Thứ Năm, 9 tháng 5, 2024

NÉT NHÂN VĂN QUÂN SỰ ĐẶC SẮC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Trong các cuộc chiến tranh giữ nước suốt chiều dài lịch sử dân tộc, cùng với sử dụng sức mạnh quân sự để đánh bại kẻ thù xâm lược, dân tộc Việt Nam đã phát huy cao độ yếu tố chính nghĩa và nhân văn của cuộc chiến tranh đang tiến hành để đánh bại kẻ xâm lược phi nghĩa. Tiếp nối truyền thống đó, trong và sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương đối xử khoan hồng, nhân đạo đối với tù, hàng binh.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị mở cuộc tiến công chiến lược trong Đông Xuân 1953-1954, để toàn quân thực hiện tốt chính sách đối với tù, hàng binh, ngày 27/11/1953, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phổ biến bản “Tóm tắt chính sách đối với tù hàng binh của Tổng cục Chính trị trong Đông Xuân 1953-1954” tới tất cả các đơn vị, với nội dung gồm năm điểm:

“1- Binh lính địch đã hạ vũ khí hay chịu bắt làm tù binh thì đối xử tử tế, không khinh bỉ dọa nạt, không vuốt ve suồng sã, đồng thời phải đề cao cảnh giác.

2- Tuyệt đối không chửi mắng, đánh đập, bắn giết tù hàng binh.

3- Phải cứu chữa tù hàng binh bị thương.

4- Không được lấy đồ dùng và tiền bạc riêng của tù hàng binh. Vũ khí quân dụng và tài liệu quân sự thì phải tịch thu quỹ công.

5- Luôn luôn tuyên truyền giải thích giác ngộ cho tù hàng binh” (1).

Cũng trong tháng 11/1953, Cục Địch vận, Tổng cục Chính trị được giao nhiệm vụ nghiên cứu, tổ chức các trại tù binh, hàng binh tiền phương; chỉ đạo củng cố lại các trại của Cục, các trạm tù binh, hàng binh của các đại đoàn, trung đoàn để chuẩn bị mọi mặt cho việc tiếp nhận tù, hàng binh.

Tháng 1/1954, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ban hành “Năm điều kỷ luật chiến trường thi hành trong chiến dịch Đông-Xuân”, trong đó xác định rõ chính sách đối xử nhân đạo và chấp hành đúng chính sách thương binh, tử sĩ một nội dung cốt lõi của năm điều kỷ luật đó.

Để toàn bộ cán bộ, chiến sĩ nắm vững và thực hiện tốt chính sách tù, hàng binh, các đơn vị đã tổ chức quán triệt và yêu cầu tất cả mọi người đều phải nghiêm chỉnh chấp hành. Theo kế hoạch đã chuẩn bị sẵn, toàn bộ tù, hàng binh được các đại đoàn đưa ngay về tuyến sau cách mặt trận 3-4 km, từ đó chuyển giao cho các trại tù binh. Tại các trại, họ được chăm sóc y tế và ăn uống đầy đủ theo chế độ quy định; đồng thời được phổ biến, giáo dục chính sách khoan hồng, nhân đạo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ đó, giúp họ yên tâm, ổn định tinh thần, tâm lý.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi với số tù, hàng binh lớn chưa từng có trong kháng chiến chống Pháp. Yêu cầu công tác quản lý, dẫn giải về phía sau, giáo dục và bảo đảm đời sống, ăn, ở cho họ đặt ra rất lớn. Đối với số tù binh bị thương, bị bệnh nặng không thể đi theo các đoàn dẫn giải về phía sau, Bộ Chỉ huy mặt trận thiết lập bốn trạm quân y dã chiến tổ chức cứu chữa và nuôi dưỡng. Bộ Tổng Tư lệnh đã phóng thích và trao trả ngay tại mặt trận cho phía Pháp 858 sĩ quan và binh sĩ Pháp bị thương, trong đó có một tù binh nữ duy nhất là cứu thương Geneviève de Gallard được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc cách cho thả trước (2).

Ngoài số tù binh nêu trên, toàn bộ tù, hàng binh ở Điện Biên Phủ sau khi phân loại sơ bộ, được tổ chức thành từng đoàn theo đội ngũ, được dẫn giải về phía sau theo hai hướng: Điện Biên Phủ-Yên Bái, Tuyên Quang và Điện Biên Phủ - Thanh Hóa. Đây là những địa điểm đã chuẩn bị sẵn các trại để tiếp nhận, quản lý, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và dự định sẽ là nơi trao trả cho phía Pháp. Sau thời gian khoảng từ 28 đến 40 ngày tùy theo từng cung đường, các đoàn tù, hàng binh về đến vị trí tập kết. Thực hiện đúng các điều khoản của Hiệp định Geneva và những thỏa thuận ở Hội nghị Trung Giã với phía Pháp, tùy theo điều kiện cụ thể, toàn bộ tù binh đã được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho phía Pháp hoặc tổ chức cho hồi hương hay ở lại Việt Nam làm ăn sinh sống theo nguyện vọng. Đợt trao trả thứ nhất bắt đầu từ ngày 15/8/1954 và đợt cuối kết thúc vào hạ tuần tháng 9/1954.

Cùng với việc thực hiện chính sách nhân đạo đối với tù, hàng binh tại mặt trận Điện Biên Phủ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn nêu rõ chính sách đối với binh lính và nhân viên chính quyền Bảo Đại tự nguyện bỏ hàng ngũ trở về quê hương, gia đình ở vùng tạm chiếm. Tháng 3/1954, Hội đồng Chính phủ thông qua Chính sách đối với ngụy binh và nhân viên ngụy quyền bỏ hàng ngũ địch trở về với Tổ quốc, trong đó nêu rõ: “Sĩ quan, binh lính ngụy bỏ hàng ngũ địch trở về với Tổ quốc được khoan hồng, được hưởng tự do và quyền lợi công dân. Những người mang vũ khí về với kháng chiến, những người giết địch lập công thì sẽ được khen thưởng tùy theo công trạng.

Nhân viên ngụy quyền bỏ hàng ngũ địch trở về với Tổ quốc sẽ được khoan hồng, được hưởng tự do và quyền lợi công dân… Sĩ quan, binh lính ngụy quân, nhân viên ngụy quyền có gia đình ở vùng tự do mà bỏ hàng ngũ địch về nhà làm ăn lương thiện sẽ được chiếu cố” (3).

Chính sách khoan hồng, nhân đạo của Chính phủ đối với binh sĩ người Việt trở về với Tổ quốc được tuyên truyền rộng rãi, cùng với tác động của những thắng lợi ở khắp các chiến trường, đặc biệt là ở Điện Biên Phủ, đã tác động sâu sắc tới tư tưởng, tinh thần binh sĩ và nhân viên chính quyền địch. Từ cuối năm 1953 đến tháng 9/1954, có tới hơn 15 vạn binh sĩ, sĩ quan trong “Quân đội quốc gia” của chính quyền Bảo Đại bỏ ngũ trở về quê (4). Trước tình hình đó, Trung ương nêu rõ chủ trương đối với binh lính bỏ về quê gồm bốn điểm, trong đó nhấn mạnh việc lập trạm chiêu đãi tiếp nhận, chính quyền xã phải sắp xếp công ăn việc làm cho họ nếu họ không có điều kiện sinh sống, cấm không được phát động quần chúng tiến hành tố cáo…” (5).

Những chủ trương kịp thời và đầy tính nhân văn của Đảng, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần làm cho binh lính người Việt ổn định tâm lý, yên tâm trở về gia đình, quê hương làm ăn; đồng thời, những chính sách đó cũng góp phần nhanh chóng ổn định tình hình sau chiến tranh, bảo đảm trật tự, trị an và đời sống, sinh hoạt của đông đảo nhân dân.

Trong và sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện nhất quán chính sách khoan hồng, nhân đạo đối với tù, hàng binh... Đó chính là một nét đặc sắc của truyền thống văn hóa quân sự Việt Nam./. 

KARL MARX ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

 

Đã gần 180 năm kể từ khi còn là “bóng ma ám ảnh châu Âu” và trong suốt quá trình phát triển của mình, Chủ nghĩa Mác luôn vấp phải sự chống phá quyết liệt của những quan điểm phi mác-xít nói chung, của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói riêng.

Do vậy, Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Cuộc đấu tranh đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, đồng thời đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng ta trong cuộc đấu tranh chống lại những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa hiện nay.

Cuộc "đấu tranh sống mái"

Chủ nghĩa cơ hội ra đời đã gây ra những tác hại rất lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Chính những tác động tiêu cực của chủ nghĩa cơ hội nên Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc “đấu tranh sống mái” chống lại chủ nghĩa cơ hội dưới nhiều màu sắc khác nhau như: Chủ nghĩa Proudhon, Lassalle, Bakunin... để phong trào công nhân quốc tế mau chóng hồi phục và phát triển.

Thứ nhất, đấu tranh chống Chủ nghĩa Proudhon. Chủ nghĩa Proudhon là chủ nghĩa cải lương và trào lưu vô chính phủ lưu hành trong phong trào công nhân Pháp từ những năm 40 đến những năm 90 của thế kỷ 19, đại biểu là P.J.Proudhon. Đứng trên lập trường của tầng lớp tiểu tư sản, Proudhon kịch liệt phản đối các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại chế độ tư bản. Ông đã ảo tưởng cải tạo xã hội một cách hòa bình và đưa ra tư tưởng cải cách dần dần từ bên trên. Với những quan điểm của mình, Chủ nghĩa Proudhon đã gây trở ngại nghiêm trọng cho sự truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lúc bấy giờ. Trước tình hình đó, Karl Marx đã viết nhiều tác phẩm: "Bản thảo kinh tế-triết học" (1844), "Hệ tư tưởng Đức" (1846), "Sự khốn cùng của triết học" (1847), "Bàn về Proudhon" (1865)... phê phán nghiêm khắc lý luận vô sách lược của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, phê phán lý luận “cách mạng xã hội” của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx đã chỉ ra sự ảo tưởng trong việc cải tạo xã hội một cách hòa bình và chứa đầy mâu thuẫn về mặt lý luận của Proudhon. Trong khi phê phán Proudhon, Karl Marx đã lập luận học thuyết đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản, đó là sự thống nhất giữa đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị nhằm cải thiện đời sống sinh hoạt vật chất tiến tới giải phóng bản thân, lật đổ nền thống trị của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của những người sáng lập Chủ nghĩa Mác chống chủ nghĩa vô chính phủ của Proudhon kéo dài suốt mấy chục năm, tới khi Công xã Paris thất bại mới triệt để xóa bỏ được nó. Và từ đây, chủ nghĩa cơ hội Proudhon đã không còn ảnh hưởng gì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Thứ hai, đấu tranh chống Chủ nghĩa Lassalle. Chủ nghĩa Lassalle hình thành ở nước Đức vào những năm 60 của thế kỷ 19, là trào lưu cơ hội chủ nghĩa mà đứng đầu là F.Lassalle (1825-1864). Đây là một trào lưu cơ hội chủ nghĩa có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phong trào công nhân Đức và phong trào công nhân quốc tế. Bên cạnh việc tuyên truyền cái gọi là “quy luật sắt về tiền công”, Lassalle cổ vũ cho quan điểm duy tâm chủ nghĩa về nhà nước, kêu gọi thực hiện chủ nghĩa xã hội thông qua quyền phổ thông đầu phiếu, biến nhà nước chuyên chế Phổ thành “nhà nước tự do”, sau đó, nhà nước ấy sẽ đem tiền của dùng vào chiến tranh để xây dựng các hợp tác xã, làm cho công nhân thoát khỏi nghèo khổ. Tư tưởng của F.Lassalle thực tế là thỏa hiệp và theo đuôi giai cấp tư sản. Karl Marx đã viết tác phẩm "Phê phán Cương lĩnh Gotha"(1875), phê phán những sai lầm thỏa hiệp, hữu khuynh vô nguyên tắc của những người lãnh đạo Đảng Dân chủ xã hội Đức, vạch trần bản chất cơ hội, cải lương của phái Lassalle. Karl Marx đã vạch trần tính chất sai lầm và phản động của F.Lassalle trên nhiều vấn đề; trong đó, ông phê phán luận điểm nhảm nhí về “nhà nước tự do” dựa theo quan điểm siêu giai cấp của Lassalle. Cũng thông qua cuộc đấu tranh này, Karl Marx đã phát triển lý luận về hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa, làm nổi bật tính tất yếu, vai trò lịch sử của chuyên chính vô sản và phát triển thêm một bước học thuyết về nhà nước.

Thứ ba, đấu tranh chống chủ nghĩa vô chính phủ Bakunin. Chủ nghĩa Bakunin là một trào lưu tư tưởng chính trị tiểu tư sản và chủ nghĩa vô chính phủ có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào những năm 70 của thế kỷ 19. Bakunin đòi xóa bỏ mọi hình thức chính quyền, kể cả chuyên chính vô sản bằng các cuộc bạo động có tính chất âm mưu; khước từ mọi hoạt động chính trị của giai cấp công nhân... Cuộc đấu tranh của Karl Marx chống lại tư tưởng cơ hội tiểu tư sản và vô chính phủ của Bakunin được đưa lên hàng đầu trong Quốc tế I. Karl Marx đã chỉ ra tư tưởng của Bakunin là “sai lầm về mặt lý luận và phản động về mặt thực tiễn”, dẫn giai cấp công nhân đi theo chủ nghĩa cải lương. Ông chỉ ra rằng không thể thủ tiêu chủ nghĩa tư bản bằng việc xóa bỏ quyền thừa kế mà phải sử dụng chuyên chính vô sản. Thông qua sự đấu tranh quyết liệt của mình, Karl Marx đã đánh bại Chủ nghĩa Bakunin và năm 1872 khai trừ Bakunin ra khỏi Quốc tế I, đồng thời đưa Chủ nghĩa Mác phát triển lên một tầm cao mới trong lý luận về nhà nước chuyên chính vô sản.

Có thể nói, Karl Marx đã tiến hành cuộc đấu tranh triệt để chống lại chủ nghĩa cơ hội trong những năm 1844-1873 và đã bác bỏ gần như toàn bộ học thuyết cơ hội trong giai đoạn đầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần đưa phong trào công nhân quốc tế phát triển đúng hướng. Đồng thời còn tạo ra một bước phát triển vượt bậc của hệ tư tưởng vô sản, ngày càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học của học thuyết này, tạo cơ sở vững chắc cho những thắng lợi của các cuộc cách mạng vô sản sau này.

Những vấn đề đặt ra đối với đấu tranh chống tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trong Đảng ta hiện nay chưa có chủ nghĩa cơ hội như thời của Karl Marx, tức là chưa có những trào lưu tư tưởng, học thuyết hay một tổ chức công khai đối lập với Đảng, tuy nhiên, những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa xuất hiện dưới những mức độ, tính chất khác nhau. Biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở trong Đảng ta thể hiện dưới những dạng cơ hội chính trị và cơ hội thực dụng mà Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ ra đó là 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những t­ư t­ưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa đã và đang làm giảm sút năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đe dọa tới sự tồn vong của chế độ. Do vậy, kế thừa những bài học, kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh của Karl Marx chống chủ nghĩa cơ hội, để có thể ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần phải tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Một là, cần giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cho dù các phần tử cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc, song chúng đều có một trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, cần tuyên truyền, giáo dục để đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân phát hiện ra những phần tử cơ hội chủ nghĩa trong Đảng, thấy rõ tác hại của chúng, trên cơ sở đó, nâng cao trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống những phần tử cơ hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Hai là, phải có thái độ đấu tranh dứt khoát, kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng với những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Các phần tử cơ hội chủ nghĩa như những “ung nhọt”, “vi trùng rất độc”, “khối u ác tính”; là một tai họa hiển nhiên, do vậy, toàn Đảng cần đấu tranh chống lại chúng ở mọi nơi, mọi lúc; trên tất cả lĩnh vực; không cho chúng cơ hội trở thành một chủ nghĩa, một trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp cách mạng. Cần phải có thái độ rõ ràng, đấu tranh một cách kịp thời, triệt để, dứt khoát, không cho chúng có “mảnh đất” để tồn tại. Kiên quyết xử lý, loại bỏ chúng dù ở bất cứ vị trí nào, cần “tẩy rửa chất mủ ấy đi càng nhanh và càng kỹ chừng nào càng tốt chừng nấy, dù cho việc mổ xẻ ấy có làm cho ta phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”.

Ba là, xác định nội dung, phư­ơng pháp, hình thức phù hợp để đấu tranh hiệu quả với các biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa phải đư­ợc tiến hành trên mọi mặt trận, ở mọi nơi, từ đấu tranh lý luận đến đấu tranh thực tiễn. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng lý luận, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên với thực hiện nghiêm túc các khâu, các bước trong công tác cán bộ, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình trong nội bộ với công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, sự giám sát của các phương tiện thông tin đại chúng, của quần chúng nhân dân và công tác thanh tra, điều tra, xét xử của các cơ quan chức năng. Qua đó kịp thời phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những phần tử cơ hội chủ nghĩa “luồn sâu, leo cao” vào trong bộ máy của Đảng.

Nói tóm lại, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Karl Marx đã để lại những ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc, trong đó chỉ dẫn cho cuộc đấu tranh phòng, chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa trong Đảng ta hiện nay. Để đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa đòi hỏi cần phải xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Có như vậy, Đảng mới tăng cường “sức đề kháng” và đủ sức loại bỏ được những phần tử cơ hội chủ nghĩa ra khỏi bộ máy.

THÔNG BÁO ĐẶC BIỆT

 

Đúng 22 giờ ngày 7 tháng 5, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ vĩ đại đã thu được toàn thắng!

Bộ Tổng tư lệnh báo tin chính thức cho toàn thể cán bộ và chiến sĩ, toàn thể các đơn vị, toàn thể các binh chủng, toàn thể các cơ quan và các ngành, toàn thể các anh chị em dân công và thanh niên xung phong đang phục vụ trên mặt trận Điện Biên Phủ, toàn thể đồng bào Tây Bắc.

Đêm mồng 6 tháng 5, lúc 21 giờ, quân ta đã chia làm nhiều cánh, mở cuộc đại tấn công vào Điện Biên Phủ. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng anh dũng và dữ dội suốt đêm mồng 6. Đến trước sáng ngày mồng 7 tháng 5 thì quân ta đã hoàn toàn làm chủ ngọn đồi số 5 (tức là đồi A1) là ngọn đồi kiên cố và xung yếu nhất của địch ở đông nam Mường Thanh trực tiếp án ngữ cho khu chỉ huy của chúng ở phía tây nam, ta đã đánh chiếm vị trí Nà Noọng cách cơ quan chỉ huy của địch không đầy 300 thước.

Cuộc tấn công của quân ta tiếp tục suốt ngày mồng 7. Đến 9 giờ 30 thì quân ta tiêu diệt trên một tiểu đoàn quân dù ở trên ngọn đồi Yên Ngựa tức là đồi Châu Ún, đồng thời đánh chiếm một vị trí ở chân đồi về phía sông Mường Thanh.

Cuộc tấn công của ta luôn luôn có trọng pháo và cao xạ pháo yểm hộ rất đắc lực, tiếp tục suốt buổi chiều ngày mồng 7. Một cánh quân của ta từ phía đông bắc đánh vào những vị trí còn lại của địch ở giáp cầu Mường Thanh, trong khi các hướng khác quân ta tiếp tục công kích địch.

Vào khoảng 15 giờ 30 thì những vị trí cuối cùng của địch án ngữ cầu Mường Thanh bị tiêu diệt. Số còn lại kéo cờ trắng ra hàng. Trong khi đó, trọng pháo của ta không ngớt bắn phá các lô cốt và công sự của địch, không ngớt bắn chặn bọn địch ở bên này sông bỏ chạy trốn về Mường Thanh. Đến 16 giờ, quân ta thừa thắng mãnh liệt vượt qua sông Mường Thanh phát triển ngay vào giữa các vị trí còn lại của địch, đánh thẳng vào cơ quan tư lệnh của địch, trong khi các cánh quân ở phía tây của ta tấn công vào khu trọng pháo.

Đúng 16 giờ 20 ngày 7 tháng 5, quân ta đã bắt sống toàn bộ cơ quan tư lệnh của địch trong đó có tên thiếu tướng Đờ Cátxtơri (De Castries). Ngay lúc đó quân ta từ các mặt tiến thẳng vào Mường Thanh; sự chống cự của địch hoàn toàn bị tê liệt. Hàng nghìn quân địch ở 27 cứ điểm còn lại hoảng loạn kéo cờ trắng ra hàng. 17 giờ ngày mồng 7 tháng 5, bộ đội ta đã được lệnh chiếm đóng khu Mường Thanh.

Ở phân khu miền Nam (Hồng Cúm), lúc 19 giờ, gần 2 nghìn quân địch hoảng hốt tìm cách chạy trốn. Bộ đội ta lập tức truy kích. Đến 22 giờ thì tiêu diệt toàn bộ quân địch, kể cả tên quan năm chỉ huy Hồng Cúm.

Bộ Tổng tư lệnh chính thức công bố tin chiến thắng vĩ đại của quân ta. Sau 5 tháng bao vây và gần 2 tháng tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, quân đội nhân dân anh dũng của chúng ta đã tiêu diệt 17 tiểu đoàn bộ binh tinh nhuệ của địch, tổng cộng trên dưới 1 vạn 5 nghìn tên, phá hủy và bắn rơi 57 máy bay địch, thu được một thắng lợi vĩ đại xưa nay chưa từng có trong lịch sử kháng chiến của quân dân ta.

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ ngày nay đã toàn thắng, thực hiện được quyết tâm của Trung ương, Chính phủ và Hồ Chủ tịch.

Bộ Tổng tư lệnh nêu cao công trạng của bộ đội, dân công, nhân dân ta trong chiến dịch lịch sử này và kêu gọi toàn thể các cán bộ và chiến sĩ, các anh chị em dân công trong khi vui mừng phấn khởi, phải tiếp tục và tích cực tiến hành nhiệm vụ của mình để củng cố thắng lợi to lớn của chúng ta.

ÁP GIẢI TÙ BINH TỪ ĐIỆN BIÊN

 



Một trong những nhiệm vụ quan trọng sau chiến thắng Điện Biên Phủ đó là dẫn giải tù hàng binh về hậu phương. Câu chuyện được cựu chiến binh Đào Trọng Thủy, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 375, Trung đoàn 9, Đại đoàn 304 kể lại.

Cuối ngày 7-5-1954, anh Cao Ủy, Tiểu đoàn trưởng triệu tập và đưa chúng tôi về Bộ nhận nhiệm vụ dẫn giải tù binh về hậu phương.

Xưa nay, việc hành quân, bảo đảm an toàn cho đơn vị “đi đến nơi về đến chốn”, bảo đảm hậu cần, thu dung… chúng tôi đều đã quen, đều hoàn thành tốt. Bây giờ lại phải giải 3.000 tù binh Âu-Phi, một lượng người gấp nhiều lần quân số của tiểu đoàn, cũng phải bảo đảm an toàn quân số, hậu cần, thu dung… trong khi ngôn ngữ bất đồng, lại phải thực hiện đúng chính sách tù hàng binh của Đảng và Nhà nước ta…

May sao, trong đại đội có đôi ba anh “bập bẹ” tiếng Pháp. Qua tính toán, chúng tôi chia tù binh thành các tiểu đội hành quân. Mỗi tiểu đội giao cho 1 đến 2 đồng chi bập bẹ tiếng Pháp phụ trách. Những người được chọn phụ trách hầu hết đã qua rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật nhà binh … Nhưng cũng không ít đồng chí ngang bướng, tự do vô kỷ luật, máu quân phiệt trỗi dậy, đánh đập tù binh. Chúng tôi phải luôn cảnh giác với số anh em phụ trách và giám sát họ thật chặt chẽ, đồng thời phân tích để anh em thấy rõ những điều chúng ta duy trì hiện nay, đó là bình đẳng, tôn trọng nhân phẩm, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh và kỷ luật.

Dẫn giải, quản lý, điều hành một lượng tù binh-cỡ một trung đoàn như thế, thật là khó khăn. Lo ngại nhất là chúng chạy trốn. Một lần, đang hành quân bỗng tù binh chùn lại, dạt đội hình ra. Thì ra… đoàn dân công ta đi trả gạo về. Sọt gạo đã trả kho, anh chị em chỉ giữ lại đòn gánh. Gặp tù binh, anh chị em chỉ chỏ, giơ đòn gánh ra hiệu thay cho câu nói… Thấy vậy, tù binh tưởng dân đánh họ… Qua đó, chúng tôi vỡ lẽ, tù binh rất sợ tiếp xúc với dân ta, nên không dám bỏ trốn.

Quá trình dẫn giải, chúng tôi thường xuyên truyền đạt chính sách khoan hồng của Chính phủ ta, lấy ngay việc trao trả thương binh tại sân bay Mường Thanh cho họ tin, gợi lên khả năng Chính phủ ta và Pháp sắp ký Hiệp định đình chiến Geneva, sau đó nhất định có trao trả tù binh. Lại nữa, nếu ai không muốn trao trả lại về phía quân đội Pháp, thì có thể làm đơn xin Chính phủ Việt Nam cho ở lại và hồi hương bằng con đường ngoại giao giữa Việt Nam với chính quốc họ.

Nghe khả năng chắc chắn sẽ được hồi hương, tù binh bắt đầu nghiêm túc chấp hành. Chúng tôi thấy nhẹ nhàng thêm trong việc chỉ huy, quản lý và tập trung vào lo đời sống cho họ. Cái khó đầu tiên là tổ chức nấu ăn. Họ, xưa nay hầu như chỉ ăn sẵn, nghĩa là đến bữa phát hộp theo cấp, chức; nay phải nấu cơm làm thức ăn, đi kiếm rau rừng…

Chúng tôi phải sắm cho họ cả dụng cụ cấp dưỡng. Cắt thùng phi làm nồi nấu ăn, đun nước uống. Dạy họ cách nấu cơm, từ bắc bếp, kiếm củi, nhóm bếp, ghế cơm… sao cho cơm chín, cách nấu thức ăn, kho thịt, làm thức ăn dự trữ đi đường… Dần dần công việc dẫn giải tù binh đi vào nền nếp và quy củ.

Khó khăn nhất mà chúng tôi gần như bó tay, đó là áo quần của tù binh chỉ có 1 bộ, không có bộ khác thay đổi nên qua nhiều ngày dẫn giải đã rất bẩn, mùi hôi hám bốc lên. Tóc tai tù binh bù xù, râu ria tua tủa vì lâu ngày không cắt, không cạo. Chúng tôi đã sắm, phát cho họ kéo và dao cạo để họ tự cắt cho nhau… nhưng áo quần thì không lấy đâu ra. Về sau, có sáng kiến là vừa hành quân, vừa phơi quần áo trên mũ, trên lưng… Song phải đảm bảo ăn mặc đi trên đường có thể chấp nhận được. Từ đó, việc hành quân đỡ bị việc tắm giặt, phơi quần áo của họ chi phối. Một thuận lợi lớn trong quá trình dẫn giải tù binh đó là việc mang vác, cáng thương. Khi có người ốm đau, vết thương tái phát, tất cả họ đề tự giác khênh cáng nhau đi rất khỏe…

Sau gần một tháng dẫn giải tù binh, chúng tôi đã về đến vị trí theo đúng ý định và bàn giao cho đơn vị bạn, đó là Đại đoàn 316.

Điều chúng tôi không ngờ là khi chia tay các tù binh, tình người đã trỗi dậy rõ nét. Khoảng cách “địch-ta” như đã mờ xa. Chúng tôi đã dần đồng cảm với tù binh hơn và mong cho họ sớm được hồi hương về đoàn tụ bên gia đình; mong cho “kiếp đời làm lính đánh thuê” xóa nhòa vào dĩ vãng. Nhiều tù binh đã bịn rịn níu mãi tay chúng tôi như không muốn rời. Có người mắt đẫm lệ, hai tay chắp trước ngực cúi đầu như tạ lỗi, tạ ơn. Đến lúc này, chính chúng tôi mới hiểu hơn về chính sách tù hàng binh của Đảng và Nhà nước ta và cũng như phần nào đó hài lòng, vì đã hoàn thành được nhiệm vụ khó khăn mà trên đã giao cho.

BÁC BỎ SỰ XUYÊN TẠC CHO RẰNG CHÚNG TA KHÔNG CÓ PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP

Vừa  qua, trên trang “Boxitvn” , Chu Hồng Quý đăng tải bài viết “Tăng cường phản biện xã hội để Đảng tiến bộ, Chính phủ hoạt động hiệu quả, Đất nước văn minh hơn”. Quý cho rằng: “chúng ta không có phản biện độc lập”; rằng: “Vì không nghe lời phản biện của giới chuyên gia cảnh báo nên 528 triệu USD mà PVEP/PVN mất trắng đầu tư sang Venezuela như đổ sông đổ biển”. Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhằm thực hiện âm mưu kích động quần chúng nhân dân, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Những âm mưu, thủ đoạn này đối lập hoàn toàn với phản biện xã hội, mà chính là gây phức tạp tình hình xã hội; chúng đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội.

 Phản biện xã hội là một hình thức, một biện pháp cụ thể thể hiện quyền của nhân dân và ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với công việc chung của đất nước; thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với Nhân dân; thể hiện lòng tin của Đảng, Nhà nước đối với trình độ chính trị, mức độ hiểu biết của nhân dân về lãnh đạo và quản lý.

 Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng ý kiến đóng góp phê bình, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về các vấn đề quốc kế dân sinh của mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân; phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội... Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò tự quản của nhân dân”  Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 26/10/2022 về “Phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng, các ý kiến đóng góp có tính khoa học, thực tiễn, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, giải pháp để ngày càng hoàn thiện các chủ trương, chính sách, phục vụ thiết thực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. 

 Trong đời sống chính trị - xã hội của một đất nước luôn tồn tại nhu cầu cá nhân đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình, cũng như cơ quan nhà nước lựa chọn, tranh thủ ý kiến, nhận xét của các tổ chức, cá nhân, xã hội để đưa ra những quyết sách đúng đắn, kịp thời, hợp lý nhất trong quá trình nhận diện và giải quyết các vấn đề cuộc sống đặt ra. Phản biện xã hội về thực chất là người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp góp sức với Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng các chủ trương, chính sách, chuẩn bị các quyết định về chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. 

 Thực tiễn trong xây dựng các chủ trương, chính sách pháp luật như xây dựng Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, Luật Đấu thầu 2023, Luật Đất đai 2024,....Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đều lấy ý kiến của nhân dân... để phát hiện những điểm chưa chính xác, chưa phù hợp với đời sống xã hội và lợi ích chính đáng của nhân dân để kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung cho chính xác, phù hợp.

 Như vậy, có thể thấy, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước ta đều được lấy ý kiến đóng góp của đông đảo quần chúng nhân dân. Đây là minh chứng cho thấy Nhà nước ta thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Những luận điệu xuyên tạc của Chu Hồng Quý về Việt Nam chúng ta không có phản biện độc lập là không có cơ sở. Mục đích của chúng nhằm kích động, gây chia rẽ, phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, thực hiện mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, mọi người cần nhận diện, cách giác và đấu tranh với những luận điệu sai trái trên./.

.ankhe.

Lữ đoàn Xe tăng 201: Nhiều đổi mới, sáng tạo, cách nghĩ, cách làm trong Phong trào Thi đua Quyết thắng

 

Sáng 9-5, Lữ đoàn Xe tăng 201, Binh chủng Tăng thiết giáp tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng (TĐQT) giai đoạn 2019 - 2024. Đây là đại hội điểm được tổ chức trước để rút kinh nghiệm tổ chức Đại hội TĐQT cấp cơ sở.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Dinh, Chính ủy Binh chủng Tăng thiết giáp dự và phát biểu tại đại hội. Cùng dự đại hội còn có lãnh đạo, đại diện các đầu mối đơn vị thuộc binh chủng.

Giai đoạn 2019-2024, công tác thi đua - khen thưởng và Phong trào TĐQT của Lữ đoàn Xe tăng 201 được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, triển khai tích cực, toàn diện, đạt hiệu quả thiết thực. Hội đồng (tổ) Thi đua - Khen thưởng hoạt động có nền nếp, chất lượng, hoàn thành tốt các đợt thi đua thường xuyên và cao điểm.

Lữ đoàn Xe tăng 201: Nhiều đổi mới, sáng tạo, cách nghĩ, cách làm trong Phong trào Thi đua Quyết thắng

Thiếu tướng Nguyễn Đức Dinh, Chính ủy Binh chủng Tăng thiết giáp phát biểu tại đại hội. 

Công tác thi đua - khen thưởng và Phong trào TĐQT có bước phát triển mới, toàn diện đạt nhiều kết quả quan trọng; là động lực trực tiếp góp phần quan trọng xây dựng lữ đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tạo động lực mạnh mẽ góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trung tâm, hoàn thành tốt các chỉ tiêu công tác hậu cần, tài chính, kỹ thuật, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, lữ đoàn vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu". Tại đại hội, các đại biểu cũng chỉ ra các mặt còn tồn tại và phương án giải quyết trong Phong trào TĐQT giai đoạn tới.

Phát biểu tại đại hội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Dinh đánh giá, Lữ đoàn Xe tăng 201 là đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới; là đơn vị dự bị cơ động chiến lược của Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu trọng yếu của Đảng, Nhà nước ở Thủ đô Hà Nội và được trang bị những loại vũ khí, trang bị hiện đại nhất của Binh chủng Tăng thiết giáp.

Lữ đoàn Xe tăng 201: Nhiều đổi mới, sáng tạo, cách nghĩ, cách làm trong Phong trào Thi đua Quyết thắng
Thủ trưởng Binh chủng Tăng thiết giáp tặng hoa chúc mừng đại hội. 

Thường vụ Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp luôn đánh giá cao Lữ đoàn Xe tăng 201 trong Phong trào TĐQT. Đơn vị đã thường xuyên quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên về công tác thi đua - khen thưởng và Phong trào TĐQT. Các cấp ủy, tổ chức Đảng luôn có các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả; vai trò trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị trong lữ đoàn được khẳng định và phát huy.

Đặc biệt, đơn vị có nhiều đổi mới, sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm với rất nhiều mô hình mới được triển khai như: Mô hình “Dân ấm, xích êm”, “Tiếp sức thao trường”, “Những khung giờ xanh”, “Nối vòng tay mẹ”, “Tiếng nói Chính trị viên”, “5 điều biết trong tuần", “Bộ đội Cụ Hồ với văn hóa giao thông”, Câu lạc bộ “Tâm tình đồng đội”... đã góp phần thúc đẩy, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật và bảo đảm an toàn trong đơn vị.

Trên cơ sở kết quả đạt được, Thiếu tướng Nguyễn Đức Dinh yêu cầu cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Xe tăng 201 cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác thi đua, khen thưởng và các khâu, các bước của Phong trào TĐQT, quán triệt, vận dụng, cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên.

Lữ đoàn Xe tăng 201: Nhiều đổi mới, sáng tạo, cách nghĩ, cách làm trong Phong trào Thi đua Quyết thắng

Quang cảnh Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024 của Lữ đoàn Xe tăng 201.

Lữ đoàn Xe tăng 201: Nhiều đổi mới, sáng tạo, cách nghĩ, cách làm trong Phong trào Thi đua Quyết thắng

Các đại biểu dự đại hội. 

Phong trào TĐQT của Lữ đoàn Xe tăng 201 những năm tới phải gắn với thực hiện tốt nội dung các cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Binh chủng Tăng thiết giáp; tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc, quy trình, các khâu, các bước trong khen thưởng và tổ chức phong trào thi đua; phát huy hiệu quả việc xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến; phát huy sức mạnh của hệ thống lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, đội ngũ chính trị viên và cơ quan chính trị, vai trò của các tổ chức quần chúng, bảo đảm cho phong trào thi đua những năm tới luôn đi đúng hướng, bám sát yêu cầu nhiệm vụ.

Trung đoàn 148 tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024

 

áng 9-5, Trung đoàn 148, Sư đoàn 316, Quân khu 2 tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024. Đại tá Nguyễn Trung Đắc, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Sư đoàn 316 đến dự và chỉ đạo đại hội.

Tham dự đại hội còn có đại biểu đại diện chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, đơn vị kết nghĩa tại địa phương cùng đông đảo cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn.

Trung đoàn 148 tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024
 
Trung đoàn 148 tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024
Các đại biểu tham dự đại hội. 

Đại hội thống nhất đánh giá, công tác thi đua - khen thưởng và Phong trào Thi đua Quyết thắng của Trung đoàn giai đoạn 2019-2024 đã được triển khai thực hiện toàn diện, có chiều sâu và thực chất, trở thành động lực, thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ vượt qua khó khăn, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; góp phần xây dựng Đảng bộ Trung đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Trung đoàn vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Trung đoàn đã vinh dự được Quân khu tặng Danh hiệu "Đơn vị Quyết thắng" năm 2020, được Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen có thành tích xuất sắc trong thực hiện Phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” năm 2023; có 22 tập thể đạt Danh hiệu "Đơn vị Quyết thắng"

Trung đoàn 148 tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024
 Các đại biểu tham quan gian trưng bày mô hình công tác Đảng, công tác chính trị.

Giai đoạn 2024-2029, Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 148 xác định phải thường xuyên quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên, đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, gắn với thực hiện các phong trào thi đua, cuộc vận động, nhằm nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, xây dựng Trung đoàn vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; Đảng bộ Trung đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. 

Trung đoàn 148 tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024
Đại tá Nguyễn Trung Đắc, Chính ủy Sư đoàn 316 phát biểu tại đại hội.

Phát biểu tại đại hội, Đại tá Nguyễn Trung Đắc ghi nhận, đánh giá cao kết quả thực hiện Phong trào Thi đua Quyết thắng trong giai đoạn 2019-2024 của Trung đoàn. Phát huy thành tích, kết quả đạt được trong thời gian tới, Đại tá Nguyễn Trung Đắc yêu cầu Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 148 cần tiếp tục triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, sát thực, tập trung xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Trung đoàn 148 tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024
Các tập thể, cá nhân được khen thưởng tại đại hội. 

Tại đại hội, Trung đoàn đã tặng giấy khen cho 7 tập thể và 16 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Phong trào Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024.

Trung đoàn 148 tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm. 

Trước đó, tối 8-5, Trung đoàn tổ chức đêm Liên hoan văn nghệ, Dạ hội Thanh niên và tuyên dương điển hình tiên tiến trong thực hiện Kết luận số 01 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương, chào mừng Đại hội Thi đua Quyết thắng, giai đoạn 2019-2024.

Trung đoàn 910 thả bay đơn thành công học viên phi công quân sự K48

 

Sáng 9-5, Trung đoàn 910, Trường Sĩ quan Không quân tổ chức thả bay đơn cho học viên phi công quân sự K48 trên loại máy bay L-39.

Theo dõi và chỉ đạo có Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Thiếu tướng Vũ Hồng Sơn, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân; đại diện các cơ quan của Bộ Quốc phòng, Quân chủng Phòng không- Không quân và Ban giám hiệu nhà trường.

Trung đoàn 910 thả bay đơn thành công học viên phi công quân sự K48
Thượng sĩ Triệu Hữu Phúc, học viên phi công Phi đội 1 sẵn sàng chuẩn bị thả bay đơn đầu tiên. 

 

Trung đoàn 910 thả bay đơn thành công học viên phi công quân sự K48
 

 

Trung đoàn 910 thả bay đơn thành công học viên phi công quân sự K48
Thầy và trò sau chuyến bay đơn thành công.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ thả bay đơn học viên phi công quân sự K48, trước đó Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 910 và các cơ quan, đơn vị đã thường xuyên làm tốt công tác quán triệt, giáo dục, xây dựng tinh thần trách nhiệm, ý chí quyết tâm cho bộ đội, trong đó chú trọng thực hiện tốt nhiệm vụ thả bay đơn cho học viên phi công quân sự.

Do làm tốt công tác chuẩn bị, 3/3 học viên phi công quân sự K48 đã được thả bay đơn thành công trong ban bay trong sự chúc mừng của thủ trưởng các cấp và các cán bộ, giảng viên trong đơn vị.

Trung đoàn 910 thả bay đơn thành công học viên phi công quân sự K48
 Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam tặng hoa học viên phi công thả bay đơn thành công.

 

Trung đoàn 910 thả bay đơn thành công học viên phi công quân sự K48
Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và Thiếu tướng Vũ Hồng Sơn, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân cùng đại diện của Quân chủng Phòng không- Không quân và Ban giám hiệu Nhà trường chụp ảnh lưu niệm với cán bộ, giảng viên, học viên.  

Thượng sĩ Triệu Hữu Phúc, học viên phi công thả đơn chia sẻ: “Lần đầu tiên bay đơn một mình, tôi thấy hồi hộp lắm, khi lên máy bay ngồi vào buồng lái rồi tôi luôn chú tâm vào từng thao tác đã được thầy hướng dẫn và lắng nghe, chấp hành lệnh của chỉ huy bay, đến khi hạ cánh tôi cảm thấy thật vui và trong lòng trào dâng niềm hân hoan khi lần đầu tiên được chính tay mình cầm cần lái điều khiển máy bay mà không có giảng viên bay ngồi kèm phía sau”.