Thứ nhất,
trong lịch sử cách mạng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay,
Việt Nam nhất quán không “chọn bên”.
Có thể
khẳng định, đường lối đối ngoại xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta là độc lập,
tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa
quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các
nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở đó luôn kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt
về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, không phụ thuộc vào bất cứ quốc gia
nào khác.
Đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ được kết tinh từ trong lịch sử, thể hiện ý chí tự
cường của một dân tộc nhỏ trước các thế lực ngoại xâm hùng mạnh. Tinh thần độc
lập, tự chủ thể hiện trong những văn kiện đầu tiên của Đảng giai đoạn tổng khởi
nghĩa giành chính quyền với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công
việc của chúng tôi, không có sự can thiệp từ ngoài vào”(1). Tư tưởng
độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và định hình các hoạt động
đối ngoại của Việt Nam, được phát huy cao độ trong quá trình đấu tranh cách
mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng.
Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ của Việt
Nam đã đạt tới đỉnh cao, mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong
suốt chiều dài lịch sử, trước những biến đổi của thời đại, sự chênh lệch tương
quan lực lượng giữa Việt Nam và các nước khác, nhưng Việt Nam đã bảo vệ được
lợi ích quốc gia - dân tộc của mình chính là nhờ kiên trì theo đuổi mục tiêu và
nguyên tắc độc lập, tự chủ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình
hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội trên
thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trước các biến cố chao đảo của thời
cuộc, giữa những dao động, ngả nghiêng của lòng người, của niềm tin về tương
lai của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, Việt Nam vẫn vững vàng, kiên tâm trên
con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; trên cơ sở đánh giá lại cục diện thế
giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong tình hình mới, giữ vững
độc lập, tự chủ, đưa đất nước đi lên.
Trong
thời kỳ Đổi mới, vận dụng sáng tạo quan điểm độc lập, tự chủ, Việt Nam đã thực
hiện chính sách đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, tránh phụ
thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào. Qua các kỳ Đại hội, đường lối đối
ngoại đã được bổ sung và hoàn chỉnh. Từ chỗ “Việt Nam muốn là bạn”, đến “Việt
Nam sẵn sàng làm bạn”, và hiện nay “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là
thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đây là vấn đề có
tính nguyên tắc, nhất quán, có tầm quan trọng xuyên suốt, mang ý nghĩa sống của
Việt Nam trên con đường đổi mới.
Xuyên
suốt lịch sử cách mạng đấu tranh cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc hiện nay, Việt Nam luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia
liên minh quân sự với cường quốc, không đứng về bên nọ để chống bên kia. Quan
điểm xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, dựa vào sức
mình là chính, phát huy nội lực, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc
tế, thực hiện chính sách đối ngoại vì hòa bình, tự vệ, chính nghĩa, nhân văn,
nhân đạo, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những gì thuộc về chủ quyền và
lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao, bất khả xâm phạm. Đây là
vấn đề bất biến, cốt lõi, chính yếu, thường trực, không thể đánh đổi hay nhân
nhượng, không thể để nước ngoài thao túng, quyết định vận mệnh của đất nước.
Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo
nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp
tác, cùng có lợi”.
Trong
những thời kỳ lịch sử cách mạng, Việt Nam có lúc bị kẹt giữa những toan tính
của các nước lớn, song chúng ta vẫn vượt qua được những thách thức hiểm nghèo,
bảo toàn được thành quả cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, khi cạnh tranh
giữa các nước lớn có nguy cơ chia rẽ thế giới theo những lằn ranh mới, quyết
liệt và sâu sắc hơn, tác động trực tiếp và nhiều chiều đến quan hệ quốc tế,
Việt Nam vẫn kiên vững chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, không ngả theo bên
nọ để chống bên kia. Hiếm có quốc gia nào có quan hệ đối tác chiến lược toàn
diện với nhiều nước lớn như Việt Nam; và có quan hệ ngoại giao với 192 trong
tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; là thành viên tích cực và có
trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Việt Nam đã gắn
kết và đan xen lợi ích với nhiều quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
quốc phòng và an ninh. Quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn,
ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định. Việt Nam chủ động thúc đẩy và làm sâu sắc
hơn quan hệ với các đối tác; tích cực hội nhập quốc tế ngày một toàn diện, sâu
rộng Trong bối cảnh thế giới và khu vực đan xen nhiều thách thức khó lường,
Việt Nam phát huy vai trò là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế, ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng góp phần vào duy trì
hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Có
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm đổi mới là
minh chứng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Việt Nam.
Như vậy,
quan điểm cho rằng Việt Nam cần dựa vào nước ngoài để gia tăng sức mạnh bảo vệ,
phát triển đất nước là không có cơ sở, ảo tưởng, phi thực tế.
Thứ hai,
Việt Nam chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển
Bối cảnh
quốc tế hiện nay có nhiều biến động phức tạp, bất lường. Cuộc cạnh tranh giữa
các nước lớn trong khu vực và trên thế giới ngày càng quyết liệt trên nhiều
lĩnh vực, diễn ra dưới nhiều hình thức, với quy mô, phạm vi ngày càng mở rộng,
tính đối kháng ngày càng gay gắt, nội dung ngày càng phức tạp, do đó tính khốc
liệt cũng ngày một gia tăng, không gian và thời gian là vô cùng, không có giới
hạn, đôi khi mang dáng dấp một cuộc chiến tranh lạnh. Các nước lớn vừa đấu
tranh, vừa thỏa hiệp, kéo theo đó là những tập hợp lực lượng mới manh nha,
những “sáng kiến” chiến lược được hình thành, những điều ước mà đằng sau đó là
những liên minh, liên kết... ra đời, nhiều khi đặt các nước phải thể hiện rõ
lập trường, tham gia hay không tham gia, tham gia như thế nào để đạt được lợi
ích tối ưu cho đất nước. Thế giới dường như ngày càng có xu hướng phân tuyến rõ
ràng. Việt Nam - một quốc gia thành viên ASEAN có vị trí địa - chính trị, địa -
kinh tế quan trọng trong khu vực, là đối tượng quan tâm của các nước lớn. Do
vậy, trong quan hệ hợp tác với Việt Nam, các nước đều hàm ý muốn lôi kéo Việt
Nam tham gia những sáng kiến, tập hợp lực lượng mà họ “dàn xếp”, thông qua “sức
mạnh mềm” viện trợ, đầu tư, phát triển... Bối cảnh đó đòi hỏi Việt Nam xác định
nguyên tắc, lợi ích và cách ứng xử với các nước trên cơ sở lợi ích chung; lựa
chọn đối sách có lợi cho đất nước, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Cần thấy
rõ rằng, trong quan hệ quốc tế, hợp tác và đấu tranh là hai mặt song hành;
trong quan hệ đối tác - đối tượng có sự đan xen, chuyển hóa. Phương châm này
giúp chúng ta tận dụng cơ hội hợp tác; đồng thời, thấy rõ hơn sự khác biệt về
lợi ích để tìm các giải pháp đưa quan hệ phát triển, không bỏ lỡ cơ hội hợp
tác, nhưng cũng không lơ là, mất cảnh giác. Mục tiêu cơ bản, lâu dài trong nhận
thức và vận dụng quan điểm về đối tác, đối tượng của Đảng ta là nhằm tăng cường
đoàn kết, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với bè bạn quốc tế, khai thác mặt
đối tác, ngăn ngừa, hạn chế, thu hẹp mặt đối tượng. Do vậy, không thể cho rằng,
đối tác chỉ là để hợp tác và đối tượng chỉ là để đấu tranh. Với nhận thức mới
như vậy, trong môi trường quốc tế ngày càng “phẳng”, sự tương tác và phụ thuộc
lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu sắc, đa chiều..., Việt Nam đẩy mạnh quan
hệ đối ngoại, cả song phương và đa phương, với cả những nước có yếu tố đối
tượng của chúng ta. Đối với các vấn đề bất đồng, nhất là trong quan hệ với các
nước lớn, nước láng giềng, Việt Nam tìm cách xử lý khôn khéo, tránh đối đầu,
tránh “chọn bên”, song kiên quyết, kiên trì giữ vững nguyên tắc; đối thoại, hợp
tác để xử lý các khác biệt, bất đồng, bảo đảm hài hòa lợi ích, bảo đảm cao nhất
lợi ích quốc gia - dân tộc, với tầm nhìn chiến lược là phục vụ mục tiêu an
ninh, hòa bình, phát triển của đất nước. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị Quân chính toàn quân ngày
20-12-2022: “Kịp thời nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa, linh hoạt đối tác,
đối tượng quốc phòng, không để bị động, bất ngờ; ngăn ngừa nguy cơ xung đột,
đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc, không “chọn bên”.
Thời gian
qua, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp; cuộc cạnh tranh,
thậm chí có lúc lên tới mức đối đầu giữa các nước lớn hiện nay đang đặt nhân
loại trước những hiểm họa khôn lường, khó dự đoán. “Cục diện thế giới đa cực,
đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt,
thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước
đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu
và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta”(4).Trong điều kiện
tình hình thế giới vô cùng nhạy cảm, phức tạp hiện nay, Việt Nam kiên trì thực
hiện chính sách “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết
với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử
dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực trong quan hệ quốc tế, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi
nước chưa nguy và đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, là thượng sách để giữ
vững hòa bình đất nước, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quan hệ đối
ngoại, Việt Nam đã phát huy sức mạnh “Ngoại giao cây tre”: mềm mại, khôn khéo,
nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, kiên
định, như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần
thứ 29 (năm 2016) và tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc năm 2921, góp phần giữ
vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc
trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm. Cứng mà không gãy, đa phương mà không phụ
thuộc, “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua bằng sự uyển chuyển, khéo
léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, song cũng kiên trì, kiên quyết
trong ứng xử những vấn đề thuộc về nguyên tắc “bình đẳng, tôn trọng chủ quyền,
quyền và lợi ích chính đáng, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân
thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ
quốc tế”, không chỉ khai thông “thế khó” của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh
nước lớn, mà còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích
quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế đất nước, góp
phần bảo vệ và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.
Với
truyền thống văn hóa giữ nước hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, trọng lẽ
phải, chính nghĩa, là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng
quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, gánh vác nhiều trọng
trách quốc tế quan trọng, tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác trong giải
quyết những vấn đề an ninh đang nổi lên, đóng góp vào những nỗ lực chung của
cộng đồng quốc tế vì nền hòa bình bền vững của nhân loại.
Như vậy,
quan điểm cổ xúy cho việc “chọn bên” hoàn toàn đi ngược lại với đường
lối, chủ trương của Đảng, trái chiều với lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng ta
không chọn bên mà chọn chính nghĩa, lẽ phải. Trong bài phát biểu tại Trung tâm
Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) ngày 12-5-2022, Thủ tướng Chính phủ
Phạm Minh Chính đã nêu rõ: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến
lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công
bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến
chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng”.
Chọn chính nghĩa là chọn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển của đất nước ta. Chọn lẽ phải là
chọn hòa bình và phát triển thịnh vượng của thế giới.
Chúng ta chọn
hòa bình bởi Việt Nam đã trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm
lược, các thế hệ người Việt Nam đã đổ bao xương máu để giành và giữ nền độc
lập, tự do dân tộc, sự vẹn toàn của bờ cõi, chủ quyền đất nước, nhưng Việt Nam
luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình. Trong lịch
sử cách mạng Việt Nam, khát vọng hòa bình cũng chính là khát vọng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội và ngày nay là khát vọng phồn vinh, hạnh phúc, tự
cường.
Chúng ta
chọn phát triển, hợp tác vì đó là sự lựa chọn hợp lẽ, vì mục tiêu phát triển
đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phù hợp với xu
hướng chung của tất cả các nước trên thế giới. Đại hội XIII của Đảng xác định
mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp
theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm 2030 là
nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến
năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Khát vọng phát triển của đất
nước gắn liền với khát vọng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của cả khu
vực và thế giới.
Sự lựa
chọn đó của Việt Nam phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Và chỉ có đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đa dạng hóa, đa phương hóa
quan hệ đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại mới có thể
bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đưa đất nước phát triển hùng cường, phồn
vinh, hạnh phúc./.
TBQL
17
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét