Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2023

Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng - nhiệm vụ chiến lược, cấp bách hiện nay.

 I. Không gian mạng - vùng “lãnh thổ đặc biệt” của Tổ quốc

II. Quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, kết quả bước đầu và vấn đề đặt ra

Nhận thức rõ tầm quan trọng của không gian mạng, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao đối với việc xác lập, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng bằng nhiều nghị quyết, chỉ thị về lĩnh vực này. Đặc biệt, ngày 25/7/2018, Bộ Chính trị (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”. Đây là Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bảo vệ vùng “lãnh thổ đặc biệt” của quốc gia, góp phần tạo ra hệ thống hoàn chỉnh trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quan điểm, đối tượng, nội dung, phương thức, lực lượng bảo vệ

Trên cơ sở đánh giá một cách khách quan, toàn diện về đặc điểm tình hình cùng những nguy cơ, thách thức và yêu cầu về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Đảng ta xác định: phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng vững chắc, rộng khắp; xác lập, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Để thực hiện mục tiêu trên, chúng ta cần nhất quán các quan điểm chỉ đạo của Đảng là: (1). Giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, đồng thời xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị. (2). Xác lập, quản lý và bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng theo lãnh thổ, trên cơ sở pháp luật Việt Nam và tuân thủ luật pháp quốc tế. (3). Tổ chức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận chiến tranh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng với nhiệm vụ xây dựng, phát triển không gian mạng an toàn, lành mạnh và rộng khắp tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước. (4). Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, dựa vào sức mình chính là nhân tố quyết định; đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trên không gian mạng.

Về đối tượng đấu tranh bao gồm các thế lực thù địch và tay sai có âm mưu, hành động sử dụng không gian mạng để can thiệp, hòng hạ thấp tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đó còn là các thế lực nước ngoài có âm mưu, hành động sử dụng không gian mạng tiến hành các hình thái chiến tranh, thực hiện tham vọng xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; các tổ chức phản động trong và ngoài nước, lực lượng cơ hội, suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống có âm mưu, hành động cấu kết với thế lực bên ngoài, sử dụng không gian mạng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng thực hiện các hoạt động xâm nhập, phá hoại về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Nội dung bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng rất rộng lớn, bao gồm cả xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, rộng khắp và phòng ngừa, ngăn chặn, làm thất bại mọi sự vi phạm, chống phá. Đó là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc, nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường không gian mạng an toàn, lành mạnh, rộng khắp góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phương thức bảo vệ là phi vũ trang, thông qua tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện nâng cao ý thức, trách nhiệm, năng lực bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; gia tăng sức mạnh tổng hợp, quốc phòng, an ninh, xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, rộng khắp; phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Đồng thời, phối kết hợp chặt chẽ giữa các chủ thể và lực lượng tham gia tích cực phòng ngừa, triệt tiêu các yếu tố dẫn đến nguy cơ đối với an toàn, an ninh, độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng; nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm hoạt động bảo vệ đối với không gian quan trọng này.

Lực lượng bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong đó, Đảng lãnh đạo; Nhà nước quản lý, điều hành; lực lượng vũ trang làm nòng cốt; lực lượng tác chiến trên không gian mạng, an ninh mạng và đấu tranh tư tưởng văn hóa là chuyên trách.

Thủ trưởng Bộ Tư lệnh 86 kiểm tra công tác bảo đảm Kỹ thuật Công nghệ thông tin tại Lữ đoàn 3

Kết quả từ những nỗ lực, cố gắng

Ngay sau khi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng được ban hành, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tổ chức quán triệt sâu sắc, chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hành động và quyết liệt trong triển khai thực hiện. Theo đó, để Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, cùng với tăng cường giáo dục, quán triệt, tạo sự đoàn kết, thống nhất cả về nhận thức và hành động, các cấp ủy, tổ chức đảng đã chủ động ra nghị quyết lãnh đạo chuyên đề, tổ chức phân công cụ thể; trong đó, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, xác định rõ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm để triển khai thực hiện; đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng chung sức, đồng lòng tích cực tham gia bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và đạt nhiều kết quả nổi bật.

Hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước đối với các loại hình dịch vụ viễn thông, internet, bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng không gian mạng tiếp tục được xác lập và ngày càng được củng cố, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng từng bước được bổ sung, hoàn thiện, như: Luật An ninh mạng 2018; Luật An toàn thông tin mạng (sửa đổi, bổ sung năm 2018); Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước 2018; Chỉ thị số 14/CT-TTg, ngày 25/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao năng lực phòng chống phần mềm độc hại; Chỉ thị số 02/CT-TTg, ngày 04/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng; Nghị quyết số 22/NQ-CP, ngày 18/10/2019 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị; cùng các kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Chính phủ và cấp ủy, chính quyền các cấp, v.v. Đây là những văn bản quan trọng, tạo hành lang pháp lý cơ bản để các cấp, ngành, lực lượng, địa phương triển khai bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.

Cùng với đó, cơ sở hạ tầng không gian mạng cũng được đầu tư xây dựng, phát triển mạnh, phục vụ đắc lực cho hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngày càng được đầu tư, củng cố. Chúng ta đã xây dựng được kết cấu hạ tầng viễn thông khá đồng bộ, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi từ Trung ương đến địa phương; xây dựng và duy trì một hệ thống mạng quốc gia an toàn và bảo mật, ngăn chặn được hiểm họa từ các cuộc tấn công, đánh cắp thông tin và tạo ra một môi trường trực tuyến khá an toàn. Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia được triển khai xây dựng, bước đầu phục vụ tốt cho phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Đặc biệt, hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư - “trái tim” của chính phủ số đã được vận hành, tạo động lực để phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số. Chúng ta cũng đã xây dựng được mối quan hệ hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và tối ưu hóa các biện pháp bảo vệ không gian mạng; tham gia vào các cơ chế hợp tác quốc tế để đối phó với các mối đe dọa trực tuyến.

Cùng với phát huy sức mạnh của toàn dân, lực lượng chuyên trách cũng được quan tâm xây dựng, tiến thẳng lên hiện đại, như: Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng (thuộc Bộ Quốc phòng); Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (thuộc Bộ Công an); Cục An toàn thông tin (thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông); Ban chỉ đạo 35, Lực lượng 47 các cấp, v.v. Thời gian qua, các lực lượng chuyên trách đã thực hiện tốt chức năng tham mưu, chủ động phối hợp, dự báo đúng tình hình; kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động cài cắm gián điệp, tấn công mạng, triển khai các giải pháp bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia; vô hiệu hóa các hoạt động chống phá trên không gian mạng; xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng mạng internet và thông tin trên mạng, v.v. Lực lượng tác chiến không gian mạng tiếp tục được điều chỉnh, bố trí ngày càng khoa học, phù hợp với phương án, quyết tâm, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ trinh sát, phòng thủ, phản công mạng trên các hướng chiến lược.

Có thể khẳng định, với những chủ trương đúng đắn, hành động quyết liệt, chúng ta đã “chủ động phát hiện, có các phương án, đối sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa và kiểm soát tốt các nhân tố có thể gây bất lợi đột biến,... Bước đầu hình thành hệ thống pháp luật và cơ sở vật chất cho việc bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin quốc gia, không gian mạng quốc gia,… Chủ động đấu tranh kịp thời, hiệu quả, từng bước đẩy lùi các loại tội phạm;… làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động”1. “Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng xã hội được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đạt kết quả rõ rệt”2. “Từng bước hoàn thiện và phát triển tư duy lý luận, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc theo hướng: Tăng cường thế trận lòng dân; chủ động, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa;... Tiếp tục củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, v.v. Chủ động, tích cực đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động”3, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng. Theo đánh giá liên tục trong 3 kỳ gần đây của Liên minh Viễn thông quốc tế, chỉ số an toàn, an ninh mạng toàn cầu - GCI của Việt Nam đã tăng từ 100 lên 50 và hiện xếp thứ 25/194 quốc gia và vùng lãnh thổ; hệ sinh thái sản phẩm an toàn, an ninh mạng Việt Nam cũng đã được thúc đẩy phát triển4.

Hạn chế, bất cập

Trước hết, dễ nhận thấy nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ này còn chưa sâu, kỹ dẫn tới chủ quan, mất cảnh giác, chưa đề cao trách nhiệm trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an toàn, an ninh mạng quốc gia tuy đã được xây dựng, bổ sung, song còn chưa đồng bộ, có văn bản hiệu lực thi hành chưa cao. Công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh mạng có lúc, có nơi còn sơ hở, chưa theo kịp tốc độ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là đối với mạng xã hội, trò chơi trực tuyến, thuê bao di động trả trước, hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông, internet. Lực lượng chuyên trách đã được thành lập từ Trung ương đến cơ sở, song chất lượng, hiệu quả hoạt động còn chưa đồng đều. Đấu tranh trên không gian mạng có lúc hiệu quả chưa cao; việc đáp trả, phản bác thông tin xấu, độc, luận điệu xuyên tạc, phản động có lúc chưa kịp thời.

Cơ sở hạ tầng không gian mạng tuy đã được quan tâm xây dựng, song vẫn chưa tương xứng với tốc độ phát triển và yêu cầu nhiệm vụ. Mặc dù Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh trong khu vực và thế giới, nhưng còn tồn tại không ít hạn chế về an ninh, an toàn mạng. Theo tổ chức an ninh mạng Kaspersky và Symantec, Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc, phần mềm độc hại (qua USB, thẻ nhớ) với gần 70% người dùng máy tính có nguy cơ bị lây nhiễm cao; đứng thứ ba về số lượng người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất thế giới; đứng thứ 4 trên thế giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc khi sử dụng internet. Hệ quả là năm 2020 có tới hơn 73% số vụ lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra trên không gian mạng5

Tình trạng mất an toàn, an ninh thông tin mạng, tội phạm mạng còn diễn biến phức tạp. Theo thống kê, năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại6. Các hành vi phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin; gây mất an toàn, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường, vững mạnh của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và hệ thống thông tin vô tuyến điện,… đã và đang gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế, xâm hại trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Theo kết quả đánh giá an ninh mạng do Tập đoàn công nghệ Bkav thực hiện, trong năm 2019, chỉ tính riêng thiệt hại do virus máy tính gây ra đối với người dùng Việt Nam đã lên tới 20.892 tỉ đồng (tương đương 902 triệu USD), hơn 1,8 triệu máy tính bị mất dữ liệu do sự lây lan của các loại mã độc mã hóa dữ liệu tống tiền (ransomware), trong đó có nhiều máy chủ chứa dữ liệu của các cơ quan, gây đình trệ hoạt động của không ít cơ quan, doanh nghiệp.

Đánh giá về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong đó có bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Việc quán triệt, tổ chức, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao. Công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật chủ động; tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; an ninh một số địa bàn, lĩnh vực chưa thật sự vững chắc, nhất là an ninh mạng,… Công tác quản lý, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng còn hạn chế”7. “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ chưa kịp thời”8.

Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII nhận định: “Bên cạnh những ưu điểm, kết quả đã đạt được,… vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, như: Lãnh đạo, chỉ đạo công tác nắm tình hình; nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn có mặt, có lúc chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng có lúc, có nơi chưa kịp thời, chưa mạnh mẽ và hiệu quả chưa cao”10. Những hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan vẫn là chính.

Một số vấn đề đặt ra

Từ thực tiễn bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong thời gian qua đặt ra cho chúng ta những vấn đề mới cần tiếp tục được quan tâm và giải quyết thấu đáo, nhằm thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ quan trọng này.

Trước hết, việc bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, cam go, phức tạp, lấy con người và trí tuệ của con người làm chính trên cơ sở pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế. Nhiệm vụ này đòi hỏi phải có chiến lược, sách lược đúng đắn; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ; lực lượng chuyên trách tinh thông nghiệp vụ, nhạy bén về chính trị, hiểu biết pháp luật; đặc biệt, phải huy động được sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, trên thực tế, nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng bảo vệ của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Điều đó đặt ra cho thời gian tới, cùng với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, sự vào cuộc chủ động, quyết liệt, hiệu quả các cấp, các ngành để huy động tốt mọi nguồn lực, chúng ta cần nâng cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm, kỹ năng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Vấn đề này cần phải được tiến hành thường xuyên, với nội dung, biện pháp phù hợp, hiệu quả.

Hai là, cùng với sự phát triển của không gian mạng, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, thì nguy cơ tấn công mạng, gián điệp mạng, chiến tranh mạng, mất an toàn thông tin mạng cũng ngày càng gia tăng. Bởi vì, đi cùng với phát triển chính phủ điện tử là việc sử dụng internet và hệ thống máy tính kết nối, điện thoại thông minh sẽ ngày càng rộng rãi; mọi hoạt động của xã hội di chuyển ngày càng nhiều lên không gian mạng. Đây là cơ hội để phát triển, nhưng cũng tạo nhiều kẽ hở để các thế lực thù địch, phản động, tội phạm tăng cường chống phá, xâm hại đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức trên không gian mạng. Theo thống kê, hiện nay, các tổ chức phản động đã và đang sử dụng khoảng 1.236 trang Web, trên 200 kênh youtube, hơn 2.000 fanpage, lập ra gần 1.000 hội nhóm trên mạng xã hội để tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước10. Đáng chú ý, một số quốc gia vẫn đang bí mật triển khai các hoạt động trinh sát, giám sát, tình báo, bố trí hệ thống vũ khí mạng, sẵn sàng tiến công, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng11; các thế lực thù địch, phản động cũng đang đẩy mạnh các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, tuyên truyền chống phá chế độ, kích động biểu tình, bạo loạn, hòng thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” đối với nước ta12. Các hoạt động cài cắm mã độc, phần mềm độc hại vào hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, quân sự, quốc phòng diễn ra ngày càng thường xuyên và tinh vi hơn. Tình hình đó đặt ra cho chúng ta phải giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa phát triển, khai thác với bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng.

Ba là, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ mới, rất phức tạp, đòi hỏi phải có hệ thống cơ sở pháp lý đồng bộ, lực lượng chuyên sâu, vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, trong khi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này của ta còn thiếu và chưa đồng bộ. Các quy định về việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng còn phân tán, có hành vi chưa có quy định rõ ràng, do đó lực lượng chức năng thiếu căn cứ để kiểm tra, xử lý một cách triệt để. Cùng với đó, lực lượng chuyên trách của ta tuy đã được thành lập và bước đầu hoạt động có hiệu quả nhưng kinh nghiệm tác chiến, đấu tranh trên không gian mạng còn chưa nhiều; trang bị kỹ thuật còn hạn chế, chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng còn thiếu, v.v. Đó cũng là những vấn đề cấp thiết đặt ra trong thời gian tới.

Bốn là, hạ tầng không gian mạng của ta hiện nay còn hạn chế, nhất là hạ tầng công nghệ phần cứng, từ các hạ tầng lõi cho đến các thiết bị điện tử cá nhân cơ bản đều nhập từ nước ngoài; nhiều trang thiết bị mạng được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp cũng có nguồn gốc từ nước ngoài. Các hãng bảo mật và cơ quan chức năng nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã chứng minh và cảnh báo về các mã độc, “cửa hậu” được cài sẵn trong các thiết bị trước khi xuất xưởng, cho phép đối phương có thể truy cập, kiểm soát từ xa. Bên cạnh đó, các trang mạng xã hội được người Việt Nam dùng nhiều cũng chủ yếu do nước ngoài quản lý và đặt máy chủ ở nước ngoài; trong khi, chúng ta còn thiếu nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, nhất là những chuyên gia giỏi về an ninh mạng, tác chiến mạng. Đây cũng là một trong những vấn đề hết sức khó khăn trong đảm bảo an ninh, an toàn cho tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động trên không gian mạng.

Không gian mạng ở Việt Nam là một bộ phận cấu thành Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Từ thực tiễn, kinh nghiệm, kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra trong thời gian qua đòi hỏi chúng ta tiếp tục nâng cao nhận thức, xây dựng quyết tâm và có nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc “vùng lãnh thổ đặc biệt” của Tổ quốc.

Số sau - Tiếp theo và hết: III. Những giải pháp cơ bản bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng.

CAO THÀNH - PHẠM CƯỜNG
____________________

ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIITập I, Nxb. CTQGST, H.2021, tr.68-69.

2 - Sđd, Tập II, tr.171.

3 - Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tổng kết Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII – Báo Quân đội nhân dân, số 22304, ngày 18/5/2023, tr.1-2.

4 - Hùng Quân - 3 yếu tố then chốt trong đảm bảo an ninh mạng, Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 22/6/2023.

5 -Thiếu tướng, PGS, TS. Cao Anh Dũng, Giám đốc Học viện Quốc tế, Bộ Công an -Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng Đại hội XIII của Đảng, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày14/01/2022.

6 - Sđd.

7 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIITập I, Nxb.CTQGST, H.2021, tr.87-88.

8 - Sđd, tr.91.

9 - Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tổng kết Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII – Báo Quân đội nhân dân, số 22304, ngày 18/5/2023, tr.1-2.

10 - Đại tá Đoàn Thanh Thủy, Phó Cục trưởng, Cục A02, Bộ Công an – Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường mạng xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua và dự báo trong thời gian tới- Kỷ yếu Hội thảo Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN trên môi trường mạng xã hội – thực trạng và giải pháp, Hà Nội, ngày 31/8/2023, Quyển 1, tr.52.

11 - Bộ Chính trị (khóa XII) - Nghị quyết số 29-NQ/TWvề Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Hà Nội, ngày 25/7/2018.

12 - Sđd.

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư bế mạc Hội nghị Trung ương 8.

Sau 7 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và bế mạc sáng 08/10. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị.

Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử trân trọng giới thiệu Toàn văn Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII.

“Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau 7 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.

Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và các đồng chí tham dự Hội nghị đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, quan trọng vào các đề án, báo cáo.

Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua các nghị quyết của Hội nghị.

Để bế mạc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị phát biểu, làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng mà Hội nghị chúng ta đã đạt được.

1. Về kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023-2024

Hội nghị thống nhất cao cho rằng trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, thách thức bất thường, phức tạp hơn nhiều so với dự báo, nhưng nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, sát sao, kịp thời của Đảng; sự đồng hành và giám sát có hiệu quả của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành chủ động, linh hoạt, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các địa phương; sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.

Nổi bật là: Trong 9 tháng đầu năm vừa qua, kinh tế nước ta vẫn tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng sủa của kinh tế toàn cầu; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.

Tăng trưởng kinh tế và công nghiệp từng bước được phục hồi, quý sau cao hơn quý trước, tháng sau tích cực hơn tháng trước; GDP tăng 4,24%; chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,16%.

Nông nghiệp phát triển ổn định, tăng 3,38% so với cùng kỳ, tiếp tục phát huy vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế.

Khu vực du lịch, dịch vụ phát triển khá sôi động, tăng 6,32% so với cùng kỳ. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh được đẩy mạnh.

Nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài đã được tập trung tháo gỡ, xử lý, bước đầu đạt được kết quả tích cực.

Đặc biệt, giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng đầu năm tăng gần 5% với khoảng 110 nghìn tỉ đồng so với cùng kỳ năm trước, góp phần đưa 659 km đường bộ cao tốc vào sử dụng và đang tiếp tục hoàn thành, khởi công nhiều dự án, công trình xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng cho đất nước...

Dự báo đến hết năm nay (2023), tăng trưởng GDP của cả nước đạt khoảng trên 5%, mặc dù thấp hơn chỉ tiêu đề ra (khoảng 6,5%) nhưng vẫn là mức khá cao so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; thu ngân sách nhà nước có thể đạt, thậm chí vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra trong khi đã thực hiện nhiều chính sách miễn giảm, gia hạn thời gian nộp đối với nhiều loại thuế, phí, lệ phí và tiền sử dụng đất.

Chỉ số giá tiêu dùng ước tăng 3,5% (thấp hơn nhiều so với mục tiêu khoảng 4,5%). Vốn đầu tư toàn xã hội tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 700 tỷ USD, trong đó, xuất siêu khoảng 15 tỷ USD.

Trong bối cảnh nền kinh tế, doanh nghiệp và người lao động gặp nhiều khó khăn, các lĩnh vực văn hóa, xã hội vẫn tiếp tục được quan tâm đầu tư phát triển, có kết quả rõ nét hơn.

An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân của người lao động tăng 6,8% so với cùng kỳ; đã triển khai thực hiện kịp thời các chính sách xã hội, nhất là chính sách đối với người có công, chính sách bảo trợ xã hội và các chính sách, biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, người dân gặp khó khăn.

Chất lượng giáo dục và đào tạo tiếp tục được nâng lên.

Ngành y tế tập trung xử lý, tháo gỡ một số vướng mắc để thực hiện tốt hơn công tác phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân.

Công tác kiểm tra, thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân.

Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững.

Đặc biệt, các hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động, liên tục và là điểm sáng nổi bật của năm 2023; đến nay Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và đối tác chiến lược với tất cả các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước G20.

Dự báo đến hết năm, có thể hoàn thành ít nhất 10/15 chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra, trong đó nổi bật là, có thể hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Dự báo thời gian tới, kinh tế thế giới nói riêng và tình hình quốc tế nói chung có thể sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều khó khăn, thách thức mới.

Ở trong nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta tiếp tục phải đối mặt với không ít những hạn chế, yếu kém và nhiều khó khăn, thách thức lớn.

Vì vậy, trong những tháng còn lại của năm 2023 và năm 2024 - năm bản lề, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, chúng ta cần tiếp tục triển khai quyết liệt, có hiệu quả các chủ trương, chính sách và mục tiêu, nhiệm vụ đã được Trung ương thảo luận kỹ lưỡng và thống nhất đề ra trong Kết luận của Hội nghị lần này.

Tập trung ưu tiên thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.

Tiếp tục theo dõi sát tình hình quốc tế và trong nước để kịp thời có những quyết sách phù hợp, hiệu quả; phấn đấu đạt mức cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của năm 2023 và cả nhiệm kỳ khóa XIII.

Ban cán sự đảng Chính phủ cần khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Trung ương để hoàn chỉnh các Tờ trình, Báo cáo, bảo đảm chất lượng, sát hợp với thực tế và có tính khả thi cao trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII.

2. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội

Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí cao ban hành Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới với nhiều nội dung kế thừa và đổi mới, bổ sung, phát triển quan trọng so với Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI. Nổi bật là:

- Về phạm vi và cách tiếp cận, nếu như Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI chỉ đề cập đến một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 thì lần này, Nghị quyết mới đã mở rộng ra toàn bộ các chính sách xã hội, tập trung vào đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Cách tiếp cận cũng được điều chỉnh, từ bảo đảm và ổn định sang ổn định và phát triển; gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, an ninh xã hội.

- Về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, đồng thời với việc tiếp tục khẳng định, kế thừa những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI đã được thực tế kiểm nghiệm là đúng đắn, vẫn còn nguyên giá trị, Hội nghị lần này đã bổ sung, phát triển, làm rõ hơn những nhận thức mới trong bối cảnh tình hình mới, yêu cầu nhiệm vụ mới: Khẳng định: Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, vì con người, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Xây dựng và thực hiện chính sách xã hội phải luôn lấy con người làm trung tâm; coi đầu tư cho thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội là đầu tư cho phát triển; cần huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chính sách xã hội, trong đó nguồn lực nhà nước đóng vai trò chủ đạo, nguồn lực của xã hội là quan trọng; kết hợp nội lực với ngoại lực thông qua việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

Chính sách xã hội phải hướng tới toàn dân, bảo đảm toàn diện, công bằng, hiện đại, bao trùm, bền vững; an sinh xã hội phải được chú trọng hơn nữa và bảo đảm sự linh hoạt, thích ứng với các tình huống xấu xảy ra trên diện rộng (như dịch COVID-19), bảo vệ toàn dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Chính sách xã hội cần được đặt trong tổng thể việc quản lý phát triển xã hội bền vững, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội là nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược, phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả của Nhà nước; sự giám sát thường xuyên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; sự đồng thuận và hưởng ứng tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp.

Phát huy truyền thống tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách," nhân ái, nghĩa tình, "thương người như thể thương thân" của nhân dân trong giải quyết các vấn đề xã hội.

- Về mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, Trung ương đã thống nhất cao xác định mục tiêu đến năm 2030 và Định hướng đến năm 2045, theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đồng thời, đề ra 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp mới, sát với tình hình thực tế và có tính khả thi cao.

3. Về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới

Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, luôn được toả sáng, phát huy trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước rất vẻ vang của dân tộc Việt Nam ta.

Từ khi có Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được xác định là đường lối chiến lược của Đảng; là nguồn sức mạnh, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời kỳ.

Nền tảng vững chắc của đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ bền chặt giữa Đảng và Nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là sự đoàn kết giữa các giai tầng xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; giữa người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới.

Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm điểm tương đồng.

Trong thời kỳ phát triển mới, cần tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả trên đây, cần phải khẩn trương, nghiêm túc xây dựng, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách, tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ phát triển mới; bổ sung, hoàn thiện luật pháp, chính sách sát hợp với tình hình mới để phát huy tốt hơn nữa sức mạnh của tất cả các tầng lớp nhân dân, khơi dậy ý chí và khát vọng phát triển của toàn dân tộc; tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch vững mạnh toàn diện; giữ vững vai trò tiên phong, hạt nhân lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng và phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách đoàn kết toàn dân tộc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, là nguồn lực, động lực chủ yếu, là mục tiêu của đoàn kết dân tộc; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng theo hướng sáng tạo, thực sự đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ cho việc phát triển đất nước; tổ chức thật tốt, thiết thực, hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước..."

4. Về tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới

Hội nghị đã thống nhất cao cho rằng bối cảnh tình hình mới và yêu cầu, nhiệm vụ mới đòi hỏi phải ban hành Nghị quyết mới của Trung ương về tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức nước nhà, bồi đắp nguyên khí quốc gia vững mạnh hơn nữa, đáp ứng yêu cầu chủ động, tích cực tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chấn hưng văn hóa, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới.

Trung ương đặc biệt nhấn mạnh cần phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về tư duy và hành động theo hướng: Xác định trí thức Việt Nam là nguồn lực lao động chất lượng cao, là lực lượng lao động sáng tạo, có vinh dự và bổn phận tiên phong, trực tiếp tham gia sự nghiệp đổi mới, cống hiến xây dựng, phát triển đất nước; nâng cao dân trí, nhân lực; bồi dưỡng, đào tạo nhân tài trên các lĩnh vực, góp phần quan trọng nâng tầm trí tuệ và sức mạnh dân tộc, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững; là lực lượng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý, có lộ trình và bước đi phù hợp, gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm và năng lực của trí thức trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, các hội nghề nghiệp của trí thức và toàn xã hội.

Tôn trọng, phát huy tự do tư tưởng, học thuật, thực hành dân chủ trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo; trọng dụng nhân tài, trí thức tinh hoa, nhà khoa học đầu ngành chính là tạo môi trường, điều kiện thuận lợi và động lực căn bản để xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức và phát huy vai trò, vị trí và sự cống hiến của trí thức, thực sự xứng tầm là nguyên khí quốc gia.

Trên cơ sở thống nhất cao về nhận thức, cần tập trung ưu tiên xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển đồng bộ, toàn diện khoa học-công nghệ, văn hóa, văn học, nghệ thuật gắn với phát huy vai trò của đội ngũ trí thức.

Khẩn trương xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện thật tốt các chính sách, biện pháp phù hợp nhằm đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác lãnh đạo, phát triển đội ngũ trí thức; tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức; phát triển, thu hút, đãi ngộ và tôn vinh đội ngũ trí thức; tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để trí thức khởi nghiệp và lao động sáng tạo, phát huy tài năng, trí tuệ của tập thể và cá nhân các nhà khoa học; đẩy mạnh việc huy động và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức; đề cao trách nhiệm, tăng cường tính chủ động, tích cực của bản thân đội ngũ trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các hội nghề nghiệp trong đội ngũ trí thức...

5. Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhất trí cao cho rằng: Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Trong giai đoạn phát triển mới hiện nay và sắp tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo sẽ còn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường.

Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.

Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta.

Các nước lớn sẽ tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thoả hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối nội bộ nước khác. Nhiều điểm nóng về an ninh tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng, làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược mới.

Khoa học-công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo ra những biến đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

An ninh truyền thống cũng như phi truyền thống, nhất là thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng, an ninh mạng... đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia.

Châu Á-Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động nhưng sẽ trở thành trọng điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn.

Ở trong nước, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt sẽ còn diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ; sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống; những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội sẽ còn diễn biến phức tạp; phân cực giàu-nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng.

Trên một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm và trong một số nhóm đối tượng còn tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định.

Tranh chấp biển, đảo, chủ quyền lãnh thổ, chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng... là những nguy cơ lớn luôn luôn có thể xảy ra.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước sẽ còn câu kết với nhau tăng cường các hoạt động "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, công khai và trực diện hơn.

Bối cảnh tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải ban hành và tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết mới của Trung ương về nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng này.

Luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; dựa vào dân, lấy "dân là gốc," khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng "thế trận lòng dân," lấy "yên dân" là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chú trọng bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Tập trung ưu tiên thực hiện thắng lợi đồng bộ các nhiệm vụ chính trị: Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên quyết, kiên trì, chủ động tạo lập thời cơ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước.

Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, tích cực hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

6. Về quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2026-2031

Ban Chấp hành Trung ương Đảng ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực của Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo đã công phu, nghiêm túc chuẩn bị có chất lượng Tờ trình và dự kiến quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV với sự kế thừa, bổ sung, phát triển đúng đắn, phù hợp về cách làm và bài học kinh nghiệm có được từ các nhiệm kỳ trước, đặc biệt là nhiệm kỳ khóa XIII. Đây là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết.

Trung ương yêu cầu ngay sau Hội nghị này, căn cứ vào kết quả giới thiệu của Trung ương, sự rà soát, thẩm định của Ban Chỉ đạo, các ban đảng Trung ương và các cơ quan chức năng, Bộ Chính trị sớm xem xét, quyết định một bước quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2026-2031, làm cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng và thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát đối với những cán bộ đã được đưa vào quy hoạch; nếu phát hiện có sai phạm, không đủ tiêu chuẩn, điều kiện thì phải kịp thời đưa ra khỏi quy hoạch; đồng thời tiếp tục xem xét, phân tích kỹ lưỡng chất lượng, cơ cấu, thành phần trên các lĩnh vực công tác để kịp thời phát hiện, kiến nghị, giới thiệu bổ sung quy hoạch, báo cáo Bộ Chính trị trình Trung ương xem xét ở các Hội nghị sau.

Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh đây là bước khởi đầu quan trọng của quá trình xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ khóa XIV với tinh thần là phải làm từng bước, từng việc, chắc chắn, chặt chẽ; quy hoạch xong Ban Chấp hành Trung ương mới làm quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sau đó mới đến quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt. Trong quá trình này, phải quán triệt và triển khai thực hiện thật tốt Kế hoạch số 17-KH/TW của Bộ Chính trị, xác định quy hoạch cán bộ cấp chiến lược là công việc rất hệ trọng của Đảng được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, các cấp uỷ, tổ chức đảng và người đứng đầu theo đúng quy định; bảo đảm quy trình chặt chẽ, dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch.

Coi trọng chất lượng gắn với cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng; tạo sự đồng bộ, tổng thể, liên thông trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; gắn kết với công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ và công tác chuẩn bị nhân sự nhiệm kỳ tới; lấy quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước làm cơ sở cho công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Chúng ta đều biết công tác cán bộ là công tác con người, hết sức quan trọng nhưng cũng vô cùng khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi chúng ta phải rất công tâm, khách quan, trong sáng, đặc biệt là phải có con mắt tinh đời, đừng "nhìn gà hóa cuốc," đừng "thấy đỏ tưởng là chín," có khi "xanh vỏ mà đỏ lòng đấy."

7. Một số vấn đề quan trọng khác

Cũng tại Hội nghị lần này, Trung ương đã thảo luận và thống nhất quyết định thành lập 5 Tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, bao gồm: Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Kinh tế-Xã hội; Tiểu ban Nhân sự; Tiểu ban Điều lệ Đảng; và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội. Khi xem xét, quyết định thành lập các Tiểu ban, Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến điều chỉnh về cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ và nhân sự cụ thể của từng Tiểu ban; coi đây là công việc khởi đầu cho quá trình chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng.

Các Tiểu ban cần khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch để sớm đi vào hoạt động, bảo đảm chất lượng và hiệu quả.

Đồng thời, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã xem xét, quyết định một số vấn đề về công tác cán bộ như báo chí đã đưa tin trong những ngày vừa qua.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng với nhiều quyết định rất cơ bản và quan trọng đã thành công tốt đẹp.

Kết quả của Hội nghị thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết thống nhất cao của Trung ương, chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc củng cố, phát huy những kết quả, thành tích rất đáng trân trọng mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay, góp phần tạo ra khí thế mới, xung lực mới cho sự nghiệp tiếp tục đổi mới đồng bộ và toàn diện; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển đất nước nhanh và bền vững vì Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Tôi tha thiết kêu gọi, mong đợi và đề nghị mỗi đồng chí Trung ương chúng ta, trên từng cương vị công tác của mình, hãy nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân và Đất nước, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tổ chức thực hiện thật tốt các nghị quyết của Trung ương lần này, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và tiến hành chuẩn bị thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình trước Đảng, trước Nhân dân và Đất nước.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!"./.

Phát huy truyền thống của đơn vị ba lần được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Đoàn Ba Gia luôn bản lĩnh, quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Ngày 20/11/1963, Đoàn Ba Gia1 được thành lập trên cơ sở các đơn vị thuộc “Công trường 1 - kiêm tỉnh đội Quảng Nam” và trở thành một trong hai trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự ra đời của Đoàn đã đánh dấu bước trưởng thành mới về quy mô tổ chức lực lượng vũ trang tập trung, đáp ứng yêu cầu mới, cao hơn trong việc sử dụng các đòn tiến công quân sự quyết định, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh chính trị của phong trào Đồng khởi rộng khắp trên chiến trường Khu 5. Trải qua 60 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, phát triển, với 20 năm liên tục làm nhiệm vụ chiến đấu, từ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, tham gia hàng chục chiến dịch, thực hiện hàng trăm trận đánh với nhiều đối tượng tác chiến, Đoàn đã có chiều dài chiến công nối tiếp chiến công, với những trận chiến đấu đã đi vào lịch sử, như: Ba Gia, Vạn Tường, Đồng Dương, Quang Thạnh, v.v. Trong chặng đường ấy, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Đoàn anh dũng xung phong trên chiến trường diệt địch trong thời chiến hay “vượt nắng thắng mưa, say sưa luyện tập” nơi thao trường, tham gia diễn tập trên các địa hình, địa phương,... trong thời bình đã trở nên quen thuộc, lan tỏa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” - Người chiến sĩ Đoàn Ba Gia Anh hùng. Tuyên thệ chiến sĩ mới năm 2023 Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Đoàn đã được Nhà nước ba lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1972, 1976, 1979); 01 Huân chương Độc lập; 16 Huân chương Quân công Giải phóng; 02 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc (hạng Nhì, Ba); 56 Huân chương Chiến công các loại; 03 tập thể và 08 cá nhân được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng nhiều phần thưởng cao quý. Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đoàn tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, luôn xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Trước hết, xây dựng Đoàn vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ “cơ động, đánh thắng” trong mọi tình huống. Theo đó, Đoàn tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của trên về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, tạo thành nền nếp gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm; hướng vào giải quyết dứt điểm những khâu yếu, mặt yếu của từng cơ quan, đơn vị. Nâng cao chất lượng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; trong đó, chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng thiết thực về nội dung; đa dạng, phong phú về hình thức, biện pháp; phù hợp với từng đối tượng; bồi đắp lý tưởng, xây dựng bản lĩnh vững vàng, quyết tâm chính trị cao, khơi dậy niềm tự hào với truyền thống của đơn vị để mỗi cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy hành động cách mạng, lan tỏa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trên mọi lĩnh vực, nhiệm vụ được giao. Xác định công tác xây dựng Đảng là then chốt, yếu tố quyết định thắng lợi mọi nhiệm vụ, Đoàn tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh. Trọng tâm là, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo; bổ sung, hoàn chỉnh các quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo trên các mặt công tác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng chi bộ, đảng bộ. Đẩy mạnh đổi mới nội dung, quy trình ra nghị quyết lãnh đạo theo hướng: ngắn, gọn, có trọng tâm, trọng điểm, sát với thực tế; tập trung lãnh đạo khắc phục triệt để các khâu yếu, mặt yếu của đơn vị. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt, nêu cao tinh thần đấu tranh, tự phê bình và phê bình; tổ chức tốt các đợt sinh hoạt “tự soi, tự sửa”, chống các biểu hiện ngại khó, sợ khuyết điểm, né tránh trách nhiệm, thiếu động cơ phấn đấu, v.v. Cùng với đó, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có chất lượng tốt, hợp lý về cơ cấu, ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ. Tập trung bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác khoa học, cụ thể, tỷ mỷ, hiệu quả; đề cao ý thức trách nhiệm, tinh thần làm chủ, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, thử thách. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, người cán bộ phải luôn gắn bó, gần gũi, đồng cam, cộng khổ với bộ đội; giải quyết tốt các mối quan hệ cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, lãnh đạo với chỉ huy, tạo sự đoàn kết, thống nhất cao trong đơn vị. Đồng thời, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, tích cực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cấp ủy viên, cán bộ chủ trì; chống mọi biểu hiện chủ quan, giản đơn, ngại khó, ngại khổ, làm việc cầm chừng, thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Hai là, đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu lên một bước mới. Là đơn vị được sinh ra từ yêu cầu của chiến trường, gắn liền với hoạt động tác chiến, vì vậy huấn luyện luôn là công tác quan trọng hàng đầu. Để xứng danh “Trung đoàn thép”, “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, Đoàn chú trọng làm tốt công tác quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng về nhiệm vụ, kiên quyết đấu tranh với tư tưởng ngại khó, ngại khổ; hạ thấp mục tiêu, yêu cầu trong huấn luyện và rèn luyện bộ đội. Thực hiện đột phá: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm; lấy đổi mới về tư duy nhận thức, cơ chế chỉ đạo, quản lý điều hành, nội dung, chương trình, tổ chức phương pháp và công tác bảo đảm huấn luyện làm trung tâm, nâng cao chất lượng huấn luyện cán bộ là khâu then chốt”. Tích cực đổi mới công tác quản lý, điều hành huấn luyện theo hướng “Tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không chồng chéo”; duy trì nghiêm nền nếp kiểm tra hằng ngày đối với cấp trung đội, đại đội, hằng tuần đối với cấp tiểu đoàn, trung đoàn; thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, làm rõ nguyên nhân, tìm giải pháp khắc phục để nâng cao chất lượng huấn luyện. Quán triệt phương châm “Cơ bản - Thiết thực - Vững chắc”, Đoàn chú trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, lấy thực hành là chính, gắn với việc truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu, truyền thống hào hùng, vẻ vang của Quân đội, Sư đoàn, Trung đoàn. Kết hợp tổ chức huấn luyện theo chương trình cơ bản với huấn luyện theo nhiệm vụ; tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện đêm, huấn luyện cơ động, theo tình huống và rèn luyện thể lực bộ đội, nhất là hành quân bộ qua mọi địa hình, mọi điều kiện, thời tiết. Coi trọng huấn luyện đồng bộ, toàn diện cho cả cán bộ cơ quan và phân đội, thực hiện nghiêm việc “rèn cán, rèn binh, rèn mình, rèn chiến sĩ”. Đẩy mạnh đổi mới công tác kiểm tra đánh giá kết quả theo hướng thực chất, sát với phương án, lấy kết quả huấn luyện để đánh giá phẩm chất, năng lực, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chỉ huy các cấp. Chỉ huy Đoàn động viên cán bộ, chiến sĩ trong diễn tập Cùng với đó, tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ, Quân khu, Sư đoàn về công tác sẵn sàng chiến đấu. Xây dựng hệ thống văn kiện tác chiến theo quy định; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm 100% quân số, vũ khí, trang bị kỹ thuật, sẵn sàng cơ động thực hiện nhiệm vụ khi có lệnh, không để bị động, bất ngờ. Tăng cường huấn luyện, luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu ở các cấp. Trong đó, chuẩn hóa thứ tự nội dung, phương pháp công tác của chỉ huy cơ quan, đơn vị để rút ngắn thời gian các bước. Chú trọng tổ chức huấn luyện, luyện tập thường xuyên các phương án cho trực ban, chỉ huy cơ quan, phân đội; huấn luyện đồng bộ cho các đối tượng, các đơn vị bảo đảm. Tổ chức diễn tập các cấp, tham gia diễn tập trong đội hình cấp trên hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Ba là, nâng cao xây dựng chính quy, giữ nghiêm kỷ luật, bảo đảm an toàn trong mọi hoạt động của Đơn vị. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết, quy định của trên về xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, bảo đảm an toàn trong huấn luyện, diễn tập, công tác. Tập trung giáo dục nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ; duy trì nghiêm kỷ luật, nền nếp chế độ chính quy, lễ tiết tác phong quân nhân, toàn đơn vị hành động theo điều lệnh, tạo sự thống nhất cao trong đơn vị. Đoàn đề cao yêu cầu đội ngũ cán bộ phải làm gương cho chiến sĩ, cơ quan phải làm gương cho đơn vị, chuẩn mực về lời nói và hành động. Cấp ủy, chỉ huy các cấp duy trì chặt chẽ công tác quản lý, chỉ huy bộ đội, quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật; tăng cường quản lý theo phân cấp; thực hiện nghiêm nghị quyết, chỉ thị, quy định của trên về bảo đảm an toàn trong huấn luyện, quản lý, xây dựng đơn vị và an toàn giao thông; chủ động phòng ngừa, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm kỷ luật, mất an toàn trong thực hiện nhiệm vụ. Bốn là, đẩy mạnh công tác dân vận, tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Đơn vị đứng chân, công tác. Từ nhân dân mà ra, ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng được nhân dân thương yêu chăm sóc, do đó cán bộ, chiến sĩ của Đoàn luôn mang nặng nghĩa tình với nhân dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, vì nhân dân chiến đấu. “Một ngày học dân một điều, giúp dân một việc” là tâm niệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ, là khẩu hiệu hành động của toàn Đơn vị. Phát huy truyền thống đó, Đoàn tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm đổi mới công tác vận động quần chúng của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” và các văn bản của trên về công tác dân vận. Chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn đứng chân và địa bàn phân công làm công tác dân vận để nắm chắc tình hình địa bàn, thực hiện nhiệm vụ hành quân dã ngoại làm công tác dân vận; trọng tâm là triển khai thực hiện tốt kế hoạch “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Giảm hộ nghèo bền vững”, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quá trình thực hiện, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị vận dụng linh hoạt nội dung, hình thức công tác dân vận phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương và khả năng của đơn vị; phát huy tốt vai trò tham mưu của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, cán bộ phụ trách công tác dân vận của các đơn vị. Chủ động, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên các địa bàn được phân công, tạo niềm tin của cấp ủy, chính quyền địa phương, vun đắp mối quan hệ đoàn kết quân dân keo sơn gắn bó; tô thắm truyền thống “Trên tin, bạn mến, dân thương. Đã đi là đến, đã đánh là thắng” của Đoàn Ba Gia Anh hùng..

 Nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác giáo dục, đào tạo đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện Lục quân đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đột phá đổi mới nội dung, chương trình gắn với đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục. Với quyết tâm cao, giải pháp thiết thực, hiệu quả, chất lượng giáo dục, đào tạo của Học viện ngày càng được nâng lên, bảo đảm thực chất, minh bạch; học viên sau khi tốt nghiệp ra trường đều vận dụng và phát huy có hiệu quả kiến thức được lĩnh hội tại Học viện vào công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đơn vị, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.

Hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của Học viện tiếp tục có sự phát triển cả về đối tượng, lưu lượng và chất lượng, đòi hỏi cần có những giải pháp mang tính căn bản, toàn diện, phù hợp. Để nâng cao chất lượng đào tạo cho các đối tượng học viên theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, khoa, hệ quản lý học viên tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về giáo dục, đào tạo trong Quân đội; tập trung vào một số nội dung, giải pháp sau.

Thiếu tướng Đỗ Minh Xương trao Giấy Chứng nhận Giảng viên dạy giỏi cấp Học viện năm học 2022-2023

Một làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp về đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo của Học viện. Thực hiện tốt giải pháp này không những đảm bảo công tác giáo dục, đào tạo của Học viện đi đúng hướng; quy tụ trí tuệ, niềm tin, tạo sức mạnh tổng hợp, vượt qua khó khăn, thách thức, mà còn là yếu tố nền tảng để thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp khác. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên tổ chức nghiên cứu sâu, kỹ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác giáo dục, đào tạo; Nghị quyết số 569-NQ/ĐU, ngày 05/4/2023 của Đảng ủy Học viện về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, cụ thể hóa thành các kế hoạch, chương trình hành động, bảo đảm sát thực tế, phù hợp với đặc điểm của từng cơ quan, đơn vị, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức, trách nhiệm cho các đối tượng tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo. Căn cứ vào mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo được giao, Học viện chỉ đạo tập trung nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, giữ vững định hướng chính trị cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp về đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, tập trung bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục và các đối tượng học viên; kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng ngại đổi mới, không dám đổi mới, dập khuôn máy móc hoặc thỏa mãn dừng lại. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ quan, khoa, hệ quản lý học viên, nhất là cơ quan, đơn vị trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, bảo đảm cho nhiệm vụ này phải được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ, khoa học, đúng định hướng, chức năng, nhiệm vụ và sát thực tiễn theo phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”.

Hai lànâng cao chất lượng tham mưu của các cơ quan; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đây là giải pháp vừa mang tính nền tảng, vừa tạo ra động lực quan trọng, góp phần xây dựng Học viện chính quy, hiện đại, mẫu mực, tiêu biểu. Vì vậy, Học viện chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ổn định về tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị theo biểu tổ chức, biên chế mới, bảo đảm cân đối, đồng bộ, hợp lý, không để chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các cơ quan, khoa, hệ vừa phải có khả năng tham mưu, đề xuất với Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo; đồng thời, hướng dẫn tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng giữa các cơ quan, đơn vị trong triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục, đào tạo.

Xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục là vấn đề có tính then chốt trong nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Nhận thức rõ điều đó, Học viện tăng cường chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chủ động rà soát, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đội ngũ này gắn với Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo”; tích cực tạo nguồn, tuyển chọn, bổ sung đội ngũ giảng viên theo các tiêu chí xác định, nhất là số cán bộ, giảng viên có trình độ sau đại học. Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục theo hướng phát triển năng lực toàn diện, chú trọng năng lực phát triển chương trình đào tạo, giảng dạy theo phương pháp hiện đại, năng lực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động giảng dạy. Tăng cường đưa giảng viên đi thực tế tại đơn vị với chức danh phù hợp cấp đào tạo và chức vụ tương ứng để tích lũy kiến thức thực tiễn. Phấn đấu đến hết năm 2025, có 75% giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục trở lên đạt chuẩn theo quy định; 100% giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục có trình độ đại học, trong đó 70% có trình độ sau đại học, 25% trở lên giảng viên đạt trình độ tiến sĩ.

Tổ chức diễn tập chỉ huy cơ quan 1 bên, 2 cấp trên bản đồ và ngoài thực địa cho học viên Đ57 và các chuyên ngành binh chủng năm thứ 2

Ba làđổi mới và đồng bộ nội dung, chương trình, quy trình đào tạo, xây dựng hoàn chỉnh chuẩn đầu ra. Bám sát quan điểm, mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo, Học viện tập trung rà soát, đổi mới nội dung, chương trình, quy trình đào tạo theo hướng rút ngắn thời gian học tập lý thuyết, tăng thời gian thực hành, học tập thực tế, tự học của học viên, bảo đảm tính hệ thống, kế thừa, liên thông giữa các trình độ đào tạo. Trên cơ sở chương trình khung và kết quả khảo sát chất lượng cán bộ đã qua đào tạo về công tác tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, Học viện thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm sau từng khóa đào tạo; nắm chắc số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất hiện có và định hướng đầu tư các năm tiếp theo, làm cơ sở điều chỉnh, bổ sung nội dung chương trình đào tạo.

Thực hiện Quyết định số 3061/QĐ-BQP, ngày 11/7/2023 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc phê duyệt Đề án “Đổi mới quy trình, chương trình đào tạo cán bộ các cấp trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”, Học viện chủ động triển khai xây dựng đồng bộ và tiếp tục hoàn thiện 23 chương trình khung, chương trình chi tiết từng học phần cho các đối tượng đào tạo theo quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện về nội dung chương trình, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo cán bộ cấp chiến thuật, chiến dịch trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới. Đồng thời, tập trung rà soát, cắt bỏ những nội dung trùng lặp, bổ sung nội dung, cập nhật kiến thức mới vào chương trình đào tạo, theo tiêu chí huấn luyện những nội dung người học cần để đảm nhiệm chức vụ sau khi ra trường. Cùng với đổi mới nội dung, chương trình, quy trình, Học viện tiếp tục hoàn chỉnh việc xây dựng chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo, bảo đảm thiết thực, nhất quán với mục tiêu của chương trình đào tạo và liên thông với chuẩn đầu vào của trình độ đào tạo, bậc học cao hơn; phù hợp với đối tượng đào tạo, sát với chức danh đảm nhiệm sau khi tốt nghiệp, thực tế huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và yêu cầu xây dựng Quân đội. Tập trung xây dựng chuẩn đầu ra các học phần, bài giảng thể hiện đầy đủ nội dung của chuẩn đầu ra chương trình đào tạo và bảo đảm sự liên kết chặt chẽ để nâng cao chất lượng của chương trình đào tạo.

Bốn làchú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo. Trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo đã xác định, thời gian tới, Học viện tích cực nghiên cứu, vận dụng đa dạng, linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực, sát thực tiễn, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học, gắn lý luận với thực tiễn, lý thuyết đi đôi với thực hành. Duy trì các hoạt động phương pháp, như: thông qua bài giảng, dự giảng, rút kinh nghiệm,... thành nền nếp, chất lượng; tăng cường công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, tập trung nâng cao phẩm chất đạo đức, kỹ năng sư phạm, trình độ ngoại ngữ, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy - học hiện đại trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng tự học, tự rèn của học viên theo hướng biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo; xây dựng lòng say mê học tập, nghiên cứu khoa học và rèn luyện. Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, khoa, hệ quản lý học viên, đơn vị bảo đảm thực hiện tốt “3 đột phá, 3 không, 3 thực chất”1 và thực hiện đồng bộ các giải pháp đánh giá kết quả học tập của học viên; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo được đánh giá một cách khách quan, thực chất, vững chắc.

Năm làxây dựng Học viện thông minh, hiện đại gắn với chuyển đổi số. Đây là giải pháp quan trọng để xây dựng “Học viện thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” gắn với phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số trong Bộ Quốc phòng. Theo đó, Học viện xác định một số vấn đề cần thực hiện trong quá trình xây dựng Học viện thông minh, hiện đại, đó là: ứng dụng sư phạm thông minh, giảng dạy thông minh; xây dựng phát triển thư viện thông minh, trung tâm học liệu; xây dựng các phòng học thông minh; xây dựng tích hợp khuôn viên thông minh; xây dựng, phát triển cổng thông tin điện tử; xây dựng, phát triển các phần mềm, ứng dụng công nghệ thông tin; đào tạo trực tuyến, từ xa trên mạng truyền số liệu quân sự; xây dựng Tạp chí Nghiên cứu chiến thuật, chiến dịch đạt tiêu chuẩn theo quy định của nghệ thuật khoa học quân sự Việt Nam. Để nâng cao trình độ công nghệ thông tin và ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, Học viện tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm kết nối dữ liệu đến tất cả cơ quan, đơn vị bảo đảm bí mật, an toàn, vững chắc, tốc độ đường truyền nhanh, ổn định, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa phục vụ cho tiến trình hiện đại hóa Quân đội và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đoàn Ba Gia phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

 Phát huy truyền thống của đơn vị ba lần được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Đoàn Ba Gia luôn bản lĩnh, quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Ngày 20/11/1963, Đoàn Ba Gia1 được thành lập trên cơ sở các đơn vị thuộc “Công trường 1 - kiêm tỉnh đội Quảng Nam” và trở thành một trong hai trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự ra đời của Đoàn đã đánh dấu bước trưởng thành mới về quy mô tổ chức lực lượng vũ trang tập trung, đáp ứng yêu cầu mới, cao hơn trong việc sử dụng các đòn tiến công quân sự quyết định, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh chính trị của phong trào Đồng khởi rộng khắp trên chiến trường Khu 5.

Trải qua 60 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, phát triển, với 20 năm liên tục làm nhiệm vụ chiến đấu, từ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, tham gia hàng chục chiến dịch, thực hiện hàng trăm trận đánh với nhiều đối tượng tác chiến, Đoàn đã có chiều dài chiến công nối tiếp chiến công, với những trận chiến đấu đã đi vào lịch sử, như: Ba Gia, Vạn Tường, Đồng Dương, Quang Thạnh, v.v. Trong chặng đường ấy, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Đoàn anh dũng xung phong trên chiến trường diệt địch trong thời chiến hay “vượt nắng thắng mưa, say sưa luyện tập” nơi thao trường, tham gia diễn tập trên các địa hình, địa phương,... trong thời bình đã trở nên quen thuộc, lan tỏa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” - Người chiến sĩ Đoàn Ba Gia Anh hùng.

Tuyên thệ chiến sĩ mới năm 2023

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Đoàn đã được Nhà nước ba lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1972, 1976, 1979); 01 Huân chương Độc lập; 16 Huân chương Quân công Giải phóng; 02 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc (hạng Nhì, Ba); 56 Huân chương Chiến công các loại; 03 tập thể và 08 cá nhân được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng nhiều phần thưởng cao quý.

Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đoàn tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, luôn xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Trước hết, xây dựng Đoàn vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ “cơ động, đánh thắng” trong mọi tình huống. Theo đó, Đoàn tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của trên về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, tạo thành nền nếp gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm; hướng vào giải quyết dứt điểm những khâu yếu, mặt yếu của từng cơ quan, đơn vị. Nâng cao chất lượng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; trong đó, chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng thiết thực về nội dung; đa dạng, phong phú về hình thức, biện pháp; phù hợp với từng đối tượng; bồi đắp lý tưởng, xây dựng bản lĩnh vững vàng, quyết tâm chính trị cao, khơi dậy niềm tự hào với truyền thống của đơn vị để mỗi cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy hành động cách mạng, lan tỏa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trên mọi lĩnh vực, nhiệm vụ được giao.

Xác định công tác xây dựng Đảng là then chốt, yếu tố quyết định thắng lợi mọi nhiệm vụ, Đoàn tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh. Trọng tâm là, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo; bổ sung, hoàn chỉnh các quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo trên các mặt công tác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng chi bộ, đảng bộ. Đẩy mạnh đổi mới nội dung, quy trình ra nghị quyết lãnh đạo theo hướng: ngắn, gọn, có trọng tâm, trọng điểm, sát với thực tế; tập trung lãnh đạo khắc phục triệt để các khâu yếu, mặt yếu của đơn vị. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt, nêu cao tinh thần đấu tranh, tự phê bình và phê bình; tổ chức tốt các đợt sinh hoạt “tự soi, tự sửa”, chống các biểu hiện ngại khó, sợ khuyết điểm, né tránh trách nhiệm, thiếu động cơ phấn đấu, v.v. Cùng với đó, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có chất lượng tốt, hợp lý về cơ cấu, ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ. Tập trung bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác khoa học, cụ thể, tỷ mỷ, hiệu quả; đề cao ý thức trách nhiệm, tinh thần làm chủ, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, thử thách. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, người cán bộ phải luôn gắn bó, gần gũi, đồng cam, cộng khổ với bộ đội; giải quyết tốt các mối quan hệ cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, lãnh đạo với chỉ huy, tạo sự đoàn kết, thống nhất cao trong đơn vị. Đồng thời, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, tích cực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cấp ủy viên, cán bộ chủ trì; chống mọi biểu hiện chủ quan, giản đơn, ngại khó, ngại khổ, làm việc cầm chừng, thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Hai là, đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu lên một bước mới. Là đơn vị được sinh ra từ yêu cầu của chiến trường, gắn liền với hoạt động tác chiến, vì vậy huấn luyện luôn là công tác quan trọng hàng đầu. Để xứng danh “Trung đoàn thép”, “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, Đoàn chú trọng làm tốt công tác quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng về nhiệm vụ, kiên quyết đấu tranh với tư tưởng ngại khó, ngại khổ; hạ thấp mục tiêu, yêu cầu trong huấn luyện và rèn luyện bộ đội. Thực hiện đột phá: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm; lấy đổi mới về tư duy nhận thức, cơ chế chỉ đạo, quản lý điều hành, nội dung, chương trình, tổ chức phương pháp và công tác bảo đảm huấn luyện làm trung tâm, nâng cao chất lượng huấn luyện cán bộ là khâu then chốt”. Tích cực đổi mới công tác quản lý, điều hành huấn luyện theo hướng “Tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không chồng chéo”; duy trì nghiêm nền nếp kiểm tra hằng ngày đối với cấp trung đội, đại đội, hằng tuần đối với cấp tiểu đoàn, trung đoàn; thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, làm rõ nguyên nhân, tìm giải pháp khắc phục để nâng cao chất lượng huấn luyện. Quán triệt phương châm “Cơ bản - Thiết thực - Vững chắc”, Đoàn chú trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, lấy thực hành là chính, gắn với việc truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu, truyền thống hào hùng, vẻ vang của Quân đội, Sư đoàn, Trung đoàn. Kết hợp tổ chức huấn luyện theo chương trình cơ bản với huấn luyện theo nhiệm vụ; tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện đêm, huấn luyện cơ động, theo tình huống và rèn luyện thể lực bộ đội, nhất là hành quân bộ qua mọi địa hình, mọi điều kiện, thời tiết. Coi trọng huấn luyện đồng bộ, toàn diện cho cả cán bộ cơ quan và phân đội, thực hiện nghiêm việc “rèn cán, rèn binh, rèn mình, rèn chiến sĩ”. Đẩy mạnh đổi mới công tác kiểm tra đánh giá kết quả theo hướng thực chất, sát với phương án, lấy kết quả huấn luyện để đánh giá phẩm chất, năng lực, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chỉ huy các cấp.

Chỉ huy Đoàn động viên cán bộ, chiến sĩ trong diễn tập

Cùng với đó, tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ, Quân khu, Sư đoàn về công tác sẵn sàng chiến đấu. Xây dựng hệ thống văn kiện tác chiến theo quy định; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm 100% quân số, vũ khí, trang bị kỹ thuật, sẵn sàng cơ động thực hiện nhiệm vụ khi có lệnh, không để bị động, bất ngờ. Tăng cường huấn luyện, luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu ở các cấp. Trong đó, chuẩn hóa thứ tự nội dung, phương pháp công tác của chỉ huy cơ quan, đơn vị để rút ngắn thời gian các bước. Chú trọng tổ chức huấn luyện, luyện tập thường xuyên các phương án cho trực ban, chỉ huy cơ quan, phân đội; huấn luyện đồng bộ cho các đối tượng, các đơn vị bảo đảm. Tổ chức diễn tập các cấp, tham gia diễn tập trong đội hình cấp trên hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Ba là, nâng cao xây dựng chính quy, giữ nghiêm kỷ luật, bảo đảm an toàn trong mọi hoạt động của Đơn vị. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết, quy định của trên về xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, bảo đảm an toàn trong huấn luyện, diễn tập, công tác. Tập trung giáo dục nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ; duy trì nghiêm kỷ luật, nền nếp chế độ chính quy, lễ tiết tác phong quân nhân, toàn đơn vị hành động theo điều lệnh, tạo sự thống nhất cao trong đơn vị. Đoàn đề cao yêu cầu đội ngũ cán bộ phải làm gương cho chiến sĩ, cơ quan phải làm gương cho đơn vị, chuẩn mực về lời nói và hành động. Cấp ủy, chỉ huy các cấp duy trì chặt chẽ công tác quản lý, chỉ huy bộ đội, quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật; tăng cường quản lý theo phân cấp; thực hiện nghiêm nghị quyết, chỉ thị, quy định của trên về bảo đảm an toàn trong huấn luyện, quản lý, xây dựng đơn vị và an toàn giao thông; chủ động phòng ngừa, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm kỷ luật, mất an toàn trong thực hiện nhiệm vụ.

Bốn là, đẩy mạnh công tác dân vận, tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Đơn vị đứng chân, công tác. Từ nhân dân mà ra, ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng được nhân dân thương yêu chăm sóc, do đó cán bộ, chiến sĩ của Đoàn luôn mang nặng nghĩa tình với nhân dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, vì nhân dân chiến đấu. “Một ngày học dân một điều, giúp dân một việc” là tâm niệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ, là khẩu hiệu hành động của toàn Đơn vị. Phát huy truyền thống đó, Đoàn tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm đổi mới công tác vận động quần chúng của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” và các văn bản của trên về công tác dân vận. Chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn đứng chân và địa bàn phân công làm công tác dân vận để nắm chắc tình hình địa bàn, thực hiện nhiệm vụ hành quân dã ngoại làm công tác dân vận; trọng tâm là triển khai thực hiện tốt kế hoạch “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Giảm hộ nghèo bền vững”, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quá trình thực hiện, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị vận dụng linh hoạt nội dung, hình thức công tác dân vận phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương và khả năng của đơn vị; phát huy tốt vai trò tham mưu của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, cán bộ phụ trách công tác dân vận của các đơn vị. Chủ động, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên các địa bàn được phân công, tạo niềm tin của cấp ủy, chính quyền địa phương, vun đắp mối quan hệ đoàn kết quân dân keo sơn gắn bó; tô thắm truyền thống “Trên tin, bạn mến, dân thương. Đã đi là đến, đã đánh là thắng” của Đoàn Ba Gia Anh hùng.