Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

DANH DỰ”, “PHẨM CHẤT” ĐẢNG VIÊN VÀ Ý NGHĨA TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Danh dự được hiểu là sự coi trọng, tôn trọng của xã hội đối với một cá nhân, tổ chức nào đó và được pháp luật ghi nhận, bảo vệ. Nhân phẩm là toàn bộ phẩm chất mà mỗi con người có được, hay nói cách khác nhân phẩm chính là giá trị làm người của mỗi con người.

Cán bộ, đảng viên thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng về phẩm chất, đạo đức đó chính là quá trình nâng cao khả năng, sức đề kháng trước sự tấn công của “giặc tham nhũng, tiêu cực”. Cán bộ, đảng viên, trước hết là người chủ trì lãnh đạo, chỉ đạo điều hành cơ quan, đơn vị nếu biết trọng danh dự, biết giữ liêm sỉ, thì họ sẽ cảm thấy xấu hổ khi bản thân hoặc người nhà có những hành vi sai trái, vi phạm kỷ luật, pháp luật nói chung và tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nói riêng. Phát biểu trước các hội nghị liên quan, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh và nhắc đi nhắc lại về “Phẩm chất” và “Danh dự” bởi hai khái niệm này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động trực tiếp đến uy tín, năng lực lãnh đạo của Đảng, chất lượng đội ngũ đảng viên, đặc biệt là ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực tế cho thấy, một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay đã từng “vào sinh ra tử” trong kháng chiến, không “gục ngã” bởi hòn tên mũi đạn của quân xâm lược nhưng trong hoà bình, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội lại “gục ngã” bởi những “viên đạn bọc đường”. Đúng như Đảng ta đã cảnh báo và chỉ rõ, trong nội bộ ta, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thực tế đáng buồn ấy đã và đe dọa sự tồn vong của Đảng, sự mất - còn của chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Biểu hiện suy thoái hóa, biến chất ở một số cán bộ, đảng viên thì có nhiều, nhưng biểu hiện đáng lo nhất hiện nay là sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân. Không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những đồng chí có chức, có quyền họ đã quên đi bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân, làm gì họ cũng lồng vào đó lợi ích cá nhân, tìm cách thu vén lợi ích cho riêng mình, trục lợi cho gia đình mình. Có thể khẳng định: Chính sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự gia tăng các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Và cũng chính bởi chủ nghĩa cá nhân mà dẫn tới lợi ích nhóm ngày càng trầm trọng, tinh vi hơn.

Cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực gây ra những tổn hại rất ghê gớm. Điều rõ thấy là tổn hại về kinh tế, vật chất làm nghèo đất nước. Nhưng có lẽ cái tổn hại không thể tính được bằng tiền nhưng cực kỳ nặng nề, đáng lo là làm cho Đảng ta yếu đi, làm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ giảm sút.

Cơ sở hình thành quan điểm của Đảng ta về quyền con người, quyền công dân. Phê phán các quan điểm sai trái ở Việt Nam hiện nay

 Ngay từ những ngày đầu của cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vấn đề quyền con người luôn luôn được quan tâm và là một trong những mục tiêu cao cả nhất trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng tới nay. Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư (khóa VII) ban hành Chỉ thị 12/CT-TW về "Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta". Chỉ thị 12/CT-TW của Ban Bí thư đã đề cập đến những nội dung cốt lõi nhất của vấn đề quyền con người và quan điểm của Đảng ta về vấn đề quan trọng này. Trên cơ sở kế thừa thành tựu bảo đảm quyền con người trong các giai đoạn cách mạng, quyền con người, quyền công dân đã ngày càng được đảng chú trọng và nâng cao, thể hiện trong Hiến pháp, trong văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng và các chỉ thị, nghị quyết… Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đã đưa Việt Nam từ một nước kém phát triển trở thành nước có thu nhập trung bình. Thành tựu phát triển của đất nước đã tạo điều kiện vật chất, tinh thần và nguồn lực để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục bảo đảm và thúc đẩy ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của các tầng lớp nhân dân, người dân được thụ hưởng tất cả mọi quyền của công dân theo đúng các công ước về quyền con người của Liên Hợp Quốc. Những thành tựu đó đến từ sự hình thành các quan điểm của Đảng ta về quyền con người, cả từ yếu tố thời đại cũng như truyền thống dân tộc. Trong đó, Đảng ta khẳng định: “Trong xã hội có giai cấp, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc”.

Quan điểm trên là một trong những cơ sở hình thành quan điểm của Đảng ta về quyền con người, quyền công dân  cùng với một số quan điểm sau:

Thứ nhất, Quyền con người là khát vọng chung của nhân loại

Khát vọng về quyền con người gắn liền với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, được thể hiện ở mọi quốc gia, dân tộc, ở mọi thời kỳ lịch sử. Ngày nay, quyền con người trở thành chủ đề lớn trong cac quan hệ quốc tế. Quyền con người không chi được đặt ra trong quan hệ giữa các quốc gia, mà còn được đặt ra trong quan hệ giữa một quốc gia với các tổ chức khu vực và quốc tế. Quyền con người là chủ đề của các đảng chính trị trong tranh giành quyền lực, thực thi và giữ gìn quyền lực; đặc biệt là tranh chấp gay gắt trong các quá trình bầu cử. Quyền con người còn được thảo luận trong diễn đàn của mỗi tôn giáo và liên tôn giáo... Không có thực thể xã hội nào đứng ngoài các hoạt động về nhân quyền.

          Thứ hai, Quyền con người trong truyền thống dân tộc Việt Nam

          Cũng như các dân tộc trên thế giới, các giá trị nhân đạo, khoan dung... luôn hiện hữu trong đời sống xã hội và được thể hiện đậm nét trong lịch sử tư tưởng và đời sống của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, điều kiện sống khắc nghiệt, do thường xuyên phải chống ngoại xâm và thiên tai, đã làm cho nhiều giá trị vốn có trở thành nổi trội. Đó là truyền thống coi trọng con người, thương yêu con người, đề cao tính vị tha, trách nhiệm với cộng đồng... luôn được nâng niu, bồi đắp và bảo vệ ở mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam. Những tư tưởng nhân đạo, nhân văn của dân tộc, thể hiện qua tục ngữ, ca dao và qua hành động cụ thể của những vị vua, quan là biểu hiện sinh động, đậm nét những giá trị dân tộc về bảo vệ con người. Đó là những đóng góp quý báu của dân tộc Việt Nam vào giá trị nhân quyền thiêng liêng của nhân loại. Đây cũng là tiền đề quan trọng để Việt Nam có thể tiếp nhận, chia sẻ, bảo vệ và phát triển các nội dung quyền con người hiện đại trong bối cảnh mới.

          Thứ ba, Quyền con người, quyền công dân trong Học thuyết Mác - Lênin

          Cùng với việc kế thừa các tư tưởng tiến bộ, Học thuyết Mác đã góp phần khắc phục được khuynh hướng xem xét con người một cách trừu tượng. C.Mác chỉ rõ: “Bản chất cùa con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội”. Đây là cơ sở quan trọng để xem xét, đánh giá vấn đề quyền con người. Học thuyết Mác đề cao con người và sự nghiệp giải phóng con người, nhấn mạnh quyền và tự do của con người không tách rời quyền và tự do của mỗi dân tộc. Chính quyền tự do của mỗi dân tộc, trong đó có quyền tự quyết dân tộc, là một đảm bảo vững chắc để có thể hiện thực hóa đầy đủ các quyền con người.C.Mác chỉ rõ, một dân tộc đi áp bức dân tộc khác thì chính dân tộc đó cũng không thể có tự do. Việc tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc khác là một yêu cầu quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ hữu nghị thực chất giữa các dân tộc, do đó góp phần vào việc bảo vệ hòa bình thế giới và quyền con người.

          Thứ tư, Quyền con người trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

          Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia - một quyền tập thể - theo Hồ Chí Minh gắn liền với quyền con người và là điều kiện tiên quyết, cơ bản để hiện thực hóa các quyền con người ở Việt Nam. Cùng với đó, những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền dân chủ có ý nghĩa hết sức sâu sắc. Người đề cập đến tính công khai, minh bạch, thực hành dân chủ, trách nhiệm của các cơ quan công quyền, không chỉ trong Hiến pháp, pháp luật, mà cả trong thực tiễn chỉ đạo hoạt động cùa Chính phủ thời kỳ kháng chiến. Người coi nhân dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn quan tâm đến quan hệ hòa bình, hữu nghị với các dân tộc, tăng cường giao lưu học hòi kinh nghiệm của các nước trong việc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ quyền con người. Điều này được thể hiện sống động qua di sản tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Người; cả trong tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng hiến pháp, pháp luật cũng như quản lý xã hội, trong hoàn cảnh chiến tranh cũng như trong hòa bình…Những tư tưởng và hoạt động của Hồ Chí Minh về quyền con người thế hiện tầm nhìn chiến lược, phù hợp với xu thế thời đại, là đóng góp to lớn vào giá trị chung của nhân loại về quyền con người. Những tư tưởng đó là định hướng chính trị cơ bản cho toàn bộ hoạt động của Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực quyền con người ở mọi giai đoạn phát triển của đất nước.

          Thứ năm, Quyền con người là mục tiêu chính của Liên hợp quốc, là trách nhiệm của các quốc gia

          Quyền con người ngày càng chiếm vị trí chủ đạo trong dời sống quốc tế. được xem là trụ cột chủ yếu của Liên hợp quốc; bao gồm hòa bình - an ninh, quyền con người và phát triển. Tuy nhiên, xét đến cùng, giữ gìn hòa bình - an ninh, thúc đẩy phát triển trên mọi lĩnh vực cũng đều nhằm bảo đảm tối đa các quyền và tự do cơ bản của con người. Đến nay, không một quốc gia và vùng lãnh thổ nào không là thành viên của Luật nhân quyền quốc tế. Luật nhân quyền quốc tế còn được các tổ chức khu vực và nhiều công ty xuyên quốc gia tôn trọng, chấp thuận. Theo đó, với tư cách thành viên điều ước quốc tế về quyền con người, mọi quốc gia và thực thể xã hội đều có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, áp lực thực hiện trách nhiệm quốc gia ngày càng lớn. Quyền con người đem lại những lợi ích to lớn, song cũng luôn có khuynh hướng gây ra xung đột, kế cả giữa các quốc gia. Vì thế, Liên hợp quốc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quyền con người, đồng thời có nhiệm vụ thúc đẩy sự hiểu biết, tin cậy và phát triển tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc...

          Thứ sáu, Quyền con người trong chính sách đối ngoại của các nước phương Tây

          Quyền con người vốn là vấn đề thuộc lĩnh vực đạo đức, song trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng, quyền con người luôn bị một số quốc gia phương Tây chính trị hóa. Những năm gần đây, vấn đề nhân quyền cũng ngày càng được đề cập nhiều trong các quan hệ chính trị, kinh tế, cả song phương và đa phương. Nhân quyền được xác định là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của phương Tây. Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế hiện nay, trong đó có hành động áp đặt dân chủ, nhân quyền của Phương Tây cũng đặt ra nhu cầu nhận thức đầy đủ mọi vấn đề, trong đó có vấn đề quyền con người. Nhận thức đúng là một đảm bảo quan trọng để vừa tiếp thu những giả trị chung của nhân loại, vừa giữ vững được con đường, mục tiêu mà Đảng và nhân dân ta đã chọn, nhằm đem lại quyền con người tối đa cho mọi người dân Việt Nam.

          Thứ bẩy, Thực tiễn đối mởi, hội nhập, phát triển đất nước và yêu cầu mới về báo đảm quyền con người, quyền công dân

          Sự nghiệp đổi mới đã tạo ra bước phát triển quan trọng cho đất nước. Thành quả đạt được có vai trò, đóng góp to lớn của việc đổi mới nhận thức và thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Từ việc đáp ứng các quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, xã hội và văn hóa cũng cần được đáp ứng. Tiến trình đổi mới đất nước đặt ra những yêu cầu mới về quyền con người. Bảo đảm tốt các quyền con người sẽ tạo thêm động lực mới cho mọi quúa trình phát triển và sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thành tựu của thời kỳ đổi mới không tách rời việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Cùng với nhu cầu nội tại của sự phát triển đất nước, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng đặt ra yêu cầu mới về quyền con người, cả trong quan hệ song phương cũng như đa phương, cả trên phạm vi quốc tế cũng như trong phạm vi khu vực. Có nhận thức và cách tiếp cận đúng đắn sẽ giúp các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện tốt nghĩa vụ quốc gia đối với các cam kết quốc tế, đồng thời đấu tranh bảo vệ tốt nhất lợi ích của đất nước. Trong bối cảnh quyền con người không chỉ là vấn đề pháp lý, mà còn là vấn đề đạo đức và chính trị thì việc bảo đảm tốt quyền con người sẽ góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong sinh hoạt quốc tế...

Nhìn một cách toàn diện có thể thấy gần đây, các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với Việt Nam ngày càng được tổ chức có hệ thống, mang tính tổng hợp, diễn ra trên biên độ rộng, không thuần túy là vấn đề lý thuyết, luận giải lô-gích - lịch sử,… mà còn là sự kiện xã hội - con người mới nảy sinh, những vấn đề của cuộc sống. Trong đó, vấn đề về quyền con người ở nước ta là một trong những nội dung chúng tăng cường nói xấu, xuyên tạc bằng nhiều hình thức. Chúng nêu ra quan điểm quyền con người là tự nhiên nên phải phi giai cấp, không được phụ thuộc vào giai cấp cầm quyền nào.  Có thể thấy quan điểm này phiến diện từ bản chất, những động thái đó đều nhắm đến mục đích duy nhất là gieo rắc quan điểm "phi giai cấp, phi ý thức hệ" và tác động, lung lạc những người thiếu bản lĩnh, hời hợt về tri thức, tiếp cận và đánh giá vấn đề, sự kiện bằng nhận thức cảm tính, bất mãn vì cho rằng không được xã hội đãi ngộ,… dẫn dắt họ đi từ hoang mang đến hồ nghi, dần dà suy giảm niềm tin vào tư tưởng - lý luận chính thống của xã hội, suy giảm niềm tin vào chế độ.

Cùng với đó, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền chúng ta duy trì một Đảng cầm quyền là mất dân chủ, không có quyền con người, yêu cầu phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Có thể thấy rằng, đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó cổ súy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Việc nhận diện đầy đủ và đấu tranh phản bác, thuyết phục, vạch rõ những điểm giả dối, phản cách mạng, phản khoa học trong luận điệu “đa nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là vô cùng quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ hiện nay.                            

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG AN NINH

 

Xây dựng một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, một thế trận an ninh nhân dân vững chắc, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để làm tốt vấn đề đó, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp có tính chất tổng thể, trong đó nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh là giải pháp có tính chất quyết định, quan trọng hàng đầu.

  Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (trang 88) đã nêu rõ: Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”

Quốc phòng: Là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa... của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, quy mô.

An ninh: Là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm, đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội.

Quốc phòng, an ninh là hai lĩnh vực hoạt động khác nhau, song có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó không tách rời. Quốc phòng, an ninh đều phản ánh sức mạnh, khả năng phản ứng của mỗi quốc gia trước những mối đe dọa từ bên ngoài hoặc bên trong để bảo vệ Nhà nước, chế độ CT-XH, sự ổn định phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc. Vì vậy, hiện nay quốc phòng, an ninh luôn đi liền với nhau, tác động biện chứng với nhau; quốc phòng, an ninh chính là khả năng và sức mạnh của một quốc gia có thể huy động để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ CT-XH cũng như lợi ích quốc gia - dân tộc.

Quốc phòng, an ninh có quan hệ mật thiết đến sự tồn tại và phát triển của mọi quốc gia - dân tộc trên thế giới. Từ khi xuất hiện giai cấp, nhà nước và đấu tranh giai cấp, trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, thì một vấn đề mang tính quy luật đã được khẳng định: Giai cấp nào muốn giành và bảo vệ được chính quyền thì phải chăm lo xây dựng, lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng, an ninh; giai cấp lãnh đạo đất nước tất yếu phải “độc tôn” lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Quốc phòng, an ninh liên quan đến sự tồn vong, an nguy của bất kỳ quốc gia dân tộc nào có độc lập chủ quyền nên bất kỳ giai cấp nào thống trị xã hội, đều phải củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang, nắm quyền lãnh đạo quốc phòng, an ninh, để bảo vệ quyền lãnh đạo xã hội của mình.

Ngày nay, trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Song những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển, đảo… tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp. An ninh của một quốc gia có thể bị uy hiếp, tiến công từ nhiều phía (xâm phạm chủ quyền lãnh thổ và các lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa...). Quan niệm về chiến tranh đang xuất hiện nhiều nội dung mới và theo đó là cuộc chạy đua vũ trang, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh của các nước trên thế giới cũng không ngừng gia tăng.

Lịch sử cách mạng Việt Nam cũng chứng minh một vấn đề có tính qui luật là “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”, “Phàm có nước, tất phải lo võ bị”; “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy”; dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc để giữ nước và phòng thủ đất nước trước họa xâm lăng của các thế lực ngoại bang;  xây dựng phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; Quốc phòng, an ninh chính là nền tảng của sự ổn định, phát triển bền vững mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nhất là trong hội nhập quốc tế hiện nay; sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

 Kế thừa tinh hoa của dân tộc, vận dụng học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, ngay từ khi mới ra đời, tư tưởng đặt quốc phòng, quân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhất quán. Quan điểm, tư tưởng về sự lãnh đạo của Đảng ngày càng hoàn chỉnh, phát triển lên trình độ cao trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng, BVTQ xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với việc bảo vệ Tô quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mọi hoạt động quốc phòng, an ninh, của lực lượng vũ trang đều ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ chính trị, đến sự an nguy của đất nước. Do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng, an ninh là tất yếu khách quan.

Quan điểm Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh là nguyên tắc cơ bản được qui định trong Điều lệ Đảng và trong các văn kiện Đảng nhiều nhiệm kỳ. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng, an ninh, không chia quyền, không nhường quyền lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng, an ninh cho bất cứ một đảng phái, một tổ chức, cá nhân nào; không thông qua một tổ chức trung gian nào; Đảng lãnh đạo mọi mặt chính trị, tư tưởng vả tổ chức, mọi hoạt động, mọi nhiệm vụ của sự nghiệp quốc phòng, an ninh trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, bất kỳ ở đâu. Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng khẳng định: “Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối vơi Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh là nguyên tắc chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội và sự nghiệp quốc phòng, an  ninh là vấn đề có tính quy luật, là nguyên tắc được khẳng định trong Hiến pháp của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời cũng là kinh nghiệm được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam khẳng định.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh được thực hiện bằng phương thức tổ chức sự lãnh đạo rất chặt chẽ, khoa học, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới cơ sở.

Điều lệ Đảng quy định: Sự lãnh đạo của Đảng được tập trung thống nhất vào Ban chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Tồ chức đảng các cấp có trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phạm vi được quy định cho từng cấp.

Trên cơ sở quan điểm Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh, Điều lệ Đảng đã khẳng định nguyên tắc “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; Đảng không chia quyền, nhường quyền lãnh đạo quân đội và công an cho bất kỳ một tổ chức, một lực lượng, một cá nhân nào, không qua khâu trung gian nào; Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân và Công an nhân dân về mọi mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; lãnh đạo mọi mặt công tác, mọi nhiệm vụ, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”... nhằm tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với quân đội, làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Suy cho cùng, mọi luận điệu mà họ tung ra chỉ nhằm một mục đích duy nhất là làm cho Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, tha hóa, biến chất, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, mất sức chiến đấu, không còn là Quân đội của dân, do dân và vì dân. Một khi Đảng không nắm được Quân đội, tất yếu Quân đội sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng. Đó là thời cơ để các thế lực thù địch đẩy đất nước lâm vào tình cảnh rối ren, mất ổn định chính trị - xã hội, chệch hướng CNXH. Có thể khẳng định, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là một chiêu bài, một âm mưu hết sức nguy hiểm, thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu thủ đoạn, tích cực và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của chúng. Cùng với việc đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch trên, cần tích cực, chủ động phê phán những nhận thức lệch lạc đối với quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; nhận thức rõ rằng trong bất kỳ chế độ nào thì Quân đội đều mang bản chất của giai cấp thống trị nên phải dưới sự lãnh đạo của đảng thống trị; tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về bản chất giai cấp công nhân trong quân đội; tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Ðảng ta lãnh đạo hiện nay ngày càng thu được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng-an ninh. Tuy nhiên, lĩnh vực quốc phòng, an ninh còn có một số khó khăn, hạn chế như:  Nhận thức của một số cán bộ các cấp các ngành về nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới chưa thật đầy đủ sâu sắc; chưa dự báo được đầy đủ, chính xác tình hình, những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong quá trình mở cửa, hội nhập; các phương án đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự xã hội và cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp trong xử lý các tình huống phức tạp chưa được xây dựng hoàn chỉnh; công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an ninh kinh tế, văn hoá tư tưởng, báo chí, Internet có nơi, có lúc còn buông lỏng; đảm bảo cơ sở vật chất cho xây dựng khu vực phòng thủ, công tác xây dựng, quản lý lực lượng dự bị động viên còn hạn chế; công tác giáo dục quốc phòng - an ninh còn có khó khăn, bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân của từng địa phương và cả nước trong thời kỳ mới…

Để khắc phục những khó khăn, hạn chế trên, cùng với việc khẳng định và thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quốc phòng, an ninh, Đảng cần phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách về QP, AN, quan tâm xây dựng lực lượng Quân đội, Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu xây dựng và  bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bên cạnh đó, cần phải kết hợp chặt chẽ xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ. Không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh. Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cần xây dựng và bảo vệ đường lối đối ngoại của Đảng và xử lý đúng đắn mối quan hệ đối tác - đối tượng. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hợp tác và phát triển, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, quy chế dân chủ ở cơ sở trong mọi lĩnh vực, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; Tăng cường sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước trong xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, kế hoạch phòng thủ đất nước, kế hoạch động viên quốc phòng

Đối với lực lượng QĐND phải luôn nhận thức sâu sắc vai trò, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành tốt trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã giao phó; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội cách mạng; quán triệt, nắm vững Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; xây dựng Quân đội “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội; phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương, phát huy tốt vai trò nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững mạnh, nhất là các địa bàn chiến lược, trọng điểm về quốc phòng - an ninh. Tích cực, chủ động làm tốt công tác dân vận, tham gia phát triển kinh tế xã hội, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế về quốc phòng. Tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, nâng cao nhận thức về đối tác, đối tượng cho cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, chiến sỹ trong quân đội cần không ngừng học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 

Trách nhiệm của Quân đội nhân dân trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số

 

Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ chính trị của QĐNDVN nhằm tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để giải quyết tốt vấn đề trên, trong tình hình hiện nay, QĐND cần thực hiện một số nội dung sau:

Một là, Thấy được sự cần thiết phải nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTCTCS vùng dân tộc thiểu số. Trước yêu cầu ngày càng cao đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội ở khu vực miền núi trong thời kỳ mới, việc xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc là vấn đề mang tính khách quan, cấp thiết, nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị được giao. 

Hai là, làm cho cán bộ, chiến sỹ trong quân đội nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm và hành động sai trái của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo.  Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của Quân đội trong tham gia xây dựng HTCTCS vùng DTTS.

Ba là, Xác định rõ nhiệm vụ, nội dung Quân đội tham gia xây dựng HTCTCS vùng DTTS: Tham gia củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của HTCTCS; bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, chăm lo công tác phát triển đảng viên, phát hiện và bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ tại chỗ cho địa phương; tập trung xây dựng cơ sở xã hội của HTCTCS, trọng tâm là xây dựng cộng đồng dân cư, thôn, bản...Để xây dựng cơ sở xã hội của HTCTCS cần tập trung vào những nội dung: Phát triển KT - XH, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội và giải quyết các vấn đề bức xúc ở địa phương; xây dựng cơ sở chính trị - tinh thần trong nhân dân, thế trận lòng dân, niềm tin của nhân dân đối với HTCTCS, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Nâng cao chất lượng công tác điều dưỡng

 

Hiện nay, công tác điều dưỡng của ngành y tế Hà Nội được triển khai thực hiện tại hai khối y tế công lập và ngoài công lập với tổng số nhân lực điều dưỡng toàn ngành là hơn 14.100 người. Nhờ có lực lượng này nên việc chăm sóc bệnh nhân của ngành y tế Thủ đô ngày càng tốt hơn.

Người ta ví điều dưỡng viên như “làm dâu trăm họ”. Bởi điều dưỡng viên là người thực hiện công việc chăm sóc bệnh nhân, kết nối người bệnh với bác sĩ. Họ là người gắn bó, đồng hành giúp người bệnh vượt qua những cơn đau của bệnh tật, sự mệt mỏi về tinh thần, đau đớn thể xác trong quá trình điều trị. 

Nâng cao chất lượng công tác điều dưỡng

Điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Vì (Hà Nội) chăm sóc bệnh nhân. Ảnh: PHẠM LINH

 Ngày Quốc tế điều dưỡng (12-5) năm 2024, Sở Y tế TP Hà Nội đã lựa chọn chủ đề “Điều dưỡng Hà Nội-Tương lai sức khỏe Thủ đô” để mọi người có thể hiểu, ghi nhận những hy sinh và đóng góp của lực lượng điều dưỡng, tạo nên một môi trường y tế chuyên nghiệp, tin cậy và bảo đảm sự an toàn cho bệnh nhân. Theo bác sĩ Nguyễn Đình Hưng, Phó giám đốc phụ trách Sở Y tế TP Hà Nội: Công tác điều dưỡng của ngành y tế Hà Nội được triển khai thực hiện tại hai khối y tế công lập và ngoài công lập với tổng số nhân lực điều dưỡng toàn ngành là hơn 14.100 người, trong đó khối bệnh viện là gần 11.400 người, trung tâm y tế là hơn 2.700 người. Trong suốt thời gian qua, Sở Y tế TP Hà Nội đã chỉ đạo các đơn vị tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Bộ Y tế và của ngành về công tác điều dưỡng.

Hiện 100% bệnh viện công lập có phòng điều dưỡng, kiện toàn hội đồng điều dưỡng, xây dựng quy chế hoạt động, ban hành các hướng dẫn, quy trình điều dưỡng. 100% đơn vị xây dựng kế hoạch hoạt động hằng năm ưu tiên triển khai các nội dung chuyên môn nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc người bệnh; nâng cao y đức, đạo đức nghề nghiệp của điều dưỡng viên và thực hiện tốt quy định về giao tiếp ứng xử, thay đổi tác phong, thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Qua kết quả khảo sát trong quý IV-2023 của các bệnh viện thì tỷ lệ hài lòng chung của người bệnh ngoại trú là 95,74%, người bệnh nội trú là 97,07%.

Năm 2024, ngành y tế Hà Nội từng bước đầu tư và ưu tiên các mục tiêu chiến lược cho công tác điều dưỡng, bao gồm: Đào tạo nâng cao năng lực nghề nghiệp điều dưỡng; phát triển hợp tác quốc tế, hợp tác giữa các đơn vị Trung ương, đơn vị chuyên khoa, giữa các đơn vị y tế trực thuộc Sở Y tế về hoạt động điều dưỡng; ứng dụng chuyển đổi số trong công tác điều dưỡng; đầu tư, quan tâm hơn nữa đến sự an toàn và sức khỏe của điều dưỡng. Từ đó tạo ra môi trường làm việc năng động, hiện đại và chuyên nghiệp, đổi mới phong cách, giao tiếp, tinh thần, thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh để cùng xây dựng và phát triển hệ thống điều dưỡng của TP Hà Nội ngày càng vững mạnh.

DIỆP CHÂU

nguồn báo quân đội nhân dân

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: YÊU BÁC, LÒNG TA TRONG SÁNG HƠN!

     Cứ mỗi độ tháng năm về, đồng bào ta ở trong và ngoài nước, cùng với bạn bè quốc tế lại có dịp nhắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới với lòng khâm phục và kính yêu vô hạn!

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kể từ ngày đó, đông đảo đồng bào trong nước và bè bạn quốc tế biết đến Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam và biết đến ngày 19-5 là sinh nhật của Người. Năm 1946 là năm kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên.

Năm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm Ngày sinh của Bác vào dịp Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa kết thúc, với quyết tâm tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lúc này, Đảng ta đang quyết tâm thực hiện đổi mới, chỉnh đốn Ðảng để "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân"; đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng Đảng gắn việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Cả cuộc đời 79 mùa Xuân, cuộc đời vì dân, vì nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại di sản vô cùng quý báu là tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người. Đó chính là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa nhân loại; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ ăn, mặc, ở cho đến mọi sinh hoạt hằng ngày. Ngay khi đã là Chủ tịch nước, Bác luôn nêu tấm gương vô cùng mẫu mực về đạo đức cách mạng. 

Có biết bao câu chuyện chân thực và cảm động về tấm gương đạo đức của Bác đã trở thành biểu tượng văn hóa, đạo đức, văn minh của một vị Chủ tịch nước, một lãnh tụ của Đảng, của nhân dân. Câu chuyện có đồng chí đề nghị Bác bỏ đi chiếc áo vá, nhưng Bác không cho bỏ. Bác nói: “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Bác mặc bộ quần áo ka ki đã sờn cổ, sờn tay, xin được thay bộ khác, Bác bảo: “Nếu thi sang thì thua, thi tiết kiệm thì thắng”. Bác mặc như thế phù hợp với hoàn cảnh của đất nước, của dân không phải thay... Nhớ lại, lúc sinh thời, thường cứ đến tháng 5 sinh nhật, Bác nói với thư ký của Bác bố trí những chuyến công tác xa để Bác tránh chúc tụng, lễ hội. Bác không muốn cái gì riêng cho mình cả, đời Bác hóa thân tất cả vào dân tộc và nhân loại. Cả cuộc đời Bác Hồ kính yêu là cả cuộc đời: “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”...

Cuộc sống của Bác giản dị biết bao, tâm hồn vĩ đại biết bao, nhân cách vĩ đại biết chừng nào! Tâm hồn Bác không chỉ lộng gió thời đại, mà còn rất gần gũi yêu thương. Tháng Năm nhớ Bác, nói điều cụ thể trên đây về cuộc sống giản dị, tiết kiệm của Người đứng đầu một đất nước để chúng ta hiểu sâu sắc rằng, bất cứ ai, dù trên cương vị nào, lứa tuổi nào, cũng đều cần phải và đều có thể học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa là nhu cầu tự hoàn thiện tư cách, đạo đức của mỗi cá nhân, vừa là yêu cầu đối với toàn xã hội, cảm hóa đến mọi người xung quanh, đến cuộc đời.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Người sáng lập đã trải qua 94 năm lịch sử. Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết Đảng kiểu mới của Lênin vào thực tiễn xây dựng Đảng, rèn luyện Đảng ta thành một Đảng cách mạng chân chính, không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiên phong của dân tộc và nhân dân lao động. Một trong những ngọn nguồn làm nên sức mạnh của Đảng, của cách mạng Việt Nam, là sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Đảng vì dân mà tồn tại và chiến đấu hy sinh nên nhân dân một lòng tin tưởng vào Đảng, đi theo lý tưởng, mục tiêu mà Đảng đã vạch ra: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Bác Hồ từng chỉ rõ: "Một Ðảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Ðảng hỏng. Một Ðảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Ðảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính"[1]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết bài báo quan trọng “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nhắc nhở toàn Đảng phấn đấu rèn luyện về đạo đức. Vì vậy, muốn Ðảng mạnh, được nhân dân tin tưởng, yêu quý, nhất định chúng ta phải tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 05 gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Ðảng, nhất là việc sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót một cách quyết liệt, dứt điểm.

Noi gương Bác, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương sáng về đạo đức, lối sống, gần dân, lắng nghe dân và có trách nhiệm với dân. Một tấm gương điển hình, một hành động gương mẫu có ý nghĩa hơn gấp trăm lần so với những lời giáo điều, sáo rỗng. Trong lúc này, việc xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Ðảng, mối quan hệ máu thịt giữa Ðảng với dân là nhân tố hàng đầu nhằm nâng cao sức mạnh của Ðảng, là môi trường để thử thách, rèn luyện và sàng lọc cán bộ, lựa chọn đúng những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng tham gia bộ máy lãnh đạo Ðảng và Nhà nước.

Như muôn mạch nước nhỏ hòa thành dòng sông lớn, mỗi ngày, mỗi người hãy cố gắng làm thêm một việc tốt, có ích cho mình, cho cơ quan, đơn vị, có lợi cho dân, cho nước. Nếu ai cũng làm được như vậy thì chắc chắn sẽ tạo thành một động lực mạnh mẽ, làm chuyển biến nhanh hơn nữa, tích cực hơn nữa mọi mặt của đời sống xã hội. Và nếu làm được như thế, chúng ta tin chắc rằng việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhất định sẽ thu được kết quả thiết thực, to lớn hơn khi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, coi đó là danh dự, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.

Chúng tôi xin kết thúc bài viết bằng hai câu thơ nổi tiếng của Nhà thơ Tố Hữu “Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn/ Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi…”. Lời thơ ấy đã nói lên tình cảm và nguyện ước của mỗi chúng ta. Đó cũng chính là lời nhắn nhủ, nhắc nhở suy nghĩ và hành động của mỗi chúng ta hôm nay phải tu dưỡng, rèn luyện bản thân mình trong cuộc sống, xứng đáng với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại./.
[1] (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 5, tr 301)./.
Ảnh: Bác Hồ đi thăm bà con nông dân tỉnh Bắc Cạn đang thu hoạch lúa mùa năm 1950.
Yêu nước ST & SC.

Chủ động phòng, chống dịch bệnh

 

Theo thông tin từ Sở Y tế TP Hà Nội, cộng dồn từ đầu năm đến nay, thành phố đã ghi nhận hơn 600 ca sốt xuất huyết, gần 1.200 ca mắc tay chân miệng, 78 trường hợp mắc ho gà, đáng lưu ý đã ghi nhận một ca mắc viêm não mô cầu. Tình hình dịch vẫn đang diễn biến phức tạp nên Sở Y tế TP Hà Nội đã yêu cầu các đơn vị chủ động phát hiện sớm, xử lý kịp thời dịch bệnh trên địa bàn thành phố.

Xử phạt người đi bộ vi phạm an toàn giao thông

 

Cảnh sát giao thông xử lý nhiều trường hợp đi bộ sang đường không đúng nơi quy định ở Hà Nội. Các trường hợp vi phạm đều tỏ ra bất ngờ khi biết bị phạt.

Không gì bằng "hàng rào lòng dân"

 

Kho K866 (Cục Quân khí, Tổng cục Kỹ thuật) là kho quân khí cấp chiến lược, đóng quân ở địa bàn có hình thái thời tiết phức tạp: Mùa hè nắng nóng kéo dài, nhiều dông, lốc, mưa lớn; mùa đông rét buốt, sương muối...

Người kỹ sư cơ khí khắc ghi lời Bác

 

Người đàn ông lớn tuổi đứng trước mặt tôi có dáng tầm thước, ánh mắt tinh anh qua cặp kính lão, đặc biệt mái tóc còn khá dày, chưa bạc hẳn.

Những người thợ đặc biệt

 

Chăm sóc và bảo dưỡng để đồ hiệu luôn bền đẹp là nhu cầu hàng đầu của các tín đồ thời trang. Khách hàng ở Thủ đô Hà Nội có thể trải nghiệm dịch vụ “hô biến” những món đồ cũ thành mới bởi những người thợ đặc biệt là những người khuyết tật.

Ông Thi và những nghĩa cử cao đẹp

 

Ở tuổi 75, dù mắt đã mờ, tai không còn thính nhưng ông Huỳnh Văn Thi, trú tại phường Tiến Thành (TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước) vẫn bôn ba tìm kiếm, xác minh thông tin các phần mộ liệt sĩ khắp các nghĩa trang trong tỉnh.

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh

 

Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

 

Trước thời kỳ đổi mới, đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nguyên nhân căn bản được Đại hội VI đánh giá là do chúng ta rơi vào tình trạng máy móc, giáo điều. Đại hội VI đã mở ra thời kỳ mới, trên cơ sở trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng đã vận dụng linh hoạt để tiến hành công cuộc đổi mới.

Rèn bản lĩnh chờ ngày “khai hỏa”

 

Chỉ còn ít ngày nữa là đến đợt “sát hạch” tổng hợp đối với chiến sĩ mới (CSM) nhập ngũ năm 2024.

Nhận thức được tầm quan trọng của giai đoạn “nước rút”, CSM của Lữ đoàn Pháo binh 382 (Quân khu 1) không quản nắng mưa, nỗ lực luyện tập để đợt kiểm tra đạt kết quả cao nhất.

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH “MỘT TRUNG QUỐC”!

     Ngày 20-5, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết về chính sách “một Trung Quốc” của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ:
Trên cơ sở kiên định thực hiện chính sách “một Trung Quốc”, công nhận Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc, Việt Nam duy trì và phát triển quan hệ dân gian, phi chính phủ với Đài Loan trên các lĩnh vực kinh tế - thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục…, không phát triển bất cứ quan hệ cấp nhà nước nào với Đài Loan.

Việt Nam tôn trọng nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cho rằng duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác ở eo biển Đài Loan có vai trò quan trọng đối với khu vực và thế giới./.
Theo TTXVN.
Yêu nước ST.

Tận tình, chu đáo vì bữa ăn của bộ đội

 

Những ngày đầu trong môi trường quân ngũ, mọi thứ luôn bỡ ngỡ với chiến sĩ mới, từ sinh hoạt, học tập đến bữa ăn, giấc ngủ... Hiểu được điều đó, bộ phận nuôi quân Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 125, Bộ CHQS tỉnh Hải Dương luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chăm chút từng bát cơm ngon, tô canh ngọt phục vụ bộ đội.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÔM NAY, NGÀY 21/5 QUỐC HỘI BẮT ĐẦU QUY TRÌNH BẦU CHỦ TỊCH NƯỚC!

     Ủy ban Thường vụ sẽ trình Quốc hội danh sách đề cử để bầu Chủ tịch nước vào ngày làm việc thứ 2 của kỳ họp 7 Quốc hội khóa 15!

Quy trình bầu Chủ tịch nước bắt đầu vào cuối phiên làm việc chiều 21/5. Năm ngày trước, Trung ương "thống nhất rất cao" giới thiệu đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an để Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước.

Tổng thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường cho biết tại Hội nghị lần thứ 9, Trung ương chưa giới thiệu nhân sự Bộ trưởng Công an nên Quốc hội chưa có phê chuẩn hay miễn nhiệm chức danh này tại kỳ họp 7.

Đại tướng Tô Lâm 67 tuổi, quê huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, là Ủy viên Trung ương Đảng ba khóa 11, 12, 13; Ủy viên Bộ Chính trị hai khóa 12, 13; Đại biểu Quốc hội hai khóa 14, 15. Ông bắt đầu sự nghiệp ở Cục Bảo vệ chính trị I rồi làm Cục phó Bảo vệ chính trị I, Cục trưởng Bảo vệ chính trị III, Tổng cục An ninh.

Ông sau đó làm Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I, Thứ trưởng Công an. Ông giữ cương vị Bộ trưởng Công an từ tháng 4/2016 đến nay. Ông Tô Lâm cũng là Phó ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng tiêu cực do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban./.
Yêu nước ST.

NHẬN BIẾT NHỮNG CHIÊU TRÒ NHẰM HẠ THẤP UY TÍN CỦA TOÀ ÁN

 

Chỉnh đốn Đảng là một công tác vô cùng quan trọng của Đảng. Trong đó, công cuộc phòng chống tham nhũng ngày nay đang được Đảng quan tâm đặc biệt. Theo đó, Đảng đã có chủ trương sớm đưa ra xét xử các vụ án tham ô, tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng. Lợi dụng vấn đề đó, các phần tử cơ hội chính trị, đang tìm cách tuyên truyền, xuyên tạc làm giảm uy tín của tòa án hòng phủ nhận nền tư pháp của Nhà nước Việt Nam.

Tất cả những thủ đoạn và chiêu trò đó sẽ không bao giờ thành công vì thực tế ở Việt Nam, quá trình điều tra, truy tố, xét xử luôn được các cơ quan chức năng tiến hành khẩn trương, thận trọng, khách quan, công tâm, đúng quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo cũng được làm rõ công khai tại tòa. Các mức hình phạt được tuyên đúng người, đúng tội, thể hiện sự nghiêm minh và tính chất khoan hồng của pháp luật Việt Nam. Nhiều bản án và phiên tòa đã được không chỉ dư luận xã hội đồng tình mà chính các bị cáo cũng “tâm phục, khẩu phục”, thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ rõ sự ăn năn hối lỗi của mình.

Ngay từ những ngày mới thành lập, trong Cương lĩnh của mình, Đảng đã xác định: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Quan điểm này phản ánh đúng hiện thực khách quan, đúng bản chất quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa, kế thừa những giá trị tinh hoa của nhân loại, trong đó có cả những giá trị tích cực của “tam quyền phân lập”.

Như vậy, việc các thế lực thù địch lợi dụng chủ trương sớm đưa ra xét xử các vụ án tham ô, tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng, rồi từ đó lồng ghép những suy diễn vô căn cứ và luận điệu sai trái chỉ là chiêu trò lợi dụng vụ án nhằm thực hiện âm mưu chính trị mà họ đã và đang theo đuổi.

NHỚ BÁC, LÒNG TA TRONG SÁNG HƠN: BÁC HỒ - TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ “HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI”!

         Bác Hồ, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng giáo dục, nhà sư phạm thực tiễn vĩ đại, đồng thời là một tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học!

Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6-5-1950, Người nói: “Lê-nin khuyên chúng ta: “Học, học nữa, học mãi”. Mỗi người phải ghi nhớ và thực hành điều đó”. Người còn cho treo trong phòng họp lời dạy của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Người coi lời dạy của Lê-nin là phương châm sống và hành động trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Cũng tại Hội nghị này, Người nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. Người còn xác định: “Không phải có thầy thì học, không thầy đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về cách học tập, Người viết: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.

Thân phụ của Người, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy là thầy dạy chữ Hán cho Người. Nhờ chăm học và học rất giỏi, sau này Người sử dụng thành thạo chữ Hán trong sáng tác thơ Đường. Quách Mạt Nhược, nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc, đã từng nói rằng: nếu để một số bài thơ Đường trong tập Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh bên cạnh những bài thơ Đường bất hủ thì e khó mà phân biệt nổi.

Khi theo thân phụ vào Huế, Người học ở Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, rồi Trường Quốc học Huế, Người rất yêu thích học tiếng Pháp. Trong cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, Người đã từng làm phiên dịch giúp cho những người biểu tình đề đạt nguyện vọng, đấu tranh với viên Khâm sứ Pháp.

Ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911), trên tàu Latouche Tréville, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành với tên mới Văn Ba đã nêu cao ý chí tự học: “Mỗi ngày, đến 9 giờ tối công việc mới xong…, Anh mệt lử. Nhưng trong khi mọi người nghỉ hay đánh bài, anh đọc hay viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm”.

Trong thời gian ở thị trấn Saint Adret, làm vườn cho gia đình viên chủ hãng tàu, Nguyễn Tất Thành cũng tranh thủ học tiếng Pháp. Khi gặp những từ mới, anh Thành viết vào một tờ giấy dán vào chỗ dễ thấy, có khi viết vào cánh tay để trong lúc làm việc vẫn học được. Cả khi đi đường, anh cũng nhẩm những từ mới học. Và cứ như thế, mỗi ngày, anh học thêm vài từ mới, và tìm cách ghép câu để dùng ngay. Sau đó không lâu, Nguyễn Tất Thành học cách viết báo. Anh bắt đầu viết được những bài báo ngắn với sự giúp đỡ của ông chủ bút báo “Đời sống thợ thuyền”. Sau đó, anh viết những bài báo dài hơn. Khi viết được những bài báo dài, ông chủ bút lại khuyên anh viết ngắn lại. Sau đó, Nguyễn Tất Thành nhanh chóng trở thành nhà báo có uy tín tại thủ đô nước Pháp, là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) với nội dung đầy sức chiến đấu, lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

Cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất, từ Anh trở lại Pháp, anh Thành viết bài cho các báo, tạp chí và viết sách bằng tiếng Pháp. Những bài đăng trên các báo Le Paria, Thư tín Quốc tế, Đời sống công nhân…, đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã minh chứng cho sự thành công của một người tự học.

Chỉ trong một thời gian chưa đầy 10 năm sống ở Pháp, người thanh niên có chí khí ấy đã học hỏi được nhiều điều bổ ích cần thiết cho sự nghiệp cách mạng của mình. Thường thường, Nguyễn Tất Thành chỉ làm việc buổi sáng để kiếm tiền, còn buổi chiều thì đi đến thư viện hoặc dự những buổi nói chuyện chính trị. Tối đến, dự mit-tinh ở Paris.

Khi đến Liên Xô, đất nước của Lê-nin vĩ đại, làm việc ở Bộ Phương Đông, học ở Trường Quốc tế Lê-nin, nghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc học và thuộc địa, anh tự học tiếng Nga thật vất vả, nhưng đã nhanh chóng thành công. Người đã viết bài đăng báo, tạp chí và đã hoàn thành chương trình học tập ở Trường Quốc tế Lê-nin.

Không dừng lại ở những ngoại ngữ đã biết, Bác Hồ của chúng ta còn nỗ lực tiếp tục học thêm một số ngoại ngữ khác. Năm 1928, khi hoạt động cách mạng tại Thái Lan, Người đã tự học thêm tiếng Thái. Mỗi ngày học 10 chữ, và chỉ sau ba tháng, Người đã xem được báo chữ Thái.

Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1935), với bí danh Lin, khi khai lý lịch, trả lời câu hỏi về trình độ học vấn (tiểu học, trung học, đại học), Người đã ghi: Tự học. Trả lời câu hỏi: Đồng chí biết những ngoại ngữ nào? Người ghi: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga.

Bác Hồ đến với chủ nghĩa cộng sản bằng con đường tự học. Sự tự học của Người gắn chặt với mục tiêu lý tưởng mà Người phấn đấu.

Bác luôn nhắc nhở đồng chí của mình và thế hệ trẻ phải nỗ lực học và tự học. Người ân cần dạy bảo: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”.

Trong bài nói chuyện với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm, ngày 9-12-1961, Người tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học…Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau. Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ…thì chúng mình dốt lắm. Tôi cũng dốt lắm…Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt. Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Ta hiểu như thế, nhưng không có tư tưởng thụt lùi nạnh kẹ…”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng. Và chính cuộc đời của Người là tấm gương sáng ngời về tự học./.
Môi trường ST.

XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác chỉnh đốn Đảng, người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Theo Hồ Chí Minh, muốn như vậy, một trong những biện pháp cơ bản là Đảng phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và đây là công việc thường xuyên; Đảng cầm quyền, nhưng nhân dân là chủ. Vì vậy, chỉnh đốn Đảng một mặt, khẳng định sức mạnh chính trị to lớn của Đảng trong cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới đối với các lĩnh vực đời sống xã hội; mặt khác, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên lợi dụng cương vị của Đảng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, dẫn tới lạm quyền, lộng quyền, đặc quyền, đặc lợi.

Người cho rằng, Đảng ta vừa là đạo đức, vừa là văn minh, là người khởi xướng và lãnh đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Ngay từ những ngày đầu lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn làm cách mạng giành chính quyền, cần có nhiều yếu tố, song nhân tố quan trọng quyết định nhất là phải có Đảng chân chính của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động. Đặc biệt, trước mỗi bước ngoặt của cách mạng, Người nhấn mạnh thêm, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng phải coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó là việc trước tiên, việc chính, việc cần kíp, việc phải làm ngay.

Theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên trong bất kỳ môi trường xã hội nào luôn chịu sự tác động của những cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Để loại bỏ cái xấu, cái dở cần phải rèn luyện thường xuyên, trong đó biện pháp quan trọng là đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chỉnh đốn Đảng là để cán bộ, đảng viên khi gặp khó khăn thì củng cố quan điểm, lập trường, tư tưởng, bình tĩnh sáng suốt, không bi quan, không chủ quan, tự mãn. Chỉnh đốn, xây dựng Đảng là để khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, làm cho Đảng mạnh lên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Thực hiện tốt công tác chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết và ra sức phấn đấu tu dưỡng rèn luyện, học tập để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được tốt hơn. Có như vậy, Đảng mới thực sự trường tồn, Đất nước Việt Nam mới mãi mãi bền vững và phát triển.