình không ưa thích, hoặc dám đấu tranh phê bình mình.
----------------------
(1), (4) Nguyễn Phú Trọng (2023), “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.14, 28.
(2) V.I.Lênin (1921), “Vấn đề thanh Đảng”, Lênin toàn tập, tập 44, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.151-153.
(3) V.I.Lênin (1919), “Nhà nước của công nhân và tuần lễ Đảng”, Lênin toàn tập, tập 39, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.255.
Tất cả cảm xúc:
2

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THI ĐUA ÁI QUỐC - TƯ TƯỞNG XUYÊN SUỐT SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA!

     Cách đây 75 năm, trong bối cảnh đất nước chồng chất khó khăn, cùng lúc nhân dân ta phải đương đầu với “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm, thực hiện hai nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc. Đây là cống hiến to lớn thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Người và trở thành văn kiện quan trọng của Đảng về tư tưởng Thi đua yêu nước, tạo động lực mạnh mẽ để đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi. 

Thực tiễn 75 năm qua khẳng định, tư tưởng về Thi đua yêu nước thực sự là kim chỉ nam cho hành động xuyên suốt sự nghiệp cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó không chỉ thể hiện thông qua việc mỗi con người, mỗi tổ chức ra sức thi đua để kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược và hậu phương thi đua với tiền phương để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà còn là nền tảng vững chắc cho các phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Và thực tiễn cũng cho thấy, tư tưởng đó đã trở thành quan điểm, mục tiêu, phương châm của phong trào Thi đua yêu nước toàn dân tộc; nhen lửa cho đời sống mới, văn hóa mới cùng sức sáng tạo trên tất cả các lĩnh vực của nhân dân ta trong tiến trình vận động liên tục của cách mạng Việt Nam. 

Nhân dân ta vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn; trí thông minh, sáng tạo; tinh thần bất khuất, ý chí vượt khó vươn lên,... và đó chính là sức mạnh nội sinh của dân tộc. Nhưng điều quan trọng ở chỗ làm thế nào để khơi dậy, khai thác, phát huy được nó, biến sức mạnh nội sinh đó từ tự phát trở thành tự giác trong mỗi con người, mỗi tổ chức thông qua phong trào thi đua, hoạt động thi đua thì mới thực sự có ý nghĩa, nếu không nó mãi chỉ là ký ức lịch sử. Giá trị cốt lõi trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là ở đó. Nó hàm chứa sâu sắc tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân dân, tư tưởng đoàn kết - dân chủ - sáng tạo, niềm tin mãnh liệt của Người vào vai trò và sức mạnh của nhân dân cũng như niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì thế, tư tưởng về Thi đua ái quốc của Người luôn là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách về công tác thi đua, khen thưởng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. 

Từ tư tưởng Thi đua ái quốc của Người và cùng với phong trào thi đua của cả nước, phong trào Thi đua Quyết thắng trong Quân đội đã thực sự trở thành động lực cách mạng to lớn, góp phần làm nên những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với tinh thần “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”1, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ và công nhân, viên chức quốc phòng toàn quân đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, thử thách, hy sinh; khơi dậy ý thức tự lực, tự cường, tinh thần quật khởi trong các phong trào thi đua: “Luyện quân lập công”, “Cơm no, súng tốt, đánh thắng”, “Tìm ngụy mà đánh, tìm Mỹ mà diệt”, “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Luyện giỏi, rèn nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao”, “Một tập trung, ba khâu đột phá”, “Giành ba đỉnh cao quyết thắng”,... đã lập nên những kỳ tích của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. 

Những năm gần đây, phong trào Thi đua Quyết thắng được thực hiện gắn chặt với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cùng các nghị quyết, chỉ thị, cuộc vận động của toàn quân, nhất là Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới,... nên sức sống, sự lan tỏa và hiệu ứng của phong trào càng sâu rộng cả trong và ngoài Quân đội. Đặc biệt vừa qua, trước sự xâm nhập, lây lan và tàn phá của đại dịch Covid-19, đe dọa sức khỏe, tính mạng của nhân dân, phong trào Thi đua Quyết thắng của Bộ đội Cụ Hồ tiếp tục được phát huy, tạo sức mạnh to lớn, xung kích, đi đầu cùng cấp ủy, chính quyền và toàn dân đẩy lùi dịch bệnh, đưa đất nước trở về trạng thái bình thường mới. Điều đó cho thấy, phong trào Thi đua Quyết thắng không chỉ thấm nhuần tư tưởng Thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà đã ăn sâu, lan rộng và trực tiếp góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, tạo cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân tin cậy, giao phó. 

Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là động lực động viên sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, hiện thực hóa một bước của mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để đẩy mạnh Thi đua yêu nước theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao vai trò, trách nhiệm đối với công tác thi đua, khen thưởng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn trau dồi, thấm nhuần tư tưởng Thi đua ái quốc của Người, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, nêu cao hoài bão, khát vọng cống hiến, làm cho phong trào thi đua trở thành cuộc vận động cách mạng sâu rộng trong toàn xã hội. Cùng với đó, phải thường xuyên, bền bỉ, không mệt mỏi trong giáo dục, tuyên truyền, vận động Thi đua ái quốc; đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức phong trào; đồng thời, hết sức coi trọng phát hiện, xây dựng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến, tạo hiệu ứng và sức lan tỏa sâu rộng,... nhằm giành những đỉnh cao mới trên tất cả các lĩnh vực, mặt công tác. 

Đối với phong trào Thi đua Quyết thắng trong Quân đội cần được triển khai đồng bộ, toàn diện trên các mặt công tác; trong đó, tập trung hướng vào thực hiện các khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã đề ra, trọng tâm là thực hiện việc điều chỉnh tổ chức Quân đội theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII) và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương; gắn với thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tạo chuyển biến mạnh mẽ xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. 

Bảy mươi lăm năm đã trôi qua, nhưng tư tưởng Thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị và luôn là định hướng hành động cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vững bước tiến lên. Tư tưởng đó của Người mãi thắp sáng ngọn lửa niềm tin, soi đường và khơi dậy Thi đua yêu nước để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời kỳ mới./.
Yêu nước ST.

BẠN CẦN BIẾT: TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ!

     Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là đoàn kết trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và đoàn kết trong các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đoàn kết quốc tế là nhân tố bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội cũng như thắng lợi của công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế chứa đựng nhiều nội dung phong phú, rộng lớn; được thể hiện một cách rõ ràng, nhất quán, kiên định qua nhận thức, quan điểm và hành động của Người. Đáng chú ý một số điểm như sau:

Thứ nhất, đoàn kết quốc tế là một đòi hỏi khách quan, một vấn đề có tính nguyên tắc, là chiến lược xuyên suốt, nhất quán và có vai trò, vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam.

Tiếp bước con đường đi ra thế giới của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh; rút kinh nghiệm từ thất bại của những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược đầu thế kỷ XX; nhờ những trải nghiệm trong thời gian sinh sống, lao động ở nước ngoài; qua hoạt động với tư cách đảng viên Đảng Xã hội Pháp, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, và nhất là nhận được nguồn cổ vũ lớn từ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh là người đầu tiên và duy nhất xác định rõ ràng nền tảng, nhân tố quan trọng cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là đoàn kết, hội nhập với thế giới.

Trong quan điểm của Người, thân phận bất hạnh của đa số “người bị bóc lột”, người lao động nghèo ở các nước là cơ sở chính hình thành nên “tình hữu ái”, sự đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới; đoàn kết quốc tế là yếu tố quan trọng làm nên sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc nói chung và cách mạng ở Việt Nam nói riêng.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm rõ ràng về mục tiêu của đoàn kết quốc tế. Đó là, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước và kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp, vì quốc gia, dân tộc và vì nền hòa bình của khu vực và trên thế giới. Với Hồ Chí Minh, “sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới… Sự đoàn kết quốc tế có một ý nghĩa to lớn với chúng tôi”.

Thứ ba, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế, để thực sự tạo nên sức mạnh, phải được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản: 1) không phân biệt, bình đẳng, cùng có lợi; 2) tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; 3) phải phát huy tinh thần “tự lực cánh sinh”, dựa vào sức của mình là chính; 4) có lý, có tình. Trong Lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Chính phủ các nước trên thế giới ngày 14-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”. Người khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”. Đây là thông điệp về hòa bình, hợp tác, hữu nghị, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhau của nhân dân Việt Nam với thế giới. Đây cũng là tư duy, tầm nhìn vượt thời đại của Hồ Chí Minh.

Thứ tư, đoàn kết quốc tế, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề tập hợp lực lượng là rất quan trọng. Lực lượng đoàn kết quốc tế, theo tư tưởng của Người, rất phong phú song tập trung chủ yếu vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Hồ Chủ tịch đã thành công khi gắn cuộc đấu tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp và tranh thủ được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đồng thời, trong việc mở rộng lực lượng đoàn kết quốc tế, Người còn xác định rõ vai trò quan trọng của các quốc gia láng giềng, các nước lớn.

Có thể khẳng định, tư tưởng về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những định hướng, nền tảng, cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoạch định và thực thi đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam, là ánh sáng soi đường của đối ngoại Việt Nam./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC VỚI HÌNH THỨC MỚI TRONG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUÂN CÔNG

 

Pháp luân công (PLC) còn có tên gọi khác là Pháp luân đại pháp do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc) lập ra năm 1992. PLC không phải tôn giáo, không có giáo lý, giáo luật, cấu trúc tổ chức, nhà cầu nguyện…


Thời gian qua, bên cạnh việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, lôi kéo người tham gia PLC như trực tiếp tán phát tờ rơi, tặng đĩa CD, sách, quà tặng qua bưu điện... thì hiện nay các đối tượng PLC còn sử dụng hình thức mới là gửi kèm "quà tặng" (đồ vật liên quan đến PLC) cho khách đặt mua hàng online. Với hình thức trên, sau khi chốt đơn hàng các đối tượng sẽ nhắn tin đường link về PLC và gửi "quà tặng" kèm theo hàng hóa được đặt mua, gồm một số đồ vật như: Chuỗi nhựa hình bông sen (dạng móc khóa) có gắn miếng nhựa mika có ghi chữ: “PHÁP LUÂN ĐẠI PHÁP HẢO”, dòng chữ tượng hình, đường link, tài liệu tuyên truyền về PLC.


Khuyến cáo người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ bản chất của PLC, kịp thời phát hiện, trình báo với lực lượng Công an khi phát hiện người có hành vi truyền bá PLC trên địa bàn.

KỶ NIỆM 10 NĂM NGÀY ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP QUA ĐỜI (04/10/2013-04/10/2023)!

         Ngày này 10 năm trước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, hưởng thọ 103 tuổi. Ngày tiễn đưa Đại tướng, người dân cả nước khóc nghẹn tiễn đưa Đại tướng về đất Mẹ. 

Suốt 10 năm qua, những bài báo tỏ bày tình cảm kính yêu và tiếc thương vô vàn của người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế dành cho Đại tướng vẫn tiếp nối.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng liên tục trên 80 năm, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Là người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Đại tướng đầu tiên và Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí được nhân dân yêu mến, kính trọng, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Tên tuổi và sự nghiệp của ông đã không chỉ được khắc ghi trong lịch sử dân tộc mà còn lừng danh thế giới và luôn ngời sáng mãi trong lòng dân…
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG!

     Ngày 02/10, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng!

"Kính thưa Trung ương;
Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,
Trong không khí hân hoan, phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân ta trước những kết quả, thành tích về các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng - an ninh; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; đặc biệt là về một loạt những hoạt động đối ngoại quan trọng, sôi động, được dư luận trong nước và quốc tế rất quan tâm, hôm nay Ban Chấp hành Trung ương khai mạc Hội nghị toàn thể lần thứ tám của khóa XIII với nhiều nội dung rất cơ bản và quan trọng.

Cụ thể là Trung ương sẽ bàn và cho ý kiến kết luận về các vấn đề sau: (1) Tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024; Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2024 - 2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới. (2) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020. (3) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. (4) Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. (5) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. (6) Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; và một số vấn đề quan trọng khác.

Trước hết, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các đại biểu tham dự Hội nghị và xin gửi tới các đồng chí lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,
Theo Quy chế làm việc, Văn phòng Trung ương Đảng đã gửi tài liệu để các đồng chí nghiên cứu trước. Sau đây, tôi xin phát biểu một số ý kiến, có tính chất gợi mở, nêu vấn đề mong được các đồng chí quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, xem xét, quyết định.

1. Về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024
Việc Trung ương xem xét, cho ý kiến về các vấn đề kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023 - 2024 được đặt trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ, khó khăn, thách thức nhiều hơn, lớn hơn so với thời cơ, thuận lợi và so với dự báo, đã ảnh hưởng tiêu cực, rất nặng nề đối với việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.

Trong khi ở trong nước, chúng ta vẫn phải tiếp tục đối mặt với "tác động kép" từ các yếu tố tiêu cực bên ngoài đối với nền kinh tế có độ mở cao như nước ta, và những tồn tại, hạn chế, yếu kém nội tại, kéo dài từ lâu của nền kinh tế tiếp tục bộc lộ rõ và gay gắt hơn trong quá trình khắc phục hậu quả của đại dịch COVID-19.

Đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu thật kỹ Tờ trình và các Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, tập trung thảo luận, phân tích sâu những đặc điểm nổi bật của năm 2023, làm rõ những kết quả đã đạt được; những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, những khó khăn, vướng mắc phải giải quyết, những thách thức phải tiếp tục vượt qua; chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm; dự báo những khả năng, những tình huống sắp tới, trước hết là từ nay đến cuối năm 2023 và năm 2024 với tinh thần thật sự khách quan, toàn diện.

Chú ý đến những khó khăn, hạn chế đã và sẽ phải đối mặt như: Kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc do phải chịu nhiều áp lực từ thị trường nước ngoài; thị trường tài chính - tiền tệ, bất động sản, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp còn khó khăn và tiềm ẩn rủi ro; hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động trong nhiều lĩnh vực gặp khó khăn; sức chống chịu của doanh nghiệp bị bào mòn sau đại dịch COVID-19; một số cơ chế, chính sách, quy định của pháp luật chậm được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hoặc chưa được thực hiện nghiêm minh; một bộ phận cán bộ sợ trách nhiệm, sợ sai, đùn đẩy, né tránh giải quyết công việc thuộc thẩm quyền; tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp...

Từ đó, xác định rõ ràng, đúng đắn những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của những tháng còn lại của năm 2023 và cho năm 2024; trong đó có sự cần thiết, đúng đắn của việc thực hiện chế độ tiền lương mới từ ngày 01/7/2024.

2. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội
Trong 10 năm qua, đất nước ta đã phát triển, đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, thể hiện ngày càng rõ tính ưu việt của Chế độ ta: Kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển ổn định và hài hòa hơn; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trên mọi miền đất nước được nâng lên; Việt Nam là một quốc gia đi đầu trong việc giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc.

Các chính sách xã hội không ngừng được hoàn thiện, từng bước nâng cao chất lượng, mức hỗ trợ và mở rộng diện bao phủ theo hướng công bằng, tiến bộ, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, cơ bản bảo đảm an sinh của người dân theo quy định của Hiến pháp.

Thực hiện tốt chính sách ưu đãi và tôn vinh đối với người có công. Thể chế thị trường lao động từng bước được hoàn thiện; việc làm cho người lao động cơ bản được bảo đảm. Hệ thống y tế, giáo dục, an sinh và trợ giúp xã hội tiếp tục được kiện toàn và mở rộng.

Quy mô, năng lực, chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu được nâng lên; công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện. Nguồn lực thực hiện chính sách xã hội được Nhà nước ưu tiên đầu tư, gắn với đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút sự tham gia của toàn xã hội...

Tuy nhiên, chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội vẫn còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém, và nhìn chung chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.

Để thực hiện được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ do Đại hội XIII của Đảng đề ra, chúng ta cần tập trung thảo luận làm rõ, tạo sự thống nhất cao về nhận định, đánh giá tình hình, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Nghị quyết mới của Trung ương về vấn đề đặc biệt quan trọng này.

Từ đó, phân tích, dự báo một cách có cơ sở khoa học về bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới; xác định rõ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách xã hội đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân trong thời kỳ mới.

3. Về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Báo cáo tổng kết, Tờ trình và dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương đã được chuẩn bị công phu, nghiêm túc trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp các báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, kết quả khảo sát, hội thảo, lấy ý kiến của các địa phương, cơ quan, đơn vị, các chuyên gia, nhà khoa học, và tiếp thu ý kiến chỉ đạo trực tiếp của tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư để hoàn thiện.

Trong đó, đã phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu đã đạt được, những hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; đồng thời phân tích, dự báo bối cảnh tình hình mới; từ đó đề xuất quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, yêu cầu và chủ trương chính sách cần phải triển khai thực hiện trong thời kỳ mới theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Đề nghị các đồng chí Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị nghiên cứu thật kỹ, phát biểu, thảo luận thật sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, sát hợp với tình hình.

Chú ý phân tích, làm rõ, tạo sự thống nhất cao về bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới, sự phát triển và thay đổi về nhu cầu, lợi ích của các giai tầng xã hội hiện nay; những kết quả, thành tựu chủ yếu cần tiếp tục được phát huy; những hạn chế, khuyết điểm cần sớm được khắc phục, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm được rút ra, và chủ trương, chính sách tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ đó, cho ý kiến về sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Nghị quyết mới và những nội dung chủ yếu của dự thảo Nghị quyết về "Tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Bối cảnh tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải quan tâm xây dựng, phát triển và phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, vị trí và sự đóng góp của đội ngũ trí thức nước nhà - Nguyên khí của quốc gia.

4. Về xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới
Như chúng ta đều biết, trong mọi thời đại và ở bất cứ quốc gia nào, đội ngũ trí thức luôn luôn là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc.

Thế giới ngày nay đã, đang và sẽ đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới đan xen đối với sự phát triển nhanh và bền vững dưới tác động của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trí tuệ nhân tạo và một số thành tựu công nghệ mới có khả năng thay thế con người trên một số lĩnh vực, tạo ra khối lượng thông tin, tri thức khổng lồ và những hiệu ứng làm thay đổi cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, con người và lối sống.

Bối cảnh tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải quan tâm xây dựng, phát triển và phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, vị trí và sự đóng góp của đội ngũ trí thức nước nhà - Nguyên khí của quốc gia, đáp ứng yêu cầu chủ động, tích cực tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đề nghị Trung ương nghiên cứu thật kỹ các tài liệu, tập trung thảo luận, cho ý kiến đánh giá khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức, chỉ ra những kết quả chủ yếu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; phân tích, dự báo bối cảnh tình hình mới; từ đó đề ra quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đội ngũ trí thức; chú ý kế thừa những nội dung còn nguyên giá trị của Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, và bổ sung, phát triển những nội dung mới, phù hợp với thời kỳ mới.

5. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Cách đây 10 năm, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với sự đổi mới tư duy mạnh mẽ và có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp mang tính đột phá, khả thi cao.

Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết quan trọng này là việc làm hết sức cần thiết để Trung ương phân tích, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống tình hình và đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực đã và đang có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường.

Đề nghị các đồng chí tập trung phân tích, đánh giá thật khách quan, toàn diện những kết quả đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và phân tích nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu. Chỉ rõ những mục tiêu, quan điểm, phương châm, tư tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp nào đã được thực tế kiểm nghiệm là đúng đắn, cần tiếp tục kiên trì, nghiêm túc thực hiện.

Đồng thời, cần phân tích thật thấu đáo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, thấy rõ những biến đổi sâu sắc, diễn biến phức tạp, khó lường và dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới để kịp thời bổ sung, phát triển một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và điều chỉnh một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho phù hợp với tình hình mới.

Tập trung làm rõ những thuận lợi, cơ hội cần nắm bắt, những khó khăn, thách thức phải vượt qua để chủ động từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống đều bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, cho ý kiến góp ý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tổng Bí thư đề nghị Trung ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự khách quan, công tâm, thể hiện chính kiến của mình đối với Tờ trình và dự kiến Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

6. Về quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV
Như chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"; và thực hiện lời dạy của Bác, Đảng ta lâu nay luôn luôn xác định: Cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.

Và trong công tác cán bộ thì việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là cơ sở để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ.

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt đó của công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, ngày 07/7/2023 vừa qua, căn cứ vào quy chế làm việc và Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27/12/2021 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 17-KH/TW về xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó xác định rõ các quan điểm, nguyên tắc; mục đích yêu cầu; tiêu chuẩn; số lượng và cơ cấu; đối tượng và độ tuổi; quy trình giới thiệu, phê duyệt quy hoạch và hồ sơ nhân sự; số lượng phát hiện, giới thiệu đưa vào quy hoạch...

Thời gian qua, trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của các cấp uỷ, tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị, Ban Chỉ đạo xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã khẩn trương, nghiêm túc phối hợp với các cơ quan chức năng ở Trung ương rà soát, thẩm định, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, cho định hướng hoàn thiện thêm một bước dự kiến quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV để trình Trung ương xem xét, cho ý kiến tại Hội nghị lần này.

Đề nghị các đồng chí phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự khách quan, công tâm, thể hiện chính kiến của mình đối với Tờ trình và dự kiến Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Thưa các đồng chí,
Hội nghị Trung ương lần này xem xét, quyết định nhiều vấn đề trọng đại, phức tạp, nhạy cảm, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII từ nay đến hết nhiệm kỳ. Đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy trí tuệ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn"./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "7 DÁM" CHÍNH LÀ QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ!

     Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã có chỉ đạo rất sâu sắc về công tác cán bộ: “...Chúng ta phải chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội theo tinh thần “7 dám”: “Dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”.
Tôi thấy, đây chính là quan điểm, phương châm, mục tiêu, tiêu chuẩn đối với công tác cán bộ nói chung, cán bộ Quân đội nói riêng xuyên suốt quy trình tuyển chọn, đào tạo, rèn luyện, thử thách, bố trí, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ hiện nay và trong tương lai. Đây cũng là một cách cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ: “Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất cần thiết và rất quan trọng”. Công tác cán bộ phải có vai trò quyết định trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”... Tuy nhiên, theo tôi cần phải làm rõ và cụ thể hóa tinh thần “7 dám” cụ thể như sau:
"Dám nghĩ” phải thể hiện được cái tâm, cái tầm, cái trí của cán bộ. Nghĩ vì lợi ích chung của tập thể, của xã hội; suy nghĩ tích cực để có sáng kiến mới, hiệu quả chứ không phải “dám nghĩ" để đạt được lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tùy cấp thì “dám nghĩ” đến chiến lược, sách lược mang tính định hướng dài hạn của một cơ quan, đơn vị, của địa phương, ngành... Cán bộ cấp thừa hành thì “dám nghĩ” đến sáng kiến đề xuất biện pháp, cách thức tổ chức thực hiện hiệu quả nhất.

“Dám nói” thể hiện được cái dũng của cán bộ, trên cơ sở những điều “dám nghĩ” tích cực. Tuy nhiên, “dám nói” nghĩa là phải nói đúng nơi, đúng lúc, đúng thời điểm, đúng người cần nghe, nói trên tinh thần xây dựng, nói để phản biện xã hội để đạt được cái thống nhất chứ không phải đụng đâu nói đó, nói một cách tùy tiện, nói để thỏa mãn cái tôi.

“Dám làm” là thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cán bộ, đó cũng là thước đo bản lĩnh, năng lực triển khai thực hành nhiệm vụ được giao của cán bộ. Đối với cán bộ lãnh đạo thì “dám làm” là năng lực xây dựng kế hoạch, chương trình hành động với các biện pháp tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, chính xác, phát huy được sức mạnh tập thể.
Đối với cán bộ thừa hành “Dám làm” là khả năng vận dụng linh hoạt cơ sở vật chất, tinh thần để thực hiện ý định của cấp trên một cách nhanh chóng, hiệu quả trên tinh thần phát huy năng lực cá nhân cũng như khả năng phối hợp nhóm, mưu trí sáng tạo, chủ động, linh hoạt trong quá thực hiện nhiệm vụ được giao, nâng cao khả năng hoàn thành nhiệm vụ, biến lý luận thành hiện thực cách mạng. 

“Dám làm” còn phải được hiểu là phải làm đúng, làm đủ và hoàn thành nhiệm vụ được giao trên cơ sở khoa học, có sự tư duy tích cực, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ... khác với dám làm liều, làm ẩu, làm cho qua việc, làm đối phó với cấp trên, làm chỉ vì lợi ích nhóm, lợi cá nhân.

"Dám chịu trách nhiệm” chính là bản lĩnh chính trị của cán bộ, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. “Dám chịu trách nhiệm” còn là sự thể hiện năng lực dám tiếp nhận phê bình, đóng góp từ tập thể, kể cả từ cấp dưới để điều chỉnh, bổ sung biện pháp chỉ huy điều hành phù hợp với thực tế và chịu trách nhiệm đến cùng với quyết định của mình.
Trong tình hình hiện nay, “Dám chịu trách nhiệm” còn là năng lực “dám từ chối”, “dám nói không” với tiêu cực.

“Dám đổi mới, sáng tạo” là sự đánh giá năng lực tổng hợp nền tảng tri thức khoa học với bản lĩnh chính trị tư tưởng của cán bộ. Đổi mới và sáng tạo là xu thế tất yếu khách quan của sự phát triển. Cán bộ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững chắc, nắm chắc xu thế phát triển sẽ mạnh dạn dám đổi mới, sáng tạo.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ: “Cán bộ phải vừa hồng vừa chuyên”. Đổi mới, sáng tạo trên cơ sở định hướng xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. “Dám đổi mới, sáng tạo” còn có thể hiểu là dám đổi mới về cách nghĩ, cách làm, dám thay đổi tư duy bảo thủ, tiêu cực; dám sáng tạo là cách thức vận dụng tri thức mới ứng dụng vào quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác.

“Dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”: Quá trình đổi mới, thực hiện nhiệm vụ hiện nay, việc gặp phải những khó khăn, thử thách là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, yêu cầu cán bộ phải “Dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung” là thước đo thực sự đối với bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo đối với cán bộ các cấp, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo điều hành. Thực sự chỉ những cán bộ qua rèn luyện, thử thách mới có thể đánh giá được. Đó là sự tổng hợp những cái “Dám” đã nêu ở trên.
Chính vì vậy, công tác cán bộ phải được quan tâm ngay từ khi tuyển dụng, tạo điều kiện để thử thách rèn luyện, trải qua quá trình “lửa thử vàng, gian nan thử sức” để tuyển chọn cán bộ vừa hồng vừa chuyên. Tránh trường hợp quy hoạch, phát triển thần tốc diện cán bộ “5C” như ở một số địa phương vừa qua./.


Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC, CHỦ ĐỘNG PHÁT HIỆN, NGĂN CHẶN, ĐẤU TRANH VỚI CÁC “HỘI NHÓM YÊU ĐỒ LÍNH VNCH"!

     Hiện nay, trên mạng xã hội xuất hiện một số hội nhóm thường xuyên đăng tải hình ảnh trang phục lính Việt Nam cộng hòa.
Các thành viên nhóm tự hào khi sở hữu những món đồ “độc”, “lạ” là những món đồ lính Mỹ, ngụy đã qua sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Xuất xứ, lai lịch của món đồ, chủ nhân cũ của món đồ càng “oanh liệt” có nhiều thành tích chống Cộng, gi.ết hại dân lành… thì lại càng có giá trị sưu tập.
Mượn danh “hội yêu đồ lính”, các thành viên ngông nghênh đi khắp nơi, ngang nhiên đưa lên mạng xã hội hình ảnh của mình trong các sắc phục lính từ mũ nồi đỏ, mũ nồi xanh, đến biệt động, thủy quân lục chiến… Hoặc lôi nhau vào rừng dựng cảnh vác súng, đánh trận, bị thương… rồi cắt ghép minh họa cho các bài hát ca ngợi “quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Đây là một trong những hoạt động cổ súy, kích động hận thù, gợi lại nỗi đau chiến tranh.
Việc diễn “thời trang lính Việt Nam Cộng hòa” lại ẩn chứa nhiều âm mưu thâm hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, việc trên đây giúp cho các đối tượng phản động phổ biến hình ảnh mặc đồ lính Việt Nam Cộng hòa và đăng tải trên mạng xã hội, người dân yêu màu áo lính nhưng thiếu hiểu biết lịch sử, biến đây thành một trào lưu cho một bộ phận mù quáng thiếu hiểu biết. Sau khi đã khơi gợi sự đam mê và cuốn theo trào lưu này, không ít người từ đam mê quần áo lính sẽ có cái nhìn thiện cảm về lính Việt Nam Cộng hòa, xóa nhòa ranh giới của một đội quân đã một thời chống lại Tổ quốc mình.
Vì vậy, mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận diện, phát hiện và cùng ngăn chặn, đấu tranh với những hoạt động, hành vi phản cảm, gây bức xúc dư luận xã hội, phẫn nộ nêu trên./.


Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: VỤ VIỆT Á "CỰU BỘ TRƯỞNG Y TẾ NGUYỄN THANH LONG BỊ TRUY TỐ NHẬN 2,25 TRIỆU USD"!

         Ngày 30/9, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành cáo trạng truy tố 38 bị can trong vụ Công ty Việt Á nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19.

Trong đó có nhiều bị can giữ chức vụ cao như: hai cựu Ủy viên Trung ương, cựu Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh; cựu Ủy viên Trung ương, cựu Bí thư tỉnh Hải Dương Phạm Xuân Thăng; ông Nguyễn Văn Trịnh, trợ lý Phó Thủ tướng; ông Phạm Công Tạc, cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ...

Ngoài ông Nguyễn Thanh Long, có 5 người khác bị cáo buộc nhận hối lộ gồm: Nguyễn Huỳnh, cựu thư ký của ông Long; Phạm Duy Tuyến, cựu Giám đốc CDC Hải Dương; Trịnh Thanh Hùng, cựu Vụ phó thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Minh Tuấn và Nguyễn Nam Liên, là hai cựu Vụ trưởng của Bộ Y tế.

Phan Quốc Việt - Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty Việt Á - bị truy tố hai tội danh đưa hối lộ và vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Cấp phó của Việt là Vũ Đình Hiệp cũng bị truy tố hai tội danh này.

Cơ quan truy tố cáo buộc, để được tham gia nghiên cứu đề tài, kinh doanh kit xét nghiệm, cấp số đăng ký lưu hành sản phẩm, hiệp thương giá, bị can Việt đã đưa hối lộ 106 tỉ đồng, trong đó có 3 triệu USD và 4 tỉ đồng (tổng 82 tỉ đồng) cho 6 quan chức.

Lợi nhuận thu được từ việc nâng khống giá kit xét nghiệm, tổng giám đốc Việt Á đã dùng số tiền rất lớn để chi hối lộ, "lót tay" cho nhiều người là lãnh đạo, cán bộ của một số bộ ngành. 

Trong đó, cựu Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long bị cáo buộc nhận hối lộ nhiều nhất, lên đến 2,25 triệu USD./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: XIN HỎI NHỮNG NHÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ, VĂN HOÁ HUẾ ĐANG NHĂM NHE “RỬA MẶT, CHẠY TỘI” CHO ĐÁM VUA QUAN BÁN NƯỚC NHÀ NGUYỄN, CÁC VỊ TRẢ LỜI SAO KHI UNESCO NHẬN XÉT VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH?

     Xin hỏi các ông Phan Thanh Hải, Phan Văn Mãi, Nguyễn Văn Nên, các ông tôn vinh Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt há chẳng phải các ông đang phản bội tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay sao?

Nếu việc làm của các ông đúng thì Lịch sử Việt Nam sai, Chủ tịch Hồ Chí Minh sai, Nhân Dân VN sai & cả UNESCO cũng sai luôn sao???

Nghị quyết của UNESCO đánh giá: 
“Sự đóng góp về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực Văn hóa, Giáo dục và Nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của Nhân Dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của các Dân tộc trong việc khẳng định bản sắc Dân tộc của mình và tiêu biểu cho sư hiểu biết lẫn nhau".

- HỒ CHÍ MINH LÀ MỘT VĨ NHÂN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM & THẾ GIỚI, CON NGƯỜI TIÊU BIỂU CỦA VĂN HOÁ DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ NHÂN LOẠI TRONG THỜI ĐẠI MỚI: 
“Tôi đã hình dung ra được một rất cách cụ thể... dân tộc An Nam đáng yêu, một Dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái quá. 

Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị... Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới".

Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ Văn hóa, không phải Văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai".

Hơn 80 năm đã trôi qua, ngày càng chứng minh rõ cái nhìn nhạy bén và nhận xét tài tình của nhà báo Xô viết.

Chúng ta ngày càng thấy Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng Dân tộc và Danh Nhân Văn hóa Kiệt xuất, không chỉ kết tinh những thành tựu của quá khứ, không chỉ thể hiện đỉnh cao của trí tuệ và tâm hồn thời đại mà còn báo hiệu qua chính bản thân mình những phẩm chất tiêu biểu cho nền Văn hóa ngày mai”.

- Nghị quyết 24C/18.65 của Đại hội đồng UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

P/s: Các ông có dám công khai phản bác nhận định của Chủ tịch Hồ Chí minh về Nguyễn Ánh & đám cận thần của tên hôn quân vô đạo này không?

Yêu cầu các ông trả lời công khai cho Nhân Dân về vấn đề này!





Yêu nước ST.

XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO THANH NIÊN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động mạnh mẽ đến toàn xã hội, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Trước những tác động đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên trên không gian mạng.


Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu. Không gian mạng là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, internet, mạng xã hội trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin, đem lại những lợi ích to lớn, từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội. Đồng thời, tác động một cách trực tiếp, làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá thể, qua đó tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Tuy nhiên, internet, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái, những tác động tiêu cực đối với đời sống văn hóa xã hội, nhất là nhận thức, thái độ, hành vi của thế hệ trẻ.


Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, mỗi người đều có thể dễ dàng truy cập internet, mạng xã hội. Điều đó vừa tạo thuận lợi cho việc tiếp thu, chia sẻ thông tin, tình cảm, học hỏi, giao lưu văn hóa,… nhưng đồng thời cũng ẩn chứa những nguy cơ, hệ lụy tiêu cực khi người sử dụng không biết khai thác, tiếp nhận, xử lý, chia sẻ thông tin. Trong khi, mạng xã hội của chúng ta chưa được quản lý triệt để, có rất nhiều “rác” thông tin gây ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách và cả phong cách sống của người sử dụng, nhất là thế hệ trẻ.


Trong thời gian gần đây, văn hóa ứng xử của thanh niên trên không gian mạng đang là vấn đề xã hội đáng quan tâm, bởi một bộ phận thanh niên có những phát ngôn, bình luận “thiếu văn hóa”, không phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của Việt Nam… gây bất bình trong dư luận xã hội. Đáng lo ngại hơn là lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tuyên truyền, đăng tải những nội dung, thông tin xấu, độc… Qua đó, nhằm cổ vũ cho tạo tư tưởng thực dụng, suy nghĩ ích kỷ, lối sống không lành mạnh, coi trọng vật chất, quen hưởng thụ ở một bộ phận thanh niên. Thủ đoạn này còn hình thành ở số ít thanh niên thái độ thờ ơ, bàn quan với những biểu hiện sai trái trong cuộc sống, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án; thái độ vô cảm về chính trị, thiếu trách nhiệm với cộng đồng. Nếu không ngăn chặn kịp thời, sẽ dần dẫn đến tình trạng “khô Đảng, nhạt Đoàn”, phai nhạt lý tưởng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ở một bộ phận thanh niên.


Thực tế trên đặt ra yêu cầu có tính khách quan là cần chú trọng xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên trên không gian mạng hiện nay. Theo đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, chính trị cho thanh viên. 


Mọi hoạt động thông tin tuyên truyền, giáo dục phải hướng đến mục tiêu không ngừng bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, tinh thần cảnh giác để giới trẻ luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; luôn có thái độ, hành vi đúng đắn khi tham gia vào môi trường không gian mạng. Công tác giáo dục, tuyên truyền phải làm rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong sử dụng internet, mạng xã hội để tác động đến tâm lý thanh niên; làm rõ các thủ đoạn đã, đang và sẽ được các thế lực thù địch sử dụng để lôi kéo, kích động thanh thiếu niên; khuyến cáo giới trẻ, đặc biệt thanh niên cảnh giác trước thông tin trên internet, mạng xã hội.


Coi trọng cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; khắc phục tình trạng nhiễu thông tin dẫn đến hoang mang, nảy sinh tư tưởng tiêu cực. Đối với thanh niên, mọi công tác liên quan đến học tập, rèn luyện cần được công khai, minh bạch; tạo mọi điều kiện để thanh thiếu niên hoàn thành chương trình học tập, rèn luyện theo cấp học. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, người đứng đầu các nhà trường, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, gia đình cần thực hiện tốt vai trò xây dựng môi trường văn hóa, là chủ thể hướng dẫn, uốn nắn các hành vi ứng xử của thanh niên, tổ chức duy trì, quản lý hoạt động giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỹ năng sống cho thanh niên. Qua đó, giúp thanh thiếu niên có cái nhìn toàn diện, đầy đủ, sâu sắc; có lý tưởng phấn đấu rõ ràng, bản lĩnh chính trị vững vàng; có khả năng phát hiện, phân biệt đúng - sai, tốt - xấu,...


Đặc biệt, cần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thanh niên. Đây là vấn dề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước khi “về với thế giới người hiền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” [1]; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [2]. Do vậy, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cần thường xuyên quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên có đủ đức, tài, niềm tin, khát vọng để xứng đáng với vị thế, trọng trách cao cả của mình đối với dân tộc và Tổ quốc. Đây là trách nhiệm không riêng của ai, mà là trách nhiệm chung của các ngành, các cấp và toàn xã hội.


Cùng với đó, cần tăng cường công tác quản lý hệ thống mạng xã hội, ngăn chặn, xử lý nghiêm những hành vi “lệch chuẩn văn hóa”. Các cơ quan chức năng cần kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức tuyên truyền nội dung, thông tin xấu độc, “lệch chuẩn văn hóa”. Đẩy mạnh tuyên truyền Luật an ninh mạng và các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tham gia mạng xã hội để nâng cao ý thức, trách nhiệm của thanh niên. Coi trọng định hướng, hướng dẫn cho thanh niên cách thức khai thác, phân loại, sử dụng thông tin trên mạng hiệu quả; gắn với tuyên truyền, lan tỏa những nội dung thông tin tích cực, những biểu hiện nhân văn, văn hóa trên internet, mạng xã hội theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Từ đó, góp phần xây dựng cho thanh niên cách ứng xử có văn hóa trên không gian mạng, tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ internet và mạng xã hội./.


ĐỪNG CỐ TÌNH XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” CỦA VIỆT NAM

 


Sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm Việt Nam và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, một số tổ chức, cá nhân thù địch phát tán nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, đả kích đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam đang “bài Trung, thoát Nga, ngả Mỹ”. Họ tiếp tục cho rằng chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sai lầm, nếu tiếp tục kiên định chính sách này Việt Nam sẽ “bị cô lập” trong cộng đồng quốc tế.

Chúng ta chẳng lạ gì luận điệu đã cũ rích này. Lâu nay, trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, đối ngoại là lĩnh vực trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động nhằm vào để chống phá. Không chỉ phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại mà bằng nhiều thủ đoạn, họ mưu toan gia tăng tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam; kích động chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng; phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam; hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Cần phải khẳng định rằng những luận điệu ấy là vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc đường lối đối ngoại và chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì chăng nữa các tổ chức, cá nhân thù địch cũng không thể xuyên tạc được sự thật. Những gì đã và đang diễn ra trong quan hệ ngoại giao nói chung và đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nói riêng đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó.

Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. 

Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc cũng như tình hình thực tiễn của Việt Nam. Quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Bài học “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”… vẫn còn nguyên giá trị. Từ thực tiễn lịch sử, Việt Nam cho rằng bảo vệ Tổ quốc phải bằng sức mạnh nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chứ không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự hay hiệp ước quân sự nào và càng không thể trông chờ, ỷ lại vào bất cứ một quốc gia nào. Sẽ là không phù hợp và sai lầm nếu Việt Nam ngả theo bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ. Việt Nam không “bài” nước này, “thoát” nước nọ, “ngả” nước kia mà luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các nước, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, công lý và lẽ phải, bảo vệ Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ) và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. 

Từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược hơn ai hết Việt Nam hiểu rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Việt Nam không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Bởi nếu làm như vậy thì rất dễ biến đất nước mình trở thành mục tiêu tiến công của các thế lực thù địch, khó tránh khỏi nguy cơ bị lôi kéo vào xung đột, chiến tranh. Mặt khác, Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình. Với Việt Nam quốc phòng tối ưu là không phải tiến hành chiến tranh. Việc không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác còn thể hiện rõ thiện chí của Việt Nam trong việc giữ gìn, xây dựng và thúc đẩy hoà bình trên thế giới.

Trong giải quyết các vấn đề của quan hệ quốc tế, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực mà phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ... bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chủ trương và cách giải quyết đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ.

Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” là giải pháp hiệu quả để Việt Nam bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc. Công tác đối ngoại quốc phòng của Việt Nam những năm qua không ngừng mở rộng và thúc đẩy mạnh mẽ. Công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng giữ vai trò tiên phong trong việc tạo lập quan hệ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao nhà nước với 193 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước và tổ chức quốc tế, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ và tất cả các nước lớn là đối tác chủ chốt, quan trọng. Từ tháng 6-2014 đến nay, Việt Nam đã cử 533 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia gìn giữ hòa bình LHQ và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân ghi nhận, đồng tình ủng hộ và LHQ cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Những thành quả đó góp phần khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đối ngoại quốc phòng được thúc đẩy mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực phù hợp với nhu cầu, khả năng của Việt Nam cũng như các đối tác và được xác định là phương thức hữu hiệu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Một trong những kênh đối ngoại quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam đó là đối ngoại quốc phòng… 

Thực tế đó đã chứng tỏ chẳng những không hề bị cô lập, mà ngược lại quan hệ đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Việt Nam ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả. Điều đó mở ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại được Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Như vậy có thể thấy chủ trương, chính sách đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế chung của thế giới. Những gì được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thêm một lần nữa khẳng định việc thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là hoàn toàn đúng đắn và Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách này trong những năm tiếp theo.

Nếu ai đó nói rằng Việt Nam “bài”, “thoát” nước này, “ngả” theo nước kia, chính sách quốc phòng “bốn không” là “sai lầm”, Việt Nam sẽ “bị cô lập” nếu kiên trì thực hiện chính sách này… thì đó là hành động cố tình xuyên tạc, bịa đặt nhằm động cơ chính trị và mưu đồ đen tối. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác, loại bỏ những luận điệu sai trái, vô căn cứ ấy ra khỏi đời sống trong nước và quan hệ hợp tác quốc tế.