Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô.

 TPO - Triển lãm “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” giới thiệu hơn 150 hình ảnh, tài liệu, bản trích được chia thành hai phần. Phần một "Hồ Chí Minh - Cả một đời vì nước vì dân" và phần hai "Bác Hồ với Hà Nội, Hà Nội với Bác Hồ". 

với Bác Hồ". 
Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 1Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 2
Triển lãm Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người được tổ chức đúng dịp kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2024). Triển lãm được Trung tâm Thông tin Triển lãm Hà Nội tổ chức, khai mạc sáng 20/5. Ảnh: Phạm Hùng.
Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 3
Triển lãm trưng bày giới thiệu hơn 150 hình ảnh, tài liệu, bản trích được chia theo bố cục hai phần: Hồ Chí Minh - Cả một đời vì nước vì dân và Bác Hồ với Hà Nội, Hà Nội với Bác Hồ.
Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 4
Ông Trần Văn Hà - Giám đốc Trung tâm Thông tin Triển lãm Hà Nội - khẳng định với nhiều hình ảnh, hiện vật, tư liệu quý được trưng bày, triển lãm giúp công chúng hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cảm nhận rõ hơn về những tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội và sự trân trọng, lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Thủ đô, nhân dân Việt Nam với Bác.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 5

Với Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện mối quan tâm sâu sắc giàu tình nhân ái và những mong muốn thiết tha. Người xác định vị trí “đầu tàu”, “gương mẫu” của nơi mà “Cả nước nhìn về Thủ đô".

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 6

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy xe lửa Gia Lâm (Hà Nội) được chụp vào tháng 5/1955. Khi ấy, Người căn dặn muốn thi đua có kết quả, mọi người phải biết đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 7

Ngày 19/5/1956, Bác Hồ gặp gỡ các đại biểu học sinh trường Trung học Trưng Vương. Những nữ sinh trong ảnh đều trở thành trí thức có nhiều đóng góp cho đất nước sau này, là giáo viên, kỹ sư hóa học, kỹ sư nông nghiệp,...

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 8

Một số tài liệu ghi chép quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 9

Năm 1956, đại biểu công nhân các xí nghiệp quốc doanh và tư doanh ở Hà Nội vinh dự đón Bác về thăm.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 10

Người ghé thăm, trò chuyện với học sinh Trường Nghệ thuật sân khấu T.Ư ở khu văn công Mai Dịch, tháng 11/1961.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 11

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các vận động viên thể dục thể thao có thành tích cao tại Hà Nội, cuối năm 1966.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 12

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thử máy cấy lúa cải tiến tại trại thí nghiệm trồng lúa (Sở Nông lâm Hà Nội) vào năm 1960. Người nhận định nông nghiệp là nền tảng để phát triển công nghiệp, nông nghiệp phát triển giúp các lĩnh vực khác của đời sống xã hội phát triển, “nông dân đủ ăn đủ mặc, tăng gia sản xuất được nhiều, thì nông nghiệp sẽ phát triển".

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 13

Triển lãm cũng giới thiệu một số hình ảnh của Bác khi ở chiến khu Việt Bắc.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 14

Thư chúc Tết cuối cùng của Người, viết vào mùa xuân năm 1969.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 15

Thủ đô Hà Nội là một trong những địa điểm được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn sống và làm việc lâu nhất. Hà Nội cũng là địa điểm ghi dấu những cột mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của vị lãnh tụ kính yêu. Tại đây, Người đã soạn thảo nhiều văn bản, quyết sách quan trọng liên quan vận mệnh của cả dân tộc. Đó là bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước với câu nói đã trở thành chân lý của thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do", và bản di chúc - tài sản vô giá của Người để lại trong kho tàng văn hóa của dân tộc.

Hình ảnh đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với quân dân Thủ đô ảnh 16
Triển lãm mở cửa đến ngày 22/5, tại Nhà triển lãm 45 Tràng Tiền, Hà Nội.

Chủ động nắm và giải quyết tốt tư tưởng

 

Ngay sau khi tiếp nhận chiến sĩ mới (CSM), cấp ủy, chỉ huy các cấp ở Sư đoàn 365, Quân chủng Phòng không-Không quân đã chủ động nắm và giải quyết tốt tư tưởng. Đây là giải pháp có tính quyết định đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện CSM của đơn vị.

Là cán bộ trưởng thành từ cơ sở, qua nhiều năm làm công tác quản lý, huấn luyện CSM, Thượng tá Nguyễn Văn Phương, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 365 cho rằng: “Những năm gần đây, CSM nhập ngũ vào đơn vị có phẩm chất đạo đức và chất lượng chính trị, nhân thân tốt, nhiều đồng chí có trình độ cao. Tuy nhiên, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường và do nhiều nguyên nhân khác nhau, không ít CSM sau khi nhập ngũ có hiện tượng trầm cảm, tâm lý căng thẳng, lo âu thái quá... dẫn đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ chưa cao”.Để phòng ngừa, ngăn chặn những tư tưởng tiêu cực nảy sinh, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 365 đã lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị huấn luyện CSM chủ động làm tốt công tác rà soát, nắm và quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của CSM, nhất là những đồng chí có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sức khỏe yếu, quân nhân là người dân tộc thiểu số, quân nhân theo tôn giáo... Phát huy tốt vai trò của đảng ủy, chi bộ, tổ chức đoàn, hội đồng quân nhân, các tổ nhóm công tác như: Tổ 3 người, Tổ tư vấn tâm lý-sức khỏe-pháp luật, Tổ chiến sĩ bảo vệ trong nắm, quản lý, giải quyết tư tưởng bộ đội; đồng thời duy trì nghiêm nền nếp chế độ ngày, tuần; tăng cường công tác kiểm tra, chấn chỉnh bộ đội trong việc chấp hành nền nếp chế độ, trật tự nội vụ vệ sinh... Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa-văn nghệ, thể dục-thể thao vào ngày nghỉ, giờ nghỉ nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe cho bộ đội.

Đặc biệt, trong thời gian qua, thực hiện Hướng dẫn số 575/HD-CT của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung chuyên đề “Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quân nhân đối với bản thân, gia đình, đồng đội và đơn vị” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 365 đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị huấn luyện CSM tổ chức sinh hoạt chuyên đề thông qua nhiều hình thức như: Tọa đàm, diễn đàn thanh niên, sinh hoạt chính trị tư tưởng... bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc, đạt hiệu quả cao. Qua đó góp phần khơi dậy, phát huy tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn vươn lên làm chủ bản thân; xác định rõ động cơ, thái độ, trách nhiệm của CSM trong học tập, rèn luyện, công tác, phấn đấu hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ được giao.

Đại tá Vũ Xuân Yên, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Sư đoàn 365 khẳng định: “Quản lý tư tưởng cán bộ, chiến sĩ nói chung và quản lý tư tưởng CSM nói riêng là việc làm không hề đơn giản. Bằng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, chúng tôi chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thường xuyên đánh giá, dự báo được tình hình diễn biến tư tưởng của CSM từ sớm, từ xa; trên cơ sở đó đề xuất biện pháp giải quyết phù hợp, phát huy nhân tố tích cực, ngăn chặn mầm mống phát sinh tư tưởng tiêu cực và hành động sai trái của bộ đội”. 

Xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp đáp ứng yêu cầu thực tiễn Tạo cơ sở pháp lý để hình thành tổ hợp công nghiệp quốc phòng

 

Quy định về tổ hợp công nghiệp quốc phòng (CNQP) là nội dung mới của dự thảo Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp nhằm thể chế hóa đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Việc dự thảo luật bổ sung quy định về tổ hợp CNQP là cần thiết, với mục tiêu luật hóa các quy định, tạo cơ sở pháp lý hình thành nên các tổ hợp CNQP.

Tổ hợp CNQP đóng vai trò rất quan trọng, dẫn dắt trong hệ thống đổi mới sáng tạo tại các cường quốc trên thế giới. Nhiều nước trên thế giới có xu hướng phát triển tổ hợp CNQP hiện đại, bảo đảm cho lực lượng vũ trang có trang bị kỹ thuật hiện đại, sức mạnh chiến đấu cao nhằm ứng phó hiệu quả với chiến tranh công nghệ cao. Theo dự thảo Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp, tổ hợp CNQP không hình thành pháp nhân, không phải là tập đoàn mà được xác định là hệ thống liên kết, hợp tác của cơ sở CNQP, tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng điều kiện nhất định, lấy cơ sở CNQP nòng cốt làm hạt nhân để hình thành chuỗi giá trị tạo ra sản phẩm quốc phòng theo nhóm, chuyên ngành sản phẩm vũ khí, trang bị kỹ thuật. Dự thảo luật chỉ quy định theo hướng xác định khung, nguyên tắc về các nội dung: Chức năng, nhiệm vụ, thành phần của tổ hợp CNQP; hạt nhân của tổ hợp CNQP; thành phần khác của tổ hợp CNQP; chính sách của Nhà nước đối với tổ hợp CNQP. Đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết.

Bên cạnh đó, dự thảo luật cũng đã quy định các chính sách cụ thể và đặc thù cho hạt nhân của tổ hợp CNQP như: Nhà nước giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện chương trình nghiên cứu, thiết kế, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật theo chuyên ngành sản phẩm; tự chủ điều phối trong nghiên cứu, sản xuất, huy động năng lực của tổ hợp CNQP; Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ chương trình nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật do Nhà nước đặt hàng, giao thực hiện; sử dụng cơ sở hạ tầng do Nhà nước đầu tư để phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; lập danh sách cơ sở CNQP là thành viên của tổ hợp CNQP, ưu tiên cơ sở công nghiệp động viên, trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt... Đây là bước đầu tạo hành lang pháp lý để xây dựng, hoàn thiện thể chế cho loại hình tổ hợp CNQP này, góp phần thúc đẩy hình thành tổ hợp CNQP trong thực tiễn.

Tổ hợp CNQP liên quan đến tiềm lực, sức mạnh quốc phòng; đến sự an nguy và thịnh vượng của quốc gia. Do đó, cần xây dựng về các cơ chế ưu tiên phát triển tổ hợp CNQP để tạo ra sự vượt trội, CNQP phát triển hiện đại, lưỡng dụng và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia.

Hôm nay (30-5), Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp

 

Theo chương trình làm việc Kỳ họp thứ bảy, chiều nay (30-5), Quốc hội thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp. Hôm qua, thứ tư, ngày 29-5, Quốc hội tiếp tục ngày làm việc thứ chín của Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội.

Dưới sự điều hành của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội dành cả ngày làm việc ở hội trường thảo luận về: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2023; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2024; kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023; công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023.

Tại phiên thảo luận đã có 57 đại biểu Quốc hội phát biểu, 3 đại biểu Quốc hội tranh luận, cụ thể như sau: Về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2023; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2024.

Nhiều ý kiến đại biểu cơ bản nhất trí với Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đánh giá cao các báo cáo được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, trách nhiệm, phân tích rõ những kết quả đạt được, thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và đề ra những giải pháp khả thi trong thời gian tới. 

Các ý kiến cho rằng, trong bối cảnh khó khăn chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ đã có những giải pháp, chỉ đạo điều hành quyết liệt, cùng với những quyết sách của Quốc hội đã giúp kinh tế - xã hội nước ta đạt được kết quả rất tích cực. 

Bên cạnh đó, các đại biểu tập trung thảo luận, cho ý kiến về các nội dung: Tình trạng doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn; chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư kích cầu sản xuất trong nước, chuyển đổi xanh, sử dụng năng lượng sạch, nguyên liệu sạch; phát triển kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển thị trường tín chỉ carbon; quản lý thị trường vàng; tăng cường thương hiệu, uy tín quốc gia; tăng cường phân cấp, phân quyền cho các địa phương;

Tình trạng biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn; vấn đề phát triển bền vững của dân số liên quan đến lực lượng lao động; đào tạo nguồn nhân lực y tế; an toàn thông tin, an ninh mạng; phòng cháy, chữa cháy; cải cách thủ tục hành chính; chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa mới; việc sử dụng các phương thức thanh toán tiền kỹ thuật số, tiền ảo; biện pháp kiểm soát và xử lý đối với thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng; việc quản lý, sử dụng và chất lượng của Cổng dịch vụ công trực tuyến; công tác xóa đói, giảm nghèo; điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân; cơ chế, chính sách đặc thù đối với đội ngũ nhà giáo thuộc lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên đã hết tuổi nghề nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu…

Các đại biểu cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; kiểm soát lạm phát, tỷ giá và các mặt hàng thiết yếu để ổn định đời sống nhân dân và sản xuất kinh doanh; cải thiện thị trường tiền tệ, khôi phục sản xuất, kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp, tạo việc làm, giảm thất nghiệp, tháo gỡ các điểm nghẽn hiện nay; 

Cải cách thủ tục hành chính, tăng năng suất lao động, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với nợ xấu, cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; khắc phục các hạn chế trong phân bổ giải ngân vốn đầu tư công; quản lý điều hành, thu chi ngân sách nhà nước bảo đảm cân đối ngân sách, an ninh tài chính, ngân sách quốc gia; thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; cơ chế, chính sách bảo vệ cán bộ, khuyến khích cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm; bố trí nguồn lực cho Chương trình mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa xây dựng con người Việt Nam giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045…

Về kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023, các ý kiến đại biểu đánh giá, kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 trong năm 2023 đã có những tiến triển rõ rệt, chỉ số xếp hạng về bình đẳng giới của Việt Nam năm 2023 tăng 15 bậc so với năm 2021. 

Tuy nhiên, lao động nữ còn chiếm phần lớn trong các ngành nghề thâm dụng lao động, trình độ chuyên môn thấp hoặc làm việc trong khu vực phi chính thức, thu nhập bình quân thấp hơn so với lao động nam. Bên cạnh đó, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn chưa giảm, dẫn tới những hậu quả về xã hội và nhân khẩu học, là một trong những nguyên nhân gây bất bình đẳng giới. Các ý kiến đại biểu đề nghị Chính phủ cần đánh giá kỹ về tỷ lệ lao động phi chính thức, triển khai có hiệu quả các đề án, chính sách, giải pháp để giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh; thích ứng với già hóa dân số, công nghệ số, thu nhập, việc làm, biến đổi khí hậu và giảm khoảng cách giới.

Về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023, các ý kiến đại biểu tán thành với Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội, đánh giá các báo cáo được chuẩn bị nghiêm túc, kỹ lưỡng, thể hiện được sự chuyển biến trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. 

Bên cạnh đó, các ý kiến cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như: Công tác xây dựng, ban hành chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2023 còn chậm; vẫn còn tình trạng trụ sở làm việc, nhà công vụ tại một số địa phương để lãng phí; 

Việc ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật để xử lý, sắp xếp, sử dụng tài sản công ở các đơn vị hành chính sau sáp nhập, việc tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại một số địa phương còn chậm; tình trạng lãng phí, vi phạm trong quản lý, sử dụng tài nguyên đất còn diễn ra ở các dự án; vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức trong thực thi công vụ; việc phân bổ ngân sách năm 2023, triển khai thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia còn chậm, gây lãng phí nguồn lực. 

Các ý kiến đại biểu thống nhất cao với 9 nhóm giải pháp của Ủy ban Tài chính, Ngân sách và những giải pháp mà Chính phủ đã đề ra, đồng thời đề nghị Chính phủ cần quan tâm, chỉ đạo quyết liệt hơn, cụ thể hơn trách nhiệm đối với từng bộ, ngành, từng nhiệm vụ cụ thể để công tác thực hành tiết kiệm được triển khai một cách đồng bộ, có hiệu quả.

Kết thúc thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Thị Hồng, Phó thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà, Phó thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái phát biểu giải trình, làm rõ thêm một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.


Quan điểm Hồ Chí Minh về các điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc.

 Thực hiện chính sách dân tộc là quá trình đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc, bài viết làm rõ các điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc theo quan điểm Hồ Chí Minh.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc_Ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh

1. Mở đầu

Xuất phát từ tình yêu thương vô hạn đối với nhân dân và sự gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tư duy, tầm nhìn bao quát trong xử lý vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc ở một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam. Người rất coi trọng và thường xuyên nhắc nhở Đảng, Chính phủ quan tâm đến việc ban hành và tổ chức thực hiện tốt chính sách dân tộc nhằm phát triển toàn diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; thực hiện đoàn kết dân tộc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa các dân tộc ngày càng bền chặt, tạo nên sức mạnh tổng hợp, to lớn cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam xây dựng nước độc lập, thống nhất.

2. Thực hiện chính sách dân tộc trong quan điểm của Hồ Chí Minh

Thực hiện chính sách dân tộc là quá trình đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đến với người dân để chủ trương của Đảng, mong muốn của người dân được cụ thể hóa thành lợi ích vật chất xã hội(1). Quá trình triển khai những chủ trương, định hướng của Đảng về vấn đề dân tộc vào đời sống xã hội, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế và quốc phòng, an ninh, nhằm hiện thực hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc và phù hợp với những định hướng trong hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo Hồ Chí Minh, điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, bao gồm:

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước cần có các chính sách đặc thù, phù hợp, ưu tiên, tương trợ, giúp đỡ phát triển vùng DTTS

Theo Hồ Chí Minh, để phát triển vùng DTTS thì trách nhiệm quan trọng thuộc về Đảng, Nhà nước. Người cho rằng, Đảng, Nhà nước phải có biện pháp ưu tiên, chăm lo bồi dưỡng đồng bào DTTS, chú ý đến đồng bào vùng cao và giúp đồng bào nhiều hơn nữa, có như vậy mới thực hiện tốt vấn đề dân tộc. Người yêu cầu: “các cơ quan trung ương phải có kế hoạch đẩy mạnh phong trào miền núi lên, về kinh tế cũng như về văn hóa, tất cả các mặt(2). Đồng thời, trong quá trình tổ chức thực hiện phải làm dần từng bước, thiết thực, cụ thể, hiệu quả, làm bước nào chắc bước ấy. Người nhắc nhở: “Trung ương Đảng và Chính phủ, mà trực tiếp là các cấp ủy đảng, các ủy ban địa phương, các cô, các chú, phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc(3). Như vậy, việc “săn sóc, giúp đỡ nhiều hơn nữa đối với đồng bào rẻo cao về mọi mặt(4) là trách nhiệm của các tổ chức đảng và chính quyền các cấp.

Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt chính sách dân tộc, đoàn kết dân tộc cần am hiểu về đặc điểm vùng dân tộc, về đồng bào DTTS, bởi mỗi DTTS đều có bản sắc, nếp sống, tâm lý, tiếng nói riêng rất đa dạng và phong phú. Đối với vùng DTTS, việc đề ra biện pháp, tìm ra bước đi thích hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết, quyết định đến sự thành công của chính sách dân tộc. Vì vậy, các chính sách được ban hành phải chứa đựng những nội dung, biện pháp và bước đi thích hợp, phù hợp với đặc trưng, điều kiện của vùng và đồng bào DTTS, trong đó hết sức tôn trọng lợi ích, văn hóa, truyền thống, tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán v.v.. của đồng bào.

Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh: “Miền núi đất rộng người thưa, tình hình vùng này không giống tình hình vùng khác. Vì vậy, áp dụng chủ trương và chính sách phải thật sát với tình hình thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội”(5). Người chỉ rõ, các chương trình, kế hoạch công tác phát triển vùng dân tộc không những phù hợp với đồng bào các DTTS, mà ngay cả cách thể hiện cũng được diễn tả để đồng bào dễ hiểu, dễ làm theo. Người dạy: “nếu cứ nói nào là làm “cách mạng xã hội chủ nghĩa”, nào là “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, nào là “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, đồng bào các dân tộc thiểu số khó hiểu, ít người hiểu. Phải nói rõ xây dựng chủ nghĩa xã hội là làm cái gì? Nói nôm na để cho người ta dễ hiểu, hiểu để người ta làm được”(6).

Đồng thời, cán bộ thực hiện công tác dân tộc phải thấy rõ: “Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo, thì tuyên truyền huấn luyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp. Bởi vì đời sống, trình độ đồng bào Mèo và Thái khác nhau, cho nên tuyên truyền huấn luyện phải khác”(7).

Khi xác định trách nhiệm của các tổ chức đảng và chính quyền các cấp đối với sự phát triển của vùng dân tộc và đồng bào các dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp, mà trực tiếp là cán bộ các địa phương, đồng thời xác định trách nhiệm của các ngành, các cấp, các địa phương và mỗi người dân. Người cho rằng, cán bộ làm công tác dân tộc, đặc biệt là những người làm ở vùng núi, vùng đồng bào DTTS phải am hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán, nắm bắt tâm lý, tâm tư nguyện vọng của đồng bào, do đó: “Cán bộ đi làm việc chỗ nào, phải học tiếng ở đấy(8), và phải thật sự trọng dân, hiểu dân, gần dân, có trách nhiệm với dân.

Thứ hai, để thực hiện chính sách dân tộc cần chú trọng công tác tuyên truyền, vận động

Để chính sách dân tộc đạt hiệu quả, cần chú trọng công tác tuyên truyền, vận động và thực hiện các phương pháp tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc một cách phù hợp. Các ngành, các cấp, cán bộ, chiến sĩ đều có trách nhiệm tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, có kế hoạch để giúp đỡ thiết thực đồng bào miền núi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bộ đội, công an, công nhân trong nông trường, lâm trường, công trường, xí nghiệp, cán bộ thương nghiệp, y tế, các giáo viên và tất cả cán bộ các ngành phải thấy rằng mỗi người đều phải là người tuyên truyền chính sách của Đảng, của Nhà nước. Và mỗi người cần phải là người tuyên truyền cách cải tiến đời sống của đồng bào như thế nào(9).

Trong công tác tuyên truyền, vận động, Hồ Chí Minh yêu cầu đội ngũ cán bộ phải xác định rõ đối tượng, mục tiêu, nội dung và phương pháp tuyên truyền sao cho phù hợp, đạt hiệu quả tốt nhất: “Nói chung, công tác tuyên truyền huấn luyện ở miền núi, các cô, các chú có cố gắng, có tiến bộ. Nhưng chưa đủ, có thể nói còn phải cố gắng nhiều hơn nữa. Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? Đó là những vấn đề các chú phải tự hỏi, tự trả lời. Chứ không phải chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm”(10).

Đối với Hồ Chí Minh, “Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải. Mà nói ngắn gọn, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được. Cố nhiên không phải làm một ngày, một buổi mà phải làm từng bước, làm bước nào chắc chắn bước ấy”(11). Và cần phải thấy rõ “Tuyên truyền huấn luyện phải xuất phát từ chỗ nào? Xuất phát từ nhiệt tình cách mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, từ tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào các dân tộc. Có như thế, mới tìm ra cái đúng cái hay mà làm. Chứ không phải Trung ương bảo làm, tỉnh bảo làm, thì tôi làm. Tuyên truyền cũng thế, huấn luyện cũng thế. Phải làm sao dễ hiểu, nói sao để người ta hiểu được, hiểu để làm. Vì thế nên tuyên truyền phải thiết thực. Không phải tuyên truyền để mà tuyên truyền, huấn luyện để mà huấn luyện”(12).

Như vậy, trong tuyên truyền, vận động phải luôn bảo đảm sao cho phù hợp với trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc; nói thiết thực, nói đúng lúc, đúng chỗ để đồng bào hiểu, tin và làm được; cán bộ phải học tiếng dân tộc thì công tác tuyên truyền mới đạt hiệu quả.

Thứ ba, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò của cán bộ người DTTS

Cán bộ người DTTS là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở vùng đồng bào các DTTS, do đó Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc Đảng, Nhà nước giúp đỡ tạo điều kiện ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ DTTS “Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi(13), để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm phát triển vùng DTTS và xây dựng khối đoàn kết dân tộc. Bởi vì, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước có đúng, có tốt đến đâu, nhưng nếu không có người thực hiện hoặc thiếu sự gắn kết trong khi thực hiện của đội ngũ cán bộ, của đồng bào các DTTS thì những chủ trương, chính sách đó không phát huy được tác dụng, hiệu quả, hoặc chỉ đạt được ở mức độ nhất định.

Theo Hồ Chí Minh, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS phải toàn diện, vừa chú trọng chính trị, vừa chú trọng văn hóa để xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ DTTS vừa có tài, vừa có đức; đồng thời phải phù hợp với trình độ và đặc điểm của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền. Người căn dặn cán bộ, học sinh trường Sư phạm miền núi tỉnh Nghệ An: “Ở đây các cháu thi đua gì? Bác khuyên các cháu học tập tốt. Thế nào là học tập tốt? Học tập tốt là chính trị, văn hóa đều phải gắn liền với lao động sản xuất, không học dông dài. Mục đích học là để làm kinh tế, chính trị, văn hóa đều tiến bộ, các dân tộc đều đoàn kết với nhau. Học để làm gì nữa? Để xây dựng chủ nghĩa xã hội”(14).

Khi đánh giá về đội ngũ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt và đánh giá rất cao vai trò của cán bộ nữ, trong đó có cán bộ nữ DTTS. Trong bài phát biểu tại Hội nghị Cán bộ tuyên giáo miền núi ngày 31-8-1963, Người khẳng định: “Trong mọi mặt hoạt động cách mạng, phụ nữ các dân tộc thiểu số đều có đóng góp lớn lao”(15). Chính vì vậy, Người thường xuyên chỉ đạo các địa phương phải đào tạo và giúp đỡ phụ nữ các dân tộc, kết nạp thêm nhiều đảng viên nữ để mở rộng đội ngũ đảng.

Trong khi coi trọng công tác đào tạo cán bộ người DTTS, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự quan tâm và đánh giá cao vai trò của đội ngũ cán bộ và đồng bào người Kinh tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở vùng DTTS. Người cho rằng: “Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương, chứ không phải là bao biện làm thay”(16). Dự báo trước những vấn đề sẽ nảy sinh, xuất phát từ tâm lý tự ti dân tộc, hẹp hòi dân tộc vẫn tồn tại trong cán bộ và đồng bào các DTTS tại chỗ, cũng như cán bộ, đồng bào tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở vùng DTTS, rất dễ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết cục bộ, Hồ Chí Minh đặc biệt căn dặn cán bộ và đồng bào đến công tác, làm ăn ở vùng đồng bào các DTTS phải luôn đặt lên hàng đầu tinh thần đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Đây là vấn đề hệ trọng, có tính quyết định đến hiệu quả của việc thực hiện chính sách dân tộc, xây dựng khối đoàn kết các dân tộc.

Để phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ vùng đồng bào DTTS, Đảng, Nhà nước cần bố trí cán bộ người DTTS phù hợp với năng lực, sở trường, tăng cường tình đoàn kết, giúp đỡ nhau, xem nhau như anh em một nhà, khắc phục hiện tượng “Cán bộ xuôi lên không yên tâm công tác, muốn về Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Như thế là không đúng. Bác đã nói cán bộ là đày tớ của nhân dân, chỗ nào nhân dân cần đến mình là mình phải đến, bất kỳ chỗ nào cũng là Tổ quốc, là đất nước, cũng là cương vị công tác của cán bộ”(17). Người căn dặn: “Phải nhớ rằng Đảng, Chính phủ tin cậy vào cán bộ, nơi nào khó có cán bộ. Việc gì khó có cán bộ. Vì vậy cán bộ các nơi đến phải yên tâm, tích cực công tác, phải gương mẫu, phải đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ cán bộ địa phương được tốt. Vì vậy cán bộ địa phương cùng cán bộ nơi khác đến phải đoàn kết yêu thương nhau, làm gương cho nhân dân địa phương”(18).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến việc phát triển giai cấp công nhân trong vùng đồng bào DTTS nhằm nâng cao nhận thức, góp phần chuẩn bị về con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa vùng dân tộc. Người chỉ rõ: “Giai cấp công nhân phát triển trong các dân tộc thiểu số khá nhiều. Ở các mỏ apatít Lào Cai, mỏ thiếc Cao Bằng, khu gang thép Thái Nguyên, công nhân người các dân tộc rất đông. Hồi trước, mấy cô bé dân tộc còn hay xấu hổ. Bây giờ đã lái được xe, lái được máy xúc, không kém gì công nhân nam giới. Đó là một tiến bộ rất lớn”(19), và yêu cầu “Các hợp tác xã vỡ hoang, các nông trường và lâm trường của Nhà nước, cần phải đoàn kết và giúp đỡ đồng bào địa phương, cần phải làm đúng chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc”(20).

Thứ tư, luôn phát huy ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, tự vươn lên của đồng bào các dân tộc

Cả cuộc đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trải qua những năm tháng hoạt động cách mạng, cùng ăn, cùng ở, cùng sống với đồng bào các dân tộc, nên hơn ai hết Người hiểu rõ tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của đồng bào, thông cảm sâu sắc với các dân tộc, đặc biệt là các DTTS. Chính vì vậy, Người có niềm tin vào khả năng của đồng bào các dân tộc, cái gì miền xuôi làm được thì miền núi cũng làm được, bản thân đồng bào DTTS không ngừng tự nỗ lực vươn lên, không được trông chờ, ỷ lại vào Chính phủ. Người cũng chỉ rõ, để thực hiện chính sách dân tộc đạt hiệu quả tốt, cần có động lực và nhu cầu nội tại của đồng bào các DTTS, từ đó hiện thực hóa được các chính sách dân tộc cho chính đồng bào.

Hồ Chí Minh cho rằng, muốn thực hiện chính sách dân tộc đạt hiệu quả tốt, nhằm thực hiện bình đẳng, đoàn kết thì đội ngũ cán bộ và đồng bào các dân tộc phải sớm khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc. Các dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo, còn các cán bộ và nhân dân địa phương lại dễ coi mình là dân tộc bé nhỏ, dẫn đến tự ti, mặc cảm, cho rằng cái gì cũng không làm được, rồi không cố gắng. Từ đó, Người kêu gọi đồng bào các dân tộc phải luôn tự tin vào chính bản thân mình, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, phấn đấu vươn lên để đạt tới sự bình đẳng thực tế về mọi mặt.

Để tạo điều kiện thực hiện bình đẳng thực sự giữa các dân tộc, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, truyền thống của đồng bào DTTS, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, bên cạnh sự nỗ lực tự phấn đấu vươn lên của mỗi dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tầm quan trọng của sự tương trợ, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và của dân tộc đa số với đồng bào các DTTS, giữa các DTTS với nhau. Người chỉ rõ: “Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong nhà. Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người cần cố gắng làm ruộng. Hai bên phải giúp đỡ lẫn nhau. Dân tộc đông người không phải giúp qua loa, cũng như dân tộc ít người không nên ngồi chờ giúp. Một bên ra sức giúp, một bên ra sức làm. Giúp nhau thì việc gì cũng nhất định làm được”(21). Người quan tâm, nhắc nhở đội ngũ cán bộ, trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc phải có thái độ thận trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tôn trọng tâm lý, tình cảm của các dân tộc, phải thương yêu, quan tâm đến lợi ích của nhân dân.

3. Kết luận

Để thực hiện tốt chính sách dân tộc nhằm thúc đẩy đời sống đồng bào các DTTS ngày càng phát triển, bên cạnh các chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà nước, cần thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò của cán bộ người DTTS; chú trọng công tác tuyên truyền, vận động và trên hết bản thân đồng bào DTTS phải không ngừng phát huy ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, tự vươn lên, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, tích cực, tự giác tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đây chính là những yếu tố rất cần thiết góp phần thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc ở nước ta, là điều kiện để xây dựng và phát triển đất nước bền vững. thực hiện chính sách dân tộc theo quan điểm Hồ Chí Minh.

Giảng đường chắp cánh tình yêu nghệ thuật

 

Giữa hội trường lấp lánh ánh đèn, những giai điệu, âm thanh vang lên từ các loại nhạc cụ trong chương trình liên hoan ban nhạc học viên lần thứ nhất của Trường Sĩ quan Chính trị (SQCT) đã mang đến không khí sôi động, thể hiện sự nhiệt huyết, khí thế của tuổi trẻ.

Nhằm trang bị những kỹ năng sử dụng các loại nhạc cụ cũng như đáp ứng nhu cầu thưởng thức âm nhạc của học viên, Trường SQCT đã thành lập ban nhạc học viên ở các đơn vị. Đến nay, nhà trường có 12 ban nhạc được tổ chức và duy trì hoạt động thường xuyên dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy đơn vị và sự điều hành trực tiếp của Ban Chấp hành Đoàn cơ sở nhà trường.

Chia sẻ về ban nhạc của đơn vị, Thượng úy Dương Văn Bính, Bí thư Đoàn cơ sở Tiểu đoàn 9 cho biết: “Được sự quan tâm, chỉ đạo của thủ trưởng các cấp, đơn vị lựa chọn một số đồng chí sử dụng tốt nhạc cụ, tổ chức luyện tập vào giờ nghỉ, ngày nghỉ để tham gia biểu diễn. Những đồng chí có năng khiếu âm nhạc, sử dụng thành thạo nhạc cụ trở thành lực lượng nòng cốt để bồi dưỡng học viên trong đơn vị, lan tỏa phong trào học tập nhạc cụ”.Các ban nhạc học viên đã tạo ra bầu không khí vui tươi, sôi động với việc sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau, thể hiện tính chuyên nghiệp trong từng chương trình biểu diễn. Sức lan tỏa từ ban nhạc đã khơi dậy tình yêu nhạc cụ đối với mỗi cán bộ, học viên, góp phần đưa phong trào văn hóa-văn nghệ của nhà trường đi vào thực chất, hiệu quả. 

Hào hứng khi xem những tiết mục trình diễn của các ban nhạc, Thượng sĩ Nguyễn Hồng Quân, học viên Tiểu đoàn 11 bày tỏ: “Những tiết mục biểu diễn thực sự rất ấn tượng. Tôi cảm nhận như đang thưởng thức một chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp tại ngôi trường của mình. Tôi mong muốn thời gian tới sẽ được thưởng thức nhiều tiết mục đặc sắc của các ban nhạc”.

Qua thời gian hoạt động, các ban nhạc học viên không ngừng đổi mới, thể hiện khả năng sáng tạo qua những liên hoan, hội thi. Đặc biệt, ban nhạc học viên Trường SQCT đã xuất sắc vượt qua 582 tiết mục của các học viện, trường đại học trên cả nước để đoạt giải Nhì chung kết xếp hạng toàn quốc “Hành trình bài ca sinh viên năm 2023” do Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam tổ chức.Các ban nhạc học viên đã tạo ra bầu không khí vui tươi, sôi động với việc sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau, thể hiện tính chuyên nghiệp trong từng chương trình biểu diễn. Sức lan tỏa từ ban nhạc đã khơi dậy tình yêu nhạc cụ đối với mỗi cán bộ, học viên, góp phần đưa phong trào văn hóa-văn nghệ của nhà trường đi vào thực chất, hiệu quả. 

Hào hứng khi xem những tiết mục trình diễn của các ban nhạc, Thượng sĩ Nguyễn Hồng Quân, học viên Tiểu đoàn 11 bày tỏ: “Những tiết mục biểu diễn thực sự rất ấn tượng. Tôi cảm nhận như đang thưởng thức một chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp tại ngôi trường của mình. Tôi mong muốn thời gian tới sẽ được thưởng thức nhiều tiết mục đặc sắc của các ban nhạc”.

Qua thời gian hoạt động, các ban nhạc học viên không ngừng đổi mới, thể hiện khả năng sáng tạo qua những liên hoan, hội thi. Đặc biệt, ban nhạc học viên Trường SQCT đã xuất sắc vượt qua 582 tiết mục của các học viện, trường đại học trên cả nước để đoạt giải Nhì chung kết xếp hạng toàn quốc “Hành trình bài ca sinh viên năm 2023” do Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam tổ chức.Thượng sĩ Võ Lý Đạt Thành, thành viên ban nhạc Trường SQCT chia sẻ: “Các loại nhạc cụ như đàn guitar, sáo trúc, trống dân tộc qua cách thể hiện của học viên đã tạo được sức hút đối với khán giả. Khi biểu diễn trên sân khấu, chúng tôi được thỏa mãn niềm đam mê của mình, đồng thời gắn kết những người có chung tình yêu với âm nhạc và các loại nhạc cụ”.

Quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu mỗi học viên ra trường biết sử dụng một loại nhạc cụ, Trường SQCT đã phối hợp với Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội tổ chức lớp bồi dưỡng kỹ năng thực hành nghệ thuật, chú trọng bồi dưỡng cho học viên khả năng sử dụng các loại nhạc cụ như: Đàn organ, đàn guitar, đàn bầu, sáo trúc, trống. Kết thúc thời gian học tập thực hành nghệ thuật, nhà trường tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá, kết quả gần 100% học viên đạt khá, giỏi. 

Trung tá Nguyễn Tuấn Kiệt, Trưởng ban Công tác quần chúng Trường SQCT cho biết: “Qua quá trình học tập, học viên được bồi dưỡng kỹ năng và truyền cảm hứng từ những giảng viên có chuyên môn, dày dạn kinh nghiệm về nghệ thuật. Đến nay, nhà trường đã có 12 ban nhạc với hàng trăm thành viên. Những kết quả đó là nguồn cổ vũ để học viên tiếp nối đam mê, phấn đấu đạt những thành công mới”.