Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM CHẾ ĐỘ “TẬP QUYỀN”, “MỘT ĐẢNG” LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra rả “thuyết âm mưu”, coi đây là “át chủ bài” trong hoạt động chống phá: Tham nhũng bắt nguồn từ chế độ “tập quyền”, “một đảng” (!?). Chúng quy chụp đây là “quốc nạn, không có thuốc chữa”; “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Đây là luận điệu bịa đặt, mang tính tuyệt đối hóa, cực đoan, hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Bởi vì:

Tiếp cận từ góc độ đạo đức, lòng tham chính là “hạt giống”, tồn tại với tư cách là một thuộc tính cố hữu của con người, trong điều kiện thích hợp có thể “sinh sôi nảy nở”, phát triển thành các biểu hiện cụ thể của hành vi tham nhũng. Bởi lẽ, chính mâu thuẫn giữa “cái hiện có” với “cái muốn có” trong bản thân sự vật, hiện tượng chính là nguồn gốc để sự vật, hiện tượng vận động, phát triển. Hay nói cách khác, chính những mong muốn tạo ra của cải vật chất, tinh thần, nhằm thỏa mãn nhu cầu mỗi lúc một nhiều của con người chính là động lực để xã hội vận động, phát triển. Chính Mác Vê-bơ, nhà kinh tế chính trị và xã hội học nổi tiếng người Đức, trong tác phẩm Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản, đã chỉ rõ, ham muốn chiếm hữu, ham muốn chạy theo danh lợi, tiền bạc, càng nhiều càng tốt... đã từng tồn tại và đang tồn tại ở hầu hết mọi tầng lớp trong xã hội(5). Như vậy, nếu đồng ý rằng tham nhũng bắt nguồn từ chính lòng tham của con người, thì đó là nguyên nhân sâu xa, cố hữu, thuộc về “tính người”, rất khó có thể, thậm chí là không thể bị loại bỏ.

Bàn về tật xấu của tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tham ô để nói về các hành vi, như “lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư”(6); “gian lận tham lam... không tôn trọng của công... không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra”(7)... Về nguyên nhân của các hành vi này, Người cho rằng, “vì thiếu đạo đức cách mạng, thiếu tinh thần trách nhiệm”(8), “họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần, họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại”(9). Đặc biệt, Người nhấn mạnh, nguyên nhân sâu xa, gốc rễ dẫn đến tham nhũng, tiêu cực chính là chủ nghĩa cá nhân, bởi vì “cá nhân chủ nghĩa nên đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung, rồi sinh ra vô kỷ luật, vô tổ chức, tham địa vị, tham danh vọng, bè phái, tham ô, lãng phí, quan liêu”(10). Theo Người đây là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, “trong xã hội đế quốc, tư bản, phong kiến, người không ăn cắp, tham ô rất ít. Không nhiều thì ít đều có cả”(11). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tham nhũng là “giặc ở trong lòng”, nếu tự thân không tu dưỡng đạo đức cá nhân thật tốt thì bất kỳ ai cũng có thể phạm vào tham nhũng, tiêu cực.

Tiếp cận dưới góc độ quyền lực, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tham nhũng gắn liền với sự tha hóa quyền lực của nhà nước. Lúc này, nhà nước trở thành công cụ để bóc lột nhân dân lao động, là phương tiện bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị; nhân dân mất dần khả năng kiểm soát quyền lực, trở thành nạn nhân của sự quan liêu, lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán. Có thể thấy, tham nhũng được xem là “bóng tối vươn theo quyền lực”, gây suy giảm quyền lực nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến uy thế, thanh danh của Đảng và nhà nước, biến bộ máy chính quyền và các tổ chức đảng trở thành bộ máy quan liêu, xa rời lợi ích của đảng, nhân dân. V.I. Lê-nin cho rằng, “tệ quan liêu, tham nhũng khiến nhiều cán bộ, đảng viên bị tha hóa, trở thành những kẻ chuyên quyền, độc đoán, thậm chí nó có thể phá hủy một chính đảng, làm tiêu vong một chế độ”(12). Bàn về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tham ô lãng phí một phần lớn là do bệnh quan liêu mà ra”(13); “Có những người... đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu”(14). Tham ô là sâu mọt từng ngày, từng giờ đục khoét, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng; làm lung lay, vơi dần niềm tin của quần chúng nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Người khẳng định: Tham ô, tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm vì “nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”(15), nó làm “chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”(16).

Kế thừa và phát triển quan điểm của V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực và là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ; thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa bỏ tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”. Cũng theo Tổng Bí thư, “Tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, là loại biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Như vậy, dù tiếp cận dưới góc độ khác nhau, song có thể thấy, chính sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và việc không có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chính là nguyên nhân căn cơ để tình trạng tham nhũng, tiêu cực phát sinh, phát triển. Trong đó, “Tiêu cực là môi trường làm nảy sinh tham nhũng; tham nhũng tác động trở lại làm trầm trọng hơn tình trạng tiêu cực”.

Ở bất kỳ quốc gia nào, người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền nhà nước đều là người của đảng cầm quyền và đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền tất nhiên sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Như vậy, chế độ một đảng hay đa đảng không tác động đến nguồn gốc làm nảy sinh tham nhũng, tiêu cực, nghĩa là ở bất kỳ quốc gia nào dù lựa chọn chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì vấn nạn tham nhũng, tiêu cực vẫn xảy ra. Theo Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2023, do Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố, có đến hơn 80% dân số thế giới sống ở các quốc gia có chỉ số cảm nhận tham nhũng dưới mức trung bình toàn cầu là 43.


PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đã đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên sử dụng nhiều chiêu bài thâm độc hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta... Vì vậy, cần nhận diện các thủ đoạn, chiêu bài của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị để phản bác, đấu tranh hiệu quả.

Đảng ta luôn xác định tham nhũng, tiêu cực là nguy cơ, thách thức đe dọa trực tiếp đến uy tín, vị thế, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng hiệu quả, đi vào thực chất, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Tham nhũng, tiêu cực “từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và có chiều hướng giảm”. Tuy nhiên, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên các lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, tham nhũng, tiêu cực thật sự “đã đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”, “là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước” và “là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và của chế độ”. Quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đưa ra những luận điệu sai trái; thậm chí trơ trẽn đánh tráo khái niệm, tốt vẫn nói xấu, có khuyết điểm thì bới móc, thổi phồng, làm lệch lạc bản chất vấn đề hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta./.

TIẾP TỤC ĐƯA MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM NGÀY CÀNG THỰC CHẤT VÀ HIỆU QUẢ, ĐẨY LÙI CÁC LUẬN ĐIỆU CHIA RẼ, CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trước hết, với quyết tâm nâng tầm quan hệ “hữu nghị vĩ đại” Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, hai bên cần tiếp tục xác định xây dựng mối quan hệ chính trị là nền tảng, quan hệ kinh tế là cốt yếu. Củng cố, nuôi dưỡng vững chắc nhận thức chung hai bên về tầm quan trọng chiến lược của mối quan hệ hai nước, coi đây là vấn đề chiến lược sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Tính chất đặc biệt trong quan hệ Việt Nam - Lào được thể hiện ở điểm khác căn bản với các quan hệ đối tác thông thường khác, nó là quan hệ hợp tác toàn diện bao gồm cả chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa... và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn cả quan hệ song phương. Thống nhất nhận thức trong cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt của mối quan hệ, trên cơ sở có tầm nhìn rộng, toàn diện và lâu dài hơn. Tích cực đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác; chủ động lựa chọn các hạng mục có nhu cầu đầu tư và phát triển đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước trên quan điểm tiếp cận tổng thể về lợi ích trong quan hệ hợp tác đặc biệt.

Thứ hai, huy động tối đa nguồn lực và hệ thống chính trị của hai nước, tập trung cải thiện, nâng tầm quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật tương xứng với quan hệ chính trị Việt Nam - Lào. Tăng cường và hoàn thiện cơ chế hợp tác, trước hết là tăng cường tính hiệu quả của cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Kết hợp thế mạnh của mỗi nước tạo thành thế mạnh chung trên cơ sở tranh thủ các yếu tố quốc tế thuận lợi về vốn, kỹ thuật, thị trường. Tập trung rà soát lại tổng thể cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức thực hiện để bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước; đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra.

Thứ ba, tăng cường hợp tác toàn diện theo hướng hai nước phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hơn trong các chương trình, dự án hợp tác giữa hai nước với khu vực và hợp tác đa phương khác trên cơ sở tôn trọng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của nhau để tận dụng các mối quan hệ này phục vụ lợi ích cho cả hai bên, bảo vệ tối đa lợi ích quốc gia của từng nước và hai nước, đặc biệt là trong các cơ chế hợp tác mà hai nước cùng tham gia, như Liên hợp quốc, ASEAN; các cơ chế hợp tác tiểu vùng; các vấn đề an ninh phi truyền thống, mà cả hai sẽ cùng phải đối mặt. Chủ động tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại quan trọng hoặc tham khảo lẫn nhau về lập trường, quan điểm tại các diễn đàn quốc tế mà cả hai nước cùng tham gia. Qua đó, giúp hai bên có đủ khả năng ứng phó với các chuyển biến của tình hình quốc tế, khu vực, từ đó, có thể giúp hai nước bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia của từng nước và lợi ích chung của hai nước.    

Thứ tư, coi trọng việc cân bằng giữa các lợi ích cốt lõi về chính trị, an ninh, kinh tế của từng nước và của hai nước dưới tác động từ các nhân tố bên trong và bên ngoài. Trong suốt quá trình lịch sử, mối quan hệ Việt Nam - Lào trở nên gắn bó trước hết là vì lợi ích thiết thân của hai nước. Ngày nay, bối cảnh khu vực và thế giới đã hoàn toàn thay đổi; theo đó, các nước lớn và nhỏ đều có lợi ích riêng khi theo đuổi các mối quan hệ quốc tế. Trong số các lợi ích riêng đó, có những lợi ích cốt lõi mà các nước rất khó từ bỏ khi phải đối mặt với các sức ép từ bên ngoài. Do đó, hai nước cần xác định rõ những vấn đề hai bên có lợi ích “không trùng hợp” hoặc “không hoàn toàn trùng hợp” để có “quy tắc ứng xử” phù hợp theo hướng tôn trọng lợi ích của nhau, tôn trọng luật pháp và tập quán quốc tế; tiếp tục tranh thủ và phát huy hiệu quả các cơ chế, các kênh hợp tác và phương châm hợp tác “giúp bạn là tự mình giúp mình” của hai nước.

Trong hơn 60 năm qua, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen, song có thể khẳng định, quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào đã không ngừng phát triển vững chắc, ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả. Những bài học lịch sử của mối quan hệ mẫu mực Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; những tư tưởng chỉ đạo và nội dung hợp tác nêu trong bản Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác vẫn vẹn nguyên giá trị và là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt tiến trình phát triển của mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Đối với nhân dân hai nước, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được coi là lẽ sống, là tình nghĩa trước sau như một, dù khó khăn, gian nan đến mấy cũng không thể chia tách. Mối quan hệ đặc biệt hiếm có Việt Nam - Lào đang tiếp tục được vun đắp trên cơ sở vì lợi ích và mục tiêu chung của hai quốc gia, với tinh thần quốc tế trong sáng, đưa cách mạng hai nước từng bước vượt qua những thử thách, chông gai và là hành trang quý giá, là cơ sở vững chắc để các thế hệ hai nước hiện nay và mai sau tiếp tục phát huy tình đoàn kết, xây dựng mối quan hệ bình đẳng, tự chủ, hữu nghị, hợp tác giữa hai nước “mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”./.


NHỮNG YẾU TỐ LÀM NÊN GIÁ TRỊ QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM

Nối tiếp truyền thống của Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - biểu tượng của mối quan hệ vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước trong thời kỳ cùng kề vai sát cánh đấu tranh chống ách thống trị và xâm lược của thực dân, đế quốc, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày nay tiếp tục được xây dựng, phát triển trên nền tảng cùng chung ý thức hệ cũng như mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cả ở Việt Nam và Lào đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Marxist - Leninist, có cội nguồn chung là Đảng Cộng sản Đông Dương. Hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Lào vẫn luôn duy trì mối quan hệ gắn bó mật thiết, hết lòng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước dù tình hình mỗi nước hay bối cảnh quốc tế, khu vực, cũng như các mối quan hệ quốc tế của mỗi bên có nhiều thay đổi.

Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam và Lào có chung hoàn cảnh, gần gũi về địa lý và điều kiện tự nhiên, có chung mục tiêu phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nếu không có sự nhất trí về quan điểm, tư tưởng, đường lối chiến lược thì hai nước khó có thể xây dựng được mối quan hệ truyền thống, hữu nghị, đoàn kết, thủy chung, sắt son, hiếm có như hiện nay. Hai nước cùng có chung mục đích, lý tưởng theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; có chế độ chính trị và nhà nước tương đồng, đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi năm, Việt Nam dành cho Lào từ 600 đến 700 suất học bổng đào tạo ngắn hạn và dài hạn. Hiện nay, có khoảng hơn 14.000 sinh viên Lào đang theo học tại các cơ sở giáo dục Việt Nam và 250 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Lào. Đây là những nhân tố quan trọng đóng góp vào sự nghiệp phát triển của mỗi nước và là cầu nối không thể thiếu trong việc duy trì, tăng cường hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp sẵn có giữa hai Đảng và nhân dân hai nước. Bên cạnh công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Việt Nam còn giúp đỡ Lào trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hệ thống trường học với tổng mức đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đồng bằng nguồn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam.

Từ khi hai nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986), mục tiêu hàng đầu của cả hai nước là tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Hai nước xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân” dưới sự lãnh đạo của một chính đảng duy nhất. Sự tương đồng giữa hai Đảng, hai bộ máy nhà nước và lý tưởng chung xã hội chủ nghĩa là điều kiện quan trọng tạo nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX của hai dân tộc Việt Nam - Lào, sự nhất trí về quan điểm, tư tưởng, đường lối chiến lược đã giúp hai nước xây dựng Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào. Chiến lược phối hợp tác chiến hiệu quả chỉ có thể nảy sinh từ một đường lối chính trị có sự nhất trí cao về quan điểm và lợi ích chân chính. “Về mặt đường lối, mối quan hệ cùng chung một dòng máu chính trị, là tài sản quý báu nhất của hai Đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc, là một yếu tố quan trọng quyết định đến thắng lợi của cách mạng hai nước trong quá trình chiến đấu trường kỳ gian nan vất vả”. Như vậy, sự tương đồng về ý thức hệ cũng như mục tiêu phát triển đất nước của mỗi bên đang là nhân tố cơ bản tác động đến mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Việt Nam và Lào đều đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trước đây không chỉ tác động đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam và Lào, mà còn gây ra những ảnh hưởng nhất định về mặt an ninh chính trị, tư tưởng của mỗi nước. Bên cạnh việc đoàn kết, kề vai sát cánh cùng xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đổi mới đất nước, cả hai nước còn phối hợp, ủng hộ lẫn nhau trong hợp tác đa phương. Đặc biệt là cùng nhau giải quyết, xây dựng bán đảo Đông Dương hữu nghị, đoàn kết và phát triển; phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn hợp tác khu vực, như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam. Hai nước luôn ủng hộ lập trường của nhau trong nhiều vấn đề được đưa ra thảo luận tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; hỗ trợ đắc lực cho nhau trong việc tổ chức thành công các hội nghị về chính trị, an ninh và quốc phòng trong năm Lào hoặc Việt Nam giữ cương vị Chủ tịch ASEAN; cùng các nước trong ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của khu vực; nỗ lực cùng các nước giải quyết tranh chấp, thúc đẩy tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc cơ bản phù hợp với luật pháp quốc tế.

Nhận thức rõ an ninh của mỗi nước không tồn tại độc lập, mà có sự phụ thuộc lẫn nhau nên cả hai nước đều chú trọng, tăng cường hợp tác chặt chẽ về quốc phòng - an ninh, bởi hợp tác quốc phòng - an ninh Việt Nam - Lào được xây dựng trên cơ sở truyền thống chống giặc ngoại xâm của hai dân tộc từ ngàn xưa và sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phát huy thế mạnh và khả năng của mỗi nước trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Lịch sử đã chứng minh, hai dân tộc Việt Nam - Lào gắn kết với nhau như là một quy luật tự nhiên và sự gắn kết đó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự ổn định về chính trị cũng như sự phát triển của mỗi nước. Hợp tác hiệu quả về quốc phòng - an ninh giữa hai nước sẽ giúp an ninh và sự ổn định chính trị của hai nước được bảo đảm, do vậy, cần có sự hợp tác chặt chẽ, chân thành và tin cậy từ cả hai phía.

Hợp tác kinh tế giữa hai nước cũng được đặc biệt quan tâm, với nội dung, hình thức hợp tác ngày càng được mở rộng, đa dạng và phong phú. Mới đây nhất, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào (tháng 1-2023) của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính, hai bên khẳng định quyết tâm nâng tầm hợp tác kinh tế để tương xứng với tầm vóc của quan hệ đặc biệt giữa hai nước, trong đó trọng tâm là tiếp tục hỗ trợ nhau phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả; nhất trí tăng cường kết nối giữa hai nền kinh tế, cả về hạ tầng cứng và hạ tầng mềm nhằm mở rộng không gian hợp tác và phát triển.

Bên cạnh đó, với vị trí địa lý không giáp biển, Lào rất cần các “cửa ngõ” thông thương ra thế giới. Với hệ thống đường xương cá và hệ thống cảng biển thuận lợi, nhất là việc Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào đầu tư và khai thác cảng Vũng Áng, Việt Nam được xem là “cầu nối” quan trọng để Lào mở rộng sản xuất, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lưu thông hàng hóa... với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng là lý do khiến nhu cầu khai thác vị trí địa - chiến lược của Việt Nam đối với Lào ngày càng trở nên cần thiết. Ngược lại, trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Lào được xem như “cầu nối” để hàng hóa của Việt Nam lưu chuyển sang các nước ASEAN khác thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) nối Việt Nam qua Lào, Thái Lan sang Myanmar... 

Đối với Việt Nam, vị trí địa - chính trị của Lào có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ khu vực biên giới, ngăn chặn những tác động tiêu cực trực tiếp từ phía Tây vào Việt Nam. Thực tế, trong những thập niên cuối thế kỷ XX, các thế lực thù địch, phản động bên ngoài đã lợi dụng địa hình rừng núi giữa hai nước làm căn cứ hoạt động để thâm nhập chống phá Việt Nam. Vì vậy, sự ổn định trong hòa bình và phát triển của Lào, cũng như việc củng cố mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trở thành một trong những yếu tố cấu thành lợi ích thiết thân, chính đáng của Việt Nam. An ninh và ổn định của Lào có ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh, ổn định và phát triển của Việt Nam. Sự ổn định an ninh của Lào là điều kiện quan trọng bảo đảm an ninh của Việt Nam và ngược lại. Do vậy, việc tăng cường hợp tác chặt chẽ luôn là vấn đề sống còn của cả hai quốc gia Việt Nam - Lào.

Có thể thấy, việc tăng cường phát triển quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia giúp Việt Nam và Lào bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc mỗi nước. Do đó, có thể khẳng định, sự tương đồng và lợi ích quốc gia - dân tộc của mỗi nước tác động tích cực đến mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Xây dựng, bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của mối quan hệ hữu nghị, truyền thống, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam vừa xuất phát từ ý muốn chủ quan (hệ tư tưởng và đường lối của đảng cầm quyền), vừa từ thực tế khách quan do sự tồn vong, phát triển của mỗi nước đòi hỏi. Đúng như cố Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Kaysone Phomvihane từng khẳng định: “Mối quan hệ Lào - Việt Nam đã trở thành mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thủy chung mẫu mực, hiếm có”, “củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt đó, bảo vệ tình đoàn kết Lào - Việt như bảo vệ con ngươi của mắt mình”./.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VỀ MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM

Hai nước Việt Nam và Lào có chung đường biên giới dài hơn 2.340km, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, uống chung dòng nước sông Mê Công. Lịch sử đấu tranh và phát triển của nhân dân hai nước đã khiến hai dân tộc Việt Nam và Lào thân thiết, gắn bó với nhau từ bao đời nay. Mối quan hệ keo sơn đó càng được phát triển và đậm nét hơn trong hơn tám thập niên qua, khi nhân dân hai nước cùng tiến hành sự nghiệp cách mạng chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước.

Tuy nhiên, cùng với những diễn biến và thay đổi phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực hiện nay, các thế lực thù địch, phản động liên tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; “phi chính trị hóa” quân đội hai nước, tách sự lãnh đạo của Đảng với quân đội..., từ đó phá hoại và gây chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân, cũng như tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào. Các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; phủ nhận ý nghĩa cao đẹp, nghĩa vụ quốc tế cao cả của quân đội Việt Nam với cách mạng Lào (?!) 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động còn sử dụng những chiêu bài của “cách mạng màu”, như lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, viện trợ kinh tế, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh tâm lý... để can thiệp vào công việc nội bộ của hai nước nhằm chống phá chế độ chính trị và mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, âm mưu hướng lái hai nước đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Lợi dụng việc Việt Nam và Lào mở cửa hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc đường lối cũng như những thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế của hai nước… Họ ra sức lôi kéo, xúi giục, kích động người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên trái phép, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để hình thành tư tưởng ly khai, chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo, tôn giáo, sắc tộc vùng biên giới hai nước…, gây mất trật tự trị an, phá vỡ sự ổn định về chính trị - xã hội hai nước.

Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động đã và đang tập trung khai thác những thách thức từ chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn đối với các vấn đề khu vực, những tác động của các vấn đề an ninh phi truyền thống và một số điểm không “song trùng” lợi ích quốc gia - dân tộc, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo nên sự nghi kỵ lẫn nhau, gây hoang mang dư luận, chia rẽ nội bộ và chống phá tình đoàn kết thủy chung, trong sáng, sắt son, hiếm có giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào./.


Bảo đảm an ninh an toàn thông tin, không để kẻ xấu lợi dụng kích động chống phá.

 Bảo đảm an ninh an toàn thông tin, không để kẻ xấu lợi dụng kích động chống phá.

Đối với cán bộ, đảng viên việc học tập và nâng cao tri thức rất quan trọng, cho nên phải luôn trau dồi kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, phấn đấu học tập, lao động theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên theo dõi và cập nhật các thông tin thời sự, chính trị và xã hội để có được sự nhận thức đúng đắn về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có ý thức tự giác, kỷ luật trong quá trình tiếp xúc lựa chọn xử lý thông tin; chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin, tham gia tích cực đấu tranh chống phao tin, đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu, thất thiệt.

Hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang ráo riết thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là chúng tập trung chống phá trong thời điểm chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân phải luôn nâng cao cảnh giác, nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, thấy được tính chất phức tạp, quyết liệt trong cuộc đấu tranh này để đoàn kết, kiên quyết đánh bại chúng, bảo vệ thành quả cách mạng, nền độc lập, hòa bình để phát triển đất nước.

Chúng ta xác định, đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới; vì vậy, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác này có vai trò đặc biệt quan trọng để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ chính cuộc sống yên bình của toàn dân tộc Việt Nam .

GIẢI PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH SỢ TRÁCH NHIỆM, NÉ TRÁNH TRÁCH NHIỆM

Tình trạng CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm như một căn bệnh đã và đang gây nhiều tác động tiêu cực đối với sự phát triển đất nước. “Thái độ sợ trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên đang là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, dậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời, và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm được nâng cao”. Trước hết, bệnh sợ trách nhiệm làm cho nhiều CBCCVC thụ động trong công việc, đùn đẩy trách nhiệm. Vì vậy, nhiều nhu cầu thiết thực, chính đáng của người dân, doanh nghiệp không được giải quyết kịp thời, dẫn đến sự suy giảm niềm tin đối với bộ máy công quyền. “Người sợ trách nhiệm thường làm việc một cách cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn. Vì luôn luôn lo sợ phải chịu trách nhiệm về những việc sẽ xảy ra, cho nên không muốn cải tiến công tác, không dám mạnh dạn thay đổi những cái không hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ. Vì sợ trách nhiệm mà đi đến bảo thủ”. Đáng lo ngại hơn, bệnh sợ trách nhiệm còn làm cho những khuyết điểm trong thực thi công vụ không được chỉ ra, vì “Người sợ trách nhiệm còn ngại “va chạm” trong quan hệ với các đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả với cấp dưới. Lấy cớ phải có tác phong “thận trọng, chín chắn”, phải “giữ gìn đoàn kết”, các đồng chí đó không thẳng thắn phê bình những người phạm khuyết điểm, không đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, những tư tưởng và việc làm trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước”.

Để phòng, trị có hiệu quả những tác hại nghiêm trọng của căn bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm của một bộ phận CBCCVC, cần chú trọng thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm có một phần nguyên nhân là do hệ thống pháp luật hiện hành còn những bất cập, chồng chéo, thiếu thống nhất, có thể cùng một vấn đề nhưng có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, dễ sai phạm, nên nhiều CBCCVC né tránh việc thực hiện. Vì vậy, cần quan tâm nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật, đặc biệt là các văn bản dưới luật, khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ, dễ hiểu, dễ triển khai thực hiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để CBCCVC tự tin thực thi trách nhiệm công vụ trong chức trách, thẩm quyền của mình.

Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể trong hoạt động công vụ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Hiện nay còn có những cơ quan, đơn vị vì phân công không rõ ràng, quy định không rành mạch về trách nhiệm và quyền hạn của từng người cho nên không thể đánh giá đúng ai làm tốt, ai làm không tốt; khi xảy ra việc làm sai gây tổn hại cho Đảng và Nhà nước thì chỉ có thể kiểm điểm tập thể chung chung, không biết quy trách nhiệm cụ thể về ai”. Do đó, cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương một người có thể làm nhiều việc nhưng công việc nào cũng phải có người phụ trách, quy định và phân biệt rạch ròi trách nhiệm cá nhân và tập thể, tránh trường hợp “tranh công đổ lỗi”, khi thành công thì nhận thành tích cá nhân, khi thất bại, kém hiệu quả lại đổ lỗi cho tập thể. Đặc biệt, cần có những quy định xác định rõ trách nhiệm cá nhân không chỉ khi thực hiện sai quy định pháp luật mà còn cả khi không thực hiện đầy đủ theo thẩm quyền được giao, để công việc bị chậm trễ. Khi trách nhiệm cá nhân trong hoạt động công vụ rõ ràng sẽ hạn chế được tình trạng CBCCVC không dám làm, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.

Thứ ba, phát huy dân chủ trong thực thi công vụ. Tình trạng cấp trên bao biện, không chú ý lắng nghe ý kiến và trao quyền cho cấp dưới đã và đang xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, tạo ra một đội ngũ CBCCVC thụ động, không dám làm, không dám quyết định và né tránh trách nhiệm. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Có những cán bộ cấp trên không tôn trọng chức trách, quyền hạn của cấp dưới, đã không chú ý đề cao, phát huy tính chủ động sáng tạo của cán bộ cấp dưới, rồi tự cho mình là đi sâu đi sát, là có tác phong cụ thể. Cách làm việc như vậy thường khiến cho những cán bộ vốn ỷ lại, thụ động dễ dàng lẩn tránh trách nhiệm. Cũng có trường hợp người lãnh đạo ở cấp trên không khách quan lắng nghe ý kiến của cán bộ cấp dưới, chỉ muốn nghe những lời khen và đồng tình với mình, không thích những cán bộ có ý kiến trái với mình, cho nên không cổ vũ, khuyến khích cán bộ cấp dưới độc lập suy nghĩ, chủ động sáng tạo trong công việc và thẳng thắn phát biểu, đề đạt ý kiến. Thái độ đó của cấp trên thực tế là ủng hộ những cán bộ sợ trách nhiệm, những người “chỉ làm những việc mà người ta bảo làm”. Do đó, phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trao quyền nhiều hơn cho cơ quan cấp dưới, cán bộ cấp dưới để họ có quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đồng thời, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có phong cách lãnh đạo và làm việc dân chủ, luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến của cấp dưới, khuyến khích cấp dưới phát biểu, đối thoại, đề ra sáng kiến, kể cả trái với quan điểm của mình, từ đó sẽ tạo ra một đội ngũ CBCCVC dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ làm rõ nguyên nhân khách quan, bên ngoài của căn bệnh CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm như thể chế, pháp luật…, mà còn nêu ra nguyên nhân chủ quan, bên trong. “Nguồn gốc chủ yếu của bệnh sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân. Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo “bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh,… không dám đương đầu trước khó khăn, không dám nghĩ, không dám làm, chỉ tránh khó ngại phiền”. Do đó, để trị tận gốc căn bệnh này, phải đổi mới toàn diện công tác cán bộ, trước hết là phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi đã một lòng, một dạ vì đất nước, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, lý tưởng phấn đấu thì họ sẽ không ngại đương đầu với khó khăn, thử thách, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để thực hiện mục tiêu, lý tưởng mà mình đã lựa chọn. Từ đó, bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm sẽ khó có đất để tồn tại.

Cùng với công tác đào tạo, bồi dưỡng, cần chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đánh giá CBCCVC theo hướng bổ sung tiêu chí cụ thể đối với những CBCCVC dám nghĩ, dám làm, có nhiều đổi mới, sáng kiến được tập thể, lãnh đạo cơ quan, đơn vị công nhận, đánh giá tốt, là tấm gương để những cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm thay đổi thái độ, tinh thần trách nhiệm trong công việc. Gắn việc đánh giá với công tác khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, thay thế, điều động, luân chuyển CBCCVC. Những cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao trong thực thi công vụ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tinh thần đổi mới, sáng tạo cần được đánh giá khách quan, khen thưởng kịp thời, được đề bạt, bổ nhiệm lên vị trí cao hơn. Ngược lại, những cán bộ làm việc cầm chừng, cố tình đùn đẩy, né tránh trách nhiệm cần có hình thức xử lý thích hợp, thậm chí điều chuyển hoặc truy cứu trách nhiệm chính trị, pháp lý, kỷ luật, thay thế kịp thời. Nâng cao chất lượng của công tác cán bộ ở tất cả các khâu, các quy trình là giải pháp vừa cấp bách trước mắt, vừa căn cơ lâu dài để phòng, trị căn bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.

Để khắc phục tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, cần vừa đấu tranh với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng hạn chế này để chống phá Đảng và Nhà nước ta, vừa phải quyết liệt đấu tranh với chính những tiêu cực, hạn chế từ trong nội bộ đội ngũ CBCCVC của Đảng và hệ thống chính trị. Ngăn chặn, hạn chế tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là yêu cầu cấp thiết để thực hiện thành công chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ “7 dám” (dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách; dám hành động vì lợi ích chung), mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG TÌNH TRẠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC SỢ TRÁCH NHIỆM, NÉ TRÁNH TRÁCH NHIỆM ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

Trách nhiệm của CBCCVC là thực hiện đúng, đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó để phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của Đảng. Thời gian qua, nhiều địa phương, đơn vị xuất hiện tình trạng một bộ phận CBCCVC không thực hiện hoặc chậm trễ trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình, làm ảnh hưởng đến lợi ích của người dân, doanh nghiệp, địa phương, đất nước. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã tung ra luận điệu xuyên tạc để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng và Nhà nước ta, vì thế, cần vạch rõ bản chất của âm mưu, thủ đoạn đen tối này để có giải pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.

Thứ nhất, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm không phải mới có mà đã tồn tại từ lâu, mang tính bản chất của chế độ ta, từ đó, quy chụp bộ máy nhà nước ta biến chất, cần phải xây dựng một bộ máy nhà nước khác (?!).

Sự thật là, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả hoạt động của Nhà nước đều nhằm mục đích bảo đảm cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Với mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó, hàng triệu đảng viên và CBCCVC trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước các cấp không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thậm chí có người đã hy sinh cả tính mạng của mình vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, của Đảng. “Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều cố gắng chăm lo đời sống nhân dân. Đảng luôn luôn coi việc bảo đảm và cải thiện đời sống nhân dân là trách nhiệm to lớn thường xuyên của mình”. Nhưng, bên cạnh những CBCCVC luôn giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng, cũng có một bộ phận CBCCVC thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngại khó, ngại khổ, sợ trách nhiệm, nên không dám làm mà né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà lấy hiện tượng để đánh giá bản chất, khi cho rằng CBCCVC trong hệ thống chính trị của chúng ta đều xấu, rằng “cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là bản chất” của nhà nước ta, bởi như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “nếu xấu như vậy thì tại sao những năm qua chúng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn mà cả thế giới thừa nhận, vị thế nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao?”. Đảng ta sẵn sàng nhìn nhận một cách khách quan, bên cạnh những thành tựu trong công tác xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên, CBCCVC, thời gian qua, vẫn còn một bộ phận đảng viên, CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm và đặt ra yêu cầu phải đấu tranh không khoan nhượng với những hạn chế, khuyết điểm đó. “Chiến đấu ở đây không phải chỉ hiểu đơn thuần là chiến đấu với kẻ thù, mà chiến đấu với tình trạng trì trệ, không phát triển; chiến đấu với việc làm sai trái; chiến đấu với chính bản thân mình để vượt lên những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; chiến đấu chống lại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch”.

Thứ hai, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là do chế độ một đảng lãnh đạo.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, do ở Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo nên quyền lực chính trị tập trung, hạn chế sự sáng tạo của các cá nhân, dẫn đến nhiều CBCCVC thụ động, không dám có sáng kiến, coi “ý đảng” đứng trên pháp luật. Từ đó, các thế lực thù địch cho rằng, cần thực hiện đa nguyên, đa đảng, để quyền lực không còn tập trung, để có pháp luật bảo vệ (?!)

Sự thật là, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Do đó, không có chuyện Đảng đứng trên pháp luật hay không theo pháp luật để lãnh đạo đất nước; nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước bảo đảm tính thống nhất, không mâu thuẫn với nhau, bởi pháp luật chính là sự thể chế hoá chủ trương, đường lối, quan điểm được thể hiện trong nghị quyết của Đảng và nghị quyết của Đảng cũng không thể trái pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không can thiệp vào công việc cụ thể của Nhà nước mà chỉ định hướng hoạt động thông qua nghị quyết, đường lối của Đảng; thông qua tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; thông qua đội ngũ đảng viên trong bộ máy nhà nước, thông qua công tác kiểm tra, giám sát và sự gương mẫu của đảng viên. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tổ chức quyền lực theo nguyên tắc phân công quyền lực, nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kế thừa những nhân tố hợp lý của mô hình nhà nước pháp quyền của nhân loại với mục tiêu bảo đảm cho pháp luật trở thành tối thượng, được thực thi trên thực tế. Điều đó thể hiện ở việc Đảng ta chỉ đạo thể chế hóa tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, quyền lực nhà nước vẫn bảo đảm được vận hành hiệu quả “trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”. Ở Việt Nam, dù một đảng lãnh đạo, dù chúng ta không thực hiện tam quyền phân lập, song vẫn bảo đảm Hiến pháp là tối thượng thông qua nguyên tắc pháp quyền. Không có cá nhân, tổ chức nào hoạt động đứng ngoài hay đứng trên pháp luật. Pháp luật ở nước ta đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của CBCCVC trong hoạt động công vụ và đó cũng là cơ sở để xác định rõ trách nhiệm của CBCCVC. Vì vậy, để khắc phục tình trạng CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, vấn đề cốt yếu không phải là “thay đổi thể chế chính trị” như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc, mà chính là cần phải hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, gắn với xây dựng một hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán.

Thứ ba, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng, cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là do đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quá quyết liệt.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ nhằm “đấu đá nội bộ, triệt phe cánh đối lập”; do Đảng ta xử lý kỷ luật mạnh tay những đảng viên, CBCCVC tham nhũng, tiêu cực, cả những cán bộ đã nghỉ hưu, lật lại những vụ tham nhũng, tiêu cực cách đây nhiều năm, nên nhiều CBCCVC sợ trách nhiệm vì mang tâm lý “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm thì không sai”, né tránh trách nhiệm để bảo đảm “an toàn”(?!).

Phát biểu tại Phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 20-1-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu phải: “Chấn chỉnh, đấu tranh đẩy lùi, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng sẽ “làm chậm sự phát triển”, làm “hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “nhụt chí”, “làm cầm chừng”, “phòng thủ” trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”. Tổng Bí thư khẳng định: “Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh”.

Ngoài ra, thực tế cho thấy, tình trạng sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm có một phần nguyên nhân từ sự yếu kém của một bộ phận CBCCVC do hạn chế về năng lực, về phẩm chất, đạo đức hay đã từng mắc phải sai phạm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, nay sợ bị phát hiện và bị xử lý, nên không dám làm hoặc làm “cầm chừng”, “đối phó”, né tránh trách nhiệm để mong được “an toàn”. Cần nhận thức rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo, với phương châm “kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt thời gian qua là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển đất nước, “chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả góp phần làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, giảm bớt sự nhũng nhiễu của một bộ phận CBCCVC đối với người dân, doanh nghiệp, qua đó, ngày càng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Như vậy, rõ ràng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mang lại nhiều lợi ích, không hề “làm cản trở sự phát triển của đất nước” như các thế lực thù địch xuyên tạc./.


MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG CHIÊU TRÒ "NHÂN DANH NHÂN DÂN" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Những chiêu trò trên cho thấy, nhiều đối tượng đã lấy “nhân dân” làm tấm bình phong, lợi dụng “nhân dân” để tiến hành các hành vi xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm thực hiện các âm mưu, thủ đoạn thâm độc phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng cố ý không tôn trọng thực tế khách quan là chính nhân dân, dân tộc Việt Nam đã lựa chọn con đường đi đúng đắn cho mình; Đảng và Nhà nước Việt Nam là người con do nhân dân Việt Nam sinh ra, nhờ nhân dân mà trưởng thành, vì nhân dân mà phục vụ. Nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất cứ kẻ nào nhân danh mình, thay mình thực hiện sứ mệnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không thể tồn tại một thế lực nào tự cho mình cái quyền “đại diện nhân dân” để đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta có trách nhiệm bảo vệ danh dự, uy tín và lợi ích chính đáng của nhân dân và kiên quyết xử lý nghiêm minh tất cả những kẻ có mưu đồ “nhân danh nhân dân” để chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang dày công gây dựng.

Trong bối cảnh hiện nay, để phòng, chống, đập tan âm mưu, thủ đoạn “nhân danh nhân dân” chống phá Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu:

Một là, quán triệt quan điểm “dân là gốc”; làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước. Kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(12) trên cơ sở đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Kiên quyết đấu tranh loại trừ mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tránh "tạo cớ" để các thế lực thù địch, phản động khai thác, lợi dụng, xuyên tạc bản chất của chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Hai là, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đồng thời, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập của mọi người dân; bảo đảm hài hòa và hợp lý hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước đi, từng chính sách phát triển. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường; tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách để khơi dậy và phát huy tối đa mọi tiềm năng, nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Hiệu quả kinh tế - xã hội chính là thước đo xác thực và thuyết phục nhất lòng tin của người dân đối với chủ thể cầm quyền.

Ba là, chú trọng thực hành văn hóa chính trị, nhất là văn hóa trong Đảng, văn hóa công sở và đạo đức công vụ, văn hóa dân chủ, văn hóa công dân. Đẩy mạnh nghiên cứu, xác định và xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào về truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực, mọi quan hệ của đời sống xã hội, thực sự trở thành động lực, là nguồn lực nội sinh và nền tảng cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Bốn là, việc giải quyết và xử lý hiện tượng “nhân danh nhân dân” để chống phá Đảng và Nhà nước cần dựa trên các nguyên tắc về nhân dân của Đảng, trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân. Đó là cơ sở để nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt thật của những đối tượng “nhân danh nhân dân”, núp dưới “chiêu bài nhân dân” để thực hiện những hành vi, mưu đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đối với những cá nhân, tổ chức "nhân danh nhân dân" để đi ngược lại ý chí chung của toàn Đảng, toàn dân, đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc thì Nhà nước cần kiên quyết xử lý nghiêm trên cơ sở thượng tôn pháp luật, nhằm phòng, chống, ngăn chặn, loại trừ có hiệu quả tất cả những âm mưu chống phá thâm độc./.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò, vị trí chính trị của nhân dân

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhân dân là cộng đồng xã hội nhất định được gắn kết bởi lợi ích chung, là quần chúng đông đảo những người bị trị so với thiểu số giai cấp thống trị. Theo V.I. Lê-nin, “quần chúng là đa số, và hơn thế nữa, chẳng những chỉ là đa số công nhân, mà là đa số tất cả những người bị bóc lột”. Nhấn mạnh tính giai cấp khi đề cập đến khái niệm “nhân dân”, V.I. Lê-nin khẳng định: “Khi dùng danh từ nhân dân, Mác không thông qua danh từ ấy xóa mờ tất cả sự khác biệt về giai cấp…”. Xét theo quan điểm đó, động lực cách mạng chính là nhân dân, với nghĩa là cộng đồng người thuộc về giai cấp bị áp bức, bóc lột và cần phải được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột. Nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần, đồng thời là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.

Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nhân dân, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nội hàm “nhân dân” được Người nhấn mạnh tính dân tộc khi định nghĩa: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác”. Đó là tập hợp gắn kết đa số người khác nhau về dân tộc, tôn giáo, giới tính, giai tầng, địa vị… trong xã hội, song thống nhất thành một cộng đồng chung là toàn thể dân tộc Việt Nam. Người khẳng định địa vị chính trị của nhân dân: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” và nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân trong thực hiện sứ mệnh cách mạng: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”. Để phát huy sức mạnh vĩ đại của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của Đảng với tư cách là người tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình: “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận. Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi”, và “Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo”.

Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định rõ vai trò và địa vị chính trị của nhân dân, luôn quán triệt quan điểm dân là gốc của nước, là cơ sở của mọi thắng lợi, là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Khẳng định và đề cao “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, trải qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát huy tối đa tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ địa vị pháp lý của nhân dân: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”; “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, và hiến định: “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”.

Chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đã thể hiện đầy đủ các đặc điểm của phạm trù “nhân dân”: Nhân dân Việt Nam là người Việt Nam, xét về cả phương diện pháp lý và văn hóa xã hội là một chủ thể thống nhất của 54 tộc người, bao gồm người Việt Nam đang sống trên đất nước Việt Nam và ở nước ngoài; Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam làm người lãnh đạo trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhân dân Việt Nam là những người Việt Nam yêu nước, cùng chung ý chí xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.


GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG PHẨM CHẤT “DÁM LÀM” Ở ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HIỆN NAY

Xây dựng phẩm chất “dám làm”, “cả gan làm việc” ở đội ngũ cán bộ trong bối cảnh hiện nay không phải là việc làm “một sớm, một chiều”, càng không thể đào tạo, tiến hành một cách cấp tốc mà có được. Bởi vì, đó là quá trình đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, khắc phục từng bước yếu kém và khuyết điểm, tư tưởng giáo điều, bảo thủ hoặc cực đoan, duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm để đi đến cái đúng, cái chân lý. Việc làm này cần vượt qua nhiều rào cản, từ phía chủ quan và khách quan; tuy nhiên, chủ quan vẫn là nhân tố chính. Thực tế cho thấy, ở những điều kiện, hoàn cảnh có tính chất bước ngoặt, quyết định sự thành công hay thất bại của công việc, thì vai trò, sự quyết đoán của người cán bộ, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, là rất quan trọng.

Hiện nay, tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đang đặt ra yêu cầu rất cao và luôn đòi hỏi đội ngũ cán bộ không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ năng lực, tinh thần đổi mới sáng tạo, quyết đoán, để giải quyết, tháo gỡ những vấn đề vướng mắc, phát sinh trong thực tiễn công việc ở cơ quan, đơn vị, địa phương. Có rất nhiều khó khăn, rào cản tạo cho người cán bộ tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, không “dám làm” những việc mình nghĩ, chưa dám bứt phá, tiên phong đi đầu, phá bỏ cái cũ, cái lạc hậu, cái đã ăn sâu vào nếp nghĩ của nhiều người. Một trong những rào cản đó là còn thiếu chính sách, pháp luật cụ thể khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo, dám đột phá, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Bên cạnh đó, còn có rào cản thuộc về nhân tố chủ quan từ chính mỗi cán bộ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ ngại học, ngại rèn luyện, ngại va chạm, chậm đổi mới, không dám sáng tạo, luôn duy trì cách nghĩ cũ, cách làm cũ, tôn sùng kinh nghiệm, ẩn mình vào tập thể, dựa vào tập thể, ỷ lại tập thể. Một số cán bộ có tư tưởng “bình quân chủ nghĩa”; thậm chí, có những công việc cơ quan, đơn vị, địa phương giao cho thì không biết làm như thế nào, không biết triển khai từ đâu, không biết tham khảo xin ý kiến như thế nào..., nên không dám nhận, viện mọi lý do để né tránh, đùn đẩy, thoái thác nhiệm vụ.

Để xóa bỏ những rào cản trên và tiếp tục đẩy mạnh xây dựng phẩm chất “dám làm” ở đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, trước hết tự bản thân mỗi cán bộ cần luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, không dao động trước khó khăn, kiên định với mục tiêu lý tưởng, con đường cách mạng của Đảng và dân tộc; có tinh thần cầu tiến bộ, ham học hỏi, không bảo thủ, gia trưởng, luôn lắng nghe ý kiến phê bình, tham mưu, góp ý của quần chúng nhân dân. Tinh thần, thái độ, tác phong làm việc của cán bộ cần thường trực sự đổi mới sáng tạo, quyết đoán, bứt phá; luôn nuôi dưỡng trong mình dũng khí vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Mỗi cán bộ phải có ý thức tích cực tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết, trước hết; nâng cao trình độ, năng lực, phương pháp tác phong công tác gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nói và làm phải thống nhất; đặc biệt, phải vượt qua được trạng thái tâm lý “sợ làm sai”, “sợ bị xử lý trách nhiệm”, “sợ bị gánh hậu quả”, nhất là cán bộ giữ trọng trách ở cơ quan, đơn vị, địa phương.

Cần nghiên cứu, mạnh dạn và đột phá trong việc tạo ra hành lang pháp lý, có chế độ, chính sách đặc biệt để tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho cán bộ “dám làm”, “cả gan làm việc”, đổi mới sáng tạo trong làm việc. Trong điều kiện cho phép, với chức trách, quyền hạn, cần thường xuyên động viên, khuyến khích cán bộ có cách nghĩ, cách làm đổi mới sáng tạo; hỗ trợ nhân lực, vật lực, huy động những điều kiện cần thiết để cán bộ có điều kiện thuận lợi làm việc, đem lại hiệu quả cao, lợi ích cho tập thể, nhân dân.

Cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu, cần thống nhất và tạo sự đồng thuận nhất trí cao trong cơ quan, đơn vị, địa phương về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung(16); từ đó, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng, hết sức phục vụ Đảng, Nhà nước, nhân dân của đội ngũ cán bộ trong bối cảnh mới. Trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, cấp ủy các cấp cần gắn chặt nội dung này với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, kiên quyết chống lại tư tưởng, quan điểm xuyên tạc, hành động sai trái đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc khuyến khích, động viên cán bộ “dám làm”.

Phẩm chất “dám làm” là sự kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ phải “cả gan làm việc” trong điều kiện hiện nay. Đó là một trong những phẩm chất không thể thiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hy sinh vì lợi ích chung, khi được tập hợp, đoàn kết lại trong một tập thể thống nhất chắc chắn sẽ tạo ra sức mạnh, biến thách thức thành cơ hội để đạt tới những mục tiêu tốt đẹp; thể hiện bản chất và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã kiên định lựa chọn./.

TẠO NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, AN NINH HIỆN ĐẠI, TỰ LỰC TỰ CƯỜNG: NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHÌA KHÓA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, AN NINH!

     Hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng (CNQP), an ninh (AN), xây dựng tiềm lực CNQP, AN theo phương châm tự lực, tự cường là phải làm chủ được công nghệ sản xuất quốc phòng, tránh sự lệ thuộc từ bên ngoài. Điều đó chỉ có thể làm được khi có nguồn nhân lực CNQP, AN đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng!

Hiện hữu tình trạng “chảy máu” chất xám
Qua khảo sát cho thấy, tình trạng chung tại nhiều nhà máy CNQP hiện nay là khó tuyển dụng lao động có trình độ tay nghề; lo ngại hơn là vấn đề “chảy máu” lao động có chuyên môn cao, lao động lành nghề.

Chia sẻ về vấn đề này, Thượng tá Nguyễn Hữu Đoan, Phó giám đốc Nhà máy Z173 (Công ty TNHH Một thành viên Đóng tàu Hồng Hà) cho biết, một mặt nhà máy phải đối diện với tình trạng khó tuyển dụng lao động tay nghề cao, do hiện nay tại Hải Phòng có rất nhiều khu công nghiệp, người lao động có nhiều lựa chọn về việc làm. Trước đây, toàn nhà máy luôn có khoảng 60% nhân lực là đoàn viên, thanh niên, nhưng hiện nay, con số này chỉ là 6%. Điều đó cho thấy, nhà máy rất khó tuyển dụng lao động trẻ, đang thiếu lực lượng kế cận. Mặt khác, nhà máy đã có tình trạng người lao động tay nghề cao, gắn bó lâu năm, nhưng cũng xin chuyển việc ra ngoài. Một phần là do thu nhập chưa đáp ứng được kỳ vọng của họ, nhưng điều quan trọng nhất là họ đã có thời gian cống hiến lâu năm mà không được tuyển dụng trở thành công nhân, viên chức quốc phòng. “Mỗi năm chỉ tiêu tuyển dụng công chức quốc phòng của nhà máy chỉ từ 3 tới 5. Đúng là như “muối bỏ bể” so với nhu cầu của người lao động”, Thượng tá Nguyễn Hữu Đoan chia sẻ.

Khó tuyển dụng và giữ chân người lao động có tay nghề cao cũng là tình trạng tương tự tại Nhà máy Z129 (Công ty TNHH MTV Cơ khí chính xác 29). Đại tá Nguyễn Phi Trường, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Cơ khí chính xác 29 cho biết, thu nhập bình quân của người lao động trong nhà máy luôn thuộc tốp cao của Tổng cục CNQP. Năm 2023, thu nhập bình quân của người lao động là 23 triệu đồng/người/tháng. Tuy nhiên, việc thu hút lao động có trình độ vẫn rất khó. Đại tá Nguyễn Phi Trường đã từng ngỏ lời mời một kỹ sư hóa học vừa tốt nghiệp đại học về làm việc tại nhà máy, kèm theo nhiều chế độ ưu đãi về nhà ở, tăng tiền phụ cấp... nhưng đã bị từ chối. Lý do được chàng kỹ sư đưa ra là cơ chế tiền lương không đủ hấp dẫn, bởi có doanh nghiệp ngoài đã sẵn sàng trả mức lương khởi điểm là 60 triệu đồng/tháng để kỹ sư này về làm việc.

Còn tại Nhà máy Z111 (Công ty TNHH MTV Cơ khí chính xác 11), Thượng tá Trần Văn Biên, Chủ nhiệm Chính trị Nhà máy Z111 bày tỏ nỗi khổ tâm khi phải chứng kiến nhiều người lao động đã gắn bó cả đời ở nhà máy nhưng khi về hưu vẫn chưa hoàn thành ước mơ trở thành công nhân, viên chức quốc phòng, cao hơn nữa là được chuyển quân nhân chuyên nghiệp, được chính thức mặc trên mình bộ quân phục, một biểu tượng tự hào, hãnh diện của những người yêu Quân đội, yêu đất nước, sẵn sàng hy sinh phần lợi ích riêng, bởi nhà máy có hàng nghìn công nhân nhưng mỗi năm chỉ tiêu biên chế vào công nhân, viên chức quốc phòng chỉ được 5-7 trường hợp.

Chia sẻ của lãnh đạo, chỉ huy tại các nhà máy CNQP cũng cho thấy, hiện nay, các nhà máy đều mong muốn tuyển dụng thêm lao động được đào tạo từ các trường đại học uy tín. Nhiều người cũng đã đồng ý về làm việc, tuy nhiên, do không được đào tạo từ các trường trong Quân đội nên họ phải trải qua thời gian thực hiện thủ tục rất dài, bắt đầu từ việc ký hợp đồng lao động theo năm tới ký hợp đồng lao động dài hạn, sau đó mới chuyển công nhân, viên chức quốc phòng, rồi chuyển quân nhân chuyên nghiệp... 

Tạo đột phá về cơ chế tuyển dụng và chính sách ưu đãi
Đề nghị giao bổ sung biên chế là nỗi trăn trở lớn nhất của tất cả lãnh đạo, chỉ huy các công ty, nhà máy mà chúng tôi đến khảo sát thực tế. Đại tá Chu Việt Sơn, Giám đốc Nhà máy Z121 (Công ty TNHH Một thành viên Hóa chất 21) chia sẻ, là đơn vị hạch toán kinh doanh nên lương của cán bộ, sĩ quan, người lao động tại nhà máy được hưởng theo kết quả sản xuất, kinh doanh của đơn vị. Vì thế, nếu được tăng chỉ tiêu tuyển dụng công nhân, viên chức quốc phòng cho nhà máy, gần như không làm ảnh hưởng tới ngân sách Nhà nước. Điều thay đổi lớn nhất liên quan tới chế độ về bảo hiểm y tế (bảo hiểm cho bản thân và bảo hiểm cho người thân), bảo hiểm xã hội, hoặc trong trường hợp không may có rủi ro, người lao động sẽ được bảo đảm theo các chế độ chính sách của Quân đội... Về sâu xa, việc có biên chế sẽ giữ chân được người lao động có trình độ tay nghề cao phục vụ cho CNQP. Bên cạnh chế độ định biên, các doanh nghiệp quốc phòng cũng đều bày tỏ mong muốn có cơ chế đặc thù trong việc chi trả lương, thưởng cho người lao động.

Kỳ vọng dự thảo luật giải quyết những khó khăn trong thực tiễn về chính sách đãi ngộ với nguồn nhân lực phục vụ CNQP, AN, Đại tá Nguyễn Gia Trọng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công ty TNHH Một thành viên 27 (Nhà máy Z127) đánh giá rất cao dự thảo Luật CNQP, AN và ĐVCN, trong đó có quy định về người đại diện theo pháp luật của cơ sở CNQP nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt được thuê và quyết định mức chi trả cho chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư theo thỏa thuận, tương ứng với nhiệm vụ được giao; người đứng đầu cơ sở CNQP nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt được sử dụng kinh phí chi thường xuyên giao hằng năm và nguồn thu hợp pháp để thuê chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, người có tài năng đặc biệt thực hiện nhiệm vụ được giao. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các doanh nghiệp thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.

Liên quan tới việc các chính sách thu hút và giữ chân được nguồn nhân lực chất lượng cao, Thiếu tướng Vũ Ngọc Hùng, Phó cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp (Bộ Công an), Ủy viên Ban soạn thảo, Tổ phó Tổ biên tập dự án Luật CNQP, AN và ĐVCN cho biết, trong quá trình xây dựng dự án luật, cơ quan soạn thảo đã xác định một nội dung quan trọng là phải xây dựng được chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho CNQP, AN. Dự thảo luật quy định về chế độ, chính sách đối với người lao động trong cơ sở CNQP nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt, cơ sở công nghiệp động viên. Trong đó, xác định một số chế độ, chính sách đặc biệt, đặc thù, hoàn toàn vượt trội đối với đối tượng là chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư tham gia hoạt động CNQP, AN như được đàm phán và hưởng lương, thưởng, lợi ích từ kết quả công việc theo thỏa thuận, được giao thẩm quyền và trách nhiệm triển khai các chương trình, đề án khoa học và công nghệ, được bảo đảm an ninh, an toàn... Những quy định này hoàn toàn vượt trội so với quy định hiện hành của các luật chuyên ngành, nhằm tạo sức hút đặc biệt cũng như môi trường làm việc thuận lợi nhất để nguồn nhân lực có chất lượng cao tập trung cống hiến, phát triển CNQP, AN.

Động viên công nghiệp - cánh tay nối dài của công nghiệp quốc phòng
Động viên công nghiệp (ĐVCN) là một nhiệm vụ của động viên quốc phòng, huy động một phần hoặc toàn bộ năng lực của doanh nghiệp ngoài lực lượng vũ trang thuộc mọi thành phần kinh tế để sản xuất, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa, tăng hạn sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật cho Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ; sản xuất vật tư kỹ thuật phục vụ quốc phòng. ĐVCN được chuẩn bị và thực hiện từ thời bình, thực hành động viên khi có lệnh động viên cục bộ hoặc tổng động viên và trong tình trạng chiến tranh. Với vai trò quan trọng như vậy, ĐVCN được xác định là cánh tay nối dài của nền CNQP, là hoạt động hết sức bức thiết cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Để khuyến khích sự tham gia của công nghiệp dân sinh vào lĩnh vực CNQP, dự thảo Luật CNQP, AN và ĐVCN đã tập trung xây dựng cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất nhằm thực hiện tốt việc chuẩn bị và ĐVCN đáp ứng nhu cầu thường xuyên và chiến tranh nếu xảy ra cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Theo ông Trịnh Xuân An, Ủy viên Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, dự thảo Luật CNQP, AN và ĐVCN đã có cách tiếp cận mới, bảo đảm hiệu quả huy động công nghiệp dân sinh. Trong đó, đối với ĐVCN, điểm mới là không mang tính hành chính, hình thức mà có sự phân cấp, phân quyền, trong đó có các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh. Bên cạnh đó, ĐVCN không chỉ hạn hẹp trong lựa chọn một số doanh nghiệp, một số cơ sở sản xuất nhỏ lẻ mà động viên có tính chất liên kết, một chuỗi quá trình từ thời bình đến thời chiến, không chỉ đối với cơ sở đơn giản mà với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có nền tảng. 

Đặc biệt, theo ông Trịnh Xuân An, dự thảo luật đã được xây dựng theo hướng phát triển mạnh các cơ sở ĐVCN nhưng mục đích chính vẫn phải quản lý được các cơ sở theo cách thức hiện đại hơn. Dự thảo luật cũng giao Bộ Quốc phòng xây dựng cơ sở dữ liệu về đăng ký, quản lý doanh nghiệp đủ điều kiện ĐVCN, khi có yêu cầu có thể động viên được ngay một cách hiệu quả. “Phải quản lý được hệ thống ĐVCN thông qua cơ chế chính sách như đặt hàng sản phẩm để doanh nghiệp thực hiện, từ đó tạo nguồn lực và theo dõi được năng lực của doanh nghiệp. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính trong ĐVCN”, ông Trịnh Xuân An nhấn mạnh.

Đánh giá các quy định về ĐVCN trong dự thảo luật, Đại tá Nguyễn Gia Trọng cho biết, dự thảo luật đã mở rộng đối tượng ĐVCN cho tất cả thành phần kinh tế. Như vậy, cơ chế hiện nay tương đối mở để khi có chiến tranh xảy ra các đơn vị ĐVCN đều có khả năng tham gia.

Hiện nay, Dự thảo Luật CNQP, AN và ĐVCN đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp thu ý kiến đóng góp, chỉnh lý, sửa đổi, cập nhật phù hợp với nhu cầu phát triển ngành CNQP và AN theo xu thế mới, phát huy được vai trò, chức năng, nhiệm vụ trong việc bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân. Các đơn vị CNQP, AN kỳ vọng Quốc hội sớm thông qua dự án luật, với mục tiêu cao nhất là xây dựng tiềm lực CNQP, AN chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại./.
Ảnh: Kiểm tra sản phẩm tại Nhà máy Z111.


Ảnh: Hoạt động sản xuất tại Nhà máy Z121.
Yêu nước ST.

Bảo đảm quyền dân tộc gắn với bảo đảm dân chủ, dân quyền


      Hiện nay, việc bảo đảm quyền dân tộc gắn với bảo đảm dân chủ, dân quyền đứng trước yêu cầu phải nắm bắt, điều tiết được những thách thức mới đang đặt ra ngày càng lớn khi vấn đề nhân quyền được đề cập ngày càng nhiều hơn thay vì chỉ được giới hạn trong quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như trước đây. Do đó, để bảo đảm quyền dân tộc phải “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân” Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân nhằm thúc đẩy bảo đảm dân chủ, dân quyền và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.