Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, nhân dân là cộng đồng xã hội nhất định được gắn kết bởi lợi ích chung,
là quần chúng đông đảo những người bị trị so với thiểu số giai cấp thống trị.
Theo V.I. Lê-nin, “quần chúng là đa số, và hơn thế nữa, chẳng những chỉ là đa
số công nhân, mà là đa số tất cả những người bị bóc lột”. Nhấn mạnh tính giai cấp khi đề cập đến khái niệm “nhân
dân”, V.I. Lê-nin khẳng định: “Khi dùng danh từ nhân dân, Mác không thông qua
danh từ ấy xóa mờ tất cả sự khác biệt về giai cấp…”. Xét theo quan điểm đó, động lực cách mạng chính là nhân
dân, với nghĩa là cộng đồng người thuộc về giai cấp bị áp bức, bóc lột và cần
phải được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột. Nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch
sử, sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần, đồng thời là
lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin về nhân dân, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nội hàm “nhân dân”
được Người nhấn mạnh tính dân tộc khi định nghĩa: “Nhân dân là bốn giai cấp
công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác”. Đó là tập hợp gắn kết đa số người khác nhau về dân tộc,
tôn giáo, giới tính, giai tầng, địa vị… trong xã hội, song thống nhất thành một
cộng đồng chung là toàn thể dân tộc Việt Nam. Người khẳng định địa vị chính trị
của nhân dân: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là
chủ” và nhấn mạnh vai trò đặc biệt
quan trọng của nhân dân trong thực hiện sứ mệnh cách mạng: “Dân chúng đồng
lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không
nên”. Để phát huy sức mạnh vĩ đại của nhân
dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của Đảng với tư cách là
người tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình: “Lực lượng
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận.
Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi”, và “Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng
lãnh đạo”.
Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành và lãnh
đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định rõ vai trò và địa vị chính
trị của nhân dân, luôn quán triệt quan điểm dân là gốc của nước, là cơ sở của
mọi thắng lợi, là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần; cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Khẳng định và đề cao “vai trò chủ thể, vị
trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ
quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”,
trải qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt trong gần 40 năm tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách
nhằm phát huy tối đa tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của
nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị. Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ địa vị pháp lý của
nhân dân: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc
tịch Việt Nam”; “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức”, và hiến định: “Công dân có nghĩa vụ
trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”.
Chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp
luật của Nhà nước đã thể hiện đầy đủ các đặc điểm của phạm trù “nhân dân”: Nhân dân Việt Nam là người Việt Nam, xét về cả phương diện pháp lý và văn hóa
xã hội là một chủ thể thống nhất của 54 tộc người, bao gồm người Việt Nam đang
sống trên đất nước Việt Nam và ở nước ngoài; Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn
Đảng Cộng sản Việt Nam làm người lãnh đạo trong cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhân
dân Việt Nam là những người Việt Nam yêu nước, cùng chung ý chí xây dựng, bảo
vệ, phát triển đất nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét