Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

PHẢN BÁC NHỮNG QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC, SAI TRÁI VỀ MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM!

         Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi, có mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống tốt đẹp, gắn bó lâu đời. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào được Đảng và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp, trở thành một tấm gương mẫu mực, thủy chung, trong sáng, vững bền, hiếm có trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên thực hiện những âm mưu, thủ đoạn chống phá mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Vì vậy, việc nhận diện rõ những quan điểm sai trái, luận điệu quyên tạc của các thế lực thù địch, phản động để có giải pháp phòng, chống là vấn đề cấp bách hiện nay!

Những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Hai nước Việt Nam và Lào có chung đường biên giới dài hơn 2.340km, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, uống chung dòng nước sông Mê Công. Lịch sử đấu tranh và phát triển của nhân dân hai nước đã khiến hai dân tộc Việt Nam và Lào thân thiết, gắn bó với nhau từ bao đời nay. Mối quan hệ keo sơn đó càng được phát triển và đậm nét hơn trong hơn tám thập niên qua, khi nhân dân hai nước cùng tiến hành sự nghiệp cách mạng chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước.

Tuy nhiên, cùng với những diễn biến và thay đổi phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực hiện nay, các thế lực thù địch, phản động liên tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; “phi chính trị hóa” quân đội hai nước, tách sự lãnh đạo của Đảng với quân đội..., từ đó phá hoại và gây chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân, cũng như tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào. Các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; phủ nhận ý nghĩa cao đẹp, nghĩa vụ quốc tế cao cả của quân đội Việt Nam với cách mạng Lào (?!) 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động còn sử dụng những chiêu bài của “cách mạng màu”, như lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, viện trợ kinh tế, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh tâm lý... để can thiệp vào công việc nội bộ của hai nước nhằm chống phá chế độ chính trị và mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, âm mưu hướng lái hai nước đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Lợi dụng việc Việt Nam và Lào mở cửa hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc đường lối cũng như những thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế của hai nước… Họ ra sức lôi kéo, xúi giục, kích động người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên trái phép, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để hình thành tư tưởng ly khai, chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo, tôn giáo, sắc tộc vùng biên giới hai nước…, gây mất trật tự trị an, phá vỡ sự ổn định về chính trị - xã hội hai nước.

Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động đã và đang tập trung khai thác những thách thức từ chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn đối với các vấn đề khu vực, những tác động của các vấn đề an ninh phi truyền thống và một số điểm không “song trùng” lợi ích quốc gia - dân tộc, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo nên sự nghi kỵ lẫn nhau, gây hoang mang dư luận, chia rẽ nội bộ và chống phá tình đoàn kết thủy chung, trong sáng, sắt son, hiếm có giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.

Những yếu tố làm nên giá trị quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Nối tiếp truyền thống của Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - biểu tượng của mối quan hệ vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước trong thời kỳ cùng kề vai sát cánh đấu tranh chống ách thống trị và xâm lược của thực dân, đế quốc, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày nay tiếp tục được xây dựng, phát triển trên nền tảng cùng chung ý thức hệ cũng như mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cả ở Việt Nam và Lào đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Marxist - Leninist, có cội nguồn chung là Đảng Cộng sản Đông Dương. Hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Lào vẫn luôn duy trì mối quan hệ gắn bó mật thiết, hết lòng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước dù tình hình mỗi nước hay bối cảnh quốc tế, khu vực, cũng như các mối quan hệ quốc tế của mỗi bên có nhiều thay đổi.

Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam và Lào có chung hoàn cảnh, gần gũi về địa lý và điều kiện tự nhiên, có chung mục tiêu phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nếu không có sự nhất trí về quan điểm, tư tưởng, đường lối chiến lược thì hai nước khó có thể xây dựng được mối quan hệ truyền thống, hữu nghị, đoàn kết, thủy chung, sắt son, hiếm có như hiện nay. Hai nước cùng có chung mục đích, lý tưởng theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; có chế độ chính trị và nhà nước tương đồng, đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi năm, Việt Nam dành cho Lào từ 600 đến 700 suất học bổng đào tạo ngắn hạn và dài hạn. Hiện nay, có khoảng hơn 14.000 sinh viên Lào đang theo học tại các cơ sở giáo dục Việt Nam và 250 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Lào. Đây là những nhân tố quan trọng đóng góp vào sự nghiệp phát triển của mỗi nước và là cầu nối không thể thiếu trong việc duy trì, tăng cường hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp sẵn có giữa hai Đảng và nhân dân hai nước. Bên cạnh công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Việt Nam còn giúp đỡ Lào trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hệ thống trường học với tổng mức đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đồng bằng nguồn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam.

Từ khi hai nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986), mục tiêu hàng đầu của cả hai nước là tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Hai nước xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân” dưới sự lãnh đạo của một chính đảng duy nhất. Sự tương đồng giữa hai Đảng, hai bộ máy nhà nước và lý tưởng chung xã hội chủ nghĩa là điều kiện quan trọng tạo nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX của hai dân tộc Việt Nam - Lào, sự nhất trí về quan điểm, tư tưởng, đường lối chiến lược đã giúp hai nước xây dựng Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào. Chiến lược phối hợp tác chiến hiệu quả chỉ có thể nảy sinh từ một đường lối chính trị có sự nhất trí cao về quan điểm và lợi ích chân chính. “Về mặt đường lối, mối quan hệ cùng chung một dòng máu chính trị, là tài sản quý báu nhất của hai Đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc, là một yếu tố quan trọng quyết định đến thắng lợi của cách mạng hai nước trong quá trình chiến đấu trường kỳ gian nan vất vả”(1). Như vậy, sự tương đồng về ý thức hệ cũng như mục tiêu phát triển đất nước của mỗi bên đang là nhân tố cơ bản tác động đến mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Việt Nam và Lào đều đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trước đây không chỉ tác động đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam và Lào, mà còn gây ra những ảnh hưởng nhất định về mặt an ninh chính trị, tư tưởng của mỗi nước. Bên cạnh việc đoàn kết, kề vai sát cánh cùng xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đổi mới đất nước, cả hai nước còn phối hợp, ủng hộ lẫn nhau trong hợp tác đa phương. Đặc biệt là cùng nhau giải quyết, xây dựng bán đảo Đông Dương hữu nghị, đoàn kết và phát triển; phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn hợp tác khu vực, như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam. Hai nước luôn ủng hộ lập trường của nhau trong nhiều vấn đề được đưa ra thảo luận tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; hỗ trợ đắc lực cho nhau trong việc tổ chức thành công các hội nghị về chính trị, an ninh và quốc phòng trong năm Lào hoặc Việt Nam giữ cương vị Chủ tịch ASEAN; cùng các nước trong ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của khu vực; nỗ lực cùng các nước giải quyết tranh chấp, thúc đẩy tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc cơ bản phù hợp với luật pháp quốc tế.

Nhận thức rõ an ninh của mỗi nước không tồn tại độc lập, mà có sự phụ thuộc lẫn nhau nên cả hai nước đều chú trọng, tăng cường hợp tác chặt chẽ về quốc phòng - an ninh, bởi hợp tác quốc phòng - an ninh Việt Nam - Lào được xây dựng trên cơ sở truyền thống chống giặc ngoại xâm của hai dân tộc từ ngàn xưa và sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phát huy thế mạnh và khả năng của mỗi nước trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Lịch sử đã chứng minh, hai dân tộc Việt Nam - Lào gắn kết với nhau như là một quy luật tự nhiên và sự gắn kết đó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự ổn định về chính trị cũng như sự phát triển của mỗi nước. Hợp tác hiệu quả về quốc phòng - an ninh giữa hai nước sẽ giúp an ninh và sự ổn định chính trị của hai nước được bảo đảm, do vậy, cần có sự hợp tác chặt chẽ, chân thành và tin cậy từ cả hai phía.

Hợp tác kinh tế giữa hai nước cũng được đặc biệt quan tâm, với nội dung, hình thức hợp tác ngày càng được mở rộng, đa dạng và phong phú. Mới đây nhất, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào (tháng 1-2023) của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính, hai bên khẳng định quyết tâm nâng tầm hợp tác kinh tế để tương xứng với tầm vóc của quan hệ đặc biệt giữa hai nước, trong đó trọng tâm là tiếp tục hỗ trợ nhau phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả; nhất trí tăng cường kết nối giữa hai nền kinh tế, cả về hạ tầng cứng và hạ tầng mềm nhằm mở rộng không gian hợp tác và phát triển.

Bên cạnh đó, với vị trí địa lý không giáp biển, Lào rất cần các “cửa ngõ” thông thương ra thế giới. Với hệ thống đường xương cá và hệ thống cảng biển thuận lợi, nhất là việc Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào đầu tư và khai thác cảng Vũng Áng, Việt Nam được xem là “cầu nối” quan trọng để Lào mở rộng sản xuất, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lưu thông hàng hóa... với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng là lý do khiến nhu cầu khai thác vị trí địa - chiến lược của Việt Nam đối với Lào ngày càng trở nên cần thiết. Ngược lại, trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Lào được xem như “cầu nối” để hàng hóa của Việt Nam lưu chuyển sang các nước ASEAN khác thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) nối Việt Nam qua Lào, Thái Lan sang Myanmar... 

Đối với Việt Nam, vị trí địa - chính trị của Lào có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ khu vực biên giới, ngăn chặn những tác động tiêu cực trực tiếp từ phía Tây vào Việt Nam. Thực tế, trong những thập niên cuối thế kỷ XX, các thế lực thù địch, phản động bên ngoài đã lợi dụng địa hình rừng núi giữa hai nước làm căn cứ hoạt động để thâm nhập chống phá Việt Nam. Vì vậy, sự ổn định trong hòa bình và phát triển của Lào, cũng như việc củng cố mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trở thành một trong những yếu tố cấu thành lợi ích thiết thân, chính đáng của Việt Nam. An ninh và ổn định của Lào có ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh, ổn định và phát triển của Việt Nam. Sự ổn định an ninh của Lào là điều kiện quan trọng bảo đảm an ninh của Việt Nam và ngược lại. Do vậy, việc tăng cường hợp tác chặt chẽ luôn là vấn đề sống còn của cả hai quốc gia Việt Nam - Lào.

Có thể thấy, việc tăng cường phát triển quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia giúp Việt Nam và Lào bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mỗi nước. Do đó, có thể khẳng định, sự tương đồng và lợi ích quốc gia - dân tộc của mỗi nước tác động tích cực đến mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Xây dựng, bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của mối quan hệ hữu nghị, truyền thống, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam vừa xuất phát từ ý muốn chủ quan (hệ tư tưởng và đường lối của đảng cầm quyền), vừa từ thực tế khách quan do sự tồn vong, phát triển của mỗi nước đòi hỏi. Đúng như cố Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Kaysone Phomvihane từng khẳng định: “Mối quan hệ Lào - Việt Nam đã trở thành mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thủy chung mẫu mực, hiếm có”, “củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt đó, bảo vệ tình đoàn kết Lào - Việt như bảo vệ con ngươi của mắt mình”(2).

Tiếp tục đưa mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam ngày càng thực chất và hiệu quả, đẩy lùi các luận điệu chia rẽ, chống phá của các thế lực thù địch
Trước hết, với quyết tâm nâng tầm quan hệ “hữu nghị vĩ đại” Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, hai bên cần tiếp tục xác định xây dựng mối quan hệ chính trị là nền tảng, quan hệ kinh tế là cốt yếu. Củng cố, nuôi dưỡng vững chắc nhận thức chung hai bên về tầm quan trọng chiến lược của mối quan hệ hai nước, coi đây là vấn đề chiến lược sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Tính chất đặc biệt trong quan hệ Việt Nam - Lào được thể hiện ở điểm khác căn bản với các quan hệ đối tác thông thường khác, nó là quan hệ hợp tác toàn diện bao gồm cả chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa... và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn cả quan hệ song phương. Thống nhất nhận thức trong cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt của mối quan hệ, trên cơ sở có tầm nhìn rộng, toàn diện và lâu dài hơn. Tích cực đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác; chủ động lựa chọn các hạng mục có nhu cầu đầu tư và phát triển đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước trên quan điểm tiếp cận tổng thể về lợi ích trong quan hệ hợp tác đặc biệt.

Thứ hai, huy động tối đa nguồn lực và hệ thống chính trị của hai nước, tập trung cải thiện, nâng tầm quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật tương xứng với quan hệ chính trị Việt Nam - Lào. Tăng cường và hoàn thiện cơ chế hợp tác, trước hết là tăng cường tính hiệu quả của cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Kết hợp thế mạnh của mỗi nước tạo thành thế mạnh chung trên cơ sở tranh thủ các yếu tố quốc tế thuận lợi về vốn, kỹ thuật, thị trường. Tập trung rà soát lại tổng thể cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức thực hiện để bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước; đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra.

Thứ ba, tăng cường hợp tác toàn diện theo hướng hai nước phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hơn trong các chương trình, dự án hợp tác giữa hai nước với khu vực và hợp tác đa phương khác trên cơ sở tôn trọng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của nhau để tận dụng các mối quan hệ này phục vụ lợi ích cho cả hai bên, bảo vệ tối đa lợi ích quốc gia của từng nước và hai nước, đặc biệt là trong các cơ chế hợp tác mà hai nước cùng tham gia, như Liên hợp quốc, ASEAN; các cơ chế hợp tác tiểu vùng; các vấn đề an ninh phi truyền thống, mà cả hai sẽ cùng phải đối mặt. Chủ động tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại quan trọng hoặc tham khảo lẫn nhau về lập trường, quan điểm tại các diễn đàn quốc tế mà cả hai nước cùng tham gia. Qua đó, giúp hai bên có đủ khả năng ứng phó với các chuyển biến của tình hình quốc tế, khu vực, từ đó, có thể giúp hai nước bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia của từng nước và lợi ích chung của hai nước.    

Thứ tư, coi trọng việc cân bằng giữa các lợi ích cốt lõi về chính trị, an ninh, kinh tế của từng nước và của hai nước dưới tác động từ các nhân tố bên trong và bên ngoài. Trong suốt quá trình lịch sử, mối quan hệ Việt Nam - Lào trở nên gắn bó trước hết là vì lợi ích thiết thân của hai nước. Ngày nay, bối cảnh khu vực và thế giới đã hoàn toàn thay đổi; theo đó, các nước lớn và nhỏ đều có lợi ích riêng khi theo đuổi các mối quan hệ quốc tế. Trong số các lợi ích riêng đó, có những lợi ích cốt lõi mà các nước rất khó từ bỏ khi phải đối mặt với các sức ép từ bên ngoài. Do đó, hai nước cần xác định rõ những vấn đề hai bên có lợi ích “không trùng hợp” hoặc “không hoàn toàn trùng hợp” để có “quy tắc ứng xử” phù hợp theo hướng tôn trọng lợi ích của nhau, tôn trọng luật pháp và tập quán quốc tế; tiếp tục tranh thủ và phát huy hiệu quả các cơ chế, các kênh hợp tác và phương châm hợp tác “giúp bạn là tự mình giúp mình” của hai nước.

Trong hơn 60 năm qua, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen, song có thể khẳng định, quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào đã không ngừng phát triển vững chắc, ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả. Những bài học lịch sử của mối quan hệ mẫu mực Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; những tư tưởng chỉ đạo và nội dung hợp tác nêu trong bản Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác vẫn vẹn nguyên giá trị và là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt tiến trình phát triển của mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Đối với nhân dân hai nước, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được coi là lẽ sống, là tình nghĩa trước sau như một, dù khó khăn, gian nan đến mấy cũng không thể chia tách. Mối quan hệ đặc biệt hiếm có Việt Nam - Lào đang tiếp tục được vun đắp trên cơ sở vì lợi ích và mục tiêu chung của hai quốc gia, với tinh thần quốc tế trong sáng, đưa cách mạng hai nước từng bước vượt qua những thử thách, chông gai và là hành trang quý giá, là cơ sở vững chắc để các thế hệ hai nước hiện nay và mai sau tiếp tục phát huy tình đoàn kết, xây dựng mối quan hệ bình đẳng, tự chủ, hữu nghị, hợp tác giữa hai nước “mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”./.
Yêu nước ST.

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC HỌP VỀ “CÁC MỐI ĐE DỌA ĐỐI VỚI HÒA BÌNH VÀ AN NINH QUỐC TẾ”!

     Tại cuộc họp, đại diện thường trực của LB Nga tại LHQ: Vasily Nebenzya đã lưu ý đến thực tế là:
>phương Tây “có niềm vui” với việc phân bổ hỗ trợ quân sự cho chế độ Kiev. 
>Phương Tây lợi dụng Ukraina để làm suy yếu Nga nhưng mục tiêu này đã không đạt được, mặc dù Kiev đã rất cố gắng thực hiện sứ mệnh được giao của mình. 
>Mặc người dân phương Tây không hài lòng với tình trạng này, nhưng Hoa Kỳ, Anh và EU đang nỗ lực giải thích mọi thứ là do người Nga gây ra.
     Nebenzya lưu ý: “Sự thật là kể từ năm 2014, Washington và các đồng minh đã tạo ra một con chuột lang thí nghiệm (подопытная морская свинка) tại Ukraina và đặt ra nhiệm vụ phải nuôi nó thành thứ có thể khiến người Nga khó chịu, và lý tưởng nhất là con chuột này sẽ cản trở sự phát triển của nước Nga.. Và Họ đã bơm vũ khí cho Ukraina dưới vỏ bọc của các thỏa thuận Minsk và tẩy não nước này theo tinh thần bài Nga, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa phát xít mới. 
     Thành thật mà nói thì Hoa Kỳ và phương Tây đã thực sự thành công: con chuột này đã thực sự trở nên hung hãn và liều lĩnh. 
     Tuy nhiên, cho dù các "nghệ sĩ rối, ảo thuật.. phương Tây" có cố gắng đến đâu thì cũng không thể tạo ra sức mạnh nào hơn được từ một con chuột lang và ngay khi họ cảm thấy rằng con chuột này đã cố gắng hết khả năng mà vẫn không đạt yêu cầu thì họ chỉ đơn giản là loại bỏ nó. Đây là sự thật cay đắng về những gì đang xảy ra với Ukraina hiện nay”.
     Nhà ngoại giao Nga nhấn mạnh rằng một giải pháp thực sự cho cuộc khủng hoảng Ukraina thông qua các biện pháp chính trị và ngoại giao vẫn có thể thực hiện được, Để làm được điều này, điều cần thiết là: phương Tây phải ngừng trang bị vũ khí cho chế độ Bandera ở Kiev, Ukraina trở lại trạng thái trung lập, không liên kết, phi quân sự hóa và phi phát xít hóa, đồng thời các quyền của công dân nói tiếng Nga và các dân tộc thiểu số phải được đảm bảo đầy đủ. 
     Nói cách khác, cần phải loại bỏ những nguyên nhân gốc rễ mà từ đó nước Nga buộc phải tiến hành CDQSĐB.
      Đại diện của Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc Robert Wood không biết nói gì hơn ngoài việc nhai lại những cáo buộc nhàm chán chống Nga.. rồi huênh hoang rằng Washington và các đối tác của Ukraina vẫn sẽ tiếp tục cung cấp vũ khí và hỗ trợ cho Ukraina.
    Thú vị hơn nhiều so với Robert Wood là bài phát biểu của một người Mỹ khác. Đó là nhà văn Margaret Kimberly - biên tập viên của Black Agenda Report, người được mời tham gia cuộc họp này: Kimberly đã chỉ trích quan điểm của phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ về vấn đề Ukraina, đồng thời nhắc lại rằng cơ hội thiết lập hòa bình đã bị bỏ lỡ khi Hoa Kỳ và các đồng minh phá hoại cuộc đàm phán Nga - Ukraina vào mùa xuân năm 2022 ở Thổ Nhĩ Kỳ. 
    Kimberly nói: “Là một công dân Hoa Kỳ, tôi bị sốc khi thấy đất nước này sẵn sàng thực hiện một kế hoạch nguy hiểm và chắc chắn sẽ thất bại”.
     Sự thật khó chịu này khiến cho đại diện của Ukraina tại Liên Hợp Quốc, Sergei Kislitsa rất bức xúc: “Không có gì hay ho khi thấy Kimberly tham gia cuộc họp này, ngoại trừ màu sắc tuyệt đẹp của lá cờ Ukraina trên váy của chị ta”. (Biên tập viên của Black Agenda Report mặc chiếc váy màu vàng sáng như phần màu cờ Ukraina)./.
Ảnh: đại diện thường trực của LB Nga tại LHQ: Vasily Nebenzya.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HUY HIỆU CA SĨ ĐÀM VĨNH HƯNG CÀI KHÔNG PHÙ HỢP VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM!

     Liên quan đến vụ việc ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng cài huy hiệu lạ khi diễn, chiều 23/5, đại diện Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố cho biết, Sở đã mời các tổ chức, cá nhân liên quan gồm Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tiếng Hát Việt, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng và nhà thiết kế đến buổi họp trao đổi và có biên bản ghi nhận các ý kiến phản hồi!

Theo Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, tại buổi họp, đại diện các cơ quan, đơn vị nhận định, việc sử dụng trang phục cách điệu theo phong cách quân đội nước ngoài và các phụ kiện với hình tượng huân, huy hiệu của ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng không phù hợp nội dung các tiết mục và tổng thể chương trình, không phù hợp với giá trị văn hóa Việt Nam. Trong đó, cách sử dụng trang phục nói trên dễ liên tưởng đến các vấn đề nhạy cảm liên quan đến chính trị, gây phản cảm và tạo nên dư luận xấu, nhất là trong dịp cả nước chuẩn bị kỷ niệm các sự kiện trọng đại.

Nhiều ý kiến của các nhà hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, đại biểu Quốc hội, nhà quản lý, các cán bộ lão thành, cựu chiến binh cũng nhận định sự phản cảm trong hoạt động biểu diễn tại chương trình; qua đó đề nghị các cơ quan chức năng quan tâm, xử lý đúng quy định pháp luật, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá và nắm bắt thông tin liên quan, đối chiếu Bộ Quy tắc ứng xử của người hoạt động nghệ thuật do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng quy định pháp luật, Sở Văn hoá và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có biện pháp đề xuất cấp thẩm quyền xem xét, xử lý phù hợp./.
Môi trường ST.

SỰ THẬT CÁI GỌI LÀ “VIỆT NAM VI PHẠM NHÂN QUYỀN”!

     Những năm qua, Việt Nam luôn nhất quán chính sách thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; coi con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng, vẫn có một số tổ chức quốc tế cố tình đưa ra những báo cáo phiến diện nhằm xuyên tạc tình hình, phủ nhận các thành tựu trong bảo vệ và thực thi quyền con người ở Việt Nam!

Đánh tráo khái niệm, xuyên tạc thực tế
Cuối tháng 4 vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố Báo cáo nhân quyền năm 2023, trong đó tiếp tục đưa ra những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam khi cho rằng “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “chính quyền Việt Nam vẫn không có tiến bộ về nhân quyền”... Để minh chứng cho nhận định phiến diện đó, cũng giống những năm trước, báo cáo nhấn mạnh rằng Việt Nam đã bắt, giam giữ những người vì hoạt động chính trị hoặc nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội... Họ thống kê, tính đến ngày 31-10-2023, Việt Nam đã bắt giữ 25 cá nhân và kết án 23 người đang thực hiện các quyền con người được quốc tế công nhận như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp ôn hòa và lập hội. Điều đáng nói là những “tù nhân chính trị”, “nhà hoạt động chính trị”, “nhà bảo vệ nhân quyền” được liệt kê trong báo cáo, như Bùi Tuấn Lâm, Ngụy Thị Khanh, Lê Anh Hùng, Phan Tất Thành, Châu Văn Khảm... đều là những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, phạm các tội danh theo quy định của Bộ luật Hình sự nên bị bắt giữ, điều tra; một số đối tượng đưa ra xét xử và tuyên phạt với những bản án hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Ở đây, khái niệm “tù nhân chính trị” đã bị đánh tráo nhằm đánh lừa dư luận, hòng bảo vệ cho những đối tượng lợi dụng dân chủ, mượn danh nhân quyền để vi phạm pháp luật, gây mất ổn định xã hội. Bởi lẽ, lâu nay, khái niệm “tù nhân chính trị” thường được dùng để chỉ những chiến sĩ cách mạng dũng cảm đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân nhưng phải chịu cảnh tù đày do bị thực dân, đế quốc bắt giam. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, nhiều tù nhân chính trị đã trở thành biểu tượng cho tinh thần anh dũng, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc. Do đó, những đối tượng được nêu tên trong báo cáo nhân quyền nêu trên hoàn toàn không xứng đáng và không thể là “tù nhân chính trị” theo đúng nghĩa. Thực tế ở Việt Nam hiện nay không có ai là “tù nhân chính trị” như mô tả của Báo cáo nhân quyền năm 2023. Vì thế, mục đích việc đánh tráo khái niệm chính là nhằm bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam; tôn vinh, cổ xúy cho những đối tượng lợi dụng dân chủ, nhân quyền để vi phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, Báo cáo nhân quyền năm 2023 còn xuyên tạc thực tế khi đưa ra đánh giá “Việt Nam hạn chế nghiêm trọng tự do internet” với minh chứng là cơ quan chức năng xử lý các trang Facebook cá nhân của một vài đối tượng hoạt động chống phá Nhà nước trên mạng xã hội.

Song, điều nực cười là báo cáo trên đã phớt lờ sự thật, rằng internet ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Internet có mặt ở mọi nơi, từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, tính đến đầu năm 2023, nước ta có 77,93 triệu người dùng internet, chiếm 79,1% dân số; có 70 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 71% dân số. Tổng số kết nối di động đang hoạt động là 161,6 triệu (164,0% tổng dân số). Nhờ đó, sau gần 30 năm kết nối internet, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới, đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Trung bình người Việt Nam dành gần 7 giờ/ngày để sử dụng internet. Tỷ lệ người dùng sử dụng internet hằng ngày lên tới 94%.

Rõ ràng, internet ở Việt Nam đã “bùng nổ” mạnh mẽ, hoàn toàn không có việc “Việt Nam hạn chế nghiêm trọng tự do internet” như nội dung nêu trong Báo cáo nhân quyền năm 2023. Không thể đồng nhất việc xử lý các đối tượng lợi dụng internet, lợi dụng mạng xã hội để tán phát những thông tin sai trái, chống phá Nhà nước, xâm hại lợi ích của tổ chức, cá nhân, với cái gọi là “hạn chế nghiêm trọng tự do internet”. Bởi việc xử lý các đối tượng dùng internet vi phạm pháp luật là biện pháp đã và đang được tất cả quốc gia áp dụng nhằm lành mạnh hóa môi trường internet, bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng xã hội.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, khi trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị bình luận về Báo cáo nhân quyền năm 2023 của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong đó có một số nội dung về Việt Nam vừa được công bố hôm 22-4 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nêu rõ: “Báo cáo nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 22-4-2024 mặc dù đã phản ánh các thành tựu và bước tiến của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người, nhưng rất tiếc vẫn tiếp tục đưa ra một số nhận định không khách quan dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế ở Việt Nam”.

Không thể phủ nhận nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Thực tế, các quyền con người cơ bản đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Việt Nam; được bảo vệ, bảo đảm bởi hệ thống văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai hiệu quả trên thực tiễn. Theo đó, nhiều năm gần đây, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn nhằm bảo đảm quyền con người, nhất là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó Việt Nam là thành viên. Từ năm 2019 đến nay, Quốc hội nước ta đã thông qua 44 luật, trong đó nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Việt Nam cũng đã và đang rà soát để sửa đổi, bổ sung một số luật phù hợp với các cam kết quốc tế; đồng thời, rà soát, gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người cũng như triển khai các điều ước một cách nghiêm túc. Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia 7/9 điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người, 25 công ước quốc tế về quyền lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); đàm phán và chính thức tham gia Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (GCM).

Mặt khác, như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người”. Đến nay, sau gần 40 năm đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã luôn luôn nhất quán chính sách “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền, quyền và nghĩa vụ của công dân”. Mọi quyết sách đều xuất phát từ con người; mọi thành quả phát triển đều hướng vào bảo đảm tốt nhất quyền con người. Chỉ tính từ năm 2019 đến nay, GDP bình quân ở Việt Nam đã tăng 25%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5%/năm. Mạng lưới y tế dự phòng được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, gắn chặt với y tế cơ sở, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã tăng từ hơn 81% năm 2016 lên mức 93,35% vào năm 2023; 85% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng...

Đặc biệt, năm 2023, kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng trên 5%, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống 3%. Hằng năm, Việt Nam dành trung bình khoảng 3% GDP cho bảo đảm an sinh xã hội. Chỉ trong vòng hơn một thập kỷ gần đây, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng gần 50%, thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ tăng cao nhất thế giới.

Những con số khái lược nêu trên đã chứng minh rõ quyết tâm và nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Những thành tựu không thể phủ nhận đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình cho sự ghi nhận ấy là việc ngày 11-10-2022, Việt Nam lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 (lần đầu là nhiệm kỳ 2014-2016). Đây là sự công nhận vị thế của Việt Nam, thể hiện sự tín nhiệm, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người.

Đến đây, chúng ta hoàn toàn có thể thấy rõ cái gọi là “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “chính quyền Việt Nam vẫn không có tiến bộ về nhân quyền”... được đề cập trong Báo cáo nhân quyền năm 2023 của Bộ Ngoại giao Mỹ là những nhận định thiếu khách quan, không chính xác về vấn đề quyền con người ở Việt Nam./.
Yêu nước ST.

PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”: CHUYỆN TƯỞNG LÀ NHỎ...

         Được về phép, đến nhà Thủy Tiên chơi, đúng dịp nhà bạn vừa mua bộ hát karaoke mới nên Trung úy Phi hòa cùng mọi người trong gia đình thử chất lượng âm thanh!
Sau khi nhờ Thủy Tiên chọn cho mình một bài hát, Phi say sưa thể hiện như đang đứng trên sân khấu thực thụ. Đợi Phi hát xong, ông Tiến là bố của Thủy Tiên lại gần, nói:
- Cháu có chất giọng tốt đấy! Bây giờ, hai bác cháu ra ngoài bàn đá uống nước, trò chuyện một lát nhé!
- Dạ vâng ạ!

Vừa rót xong chén trà mời ông Tiến, Phi giật mình bởi câu hỏi bất ngờ của người cựu chiến binh tuổi ngoài thất tuần:
- Cháu có biết bài cháu vừa hát của tác giả nào không?
- Dạ, cháu mới nghe và hát bài này vài lần nên chưa để ý tác giả ạ!
- Thế cháu có biết bài hát được sáng tác trong hoàn cảnh nào không?
- Dạ, cháu cũng... không biết ạ!
- Thế cháu có hiểu nội dung bài hát này không?
- Dạ, bài này nói về người lính! Cháu cũng là người lính nên thích ạ!

Nghe Phi nói vậy, ông Tiến cầm chén trà lên nhấp một ngụm. Sau khi trầm ngâm một lát, ông khẽ khàng:
- Đúng! Đây là bài hát về người lính! Và bác cũng biết cháu là sĩ quan Quân đội, chính vì thế nên bác mới mời cháu ra đây trò chuyện. Bài hát này thuộc thể loại nhạc vàng, do người của chế độ ngụy quyền Sài Gòn sáng tác. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bài hát này được phía bên kia sử dụng làm tác phẩm “tâm lý chiến” nhằm gây lung lạc lý tưởng, ý chí, giảm sức chiến đấu của bộ đội ta. Hồi đó, các bác đã phải rất vất vả để ứng phó với thủ đoạn này của địch...
- Ồ vậy ạ! Thế mà cháu không biết! Nhưng cháu nghĩ...
- Cháu nghĩ là bây giờ hòa bình, đất nước thống nhất, dân tộc hòa hợp rồi nên không cần phân biệt bài hát của “bên” này, “bên” kia nữa đúng không? Nghĩ như vậy là thiếu chín chắn, chưa sâu sắc cháu ạ! Sở dĩ Quân đội ta “bách chiến bách thắng” bởi chúng ta là những người lính làm nhiệm vụ chính nghĩa, cao cả. Vì vậy, chúng ta không thể hát những bài lâm ly bi đát, đầy thực dụng của đội quân phi nghĩa nhằm đánh vào tư tưởng của quân và dân ta. Nếu ở đơn vị mà cháu hát những bài “tâm lý chiến” kia, rồi các chiến sĩ cấp dưới hát theo, thì công tác tư tưởng ở đó thế nào? Nếu ra ngoài doanh trại, đứng trước quần chúng mà cháu chọn hát những bài như vậy, mọi người sẽ có cái nhìn về tâm thế, bản lĩnh của người sĩ quan hôm nay ra sao? Nhất là nếu có người quay lại bài cháu hát rồi tung lên mạng xã hội để kẻ xấu vào bình luận xuyên tạc thì hậu quả sẽ rất lớn. Các thế lực thù địch luôn tìm cách lôi kéo thế hệ trẻ vào thứ văn hóa tiêu cực này. Cháu là sĩ quan trẻ, có giọng tốt, sao không chọn những bài trong sáng, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, truyền thống hào hùng của dân tộc và Quân đội ta để hát? Như vậy, vừa được thỏa mãn sở thích, lại vừa tuyên truyền văn hóa, lối sống tốt đẹp, qua đó góp phần tôn lên vẻ đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và của chính cháu, phải không nào?

Trước những phân tích hợp lý, hợp tình của ông Tiến, Trung úy Phi như bừng tỉnh, nhận ra sự bồng bột, hồn nhiên của mình:
- Cháu cảm ơn bác vì những góp ý chân thành đã giúp cháu nhận ra mình cần phải tinh tế, sâu sắc hơn. Từ nay cháu sẽ không mắc những lỗi tương tự như vậy nữa!
Yêu nước ST.

BỘ NGOẠI GIAO LÊN TIẾNG VỀ CÁC BÌNH LUẬN KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ TÌNH CẢM VIỆT NAM - CAMPUCHIA!

     Ngày 23-5, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về yêu cầu của phía Campuchia đề nghị Việt Nam hợp tác điều tra thông tin một số tài khoản mạng xã hội được cho là của công dân Việt Nam, có lời lẽ chưa đúng mực trên tài khoản của Chủ tịch Thượng viện Campuchia Samdech Techo Hun Sen, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ:
Việc một số tài khoản được cho là xuất phát từ Việt Nam bày tỏ ý kiến cá nhân trên mạng xã hội vừa qua không đại diện cho quan điểm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam.

Chúng tôi không đồng tình với các ý kiến, bình luận mang tính kích động, chia rẽ tình cảm tốt đẹp giữa nhân dân Việt Nam và Campuchia, công kích cá nhân lãnh đạo hai nước.

Trên cơ sở mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài với Campuchia, các cơ quan chức năng hai bên có các biện pháp thiết thực, hiệu quả để giúp nhân dân và thế hệ tương lai của hai nước hiểu rõ và đầy đủ về mối quan hệ này, đưa quan hệ hai nước phát triển ngày một mạnh mẽ hơn, vì lợi ích của nhân dân hai nước.

Trên tinh thần đó, chúng tôi tin tưởng rằng Việt Nam và Campuchia sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong việc chia sẻ thông tin trên nhiều lĩnh vực, trong đó có dự án kênh đào Funan Techo cũng như nghiên cứu về tác động xuyên biên giới của dự án, qua đó bảo đảm lợi ích hài hòa của các quốc gia và người dân sinh sống ven sông, quản lý, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước sông Mekong./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐÚC KẾT LỊCH SỬ BẰNG HƠN 200 CÂU THƠ LỤC BÁT!

     Trên thế giới hiếm có một Lãnh tụ nào có đủ trí tuệ để đúc kết toàn bộ lịch sử của nước mình bằng thơ. Nhưng Nguyễn Ái Quốc - HỒ CHÍ MINH, với tình yêu nước nồng nàn, Người đã đúc kết lịch sử của nước ta trải qua hơn 4000 năm bằng hơn 200 câu thơ lục bát. Ngay hai câu đầu tiên Người đã viết: "Dân ta phải biết sử ta; Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam." mới biết được tầm quan trọng của lịch sử nước nhà. Lịch sử rất quan trọng đối với toàn thể người dân Việt Nam. Vậy mà ngày nay những người được ăn, được học, được nuôi dưỡng để trở thành "những ông" GS, TS; những "công bộc" của dân thì lại "nghĩ ra" và tự "xem xét", "quyết định" môn Lịch sử thành môn học tự chọn. May mà nhân dân ta nhất là những cán bộ, đảng viên trung kiên đã kiên quyết, kiên trì đề nghị với các cơ quan có thẩm quyền phải đưa môn Lịch sử phải là môn học bắt buộc ở tất cả các cấp học của bậc phổ thông.
     Xin trân trọng đăng toàn văn bài thơ: "Lịch sử nước ta" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng tác từ năm 1941 cách đây hơn 80 năm.
🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

"Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân,
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen.
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.
Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua.
Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền.
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
Ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!"./.




Yêu nước ST.

ĐẢNG KHÔNG ĐỨNG TRÊN PHÁP LUẬT VÀ KHÔNG ĐỨNG NGOÀI PHÁP LUẬT

 ĐẢNG KHÔNG ĐỨNG TRÊN PHÁP LUẬT VÀ KHÔNG ĐỨNG NGOÀI PHÁP LUẬT

Từ khi cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, sử dụng chính quyền cách mạng của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đông đảo quần chúng nhân dân làm công cụ lãnh đạo đất nước thông qua hệ thống chính sách, luật pháp của Nhà nước mà trực tiếp là phát huy vai trò của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp để triển khai thưc hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng gia đoạn, từng lĩnh vực.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức trong hệ thồng chính trị có chức năng, vai trò lãnh đạo đối với cả hệ thồng chính trị. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật. Đảng lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, Hiến pháp và pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải đựơc thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội thông qua hoạt động của Nhà nuớc do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp”.

Trong Cương lĩnh năm 2011, Đảng ta khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò, phương thức lãnh đạo, mối quan hệ của Đảng trong hệ thống chính trị và nhân dân: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”.

Trong quá trình xây dựng, sửa đổi bổ sung Hiến pháp các thời kỳ và hệ thống các văn bản pháp luật, những nội dung quy định vấn đề chức năng, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và quản lý của Nhà nước đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên không ngừng được hoàn thiện 

Trong Điều 4, Hiến pháp 1980 quy định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”.

Đến Hiến pháp 1992, tại Điều 4 quy định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định cụ thể đó là: 

“1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 

2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.

3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Việc Hiến pháp của nước ta các thời kỳ quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội và mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước là điều hoàn toàn phù hợp quyền dân tộc tự quyết, được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc.

Trong công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đảng giới thiệu nhân sự đề nghị Quốc hội xem xét quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh cán bộ đứng đầu Nhà nước như: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc Hội. Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Đảng lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng Đảng lại chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng và quần chúng nhân dân. Đảng không đứng trên pháp luật hay đứng ngoài pháp luật của Nhà nước, mọi tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên cũng như các tổ chức chính trị khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, luôn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hoạt động của mình. Đảng và các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, đảng viên và công dân đều bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là những tổ chức đảng và đảng viên hoạt động phải đúng pháp luật và được Nhà nước bảo vệ, ngược lại tổ  chức đảng và cán bộ, đảng viên nào của Đảng (kể cả Tổng Bí Thư) vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý đúng quy định, không có vùng cấm, đều đó thể hiện sự công bằng và nghiêm minh trước pháp luật.

Thực tiễn những năm qua cho thấy trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã có nhiều cán bộ, đảng viên các cấp từ Ủy viên Bộ Chính trị trở xuống khi vi phạm pháp luật đều bị đưa ra xét xử nghiêm minh, không có trường hợp ngoại lệ, không có vùng cấm.

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên chúng ta có đủ cơ sở khoa học để khẳng định Đảng ta lãnh đạo mọi mặt đối với Nhà nước nhưng Đảng không làm thay chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước và Đảng không đứng ngoài pháp luật hay đứng trên pháp luật./.

.ankhe.23.

TRƯỜNG SƠN HUYỀN THOẠI VÀ NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI

 Từ một con đường mòn vận chuyển bằng gùi thồ mang vác mới chuyển sang vận tải bằng ô tô trước đó chưa lâu, đường Trường Sơn dưới thời Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã trở thành một tuyến giao thông chiến lược với cả hệ thống như TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI XUYÊN RỪNG RẬM. Đó là những con đường ngang dọc chằng chịt mà Mỹ không cách nào ngăn chặn được với 5 trục dọc, 21 trục ngang, tổng chiều dài 20.000 km phủ kín dãy Trường Sơn, cả sườn Đông lẫn sườn Tây, xuyên 3 nước Đông Dương.

Tuyến đường Trường Sơn đã trở thành huyết mạch nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến Miền Nam, nối dài ý chí, khát vọng của dân tộc. Đây cũng là “giao lộ” chung của ba nước Đông Dương trong cuộc chiến đấu trường kỳ bảo vệ độc lập dân tộc.
Một thế hệ đã gửi lại thanh xuân, m. áu x.ương giữa núi rừng Trường Sơn trùng điệp, ngút ngàn để huyền thoại bắt đầu. Hơn 2 vạn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong đã h.y s.inh, gần 3 vạn người bị thương, hàng nghìn người bị ảnh hưởng nặng nề chất độc da cam. Biết bao bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, đồng bào các dân tộc đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình để giữ vững “mạch máu” giao thông trên con đường huyền thoại này./.
St

CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG: "VUN GỐC ĐỂ TRÁNH LỤI CÀNH"

 Theo quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nếu cán bộ là "cái gốc của mọi công việc" thì đối với từng cán bộ, phẩm chất tài, đức phải song hành, trong đó "đức phải là cái gốc". Muốn cành, lá không bị sâu, bệnh thì cái "gốc đạo đức" phải được vun xới không ngừng nghỉ.

Gốc đức của cán bộ
Ngày 13/3, chủ trì phiên họp Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban, yêu cầu các ủy viên BCHTW phải có bản lĩnh chính trị thực sự vững vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ, có uy tín cao. Đội ngũ tinh hoa này không chỉ quyết định sự thành bại của một nhiệm kỳ đại hội Đảng mà phẩm chất, tài năng của họ gắn liền với vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, sự phát triển của đất nước. Nói một cách khái quát, các ủy viên BCHTW khóa XIV phải vừa có đức vừa có tài, trong đó đức là gốc.
Vì sao đức, chứ không phải tài năng, là gốc rễ? Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cây xanh tươi, ra lá, trổ hoa, kết trái là nhờ cái gốc khỏe mạnh; con người có đạo đức thì mới cống hiến được tài năng cho xã hội. Con người cách mạng thì cần gốc rễ là đạo đức cách mạng, có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì không lãnh đạo được nhân dân. Mọi việc thành hay bại là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không.
Cán bộ cần phải vừa có đức, vừa có tài. Không có tài thì làm việc gì cũng khó. Nhưng có tài mà không dựa trên nền tảng đạo đức thì thành người vô dụng, thậm chí là có hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa đạo đức của người cách mạng là “trung với nước hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Người nhấn mạnh: “Đạo đức cách mạng không phải ở trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Từ Đại hội XIII của Đảng (2021) đến ngày 13/3/2024, thời điểm diễn ra phiên họp Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, BCHTW Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, UBKTTW đã phải thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý, trong số này có cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.
Công tâm, trong sáng khi làm công tác nhân sự.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công tác cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước. Người cho rằng trong việc tuyển chọn cán bộ thì không được thiên tư, thiên vị mà lựa chọn những người thật sự có đức, có tài.
Ở thời điểm hiện tại, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đòi hỏi công tác nhân sự phải bảo đảm sự công tâm, trong sáng, khách quan, nói cách khác, “đức phải là cái gốc”. Để làm tốt việc này, đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu phải làm tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng. Công tác nhân sự Đại hội phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, trong sáng, khách quan, đặc biệt phải có con mắt tinh đời trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn. Lấy tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và hiệu quả công tác, uy tín của bản thân và gia đình làm thước đo chủ yếu.
Trong công tác nhân sự phải kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen, "cánh hẩu", "lợi ích nhóm"; tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc. Phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã phạm sai lầm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên, nạt dưới, bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng.
Thẳng thắn đối diện với thực tế là gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật, thậm chí chịu trách nhiệm hình sự trong hơn 3 năm qua, đồng chí Tổng Bí thư chỉ ra tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy phiếu bầu, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội... chưa được ngăn chặn triệt để.
Những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận cán bộ và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ có mối quan hệ qua lại với nhau. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra đây là một nguyên nhân quan trọng làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Con số không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cấp cao, thậm chí là lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, bị xử lý kỷ luật là niềm trăn trở lớn đối với những người làm công tác nhân sự. Mặt khác, nhìn từ khía cạnh tích cực, điều này cho thấy một cách rõ ràng rằng Đảng, Nhà nước ta kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, không có vùng cấm, không ai, dù giữ chức vụ cao đến đâu, có được kim bài miễn trừ.
Đồng thời, qua những sa sút về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, Đảng ta rút ra được những bài học kinh nghiệm lớn từ công tác nhân sự của khóa XIII, để có thêm cơ sở đề ra phương hướng, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ của khóa XIV./.
St

NÉT ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC

 Những ngày tháng 5 lịch sử, với nhiều hoạt động thi đua yêu nước sôi nổi, cả đất nước lại nhớ về Bác Hồ kính yêu - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, tưởng nhớ và kỷ niệm 134 năm ngày sinh của Người (19-5-1890 - 19-5-2024). Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, chăm lo, động viên sức mạnh toàn dân tộc, lôi cuốn toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hăng hái tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tạo sức lan tỏa cho các phong trào thi đua
Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người Việt Nam đầu tiên nêu lên và gắn kết một cách tài tình giữa yêu nước với thi đua, chỉ ra mối quan hệ bản chất giữa hai phạm trù, hai thành tố này với nhau. Chính điều này đã tạo cho phong trào thi đua yêu nước tinh thần mạnh mẽ, bền vững và luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc.
Từ quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ, sự cần thiết phải gắn kết giữa yêu nước và thi đua. Theo Người, thi đua phải xuất phát từ tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân với ý chí phấn đấu và phát huy sức mạnh cả vật chất lẫn tinh thần. Thi đua không chỉ là hoạt động tích cực và sáng tạo trong lao động sản xuất, chiến đấu…, mà còn là hoạt động tư tưởng và tinh thần, là biểu hiện của lòng yêu nước, của tình cảm đối với Tổ quốc, quê hương.
Người nhấn mạnh: “Thi đua lấy tinh thần yêu nước làm gốc” sẽ làm cho phong trào thi đua của nhân dân ta có sức mạnh tinh thần vô cùng mạnh mẽ, lâu bền, phát triển không ngừng, gắn liền với sự phát triển của dân tộc. Ngược lại, “yêu nước phải tỏ ra trong công việc thực tế, trong Thi đua ái quốc”, không yêu nước suông. Người còn giải thích: “Thi đua là một cách yêu nước thiết thực và tích cực”, thi đua sẽ bồi dưỡng và phát huy tinh thần yêu nước của dân tộc.
Khơi dậy tinh thần yêu nước
Bản chất của mối quan hệ giữa thi đua và yêu nước luôn được đặt ra một cách thường xuyên, trực tiếp và do vậy, khi tổ chức phong trào thi đua phải nhất thiết khơi dậy tinh thần yêu nước. Dù có thể cần phải tính đến các yếu tố khác, các động lực khác, kể cả động lực lợi ích vật chất trong tổ chức phong trào thi đua, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nhưng động lực chính trị - tinh thần, mà cốt lõi nhất là tinh thần yêu nước phải luôn là động lực cơ bản, chi phối và quyết định.
Thực tiễn cho thấy, để có một phong trào thi đua được tất cả các tầng lớp dân cư tham gia, vấn đề hàng đầu đặt ra là cần tìm được điểm tương đồng, điểm chung vừa đáp ứng lợi ích đa dạng, nhiều mặt của mỗi thành viên, vừa đảm bảo lợi ích tối cao của dân tộc. Lòng yêu nước chính là điểm chung đó.
Khi phát động phong trào thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng lợi ích của xã hội, của đất nước, mà còn kết hợp hài hòa, chặt chẽ với lợi ích cá nhân. Người căn dặn: “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, cũng ích lợi cho gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc”.
Việc gắn thi đua với yêu nước và yêu nước với thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo cho phong trào thi đua yêu nước của nhân dân ta mang bản sắc của dân tộc Việt Nam, đó là gắn liền tư tưởng, tinh thần với hành động thực tiễn, nói đi đôi với làm. Đây chính là một trong những biểu hiện sinh động của nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước.
Qua các phong trào thi đua ái quốc, lòng yêu nước của quần chúng nhân dân được khơi dậy, bồi đắp và phát huy, biến ý chí của mỗi người dân thành hành động cụ thể, thiết thực trong lao động sản xuất, chiến đấu, học tập và công tác với những thành tựu to lớn và thắng lợi vẻ vang./.
ST

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - SỰ KẾT TINH TRÍ TUỆ CỦA MỘT NHÀ TƯ TƯỞNG LỖI LẠC

 55 năm đã trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta về với “thế giới người hiền”, cùng với thời gian, Đảng và Nhân dân ta ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về giá trị lịch sử và sự kết tinh trí tuệ của một nhà tư tưởng lỗi lạc được thể hiện trong bản Di chúc của Người.

MỘT TÁC PHẨM BẤT HỦ
Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử vô giá, được viết từ trái tim, trí tuệ và tư tưởng của một vĩ nhân. Di chúc của Người là sự hội tụ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, hòa quyện, chắt lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại; đã đi vào lịch sử và trở thành một tài sản vô giá của dân tộc ta.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh trí tuệ của một nhà tư tưởng lỗi lạc, bởi trong đó thể hiện tâm huyết của một con người “đại nhân, đại trí, đại dũng”; là tầm cao của một con người đã dành cả cuộc đời phấn đấu hy sinh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, vì hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới.
Sự kết tinh trí tuệ trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết trong ngôn từ diễn đạt. Là người mácxít phương Đông, hơn ai hết Hồ Chí Minh am hiểu mục đích, giá trị của thể loại “di chúc” theo truyền thống văn hóa phương Đông. Đồng thời, Người hiểu rõ cuộc đời của mỗi con người, ai cũng phải tuân theo quy luật của tạo hóa: “sinh, lão, bệnh, tử”. Tuy nhiên, trong Di chúc, người ta không thấy có chỗ nào “lâm ly, tử biệt”, mà được diễn đạt, thể hiện một cách tự nhiên, thanh cao, cô đọng và giản dị về ngôn từ, như cách nói của Người, “tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”.
Sự kết tinh trí tuệ trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt được thể hiện rõ qua mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng và cách mạng Việt Nam.
NỘI DUNG CỐT LÕI VỀ ĐẢNG VÀ LỰC LƯỢNG KẾ CẬN
Trước hết là về Đảng cầm quyền: Với tư cách là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trước lúc đi xa, điều đầu tiên Người di huấn với Đảng rằng phải luôn quán triệt nguyên tắc: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Đảng là người lãnh đạo, là “trí khôn”, “là bàn chỉ nam” dẫn dắt cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Chính vì vậy, phải thường xuyên chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng vững mạnh về mọi mặt. Muốn làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, thì vấn đề đoàn kết trong Đảng phải đặt lên hàng đầu. Trong Di chúc, Người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Sự đoàn kết của Đảng chỉ có được khi Ban Chấp hành Trung ương và mỗi đảng viên của Đảng kiên quyết một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ Nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Phải nhận thức sâu sắc rằng, đoàn kết, thống nhất trong Đảng là vấn đề quan trọng nhất, phải làm cho các cấp ủy và hàng triệu đảng viên cùng một ý chí hành động, tạo ra sức mạnh; phải làm cho Đảng thật sự trở thành hạt nhân lãnh đạo xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Người nhấn mạnh, đoàn kết là truyền thống quý báu của Nhân dân ta, để tập hợp được rộng rãi và đông đảo các lực lượng tham gia khối đại đoàn kết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết. Ngay sau phần nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng”, vừa “chuyên””. Bởi vì theo quan điểm của Người, muốn thức tỉnh dân tộc, trước hết phải thức tỉnh thanh niên - một bộ phận quan trọng của dân tộc. Để hiện thực hóa tiềm năng đó, thì trước hết cần phải tập hợp thanh niên trong một tổ chức cách mạng. Người cho rằng: “Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết họp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ”.
Nhìn nhận thanh niên là một lực lượng to lớn và mạnh mẽ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”. Người nhắc nhở các cấp bộ đảng, chính quyền, đoàn thể, phải chú ý chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Để họ xứng đáng là những người chủ tương lai của đất nước, là những cán bộ kế cận của Đảng, phải giáo dục, bồi dưỡng cho thanh niên có phẩm chất đạo đức và năng lực: có tài, có đức, “vừa hồng, vừa chuyên”. Đối với lực lượng thanh niên, Người yêu cầu phải tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu học tập để nắm lấy tri thức, bồi dưỡng ý chí nghị lực và tinh thần cách mạng, phục vụ Tổ quốc. Người nói: “Nói chung thanh niên phải chuẩn bị làm người chủ nước nhà. Muốn thế phải ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa, trước hết phải rèn luyện và thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, gột rửa cá nhân chủ nghĩa”... Phải luôn nhắc nhở, dìu dắt họ, đề phòng rơi vào “chủ nghĩa cá nhân”. Thanh niên là những người đang trong quá trình tích lũy tri thức và hình thành nhân cách, việc giáo dục phẩm chất đạo đức, việc tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người phải thường xuyên như đánh răng, rửa mặt hằng ngày.
Trong việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của thanh niên, Hồ Chí Minh chỉ ra cụ thể, đó là lý tưởng sống vì Tổ quốc, vì Nhân dân; kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, luôn xung phong, gương mẫu trong mọi công việc, hoàn thành mọi nhiệm vụ: “Thực hiện khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có, đâu khó thanh niên làm”; và “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm”. Hồ Chí Minh căn dặn, mỗi người thanh niên phải luôn suy nghĩ về nhiệm vụ của mình trước Tổ quốc, trước nhân dân: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà! Mình phải làm thế nào cho ích nước lợi nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào”. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, để thanh niên có phẩm chất “vừa hồng, vừa chuyên”, trước hết là trách nhiệm của Đảng, của tổ chức Đoàn Thanh niên và các thế hệ đi trước, phải thường xuyên quan tâm tới thanh niên.
CHĂM LO CHO CON NGƯỜI, VÌ CON NGƯỜI
Xuất phát từ quan điểm: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong bản Di chúc là phần nói về con người: “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải xác định chiến lược con người là một mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là Nhân dân, là tất cả những con dân nước Việt; là đồng bào, đồng chí và những người có lòng yêu nước, hướng về dân tộc.
Tiếp thu tư tưởng của các bậc tiền nhân khi nhìn nhận về vai trò, sức mạnh của Nhân dân: Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; học tập tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi: Ý chí của Nhân dân là thành lũy vững chắc (chúng chí thành thành), sức dân như nước, chở thuyền hay lật thuyền cũng do dân: “Phúc chu thủy tín dân do thủy/Thị hiểm nan bằng, mệnh tại thiên” (“Lật thuyền mới rõ dân như nước/Cậy hiểm khôn xoay, mệnh ở trời”). Hồ Chí Minh khẳng định, dân là gốc của nước, là lực lượng chủ yếu của cách mạng, vì dân có số lượng đông, mọi lực lượng đều ở nơi dân. Dân cũng là những người làm ra mọi của cải vật chất và giá trị văn hóa, nuôi sống bộ máy nhà nước và toàn thể xã hội, làm cho xã hội tồn tại và phát triển: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”. Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đã hy sinh phấn đấu vì hạnh phúc của Nhân dân, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi sắp phải từ biệt thế giới này, nghĩ về Nhân dân, Người viết: “NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng”. Người căn dặn, sau khi hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”; phải “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, để đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện cả về vật chất và tinh thần. Trong công cuộc cải tạo, xây dựng lại đất nước sau một thời gian dài bị chế độ thực dân, phong kiến cai trị và bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Hồ Chí Minh đã tiên lượng: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”; cho nên cần phải xác định sự nghiệp đổi mới là “cuộc chiến đấu khổng lồ”, phải kiên trì, bền bỉ, sáng tạo mới có thể giành thắng lợi. Tư tưởng của Người không chỉ là sự kết tinh trí tuệ mà còn thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc.
GÓP PHẦN CỦNG CỐ TÌNH ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
Trong Di chúc của Hồ Chí Minh, vấn đề đoàn kết quốc tế là một nội dung thể hiện tư tưởng truyền thống dân tộc “Ăn quả nhớ người trồng cây”; “có trước, có sau”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, bởi vậy, sự đoàn kết và ủng hộ của cộng đồng quốc tế có vai trò to lớn đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực cho phong trào cách mạng thế giới, vì hòa bình và phát triển. Trước lúc đi xa, nhận thấy sự bất hòa, chia rẽ giữa các nước anh em, Người rất đau lòng. Người căn dặn: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động góp phần đắc lực vào việc khôi phục khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.
Thực hiện Di chúc của Người, trên tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản trong sáng; phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước dân chủ, tiến bộ và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những kết quả đó là sự ghi nhận, khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại của Đảng và giá trị định hướng của bản Di chúc mà Người đã để lại cho Đảng và Nhân dân ta.
55 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu vĩnh biệt chúng ta. Cả cuộc đời của Người thuộc về Tổ quốc, phụng sự cách mạng và Nhân dân, vì vậy, Người sống mãi trong tâm hồn Nhân dân ta và bè bạn trên thế giới. Cuộc đời, sự nghiệp, trí tuệ và tư tưởng đạo đức vô song của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và sẽ mãi mãi trở thành tấm gương tỏa sáng cho toàn Đảng, toàn dân ta học tập, noi theo./.
ST

NHỚ LỜI BÁC DẠY: “LÀ QUÂN ĐỘI CỦA NHÂN DÂN PHẢI VÌ DÂN”

 Quân đội ta là Quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Ngoài mục tiêu, lý tưởng chiến đấu để giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cùng toàn Đảng, toàn dân tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Quân đội ta không có mục tiêu, lý tưởng nào khác.

Xuyên suốt lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân đội ta luôn xứng danh là “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của nhân dân, trọn đời “Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Qua phong ba, bão táp cách mạng, chịu đựng khó khăn, gian khổ và hiểm nguy trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như liên tục phấn đấu thực hiện tốt ba chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất trong thời bình, đổi mới đất nước, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đều tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; thực hiện đúng lời dạy của Bác Hồ: Quân đội ta trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân; nhiệm vụ nào cùng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Mối quan hệ máu thịt, đoàn kết quân - dân luôn được tăng cường; “thế trận lòng dân” luôn được xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc; lời dạy của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
Điều sâu sắc nhất, trọn vẹn nhất thể hiện đầy đủ, rõ ràng nhất trong lịch sử, truyền thống vẻ vang của Quân đội anh hùng, xuyên suốt lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội ta là luôn gần dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin tưởng, chở che, đùm bọc, cưu mang và giúp đỡ tận tình, chu đáo, hiệu quả; quân với dân luôn là một ý chí. Mỗi chiến công, thành tích, thành tựu mà Quân đội ta giành được đều xuất phát từ nhân dân, do nhân dân mang lại. Chúng ta luôn luôn quán triệt và thực hiện tốt “Mười Lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, “Mười hai điều kỷ luật của quân nhân khi tiếp xúc, quan hệ với nhân dân”. Tất cả điều đó đã thể hiện bản lĩnh, bản chất sự gắn bó máu thịt, keo sơn, gần gũi, tôn vinh và kính trọng dân, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của Quân đội ta.
Trước đây cũng như hiện nay, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đều đã, đang thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ: “Nước ta là nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, v.v.. Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ. Khi ai có điều gì oan ức, thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy”.
Hơn ai hết, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đều hiểu rõ và thực hiện tốt nhất lời căn dặn của Bác: Cái gì có lợi cho dân, dù là nhỏ nhất, cũng phải cố gắng làm, làm cho bằng được, thật tốt; cái gì có hại cho dân thì phải kiên quyết tránh, tránh triệt để. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng: “Dễ muôn phần không dân cũng chịu/Khó mười lần dân liệu cũng xong”; có dân là có tất cả; mất dân cũng là mất tất cả. Bởi vì, sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân; “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Cho nên, thấm nhuần sâu sắc bài học thứ hai của Đại hội VI mà Đảng ta đã đúc kết, đó là “lấy dân làm gốc” để chỉnh huấn, chỉnh quân, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ quân - dân trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Vì vậy, trong quan hệ với nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đều đề cao ý thức “kỷ luật tự giác, nghiêm minh”, biết phòng tránh mọi hiện tượng tiêu cực, làm mất lòng dân, gây tổn hại đến mối quan hệ máu thịt với dân, đoàn kết quân - dân. Đó là điều lý giải vì sao từ cái nhỏ nhất là “cái kim, sợi chỉ” đến cái to lớn là bảo vệ cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đều luôn phòng ngừa tỉnh táo, không mắc sai lầm; không bao giờ “quấy phá, gây phiền nhiễu cho dân”, làm mất lòng dân; gây ảnh hưởng đến uy tín, vị thế của Đảng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội; làm tổn hại danh thơm, tiếng tốt “Bộ đội Cụ Hồ”.
Học tập Bác, sống chiến đấu, lao động và thực hiện tốt bổn phận, trách nhiệm của người quân nhân cách mạng, luôn xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của nhân dân, cán bộ chiến sĩ Quân đội ta đã và đang ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; thực hiện nghiêm Nghị quyết số 847 ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”; ra sức phấn đấu hoàn thành tốt các mục tiêu, chỉ tiêu mà Nghị quyết Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đề ra; góp phần xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân.
Ôn lại những lời dạy chí tình chí nghĩa của Bác dành cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, với niềm vinh dự, tự hào của người quân nhân cách mạng; chúng ta thấm thía nhiều điều sâu sắc của Bác - Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, coi đó là hành trang cần thiết để rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành. Tự hào, tự tin tiến bước dưới lá cờ của Đảng quang vinh; thực hiện nghiêm túc lời Bác căn dặn; mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta xin hứa với Bác với Đảng sẽ toàn tâm, toàn ý rèn luyện, phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân./.
ST