Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

PHÁT HUY MẠNH MẼ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


Giữa bối cảnh mạng xã hội đang phát triển như vũ bão, vị thế của báo chí cách mạng không hề bị giảm sút, mà ngược lại cần tiếp tục được củng cố, nâng cao phù hợp với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.


Trải qua 98 năm hình thành và phát triển, báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng đất nước và dân tộc, là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò tiên phong trên trận địa tư tưởng, bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, trong đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ thường xuyên được các cơ quan báo chí quán triệt, nghiêm túc thực hiện.


Ngày 22/11/2017, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 23-KL/TW về “Tăng cường chỉ đạo, quản lý, phát huy vai trò của báo chí, xuất bản trong việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, trong đó xác định rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ngày 8/4/2020, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 43-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam”, trong đó, chỉ ra những thách thức trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp; khoa học công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, bên cạnh những thuận lợi cũng gây ra khó khăn cho hoạt động của báo chí; báo chí có nguy cơ bị truyền thông xã hội chi phối, lấn át; các thế lực thù địch không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta…


Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. (…). Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị – xã hội, thuần phong mỹ tục”(1).


Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII tiếp tục chỉ rõ vai trò của báo chí trong tình hình mới: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí và nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội và đánh giá sự hài lòng của người dân; chủ động dự báo tình hình, kịp thời xử lý thông tin, định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục thực hiện đồng bộ quy hoạch phát triển, quản lý báo chí, xuất bản; tăng cường định hướng và đề cao sứ mệnh, trách nhiệm, nâng cao chất lượng hoạt động của báo chí, quản lý chặt chẽ các trang tin điện tử, nhất là mạng xã hội…”(2).


Từ các văn kiện, nghị quyết nêu trên cho thấy chủ trương, đường lối của Đảng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã được tổ chức thực hiện đồng bộ, mạnh mẽ, quyết liệt ở các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương. Theo đó, các kênh phát thanh, truyền hình, cơ quan báo chí trên cả nước đã có những biện pháp chủ động, tích cực, đổi mới, sáng tạo nhằm tăng cường tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sâu rộng đến quần chúng nhân dân; thực hiện các chương trình, tuyến bài trực tiếp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng…


Từ khi Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được ban hành, đến nay có thể thấy, báo chí nước ta đã có những đóng góp to lớn vào việc ngăn chặn có hiệu quả và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc xuyên tạc tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh làm thất bại các luận điệu và hoạt động chống phá sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, chống phá nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xuyên tạc vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể với ý đồ “tư nhân hóa” kinh tế để hướng lái chế độ chính trị ở Việt Nam ngả dần theo con đường tư bản chủ nghĩa; làm thất bại âm mưu lợi dụng các vấn đề dân chủ, tự do, nhân quyền, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta; ngăn chặn, làm thất bại âm mưu cô lập, cản trở Việt Nam tham gia quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, tranh thủ sức mạnh ngoại lực để phát triển đất nước; đấu tranh có hiệu quả trong việc phản bác các luận điệu sai trái đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giúp nhân dân hiểu đúng và có niềm tin khoa học vào tính cách mạng của nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận thức rõ bản chất thật sự của các luận điệu sai trái, xuyên tạc mà các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, nhất là trên không gian mạng; kiên định trên cơ sở bổ sung, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp điều kiện thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước; đấu tranh có hiệu quả, từng bước ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; phản bác các luận điệu xuyên tạc xung quanh công tác phòng, chống tham nhũng, công tác bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ…


Nhiều âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, phản động đã bị các cơ quan báo chí kịp thời phát hiện, đấu tranh trực diện bằng nhiều bài viết, sản phẩm báo chí chất lượng, có tính chính xác và sức thuyết phục. Thông qua các tác phẩm báo chí chính luận, đại bộ phận nhân dân đã nhận ra bản chất thật của các âm mưu, luận điệu như: cản trở Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu Việt Nam (EVFTA); ngăn cản Việt Nam lần thứ hai ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc; xuyên tạc về chính sách dân tộc của Việt Nam liên quan đến vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân diễn ra tại Đắk Lắk…


Báo chí cũng đã làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền những tác phẩm lớn, công phu, có tính lý luận cao về xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà gần đây là hai cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”; “Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.


Những kết quả trên càng đáng được ghi nhận trong bối cảnh báo chí gặp nhiều khó khăn, nhất là việc sụt giảm doanh thu bởi tác động lâu dài của suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine, suy giảm quan hệ thương mại Mỹ – Trung. Không chỉ vậy, theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, khoảng 50% doanh thu của báo chí đang “chảy” vào các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới…


Thời gian qua, vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vướng mắc ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của báo chí trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó là tình trạng “báo hóa” trang tin điện tử và mạng xã hội vẫn diễn ra phổ biến mà chưa có chế tài ngăn chặn hiệu quả; công tác quy hoạch, sắp xếp báo chí còn có những khó khăn, nhạy cảm, cần tiếp tục làm rõ, bổ sung nhiều nội dung, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp; lộ trình tự chủ của nhiều cơ quan báo chí tiếp tục gặp nhiều thách thức vì chưa có cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đủ mạnh… Cùng với đó, do hạn chế về nguồn lực nên khả năng thích ứng với xu thế truyền thông hiện đại của không ít cơ quan báo chí còn lúng túng; chất lượng nguồn nhân lực làm công tác báo chí chưa thực sự tương xứng với vai trò và vị trí tiên phong trong định hướng dư luận xã hội, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ…


Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc nêu trên, đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của báo chí cách mạng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần quan tâm hơn nữa đến một số vấn đề sau:


Một là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí, cơ quan chủ quản về vai trò của báo chí, truyền thông trong “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” theo hướng phối hợp chặt chẽ, đồng bộ việc trao đổi, định hướng thông tin, đặc biệt là đối với các sự kiện lớn, những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, để kịp thời thông tin chính xác đến các tầng lớp nhân dân.


Hai là, triển khai đồng bộ nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch đặc biệt là trên không gian mạng và các nền tảng mạng xã hội.


Về nội dung, cần tiếp tục bám sát vào những vấn đề “nóng” mà các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để xuyên tạc, chống phá như: nhân quyền, tự do ngôn luận, vai trò lãnh đạo của Đảng, chủ quyền quốc gia, quan hệ của Việt Nam với các nước láng giềng, các nước lớn… Tăng cường tính chủ động, kịp thời, linh hoạt, hiệu quả trong một số sự kiện, vấn đề lớn diễn ra trong thời gian tới như chuẩn bị công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng; tuyên truyền xung quanh công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết mới của Trung ương thay thế Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước. Đồng thời chú trọng tuyến bài biểu dương, cổ vũ các gương điển hình trong công tác xây dựng Đảng, phong trào thi đua yêu nước thời kỳ đổi mới. Thông qua việc nêu gương để định hướng tư tưởng, dẫn dắt, tạo ảnh hưởng lan tỏa, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, tạo hiệu ứng xã hội sâu rộng. Báo chí phải thực sự trở thành diễn đàn để đảng viên và nhân dân tham gia trực tiếp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy thế trận lòng dân trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.


Về hình thức, cần sử dụng đa dạng loại hình báo chí, thế mạnh của truyền thông mạng xã hội để nâng cao khả năng tiếp cận độc giả, thu hút công chúng, tuyên truyền phổ biến rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân. Các tác phẩm cần có sự thể hiện đa dạng về thể loại như Inforgraphic, Longform, Short Video, Vlog, Reaction Video…


Về nguồn lực con người thực hiện công tác báo chí, cần chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để các phóng viên nhận thức sâu sắc “làm báo là làm cách mạng”, người làm báo là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng. Kết hợp bồi dưỡng chính trị với nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ để có thể sản xuất các sản phẩm báo chí sáng tạo, đa phương tiện, giàu sức chiến đấu, đề cao tính lý luận nhưng vẫn bảo đảm hấp dẫn, thu hút người đọc, người xem.


Ba là, đầu tư cho phát triển báo chí theo hướng hiện đại, đồng thời thực hiện tốt quy hoạch báo chí. Quyết tâm chuyển đổi số báo chí nhằm mục tiêu xây dựng các cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước để bảo đảm báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, tiến tới tự chủ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội.


Bốn là, hoàn thiện các văn bản pháp luật và cơ chế thực hiện nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng báo hóa mạng xã hội, tư nhân hóa báo chí, đẩy lùi hiện tượng hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, sa đà vào những thông tin giật gân, câu khách, lệch lạc chỉ nhằm đáp ứng thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng.


Đến thời điểm này, chúng ta đã đi được hơn nửa chặng đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong bối cảnh đất nước đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, có khó khăn chưa có tiền lệ, Đảng ta vẫn “vững chí bền gan” thực hiện công cuộc đổi mới. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh chống lại các luận điệu lợi dụng tự do, dân chủ để rêu rao chiêu bài đa nguyên, đa đảng; lợi dụng chống tham nhũng, tiêu cực để quy kết, bôi xấu chế độ, gây nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ Đảng, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước với nhân dân; lợi dụng vấn đề tôn giáo, sắc tộc để đòi tự trị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh đó, người làm báo cách mạng phải “đi tiên phong trên mặt trận tư tưởng, tỉnh táo, cảnh giác, lấy chính thực tiễn sinh động của đất nước đổi mới để tấn công, vạch trần âm mưu thâm độc của các thế lực xấu, thù địch, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ ta”./.

ST

ĐỀ CAO VAI TRÒ KẾT NỐI NHỊP CẦU HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CAMPUCHIA CỦA THANH NIÊN

 

Nhân kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng 7/1, ngày giải phóng đất nước và nhân dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot (7/1/1979-7/1/2024), báo Khmer Times ngày 5/1 đã đăng bài viết của chuyên gia Uch Leang - nhà nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia (RAC), trong đó nhấn mạnh và đề cao vai trò của thanh niên trong việc gây dựng “cầu nối hữu nghị” Việt Nam - Campuchia trong tiến trình xây dựng, phát triển và gìn giữ hòa bình trên “Đất nước Chùa Tháp”.


Cùng ngày, phiên bản tiếng Khmer của bài viết cũng được đăng tải trên trang chủ của RAC với tiêu đề “Kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng 7/1: Thanh niên là nhịp cầu kết nối tình hữu nghị”.


Theo phóng viên TTXVN tại Phnom Penh, trong bài viết với tiêu đề “Kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng 7/1: Thanh niên vững vàng xây cầu hữu nghị”, nhà nghiên cứu Uch Leang đã nhắc lại sự kiện lịch sử vào ngày 7/1/1979, lực lượng quân đội Mặt trận Đoàn kết Cứu quốc Campuchia và nhân dân Campuchia, với sự hỗ trợ của bộ đội tình nguyện và nhân dân Việt Nam, đã lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, giải phóng dân tộc và đất nước Campuchia khỏi chế độ diệt chủng vốn đã khiến hơn 3 triệu người dân vô tội thiệt mạng. Đây là sự kiện lịch sử thể hiện tinh thần đại đoàn kết quốc tế giữa nhân dân và quân đội hai nước Campuchia - Việt Nam, mở ra trang mới trong quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt đẹp giữa hai nước.


Theo bài viết, trong chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Campuchia Samdech Thipadei Hun Manet tới Việt Nam từ ngày 11-12/12/2023, tại các cuộc gặp với phái đoàn Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia và đoàn đại biểu Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của phía Việt Nam, hai bên đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của mình trong ngoại giao nhân dân, giao lưu văn hóa, hoạt động nhân đạo và thương mại. Các cuộc thảo luận tập trung vào những định hướng trong thời gian tới nhằm duy trì và nâng cao tinh thần đoàn kết, hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần hợp tác trên các lĩnh vực như thương mại, giáo dục, du lịch.


Trong khi đó, phát biểu tại tiệc chiêu đãi do Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Samdech Thipadei Hun Manet tới Việt Nam, Thủ tướng Hun Manet đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục, phổ biến cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu rõ sự thật lịch sử, cũng như tầm quan trọng và giá trị của mối quan hệ gắn bó giữa Campuchia và Việt Nam”.


Bài viết cũng cho biết trong cuộc gặp giữa Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Campuchia Hun Many và phái đoàn Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam do Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Bùi Quang Huy dẫn đầu tại trụ sở Hội Liên hiệp Thanh niên Campuchia vào ngày 24/5/2023, hai bên đã cam kết tăng cường hợp tác thông qua trao đổi chuyến thăm giữa các đoàn thanh niên và tìm kiếm cơ hội cho nhiều dự án chung giữa hai bên. Trong khi đó, ông Hun Many đã kêu gọi phía Việt Nam tiếp tục khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư nhiều hơn nữa để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của hai nước.


Từ nhận định trên, nhà nghiên cứu thuộc RAC khẳng định đó là minh chứng thực tiễn của việc duy trì và nâng cao tinh thần đoàn kết, hữu nghị, hiểu biết giữa nhân dân hai nước Campuchia - Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Qua đó, góp phần thúc đẩy các hoạt động hợp tác, khởi nghiệp, giáo dục, du lịch nhằm hỗ trợ nền kinh tế Campuchia tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tựu mới theo phương châm “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Campuchia và Việt Nam./. 

ST


BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM: CHIẾN THẮNG CỦA TÌNH ĐOÀN KẾT

 

Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam là biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia.


Hồi sinh một đất nước


Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Việt Nam cùng quân dân Campuchia xóa bỏ chế độ diệt chủng đã giúp xứ Chùa tháp hồi sinh, bước vào kỷ nguyên mới, hòa bình, hòa hợp và phát triển.


Trong chiều dài lịch sử, Việt Nam và Campuchia luôn đoàn kết bên nhau, kề vai sát cánh cùng chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Những năm tháng cam go của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam sẵn sàng đưa quân tình nguyện sang giúp nước bạn. Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Campuchia ngày 17/4/1975 là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, trong sáng giữa ba nước Đông Dương.


Tuy nhiên, sau khi lên nắm quyền vào tháng 4/1975, được các thế lực bên ngoài giúp sức, tập đoàn Pol Pot Ieng Sary đã phản bội nhân dân Campuchia. Chúng lập nên cái gọi là “nhà nước Campuchia dân chủ”, thi hành chế độ diệt chủng, thanh trừng nội bộ... Chỉ trong 3 năm 8 tháng và 20 ngày, từ tháng 4/1975 đến cuối năm 1978, bè lũ Pol Pot đã giết hại gần 3 triệu người dân Campuchia vô tội, xóa bỏ mọi hình thức xã hội, đẩy đất nước Campuchia tươi đẹp đứng trước thảm họa diệt vong. Lực lượng yêu nước Campuchia đứng trước tình thế vô cùng khó khăn như lời Thủ tướng Campuchia Hun Sen rằng “Chúng ta chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng và ngồi chờ cái chết”.


Đối với Việt Nam, tập đoàn Pol Pot Ieng Sary xuyên tạc lịch sử, kích động thù hằn dân tộc, gây rối rồi xâm lấn lãnh thổ trên vùng biển biên giới Tây Nam, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp giữa hai nước. Chúng còn được tiếp sức từ bên ngoài, đưa quân áp sát biên giới rồi đánh chiếm đảo Thổ Chu và một số đảo khác ở khu vực Tây Nam. Đêm ngày 30/4/1977, lợi dụng lúc quân và dân ta kỷ niệm hai năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tập đoàn Pol Pot mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới thuộc địa phận tỉnh An Giang, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam.


Trước hành động gây hấn, mở rộng chiến tranh của Pol Pot, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã kiềm chế và kiên trì thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị. Nhưng càng kiềm chế, thì chúng càng lấn tới, buộc Việt Nam phải chọn con đường đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng. Đáp lại lời kêu cứu của nhân dân Campuchia và lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23/12/1978, quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tổng phản công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 26/12/1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pol Pot bị phá vỡ. Đến ngày 31/12/1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pol Pot, thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm. Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnom Penh hoàn toàn giải phóng. Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam không chỉ đập tan âm mưu xâm lược, mà còn lật đổ chế độ diệt chủng của tập đoàn Pol Pot, đưa nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do...


Trong cuộc chiến đấu gian khổ và ác liệt đó, biết bao cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh, để lại một phần máu, thịt trên các chiến trường nước bạn.Thủ tướng Hun Sen khi còn tại vị đã khẳng định: “Nếu không có ngày 7/1/1979, nhân dân Campuchia không thể có được những gì trong ngày hôm nay. Đây là chân lý lịch sử không một thế lực phản động nào có thể phủ nhận”.


Tại Hội đàm với Thủ tướng Phạm Minh Chính (ngày 11/12/2023) trong chuyến thăm Việt Nam đầu tiên kể từ khi lên nhậm chức, Thủ tướng Campuchia Samdech Thipadei Hun Manet bày tỏ chân thành cảm ơn quân đội và nhân dân Việt Nam đã giúp Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, cũng như trân trọng truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước trong thời kỳ đấu tranh chống thực dân, đế quốc trước đây. Trong buổi giao lưu với cán bộ, giảng viên, sinh viên Trường Đại học Ngoại thương ngày 12/12, Thủ tướng Hun Manet tiếp tục khẳng định, đó là chân lý lịch sử không thể phủ nhận được và là cơ sở để xây dựng tương lai lịch sử hai nước, điều này mang ý nghĩa rất quan trọng. Campuchia không bao giờ quên sự giúp đỡ của Việt Nam.


Thủy chung son sắt


Sau thắng lợi ngày 7/1/1979, tàn quân Pol Pot còn khoảng 4 vạn tên do bọn đầu sỏ chỉ huy rút chạy ẩn náu ở các vùng biên giới phía Tây, Tây Bắc Campuchia và một số nơi trong nội địa, dựa vào sự giúp đỡ của bên ngoài tiếp tục chống phá cách mạng. Chúng đẩy mạnh các hoạt động chính trị, ngoại giao, tạo sức ép đẩy quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi Campuchia trong khi lực lượng cách mạng của nước bạn còn yếu; chúng hy vọng phản công chiếm lại thủ đô Phnom Penh với ảo tưởng lập lại chính quyền diệt chủng.


Ngày 18/2/1979, tại Phnom Penh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Heng Samrin thay mặt Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia ký “Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác”. Hai bên cam kết hết lòng ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau bằng mọi hình thức nhằm tăng cường khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân mỗi nước.


Thực hiện Hiệp ước, trong 10 năm tiếp theo, từ 1979-1989, Việt Nam tiếp tục giúp Campuchia vừa xây dựng lực lượng, vừa phối hợp truy quét tàn quân Pol Pot, đồng thời xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, ổn định, hồi phục đời sống trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, giáo dục, giao thông vận tải, y tế… chăm lo đời sống nhân dân.


Trong 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Người dân Campuchia trìu mến gọi những chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam là bộ đội nhà Phật. Khi tình hình Campuchia đi vào ổn định, ngày 26/9/1989, trước sự chứng kiến của truyền thông quốc tế, các đơn vị cuối cùng của quân tình nguyện Việt Nam rút quân về nước. Khi đó, báo Pracheachon của Campuchia ra xã luận viết: “Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Pol Pot, trên thế giới này, có không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu dân tộc ta mà thôi”.


Phát biểu trong buổi gặp mặt người dân, sinh viên Việt Nam và Campuchia cùng các thế hệ bộ đội tình nguyện, chuyên gia Việt Nam đã từng có thời gian sang giúp nhân dân Campuchia bảo vệ và xây dựng đất nước, ngày 21/6/2017 tại Bình Dương nhân kỷ niệm 40 năm ngày cùng đồng đội bắt đầu con đường cách mạng cứu đất nước khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, Thủ tướng Hun Sen tiếp tục khẳng định: “Không có sự giúp đỡ của Việt Nam thì Campuchia không có ngày nay, dứt khoát là thế”.


Mở trang sử mới


Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng ngày 7/1/1979 trở thành mốc son lịch sử của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, hữu nghị giữa hai dân tộc, là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc.


Ngày nay, mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Campuchia được tiếp thêm sức mạnh từ những truyền thống lâu đời trong lịch sử, đã và đang được củng cố và phát triển theo phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Về chính trị, lãnh đạo cấp cao hai bên thường xuyên điện đàm, hội đàm trực tuyến, kể cả trong thời gian dịch bệnh Covid-19. Đặc biệt là việc Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Thủ tướng Samdech Techo Hun Sen sang Việt Nam dự cuộc gặp với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Thongloun Sisoulith ngày 26/9/2021 và có các cuộc gặp với Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ.


Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước và giữa các tỉnh biên giới khá sôi động. Kim ngạch thương mại hai nước năm 2023 dự kiến cán mốc 9 tỷ USD và đang phấn đấu đạt 20 tỷ USD trong thời gian tới. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba của Campuchia, sau Trung Quốc và Mỹ và là đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia trong ASEAN. Đặc biệt, Campuchia đứng thứ 2/79 quốc gia, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có đầu tư ra nước ngoài.


Hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh ngày càng thực chất hiệu quả, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Các lĩnh vực hợp tác khác về giáo dục, đào tạo, giao thông vận tải, văn hóa, y tế, viễn thông… được quan tâm đẩy mạnh. Hai nước thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, nhất là ở các địa phương giáp biên giới, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế, khu vực và tiểu vùng, nâng cao vị trí, uy tín của mỗi nước.


Ngày 20/6/2022, tại Lễ kỷ niệm 45 năm “Con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” được tổ chức tại Lộc Ninh, Bình Phước – nơi Thủ tướng Hun Sen và đồng đội đặt những bước chân đầu tiên trong hành trình cách mạng,nhà lãnh đạo Campuchia khẳng định, “45 năm qua, quan hệ hai nước ngày càng sâu sắc, trên tất cả các lĩnh vực. Sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam thể hiện tinh thần hữu nghị trong sáng, tốt đẹp giữa hai nước, nhân dân hai nước. Tôi tin tưởng mối quan hệ này sẽ mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”./. 

ST


TÔN TRỌNG VÀ TIN CẬY


Tôn trọng và tin cậy là một đề tài kinh điển, là anh em sinh đôi đáng yêu và không thể chia cắt; là đạo đức tốt đẹp không thể thiếu trong quan hệ hợp tác giữa người với người. Ai có và biết vận dụng khôn khéo đạo đức tốt đẹp này cũng sẽ được người khác tôn trọng và tin cậy, khiến sức liên kết của mình mạnh mẽ hơn hết bao giờ, cuộc giao lưu và hợp tác thuận lợi cũng như nhu cầu được thỏa mãn tốt hơn bao giờ hết. 


Ở một doanh nghiệp, đơn vị, chúng ta thường xuyên phải xử lý các mối quan hệ và sự việc với các thành viên. Giữa các thành viên tuy rất thân quen với nhau nhưng khi xử lý công việc mới thấy phức tạp và rối bời, đa dạng và tế nhị của chúng. Cung cách ứng xử bằng thái độ như thế nào sẽ gặt hái kết quả như thế ấy.


Trong giao tiếp, chỉ khi nào các bên tin cậy lẫn nhau mới có thể sinh ra lực mạnh nhất; tỵ hiềm, nghi kỵ lẫn nhau chỉ dẫn đến xa cách, bằng mặt không bằng lòng. Tôn trọng nhau, mới có thể chung lưng đấu cật, coi thường khinh bỉ nhau chỉ có thể mỗi người một ngả, thậm chí quay lưng lại nhau. Người Trung Quốc nói, bản thân chữ Người (?) đã ngụ ý sự nâng đỡ nhau, cái nền tảng nâng đỡ nhau đó, chính là sự tôn trọng và tin cậy lẫn nhau. Tin cậy có thể ví như dầu bôi trơn, tôn trọng tức là động cơ cỡ lớn, kéo con người nhịp nhàng tiến lên.


Đánh mất tôn trọng và tin cậy, dựa vào cái gì để vãn hồi mối quan hệ? Giữa các thành viên không còn sự tôn trọng và tin cậy sẽ rơi vào bãi lầy của sự cô đơn, thất bại, thậm chí mất hút trong rừng hoang bất lực và sụp đổ.


Phát triển quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp, đơn vị như thế nào, được quyết định bởi cách hành xử, vận dụng tôn trọng và tin cậy. Mỗi thành viên cảm thấy mình được các thành viên khác tôn trọng và tin cậy là rất quan trọng. Nếu anh không tin cậy tôi, dù anh cho tôi bao lợi lộc, thì tôi vẫn cảm thấy áy náy, cảm thấy mình bị nghi ngờ, bị tổn thương, thậm chí mất đi mặt sáng giá nhất của nhân cách, vị thế tồn tại của tôi. Mỗi người chỉ có thể nhận được tình yêu bằng cách mình dâng tặng cho người khác tình yêu, dù giữ chức vụ cao hay thấp, dù tôi là giám đốc anh là công nhân. Do đó, muốn giành được sự tôn trọng và tin cậy của người khác, thì trước hết mình phải là một nhân cách thành thật và lương thiện.


Điều này rất quan trọng. Khi cộng sự, nếu hai thành viên không tin cậy nhau làm sao có thể chân thành với nhau, thắt chặt quan hệ với nhau. Cho nên, tôn trọng và tin cậy là tiền đề dỡ bỏ phên dậu tâm lý giữa các thành viên, là cơ sở của sự bình đẳng cần có, là bảo đảm để cỗ máy vận hành trơn tru, để mỗi người suy nghĩ và hành động vì người khác, vì sự phát triển của cộng đồng và vì danh dự của chính bản thân mình!


Mỗi thành viên có vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng của mình nhưng tôn trọng các thành viên khác là tôn trọng mình. Ai cũng có cái khó của mình, tin cậy người khác là tin cậy mình. Tôn trọng và tin cậy là nhân tố khích lệ, là sức mạnh to lớn vô hình, nó có thể thay đổi nhận xét của chúng ta với mỗi người, với cuộc đời và sự nghiệp chung. Trong các mối quan hệ ở một doanh nghiệp, đơn vị, chỉ có tôn trọng và tin cậy không thôi thì chưa đủ. Nhưng, thiếu hoặc không có chúng, thật là khủng khiếp. Trong trái tim các thành viên, tin cậy là ánh mắt khích lệ, sưởi ấm tâm hồn, tôn trọng là mảnh đất phì nhiêu, nuôi dưỡng sự sinh tồn và phát triển của doanh nghiệp, tất nhiên cả của mỗi thành viên, mỗi công nhân và người lao động.


Ấy là tâm sự của một ông Giám đốc khi được hỏi về mối quan hệ với đồng chí Bí thư Chi bộ, Chủ tịch Công đoàn và Bí thư Đoàn Thanh niên, ở một doanh nghiệp tư nhân, mà doanh nghiệp vừa vinh dự đón nhận giải thưởng Sao Vàng đất Việt. Xin ghi lại ngõ hầu để chúng ta cùng suy ngẫm và hành động./. 

ST


HIỆP ĐỊNH PARIS MỞ ĐƯỜNG THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY


Hiệp định Paris năm 1973 là sự kiện mở ra thời cơ chiến lược để thúc đẩy công cuộc thống nhất đất nước thành công. Hiệp định không chỉ thể hiện ý chí, quyết tâm sắt đá của một dân tộc, sự lãnh đạo linh hoạt, sáng tạo của Đảng ta, mà còn cổ vũ các dân tộc thuộc địa đấu tranh cho độc lập dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay, tinh thần linh hoạt, sáng tạo nhưng kiên định, can trường trước mọi khó khăn, thử thách vì độc lập dân tộc trong quá trình đi tới ký kết Hiệp định Paris cần tiếp tục được phát huy, làm giàu thêm phẩm chất của nền ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” ngày nay.


Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết ngày 27-1-1973 tại Paris (Pháp) mở ra bước ngoặt mới trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; tạo thời cơ mới cho cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới, mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tính chất mở đường của Hiệp định Paris được thể hiện rõ nét, sinh động kể từ thời điểm có hiệu lực thi hành cho đến ngày toàn thắng 30-4-1975.


Tính chất bước ngoặt, mở đường của Hiệp định Paris


Nói đến tính chất mở đường của một văn kiện, một sự kiện là nói đến tính chất bước ngoặt mới, tạo ra những điều kiện thuận lợi để vạch kế hoạch tiến lên một giai đoạn mới, hoàn thành triệt để mục tiêu chiến lược. Hiệp định Paris về Việt Nam đã đưa cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam sang một cột mốc mới, thực hiện thành công việc “đánh cho Mỹ cút”. Đây là thắng lợi chiến lược tạo nên “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, tiếp sức mạnh mẽ cho nhân dân Việt Nam tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến. Kéo dài từ ngày 13-5-1968 đến ngày 27-1-1973, với hơn 200 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 1.000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam, có thể thấy, Hiệp định Paris là sản phẩm của quá trình kiên định, bền bỉ đấu tranh, vừa thể hiện quyết tâm sắt đá, vừa tỏ rõ thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam nhằm mở đường, tạo ra bước ngoặt mới có lợi để đi đến kết thúc cuộc chiến.


Thứ nhất, Hiệp định Paris mở đường để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược thần tốc thống nhất đất nước trong thời gian sớm nhất, đồng thời nhanh chóng chỉnh đốn những biểu hiện hữu khuynh sau Hiệp định Paris trong một bộ phận quân dân. Hiệp định Paris được ký kết đã làm cho hình thái chiến trường thay đổi theo hướng có lợi cho cách mạng. Với Hiệp định Paris, Mỹ phải rút, các lực lượng vũ trang của hai bên ở nguyên tại chỗ. Nhờ đó, ta đánh bại âm mưu “phân tuyến” của đối phương, bộ đội ta không phải “tập kết” ra một nơi (như thời kỳ Hiệp định Geneva năm 1954), mà ngược lại, ta duy trì trên chiến trường thế xen kẽ “da beo”, một thực trạng rất có lợi cho ta, bất lợi cho địch.


Đảng ta nhận định, sau Hiệp định Paris, chúng ta đã có những nhân tố thắng lợi và khả năng mới do Hiệp định Paris đưa lại, đó là chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng, vùng giải phóng, lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong vùng địch kiểm soát và những quyền cơ bản được Hiệp định thừa nhận. Do đó, phải tận dụng những nhân tố và khả năng ấy để “tiến lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”.


Trong Kết luận đợt 1, Hội nghị Bộ Chính trị ngày 10-10-1974, Đảng ta nhận định, lúc này, chúng ta đang có thời cơ và nhấn mạnh “ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mười, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được hồi phục… thì hình hình sẽ phức tạp vô cùng”; từ đó, Hội nghị xác định: “Ngay từ giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975 - 1976”.


Tuy nhiên, trước, trong và sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa vẫn tiến hành hàng loạt kế hoạch ngoan cố, dã tâm lấn chiếm, bình định, giành đất, giành dân. Việc bình định lấn chiếm trên thực địa của địch ngày càng trắng trợn, nhưng ở một số nơi, ta lại phản ứng chậm, nên đã để địch chiếm đất, giành dân. Khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu vẫn trắng trợn tuyên bố: Không thi hành Hiệp định Paris, không hòa hợp, chống hòa hợp với cộng sản; ra lệnh cho quân đội tiếp tục đánh tới, lấn đất, giành dân, cắm cờ, tràn ngập lãnh thổ.


Trong khi đó, về phía ta, một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vừa trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nay có Hiệp định Paris đã nảy sinh tư tưởng hữu khuynh, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Hơn nữa, trong chỉ đạo, lúc đầu, ta đã đánh giá không hết khả năng thực hiện âm mưu của địch, không dự kiến hết đế quốc Mỹ tuy thua nhưng vẫn rất ngoan cố, tìm mọi cách o bế quân đội Việt Nam Cộng hòa tiếp tục chiến tranh. Những tháng đầu năm 1973, trên một số chiến trường, địch đã giành được chủ động, thực hiện được phần nào chủ trương bình định của chúng, giành thêm một số dân, lấn thêm một số địa phương, bắt đầu lấn sâu vào các vùng giải phóng toàn B2.


Trước tình hình đó, Khu ủy Khu 9 đã tiên phong mở đường chống phá bình định thành công. Bí thư Khu ủy 9 là đồng chí Võ Văn Kiệt, Tư lệnh là đồng chí Lê Đức Anh đã chủ động chỉ đạo, chỉ huy quân dân Khu 9 đánh trả quyết liệt các cuộc hành quân lấn chiếm của ngụy, bức rút nhiều đồn bốt địch, tiếp tục mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ dân và vùng lúa gạo có ý nghĩa chiến lược. Nhờ đó, Khu 9 đã giành nhiều thắng lợi nổi bật trong đấu tranh chống địch bình định lấn chiếm, trở thành lá cờ đầu nêu gương cho các đơn vị khác học tập.


Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Khóa III (tháng 7-1973) kịp thời nhận diện bản chất tình hình, đề ra phương hướng hoạt động, với tinh thần chủ đạo là tiếp tục tiến công, giữ vững quan điểm cách mạng bạo lực. Ngày 15-10-1973, Bộ Tư lệnh Miền ra mệnh lệnh: Kiên quyết đánh trả những hành động chiến tranh của chính quyền Sài Gòn; kiên quyết đánh trả bất cứ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng. Mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền chỉ rõ quyền được đánh trả của lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự giành lại thế chủ động trên toàn chiến trường.


Với đề xuất để chiến trường B2 đi trước một bước, được Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tham mưu chấp thuận, trong mùa khô 1974 - 1975, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo, chỉ huy chiến trường B2 thực hiện nhiều chiến dịch tiến công của chủ lực và chiến dịch tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long, giành thắng lợi lớn trên đường 14 - Phước Long và ở Quân khu 9, cùng lúc đạt được nhiều ý nghĩa: Thử nghiệm phản ứng của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa, nhất là của Mỹ; đo lường khả năng của chủ lực ta so với chủ lực quân đội Việt Nam Cộng hòa; đo lường khả năng của lực lượng vũ trang cách mạng có thể giải phóng được những vùng liên hoàn rộng lớn hay không. Thực tiễn chứng minh những mục đích ấy đều đạt được sau thắng lợi của các chiến dịch trong mùa khô 1974 - 1975, tiêu biểu là chiến thắng Đường 14 - Phước Long. Ngay sau chiến thắng Phước Long, Đảng đã kịp thời bổ sung kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn. Đảng thống nhất sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn vào tháng 4 vì sang tháng 5 đã vào đầu mùa mưa ở Nam Bộ, nên việc cơ động của ta, nhất là tăng, pháo và cơ giới sẽ khó khăn, nhất là hướng tây và tây nam Sài Gòn với vùng Long An mênh mông đồng nước, kênh rạch và sình lầy. Cùng với việc soạn thảo kế hoạch là xây dựng “Quyết tâm chiến đấu” với sơ đồ phác ra 5 hướng tiến công vào sào huyệt quân thù.


Với tinh thần chủ động nắm lấy thời cơ, trong những ngày đầu tháng 4-1975, Bộ Tư lệnh Miền đã nhanh chóng vạch ra phương án chiến dịch giải phóng Sài Gòn trình lên Trung ương Cục miền Nam và được phê duyệt về cơ bản. Chính điều đó giúp Trung ương Đảng liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược, bắt kịp sự thay đổi cực nhanh của chiến trường, tạo yếu tố bất ngờ, thay đổi quyết sách từ kế hoạch cơ bản giải phóng miền Nam trong vòng 2 đến 3 năm lúc đầu chuyển sang kế hoạch thời cơ rút xuống 1 năm, rồi đến cuối tháng 3, đầu tháng 4-1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn trong tháng 4 của năm 1975.


Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển, nghệ thuật lãnh đạo của Đảng bao giờ cũng căn cứ vào tư duy biện chứng và thực tiễn khách quan của lịch sử. Đó là, một mặt, lợi dụng những thời kỳ phát triển tuần tự của cách mạng để động viên, tập hợp quần chúng đấu tranh theo tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do; mặt khác, phải biết hướng toàn bộ công tác của mình vào việc tạo và nắm thời cơ giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi toàn diện, hoàn toàn. Đây thực sự là sáng tạo to lớn, làm giàu, phong phú và sinh động thêm kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.


Thứ hai, trên chiến trường, Hiệp định Paris đã mở đường, tạo nên bước chuyển chiến lược, tạo ra thế mạnh mới: Ta đã giành được quyền chủ động trên khắp các chiến trường, trừng trị các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giành lại dân và những vùng bị mất, mở rộng vùng giải phóng của ta; Đã củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, từ rừng núi Trị - Thiên đến Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; Đã xây dựng và tăng cường các binh đoàn chủ lực cơ động ở vùng rừng núi; tập trung được nguồn dự trữ chiến lược trên những địa bàn quan trọng; Đã cải thiện được tình hình nông thôn - đồng bằng, tạo các bàn đạp ở vùng phụ cận thành thị lớn; Đã phát động được phong trào đấu tranh chính trị dưới khẩu hiệu hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc; Ta tiếp tục tranh thủ thêm được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Có thể nói, Hiệp định Paris đi đúng kịch bản như Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định, khi hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam: Mỹ giàu nhưng sức Mỹ không phải là vô hạn, Mỹ hung hăng nhưng có chỗ yếu, ta biết đánh, biết thắng thì nhất định kháng chiến sẽ thành công. Hiệp định Paris thể hiện đúng nghệ thuật “biết thắng từng bước” để đi đến chiến thắng hoàn toàn của Đảng ta trong bối cảnh chênh lệch tương quan lực lượng.


Bước vào mùa khô 1973 - 1974, các chiến trường đã phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, chuyển lên thế chủ động tấn công địch; sức mạnh tổng hợp của ba mũi, ba thứ quân, ba vùng, giữa điểm với diện, cao điểm với thường xuyên được phát huy, tạo thế căng kìm địch trên diện rộng, làm thất bại kế hoạch bình định của địch, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng. Như vậy, Hiệp định Paris năm 1973 đã mở ra cục diện chiến trường mới vô cùng có lợi cho ta, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta khi ta vẫn duy trì được toàn bộ lực lượng ở chiến trường miền Nam. Đây là cơ sở để toàn quân, toàn dân ta tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”.


Thứ ba, đối với nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, Hiệp định Paris mở đường cho việc giải quyết các xung đột quốc tế bằng con đường hòa bình, tác động sâu xa đến bước đường tiến lên của nhiều dân tộc, là niềm cổ vũ lớn lao của nhiều dân tộc có chung số phận và điểm xuất phát như nước ta trong việc bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản. Có thể thấy, từ Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, Tạm ước ngày 14-9-1946, Hiệp định Geneva ngày 21-7-1954 và đỉnh cao là Hiệp định Paris ngày 27-1-1973 đã minh chứng sinh động cho chân lý: Muốn có hòa bình, dân tộc Việt Nam không chỉ biết nhân nhượng mà còn phải biết đấu tranh, không chỉ biết đấu tranh mà dân tộc Việt Nam còn không khi nào bỏ lỡ cơ hội tìm kiếm hòa bình dù là cơ hội mỏng manh nhất. Đó là biện chứng của chiến tranh cách mạng Việt Nam, của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.


Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara - một trong những người góp phần hoạch định chính sách Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam - rút ra 11 bài học từ “Tấn thảm kịch Việt Nam”, trong đó có bài học: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó...”; “phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa và chính trị của nhân dân trong vùng, và về nhân cách, thói quen của các nhà lãnh đạo”. “Lý tưởng và các giá trị của nó” mà ông Robert S. McNamara nhắc đến, chính là các quyền dân tộc cơ bản - độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng kiên định. Hiệp định Paris năm 1973 là sản phẩm của quá trình đấu tranh của cả một dân tộc luôn hướng đến các quyền dân tộc cơ bản như Điều 1 của Hiệp định này đã trân trọng thừa nhận: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Geneva năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”. Đồng chí Phạm Văn Đồng từng nói: “Quyết không thể có thỏa hiệp trái với những quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam ta, trái với đạo lý thông thường của mọi dân tộc trên thế giới”.


Một số bài học đối với hoạt động ngoại giao hiện nay


Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước; đánh dấu bước trưởng thành của nền ngoại giao cách mạng thời đại Hồ Chí Minh. Đây là sản phẩm của quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt và phức tạp trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, đỉnh cao của nghệ thuật kết hợp “vừa đánh vừa đàm”. Đó còn là thành quả của tư duy mang đầy đủ tính cách mạng và khoa học; vừa đánh vừa hiểu địch, hiểu ta; vừa làm vừa tổng kết thực tiễn, từng bước bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh qua các giai đoạn kháng chiến. Hiệp định Paris thể hiện sâu sắc tinh thần dám đánh, dám thắng và năng lực biết đánh, biết thắng của dân tộc Việt Nam.


Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay, ý nghĩa và tầm vóc của Hiệp định Paris để lại nhiều bài học quý giá đối với hoạt động ngoại giao của Việt Nam.


Một là, luôn bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là cốt lõi.


Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là hệ giá trị thiêng liêng mà bất kỳ dân tộc nào, dù là dân tộc nhỏ bé, xuất phát điểm thấp đều có quyền được hưởng vì nó là những quyền cơ bản nhất, đồng thời cũng là cơ sở tối thiểu để bảo đảm cho một dân tộc tồn tại và phát triển bình thường. Sự kiên định, nhất quán của Đảng ta, nhân dân ta trong việc theo đuổi hệ giá trị ấy từ năm 1945 đến nay, nhất là trong Hiệp định Paris, mãi mãi là bài học quý giá, tấm gương sáng cho các dân tộc yêu chuộng hòa bình khắp năm châu. Hiệp định Paris năm 1973 là chiến thắng bước ngoặt, có tính mở đường, điều kiện cần để buộc Mỹ và đồng minh rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo tiền đề cho quân dân Việt Nam tiến hành kết thúc chiến tranh.


Trong bối cảnh mới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII khẳng định, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; thực hiện phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến.


Hai là, mềm mại, khéo léo nhưng rất kiên định, quyết liệt.


Cách ứng xử mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên định, quyết liệt của Đảng Lao động Việt Nam trong Hội nghị Paris 1973 là bài học quý‎ giá về nghệ thuật ngoại giao của cách mạng Việt Nam. Ngay nay, bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước bên cạnh mặt thuận lợi, thời cơ, cũng có không ít những khó khăn, nguy cơ, diễn biến khó lường, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Việt Nam tiếp tục phải kiên định, giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong từng tình huống, hoàn cảnh.


Hình ảnh “cây tre Việt Nam” với “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam” như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là phương sách chủ yếu của đối ngoại Việt Nam hiện đại. Nhờ nghệ thuật kết hợp tài tình giữa linh hoạt, sáng tạo về sách lược với kiên định, kiên quyết, kiên trì về chiến lược mà từ một nước bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã “mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 5 nước đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện”, giúp tạo nên cục diện thuận lợi cho quá trình hiện thực hóa lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Ba là, chủ động, tích cực phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.


Phát huy sức mạnh tổng hợp luôn được Đảng xác định là một trong những yếu tố quan trọng đưa tới sự thành công của cách mạng. Đó là sức mạnh tổng hợp của nội lực và ngoại lực; sức mạnh của các lực lượng; sự phối kết hợp của các địa bàn, sức mạnh của kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sự cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, vừa đánh vừa đàm; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, ý chí không có gì quý hơn độc lập, tự do… Do đó, góp phần quan trọng đưa tới thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


Hơn 50 năm trôi qua kể từ khi Hiệp định Paris được ký kết, thế giới có nhiều đổi thay nhưng ý nghĩa mở đường và tầm vóc thời đại đặc biệt của Hiệp định vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện sâu sắc nền ngoại giao độc đáo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhìn lại Hiệp định Paris, chúng ta càng thấy được giá trị của việc đánh giá, dự báo đúng đắn về cục diện và xu thế, tình hình thế giới, kiên định và ra sức hiện thực hóa mục tiêu phát triển của dân tộc, góp phần quan trọng cùng nhân loại tiến bộ tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ cho bình đẳng dân tộc, dân chủ xã hội và phát triển con người./.

ST


Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại.

 Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Trong đó, cần củng cố tiềm lực chính trị - tinh thần, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy lòng yêu nước, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kết hợp xây dựng, củng cố tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội trong Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc và các chiến lược chuyên ngành. Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh gắn với công nghiệp quốc gia theo hướng tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; kết hợp quốc phòng - kinh tế ở vùng, khu kinh tế trọng điểm, địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo,…  bảo vệ chủ quyền biển, đảo với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại mở rộng kinh tế biển, đảo nhất là ở quần đảo Trường Sa, DK1. Cùng với đó, “Xây dựng, củng cố đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo”. Tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ quốc phòng, an ninh với ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ của nền kinh tế vào lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trong nghiên cứu, ứng dụng sửa chữa, cải tiến, làm chủ công nghệ sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang, trước hết là lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. 

Các đối tượng, phần tử cơ hội chính trị và phản động luôn phủ nhận sạch trơn nhưng thành tựu của đất nước dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN

 Những phương thức, thủ đoạn và cách thức chống phá của các thế lực thù địch không có gì mới. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, vào những thời điểm đất nước có các sự kiện chính trị hoặc sự kiện về văn hóa, thể thao, hay sự kiện nào đó xảy ra; Đặc biệt, trong dịp Đảng và Nhà nước có sự thay đổi một số nhân sự cấp cao, các đối tượng, các thế lực thù địch, các phần tử phản động bất mãn, hoặc cơ hội chính trị lợi dụng tình hình này để tăng cường chống phá.

Mục đích cao nhất của các đối tượng này là làm nhiễu loạn, bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

Các thế lực thù địch cũng như các đối tượng, phần tử cơ hội chính trị và phản động, chúng không bao giờ thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng CSVN đối với sự nghiệp cách mạng và thể chế chính trị. Các đối tượng này cũng không bao giờ vui mừng trước những thành công, những thành tựu của đất nước chúng ta. Vì vậy, mục tiêu không thay đổi của chúng là chống phá, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng và sự phát triển đất nước.

Các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động đã và đang tiến hành các hoạt động phá hoại tư tưởng với các biểu hiện như: Bóp méo, phủ nhận những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội; Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia; Xuyên tạc đời tư, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ; xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước; Tuyên truyền xuyên tạc cho rằng, Việt Nam sử dụng chống tham nhũng là phương tiện để trấn áp bất đồng chính kiến trong hàng ngũ của Đảng./.

 AI CŨNG CÓ MỘT THỜI TRẺ CON

❤️
Cho tôi tấm vé tuổi thơ
Để tôi về với ước mơ một thời
Ngày xưa tôi có khung trời
Cùng bao đứa trẻ rong chơi bày trò
Trưa hè chân sáo líu lo
Tung tăng chạy nhảy bụi vò đường quê
Hoa dại mọc kín bờ đê
Hái đầy vạt áo la lê kết vòng
Sáo diều gặp gió long đong
Khói lam chiều tỏa bếp nồng mùi khoai
Bến sông đò đứng đợi ai
Giếng làng chung gánh một mai nước đầy
Bóng đa sương phủ màu mây
Còn đây nguồn cội còn đây đình thần
Cỏ may bám kín gấu quần
Cánh đồng thuở ấy những lần chăn trâu
No bụng những bữa cơm rau
Cha nhường mẹ nhịn con mau nên người
Tuổi thơ kí ức trong đời
Ai ai cũng có một thời trẻ con.❤️

Các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo cả ở nước ngoài và trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam

 Các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo cả ở nước ngoài và trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam như: “Tổ chức Đoàn kết Thiên chúa giáo toàn cầu (tổ chức quốc tế)”; “Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế cho Việt Nam”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất hải ngoại”, “Liên đoàn Công giáo người Việt tại Mỹ”... Các tổ chức này đang chuyển hướng hoạt động vào trong nước. Chúng ra sức cổ suý, hỗ trợ các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo ở trong nước để chống phá như: Tin lành Đề Ga (ở Tây Nguyên), Tin lành Vàng Chứ trong vùng đồng bào Mông (ở Tây Bắc), Thìn Hùng trong vùng đồng bào Dao (ở Tây Bắc)...

Điển hình, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo, với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài, đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền./.

Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

 Việc thực hiện dân chủ và quyền con người còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện, trước hết là trình độ phát triển kinh tế và điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi dân tộc trên tất cả các phương diện của đời sống. Các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, không thể lấy quan niệm, thực tiễn của nước này, của dân tộc này về dân chủ và quyền con người áp đặt cho dân tộc khác, nước khác. Do đó, xây dựng và thúc đẩy đối thoại trên lĩnh vực dân chủ, quyền con người có ý nghĩa tích cực, góp phần nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng với các đối tác quốc tế trong vấn đề quyền con người. Qua đối thoại cũng nhằm bác bỏ những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các nhóm, cá nhân cực đoan trong và ngoài nước về tình hình quyền con người ở Việt Nam. Bên cạnh việc thực hiện cơ chế đối thoại chính thức với các nước, cần chủ động và tích cực đăng cai tổ chức các hội thảo quốc tế để các nhà chính trị và các nhà khoa học tham dự và thảo luận về các vấn đề liên quan đến quyền con người.

“Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, tôn trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Quyền con người luôn là quyền cơ bản và quan trọng nhất, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm ổn định và sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay./.

“Thế trận lòng dân” trên không gian mạng

 Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp về công tác tổ chức, lực lượng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành; chú trọng phát huy tốt vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan chức năng đã chủ động làm tốt công tác nghiên cứu chiến lược, nắm bắt, đánh giá, dự báo đúng tình hình, nhất là những vấn đề về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều giải pháp có ý nghĩa chiến lược trong thực hiện nhiệm vụ này. Chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, vận dụng tổng hợp hình thức, phương pháp tuyên truyền, đấu tranh; kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với phòng ngừa, tích cực đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, sai trái, thù địch trên không gian mạng; kết hợp phòng thủ tích cực, vững chắc với tiến công đáp trả, kịp thời ngăn chặn, xử lý các tình huống trên không gian mạng một cách linh hoạt và hiệu quả, không để bị động, bất ngờ. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “... công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, chuyển biến tích cực”.

Bàn về quan điểm chọn bên

 Không ít người ngộ nhận rằng, lựa chọn đứng về “bên” nào sẽ quyết định tương lai, số phận của quốc gia đó. Bài học lịch sử cho thấy, một số nước do không giữ được độc lập, tự chủ, nên phải tìm chỗ dựa hoặc cầu viện vào thế lực bên ngoài, bị cuốn vào guồng quay của những toan tính nước lớn mà không dễ gì thoát khỏi, để đất nước rơi vào thảm cảnh loạn ly bởi các cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Các cuộc “cách mạng màu”, hay còn gọi là “cách mạng dân chủ” trên thế giới trong những năm qua là hệ quả của việc quốc gia, khu vực không bảo đảm độc lập, tự chủ, để các lực lượng bên ngoài thao túng, can thiệp khi xảy ra khủng hoảng, khiến nút thắt của những xung đột, mâu thuẫn, đối kháng nội bộ càng thêm rối ren.

Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong nhiệm vụ đấu tranh trên không gian mạng

 Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; sự quản lý của chính quyền và vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tập trung xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách; kiện toàn tổ chức, bộ máy của các cơ quan quản lý nhà nước về không gian mạng và thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Coi trọng việc thực thi pháp luật về công nghệ thông tin, viễn thông, an toàn thông tin mạng từ Trung ương đến địa phương; xây dựng và hoàn thiện cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp xử lý thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Chiêu trò xuyên tạc chính sách đối ngoại

 Thực tế, chiêu trò xuyên tạc chính sách đối ngoại, cho rằng Việt Nam không “dứt khoát” trong quan hệ quốc tế, kích động Việt Nam phải thể hiện lập trường, phải chọn bên, là một thủ đoạn thường xuyên được các thế lực thù địch, phản động tìm cách phát tán, cho thấy một sự nhận thức lệch lạc, thiếu hiểu biết, thiếu khách quan, suy diễn một chiều, mơ hồ về chính trị, xuyên tạc vô căn cứ đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Thực chất của những hoạt động trên cũng chỉ nhằm thông qua sự can thiệp từ bên ngoài hòng lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta./.

Cần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

 Cần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi trọng “ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(17). Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia vào các công việc chung của đất nước. Thực hiện triệt để, thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo lập và phát huy sức mạnh đồng thuận của nhân dân ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài để tạo động lực và nguồn lực mạnh mẽ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Âm mưu đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của các thế lực thù địch

 Có thể nói, âm mưu đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không nằm ngoài tổng thể chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, hòng phá hoại sự phát triển của đất nước ta. Không những thế, việc kêu gọi tư nhân hóa đất đai còn là thủ đoạn để xóa nhòa lịch sử, làm phai nhạt truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Các thế lực thù địch muốn lợi dụng vấn đề đất đai để tạo ra những “điểm nóng” phức tạp, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ các tôn giáo, gây rối loạn, bất ổn ở nhiều nơi. Từ đó, tạo cớ để móc nối với các phần tử cơ hội, phản động ở trong nước cũng như các phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài, gây dựng thanh thế và đánh lạc hướng dư luận quốc tế, làm giảm sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với sự phát triển ổn định của Việt Nam. Luận điệu đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của các thế lực thù địch còn nhằm mục đích gây hoang mang trong một bộ phận người dân đang chịu tác động không mong muốn trong quá trình huy động nguồn lực đất đai cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, lợi dụng sự hiểu biết chưa thấu đáo của một số ít người dân đối với chính sách, pháp luật về đất đai của Nhà nước để gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM VỀ ĐỐI NGOẠI KHÔNG CHỌN BÊN, MÀ CHỌN CHÍNH NGHĨA, LẼ PHẢI, HÒA BÌNH VÀ PHÁT TRIỂN

 


Thứ nhất, trong lịch sử cách mạng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam nhất quán không “chọn bên”.

Có thể khẳng định, đường lối đối ngoại xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở đó luôn kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, không phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ được kết tinh từ trong lịch sử, thể hiện ý chí tự cường của một dân tộc nhỏ trước các thế lực ngoại xâm hùng mạnh. Tinh thần độc lập, tự chủ thể hiện trong những văn kiện đầu tiên của Đảng giai đoạn tổng khởi nghĩa giành chính quyền với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp từ ngoài vào”(1). Tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và định hình các hoạt động đối ngoại của Việt Nam, được phát huy cao độ trong quá trình đấu tranh cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ của Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao, mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong suốt chiều dài lịch sử, trước những biến đổi của thời đại, sự chênh lệch tương quan lực lượng giữa Việt Nam và các nước khác, nhưng Việt Nam đã bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc của mình chính là nhờ kiên trì theo đuổi mục tiêu và nguyên tắc độc lập, tự chủ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trước các biến cố chao đảo của thời cuộc, giữa những dao động, ngả nghiêng của lòng người, của niềm tin về tương lai của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, Việt Nam vẫn vững vàng, kiên tâm trên con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; trên cơ sở đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong tình hình mới, giữ vững độc lập, tự chủ, đưa đất nước đi lên.

Trong thời kỳ Đổi mới, vận dụng sáng tạo quan điểm độc lập, tự chủ, Việt Nam đã thực hiện chính sách đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, tránh phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào. Qua các kỳ Đại hội, đường lối đối ngoại đã được bổ sung và hoàn chỉnh. Từ chỗ “Việt Nam muốn là bạn”, đến “Việt Nam sẵn sàng làm bạn”, và hiện nay “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhất quán, có tầm quan trọng xuyên suốt, mang ý nghĩa sống của Việt Nam trên con đường đổi mới.

Xuyên suốt lịch sử cách mạng đấu tranh cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc, không đứng về bên nọ để chống bên kia. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, phát huy nội lực, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, thực hiện chính sách đối ngoại vì hòa bình, tự vệ, chính nghĩa, nhân văn, nhân đạo, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những gì thuộc về chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao, bất khả xâm phạm. Đây là vấn đề bất biến, cốt lõi, chính yếu, thường trực, không thể đánh đổi hay nhân nhượng, không thể để nước ngoài thao túng, quyết định vận mệnh của đất nước. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. 

Trong những thời kỳ lịch sử cách mạng, Việt Nam có lúc bị kẹt giữa những toan tính của các nước lớn, song chúng ta vẫn vượt qua được những thách thức hiểm nghèo, bảo toàn được thành quả cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, khi cạnh tranh giữa các nước lớn có nguy cơ chia rẽ thế giới theo những lằn ranh mới, quyết liệt và sâu sắc hơn, tác động trực tiếp và nhiều chiều đến quan hệ quốc tế, Việt Nam vẫn kiên vững chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, không ngả theo bên nọ để chống bên kia. Hiếm có quốc gia nào có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn như Việt Nam; và có quan hệ ngoại giao với 192 trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Việt Nam đã gắn kết và đan xen lợi ích với nhiều quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh. Quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định. Việt Nam chủ động thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác; tích cực hội nhập quốc tế ngày một toàn diện, sâu rộng Trong bối cảnh thế giới và khu vực đan xen nhiều thách thức khó lường, Việt Nam phát huy vai trò là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm đổi mới là minh chứng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Việt Nam.

Như vậy, quan điểm cho rằng Việt Nam cần dựa vào nước ngoài để gia tăng sức mạnh bảo vệ, phát triển đất nước là không có cơ sở, ảo tưởng, phi thực tế.

Thứ hai, Việt Nam chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

Bối cảnh quốc tế hiện nay có nhiều biến động phức tạp, bất lường. Cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực và trên thế giới ngày càng quyết liệt trên nhiều lĩnh vực, diễn ra dưới nhiều hình thức, với quy mô, phạm vi ngày càng mở rộng, tính đối kháng ngày càng gay gắt, nội dung ngày càng phức tạp, do đó tính khốc liệt cũng ngày một gia tăng, không gian và thời gian là vô cùng, không có giới hạn, đôi khi mang dáng dấp một cuộc chiến tranh lạnh. Các nước lớn vừa đấu tranh, vừa thỏa hiệp, kéo theo đó là những tập hợp lực lượng mới manh nha, những “sáng kiến” chiến lược được hình thành, những điều ước mà đằng sau đó là những liên minh, liên kết... ra đời, nhiều khi đặt các nước phải thể hiện rõ lập trường, tham gia hay không tham gia, tham gia như thế nào để đạt được lợi ích tối ưu cho đất nước. Thế giới dường như ngày càng có xu hướng phân tuyến rõ ràng. Việt Nam - một quốc gia thành viên ASEAN có vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế quan trọng trong khu vực, là đối tượng quan tâm của các nước lớn. Do vậy, trong quan hệ hợp tác với Việt Nam, các nước đều hàm ý muốn lôi kéo Việt Nam tham gia những sáng kiến, tập hợp lực lượng mà họ “dàn xếp”, thông qua “sức mạnh mềm” viện trợ, đầu tư, phát triển... Bối cảnh đó đòi hỏi Việt Nam xác định nguyên tắc, lợi ích và cách ứng xử với các nước trên cơ sở lợi ích chung; lựa chọn đối sách có lợi cho đất nước, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cần thấy rõ rằng, trong quan hệ quốc tế, hợp tác và đấu tranh là hai mặt song hành; trong quan hệ đối tác - đối tượng có sự đan xen, chuyển hóa. Phương châm này giúp chúng ta tận dụng cơ hội hợp tác; đồng thời, thấy rõ hơn sự khác biệt về lợi ích để tìm các giải pháp đưa quan hệ phát triển, không bỏ lỡ cơ hội hợp tác, nhưng cũng không lơ là, mất cảnh giác. Mục tiêu cơ bản, lâu dài trong nhận thức và vận dụng quan điểm về đối tác, đối tượng của Đảng ta là nhằm tăng cường đoàn kết, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với bè bạn quốc tế, khai thác mặt đối tác, ngăn ngừa, hạn chế, thu hẹp mặt đối tượng. Do vậy, không thể cho rằng, đối tác chỉ là để hợp tác và đối tượng chỉ là để đấu tranh. Với nhận thức mới như vậy, trong môi trường quốc tế ngày càng “phẳng”, sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu sắc, đa chiều..., Việt Nam đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, cả song phương và đa phương, với cả những nước có yếu tố đối tượng của chúng ta. Đối với các vấn đề bất đồng, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, nước láng giềng, Việt Nam tìm cách xử lý khôn khéo, tránh đối đầu, tránh “chọn bên”, song kiên quyết, kiên trì giữ vững nguyên tắc; đối thoại, hợp tác để xử lý các khác biệt, bất đồng, bảo đảm hài hòa lợi ích, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, với tầm nhìn chiến lược là phục vụ mục tiêu an ninh, hòa bình, phát triển của đất nước. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị Quân chính toàn quân ngày 20-12-2022: “Kịp thời nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa, linh hoạt đối tác, đối tượng quốc phòng, không để bị động, bất ngờ; ngăn ngừa nguy cơ xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc, không “chọn bên”.

Thời gian qua, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp; cuộc cạnh tranh, thậm chí có lúc lên tới mức đối đầu giữa các nước lớn hiện nay đang đặt nhân loại trước những hiểm họa khôn lường, khó dự đoán. “Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta”(4).Trong điều kiện tình hình thế giới vô cùng nhạy cảm, phức tạp hiện nay, Việt Nam kiên trì thực hiện chính sách “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy và đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, là thượng sách để giữ vững hòa bình đất nước, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã phát huy sức mạnh “Ngoại giao cây tre”: mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, kiên định, như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (năm 2016) và tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc năm 2921, góp phần giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm. Cứng mà không gãy, đa phương mà không phụ thuộc, “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, song cũng kiên trì, kiên quyết trong ứng xử những vấn đề thuộc về nguyên tắc “bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế”, không chỉ khai thông “thế khó” của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, mà còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế đất nước, góp phần bảo vệ và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Với truyền thống văn hóa giữ nước hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, trọng lẽ phải, chính nghĩa, là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác trong giải quyết những vấn đề an ninh đang nổi lên, đóng góp vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì nền hòa bình bền vững của nhân loại.

Như vậy, quan điểm cổ xúy cho việc “chọn bên” hoàn toàn đi ngược lại  với đường lối, chủ trương của Đảng, trái chiều với lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng ta không chọn bên mà chọn chính nghĩa, lẽ phải. Trong bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) ngày 12-5-2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nêu rõ: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng”. Chọn chính nghĩa là chọn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển của đất nước ta. Chọn lẽ phải là chọn hòa bình và phát triển thịnh vượng của thế giới.

Chúng ta chọn hòa bình bởi Việt Nam đã trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm lược, các thế hệ người Việt Nam đã đổ bao xương máu để giành và giữ nền độc lập, tự do dân tộc, sự vẹn toàn của bờ cõi, chủ quyền đất nước, nhưng Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, khát vọng hòa bình cũng chính là khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và ngày nay là khát vọng phồn vinh, hạnh phúc, tự cường.

Chúng ta chọn phát triển, hợp tác vì đó là sự lựa chọn hợp lẽ, vì mục tiêu phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phù hợp với xu hướng chung của tất cả các nước trên thế giới. Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Khát vọng phát triển của đất nước gắn liền với khát vọng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của cả khu vực và thế giới.

Sự lựa chọn đó của Việt Nam phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Và chỉ có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại mới có thể bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đưa đất nước phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc./.

TBQL 17

 

 

 

 

CHỌN BÊN HAY CHỌN LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC THEO TINH THẦN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

 


Thực tiễn lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy, giữa các nước lớn, nhất là giữa các cặp quan hệ, luôn tồn tại mâu thuẫn và khác biệt sâu sắc về lợi ích. Khi giữa các cường quốc có sự đối địch, chia phe, cạnh tranh ảnh hưởng sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khó xử đối với các nước vừa và nhỏ trong việc phải “chọn bên”. Bởi lẽ, không phải cứ chọn bên là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc, khi mà tham vọng lợi ích của các cường quốc thường vượt quá giới hạn luật pháp quốc tế và đi ngược lại lợi ích chung của nhân loại, đề cao lợi ích của mình để xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và giá trị lợi ích của họ. Thậm chí, kể cả khi lợi ích của họ có sự hội tụ nhất định ở một vài điểm, khía cạnh nào đó, họ cũng sẵn sàng mặc cả trên lưng các nước khác.

Việc chọn bên mà không tính và không lường hết được những toan tính chiến lược đó sẽ chỉ tạo ra sự phân cực, chia rẽ mới, gây thảm họa cho chính quốc gia đó. Và khi chọn bên, tham gia liên minh thì cái giá phải trả là gì? An ninh chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc phải chăng sẽ được bảo đảm bằng những lời hứa, cam kết? Điều chắc chắn, đó là phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc của mình với cường quốc khi tham gia liên minh. Đó là điều không thể khác trong quan hệ quốc tế. Do vậy, dựa vào một quốc gia nào đó cho dù là “nước phát triển”, hay “cường quốc” thì chẳng những không giải quyết được vấn đề, mà còn khiến tình hình thêm căng thẳng và phức tạp.

Thế nhưng, không ít người ngộ nhận rằng, lựa chọn đứng về “bên” nào sẽ quyết định tương lai, số phận của quốc gia đó. Bài học lịch sử cho thấy, một số nước do không giữ được độc lập, tự chủ, nên phải tìm chỗ dựa hoặc cầu viện vào thế lực bên ngoài, bị cuốn vào guồng quay của những toan tính nước lớn mà không dễ gì thoát khỏi, để đất nước rơi vào thảm cảnh loạn ly bởi các cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Các cuộc “cách mạng màu”, hay còn gọi là “cách mạng dân chủ” trên thế giới trong những năm qua là hệ quả của việc quốc gia, khu vực không bảo đảm độc lập, tự chủ, để các lực lượng bên ngoài thao túng, can thiệp khi xảy ra khủng hoảng, khiến nút thắt của những xung đột, mâu thuẫn, đối kháng nội bộ càng thêm rối ren.

Lựa chọn chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trước hết là quyền của mỗi quốc gia. Không một ai, với tư cách, danh nghĩa gì được phép tước bỏ, xâm phạm quyền đó, hoặc lợi dụng để ép buộc quốc gia khác phải đi theo mô hình, giá trị của họ. Việc chọn bên hay không chọn bên, đều phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước, phải bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; dựa vào sức mình là chính, luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ; không thể ảo tưởng, trông chờ, phó thác hoàn toàn vào bất cứ “bên”, “liên minh” nào, nhất là ngày nay, xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chiếm vai trò chủ đạo.

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, nhất là trong thời điểm biến động sâu sắc về địa - chính trị hiện nay, sự cạnh tranh cũng như điều chỉnh chính sách của các nước lớn khác trước rất nhiều so với giai đoạn trước, chứa đựng nhiều nhân tố khó dự báo. Việc các nước lớn đều theo đuổi các tầm nhìn khác nhau về cấu trúc khu vực, xúc tiến mở rộng tập hợp lực lượng, gia tăng ảnh hưởng thông qua các sáng kiến khu vực, hình thành các liên minh tay ba, tay tư, sử dụng “quyền lực mềm” nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các nước thông qua các quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại, chuyển giao công nghệ, viện trợ,... đặt các nước vừa và nhỏ trước ranh giới của sự “chọn bên”. Duy trì chính sách độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành một bài toán nan giải đối với các nước.

Một thực tế khác cũng cần nói đến là, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, vừa là đối thủ, vừa là đối tác của nhau. Quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước tạo nên một mạng lưới đan xen phức tạp, chồng chéo, khiến việc giữ độc lập, tự chủ, tránh chọn bên của các nước ngày càng trở thành một thách thức.

Thực tế này đòi hỏi các nước nhỏ càng phải phát huy cao nhất tinh thần độc lập, tự chủ; vừa kiên định trong lập trường, vừa hết sức khôn khéo, mềm dẻo trong đấu tranh vì lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, tránh xung đột, đối đầu; đồng thời, phải tính đến không gian phát triển, không tự bó buộc mình vào vị trí bất lợi cho đất nước trong bối cảnh cục diện quan hệ quốc tế còn nhiều bất định; sự vận động của cấu trúc quyền lực thế giới mới đang có nhiều đảo chiều, biến đổi.

Trong bối cảnh đó, cân bằng quan hệ để tránh tối đa những mâu thuẫn, bất lợi, rủi ro, leo thang thành cuộc đối đầu, xung đột toàn diện; tối đa hóa không gian hợp tác, tối ưu hóa lợi ích an ninh, phát triển là sự lựa chọn của hầu hết các nước trong khu vực hiện nay. Đối với các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), lập trường của hầu hết các nước là không “chọn bên” trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn. Đây là vấn đề cốt lõi, sinh tử của các nước, bởi sự “chọn bên” có thể dẫn đến sự phân hóa, chia rẽ mới trong khu vực, biến khu vực thành “sân khấu tranh chấp địa - chính trị”. Thực tế đó đòi hỏi các nước triển khai chính sách linh hoạt, tránh xung đột, đối đầu. Đây được cho là sự lựa chọn tối ưu nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia, bảo vệ chủ quyền đất nước, duy trì thế tự chủ chiến lược, thể hiện khát vọng một ASEAN tự cường, trung lập, hòa bình, ổn định, củng cố “vai trò trung tâm” trong bối cảnh tác động chiến lược ngày càng gia tăng giữa các nước lớn.

Việc một số quốc gia xích lại gần bên nọ, bên kia là điều tự nhiên; liên minh để bảo đảm an ninh, phát triển là điều dễ hiểu, song hầu hết các nước không muốn bị ép buộc phải chọn bên. Hơn lúc nào hết, việc chọn bên trong thời điểm cao trào xung đột nước lớn, giống như việc “đổ thêm dầu vào lửa”, tạo thế đối trọng giữa các bên, mâu thuẫn giữa các trục liên minh cũng vì thế gia tăng, làm tổn hại đến chính lợi ích của các nước. Do vậy, quan điểm cổ xúy “chọn bên” chỉ là ảo tưởng, phi thực tế, phi căn cứ. Lợi ích quốc gia - dân tộc mới chính là sự lựa chọn phù hợp, bất biến, bền vững. Việt Nam cũng như nhiều nước trong khu vực, luôn thấu hiểu rõ điều này. Uy-li-am Chong, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (SAS - Yusof Ishak) có trụ sở tại Xin-ga-po, khi nói về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bài viết “Mạnh mẽ và tinh tế: Cách tiếp cận của Việt Nam để đối phó với sự cạnh tranh của các cường quốc”, trên trang mạng Thinkchina ngày 10-5-2021 đã cho rằng: “Nếu quyền tự quyết trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn là khả năng tối đa hóa lợi ích từ cả hai cường quốc trong khi áp dụng các chính sách phòng ngừa rủi ro để duy trì quan hệ, thì Việt Nam là một điển hình kinh điển của nghệ thuật đó, có thể giúp các quốc gia Đông Nam Á khác nhân rộng chính sách này một cách hữu hiệu”./.

TBQL 17

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, PHẦN TỬ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ NHẰM CHỐNG PHÁ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

 


Thời gian vừa qua, lợi dụng tình hình, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, khó lường, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ráo riết tuyên truyền luận điệu cho rằng Việt Nam cần dựa vào nước này, nước khác để phát triển. Đằng sau những “kiến nghị”, “đề xuất” của các nhóm tự cho là “nhà hoạt động dân chủ”, “các tổ chức xã hội dân sự” dưới danh nghĩa cái gọi là “người yêu nước”, có “tâm huyết”, có “trách nhiệm” với vận mệnh quốc gia - dân tộc, là những âm mưu, hành động nhằm chống phá đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Lâu nay, chính sách đối ngoại của Việt Nam là một trong những mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch, phản động. Ngoài việc bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất các vấn đề, các sự kiện, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam, họ còn cổ xúy cho cái gọi là “chọn bên”, rằng Việt Nam cần dựa vào nước này để chống nước khác. Gần đây, trước những biến động lớn của đời sống quốc tế liên quan đến cạnh tranh giữa các cường quốc, nhất là cuộc xung đột tại U-crai-na, các phần tử phản động lại rộ lên các chiêu bài cũ, liên tục rêu rao “giảng dạy” cho Việt Nam về chính sách ngoại giao với các nước, đặc biệt là mối quan hệ với các nước lớn, cho rằng đây là cơ hội lịch sử nghìn năm có một để “Việt Nam vươn ra khỏi vòng kim cô”, rằng đây là lúc “thoát Trung, bài Nga”, sớm “đưa Việt Nam hội nhập vào thế giới tự do, văn minh và tiến bộ của phương Tây, đúng với vị trí mà thế giới mong đợi”. Thậm chí, trên các trang facebook của họ còn xuất hiện cái gọi là “thoát Trung luận” với những luận điểm cổ xúy cho việc chọn bên. Họ cho rằng Việt Nam cần dựa vào Mỹ và các nước phương Tây để vừa phát triển kinh tế, vừa “ngăn chặn hiểm họa từ nước khác”.

Một số quan điểm cho rằng, Mỹ đang muốn lôi kéo Việt Nam vào liên minh chống Trung Quốc do Mỹ đứng đầu, muốn Việt Nam gia nhập “Bộ tứ kim cương mở rộng” nhằm tăng cường sức ép đối với Trung Quốc. Không chỉ đưa ra những luận điểm “bài”, “thoát”, mà họ còn cho rằng cần thiết lập “đồng minh” với các nước lớn, quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam, nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, họ hô hào rằng, chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc; không liên minh quân sự thì mất lãnh thổ, chủ quyền ở Biển Đông; Việt Nam nên liên minh quân sự với các nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh để được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Thậm chí, có ý kiến còn cổ xúy cho quan điểm không liên minh quân sự là đúng trong trường hợp nhằm chống nước khác, nhưng sẽ không đúng đối với trường hợp để bảo vệ Tổ quốc; rằng cần có cách tiếp cận mới và sớm điều chỉnh quan điểm chỉ đạo này. Họ cho rằng, vì mục đích bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì chẳng những cần thiết mà thậm chí nên chủ động liên minh trước với các nước thật sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Thông qua thủ đoạn thâm độc này, họ tìm cách tác động đến dư luận, để qua đó hướng lái chính sách đối ngoại, hòng đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, từ đó làm chệch hướng sự nghiệp cách mạng mà Việt Nam đang thực hiện.

Thực tế, chiêu trò xuyên tạc chính sách đối ngoại, cho rằng Việt Nam không “dứt khoát” trong quan hệ quốc tế, kích động Việt Nam phải thể hiện lập trường, phải chọn bên, là một thủ đoạn thường xuyên được các thế lực thù địch, phản động tìm cách phát tán, cho thấy một sự nhận thức lệch lạc, thiếu hiểu biết, thiếu khách quan, suy diễn một chiều, mơ hồ về chính trị, xuyên tạc vô căn cứ đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Thực chất của những hoạt động trên cũng chỉ nhằm thông qua sự can thiệp từ bên ngoài hòng lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta./.

TBQL 17