Thời gian qua, Việt Nam tiếp tục có nhiều nỗ lực nhằm bảo đảm quyền con người, trong đó luôn quan tâm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đảng, Nhà nước cũng tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tìm ra hướng đi chung, xóa bỏ những định kiến, cách nhìn nhận, đánh giá không chính xác của một số cá nhân, tổ chức về tình hình tôn giáo tại Việt Nam.
Cùng với quá trình phát triển và đổi mới của đất nước, đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt Nam có nhiều chuyển biến, từ đây đặt ra yêu cầu Đảng, Nhà nước phải làm tốt hơn nữa công tác tôn giáo và đoàn kết dân tộc trong tình hình mới. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã và đang hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo cho nhân dân mà trọng tâm là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Từ cơ sở của đạo luật này, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị định quan trọng, gần nhất là Nghị định số 95/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29/12/2023 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Không chỉ vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng được lồng ghép trong các văn bản pháp luật quan trọng khác như Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và mới đây là Luật Đất đai năm 2024. Qua đó, nhiều vấn đề mới đã được ban hành nhằm củng cố, nâng cao quyền của người theo tôn giáo đang sinh sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam như quyền bày tỏ niềm tin, tín ngưỡng của phạm nhân; chính sách nhà nước giao đất có hạn mức không thu tiền sử dụng đất đối với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tôn giáo…
Nhờ chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam tiếp tục phát triển ngày một sinh động và đa dạng. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện có hơn 27 triệu người Việt Nam đang sinh hoạt trong 38 tổ chức, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành trực thuộc 16 tôn giáo. So với năm 2022, số lượng người Việt Nam theo tôn giáo đã tăng gần 56.000 người, chức sắc tăng 814 người, cơ sở thờ tự tăng 142 địa điểm. Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo, tính riêng năm 2023 Nhà xuất bản Tôn giáo đã xuất bản 2.400.000 bản kinh sách, tài liệu liên quan bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và các tiếng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo sửa chữa, cải tạo và xây mới cơ sở tôn giáo. Tính đến nay, số lượng cơ sở tôn giáo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi toàn quốc đạt hơn 70%. Nhiều cơ sở thờ tự được xây dựng, tôn tạo khang trang, quy mô để bà con an tâm sinh hoạt tinh thần.
Những kết quả nêu trên đã cho thấy một bức tranh Việt Nam đa tôn giáo nhưng luôn chung sống thân thiện, hợp tác, đoàn kết trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên vì nhiều nguyên nhân khác nhau, một số cá nhân, tổ chức vẫn giữ cái nhìn, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Từ thực tế này, thời gian qua, Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại tôn giáo một cách toàn diện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Trong đó, phải kể đến việc công bố Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, các hoạt động tăng cường đối thoại quốc tế, xóa bỏ những hiểu nhầm, bác bỏ những luận điệu thiếu thiện chí liên quan đến các vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam.
Năm 2023, Ban Tôn giáo Chính phủ đã tạo điều kiện cho hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài. Ở chiều ngược lại, cơ quan chức năng đã cấp phép cho gần 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Các ban, bộ, ngành và chính quyền địa phương đã hỗ trợ cấp phép cho các tổ chức tôn giáo đăng cai, tổ chức các sự kiện lớn như Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu của Giáo hội Công giáo Việt Nam; Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo châu Á vì hòa bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Lễ hội “Xuân yêu thương” của các Hội thánh Tin lành Việt Nam…
Trên diễn đàn quốc tế, trong năm 2023, Bộ Nội vụ đã tiếp 14 đoàn khách quốc tế đến tìm hiểu về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Từ ngày 10-22/10/2023, Đoàn liên ngành và chức sắc tôn giáo do Thứ trưởng Nội vụ Vũ Chiến Thắng đứng đầu đã thăm Hoa Kỳ để trao đổi về chính sách tôn giáo và thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Trong chuyến thăm này, đoàn đã làm việc với các đại diện của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Đại sứ lưu động về tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, Phó Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ… Qua đó, thống nhất cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin thông qua cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Hoa Kỳ và qua kênh đối thoại với Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ). Song song với hoạt động này, Đoàn cũng tổ chức gặp và làm việc bàn tròn, tọa đàm với cá nhân và lãnh đạo các tổ chức tôn giáo Hoa Kỳ tại cơ sở tôn giáo.
Trong các cuộc gặp gỡ này, đại diện phía Hoa Kỳ cũng như các chức sắc tôn giáo Hoa Kỳ đã phần nào ghi nhận những thành tựu, kết quả đạt được của Việt Nam trong công tác tôn giáo. Đáng chú ý, tại dịp này, mục sư Franklin Graham, Chủ tịch Hiệp hội truyền giáo Billy Graham đã khẳng định mong muốn đảm nhận vai trò “đại sứ tôn giáo” cho Việt Nam để chia sẻ, giải thích cho chính giới và các tổ chức của phía Hoa Kỳ, vận động cho Việt Nam sớm ra khỏi SWL (Danh sách theo dõi đặc biệt của Hoa Kỳ về tự do tôn giáo).
Nổi bật trong chính sách đối ngoại tôn giáo của Việt Nam từ năm 2023 đến nay phải kể đến những bước tiến trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican. Cụ thể vào tháng 7/2023 hai bên đã thống nhất Quy chế hoạt động của Đại diện Thường trú và Văn phòng Đại diện Thường trú ở Việt Nam. Ngày 23/12/2023, Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Marek Zalewski làm Đại diện Tòa thánh Vatican thường trú tại Việt Nam. Ngày 31/1/2024, Tổng Giám mục Marek Zalewski đã đến Việt Nam đảm nhiệm chức vụ này. Đồng thời tại cuộc gặp giữa Đoàn liên ngành và chức sắc tôn giáo diễn ra vào tháng 10/2023, Đại diện Tòa thánh Vatican tại Liên hợp quốc, Tổng Giám mục Gabriele Caccia đã tuyên bố ủng hộ Việt Nam ra khỏi danh sách SWL, thúc đẩy quan hệ nhà nước giữa Việt Nam và Tòa thánh trong thời gian tới. Mới đây, từ ngày 9-14/4/2024, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican Paul Richard Gallagher đã có chuyến thăm chính thức đến Việt Nam. Trong lần đầu đến Việt Nam, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Gallagher đã rất ấn tượng về thành tựu phát triển kinh tế và đối ngoại Việt Nam mà trong đó có sự đóng góp không nhỏ của cộng đồng Công giáo Việt Nam. Đồng thời, ông tin tưởng với sự hiểu biết lẫn nhau, đối thoại chân thành, quan hệ Việt Nam-Tòa thánh sẽ đạt được những phát triển mới.
Những kết quả nêu trên là minh chứng không thể phủ nhận khi đề cập vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thành tích ấy đến từ nỗ lực của toàn thể hệ thống chính trị khi luôn kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng tôn giáo, từ đó chủ động giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo thiết thực, ý nghĩa. Mặc dù vậy, những tháng gần đây, các hoạt động lợi dụng quyền tự do tôn giáo để chống phá của các hội, nhóm phản động, cực đoan có chiều hướng gia tăng. Các đối tượng không giấu giếm mục đích tạo bất lợi cho Việt Nam tại phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, cũng như ngăn Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách SWL.
Bằng cách xuyên tạc một số vụ án như “Tịnh thất Bồng Lai”, “Ân đàn đại đạo”, “tín ngưỡng Dương Văn Mình”, các đối tượng chống phá cố tình hướng lái dư luận, quy kết Việt Nam “bách hại những cộng đồng tôn giáo độc lập [mà] không tuân thủ sự kiểm soát của nhà nước”, bất chấp sự thực đây là những vụ án đã được xét xử công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội. Song song đó, các tổ chức chống phá cũng lợi dụng triệt để nhận thức chủ quan, hành xử thiếu kinh nghiệm của một số cán bộ khi thực thi pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, các vụ việc này chỉ mang tính đơn lẻ, xuất phát từ sai lầm cá nhân của người làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng. Dẫu vậy các hội, nhóm cố tình vu khống Nhà nước Việt Nam “ép” người dân “bỏ đạo” bằng cách xây dựng, áp dụng các chính sách, pháp luật để “ngăn cản họ trong việc thực thi niềm tin tôn giáo một cách độc lập”.
Trên thực tế, sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đi vào đời sống, Việt Nam có thêm 3 tổ chức tôn giáo mới được công nhận. Số lượng điểm nhóm được cấp phép sinh hoạt tôn giáo tập trung tăng theo thời gian ở tất cả các tôn giáo. Hiện tại cả nước có gần 4.000 điểm sinh hoạt tôn giáo, trong đó có 67 điểm, nhóm sinh hoạt tôn giáo dành cho người nước ngoài. Con số này cao hơn đáng kể khi đối sánh với số lượng 2.600 điểm nhóm được cấp phép sinh hoạt tôn giáo tập trung trước năm 2018 (thời điểm Luật Tín ngưỡng, tôn giáo chính thức có hiệu lực).
Đáng tiếc, một số tổ chức, cơ quan theo dõi tình hình tôn giáo thế giới ở các quốc gia, tổ chức liên chính phủ như Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) vẫn tiếp tục sử dụng những cứ liệu sai sự thật, không chính xác làm nguồn tham khảo cho các báo cáo, đánh giá của mình. Việc làm này không những tự làm giảm giá trị và tính khách quan của các bản báo cáo mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến những cố gắng, công sức của Việt Nam với công tác đối ngoại giữa các cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo. Có thể khẳng định, từ trước đến nay, Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn về lĩnh vực tôn giáo với các cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế để cùng tìm ra hướng giải quyết cho những vấn đề còn khác biệt. Tuy nhiên, điều này phải được thực hiện trên nền tảng của sự tăng cường hiểu biết, tinh thần đối thoại cởi mở, hợp tác chặt chẽ và tôn trọng lẫn nhau
Những năm qua, sự phát triển mạnh mẽ, sôi động của hệ thống báo chí, truyền thông trong nước đã phản ánh rất rõ những thành tựu đáng ghi nhận của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân.
Việt Nam đã, đang tham gia và nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình về vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí theo Hiến chương Liên hợp quốc và các nghị định, hiệp ước quốc tế, khu vực liên quan.
Tuy nhiên, một số cá nhân và tổ chức thù địch, phản động vẫn luôn tìm cách để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do báo chí như một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.
Không có gì đáng ngạc nhiên, vào đầu tháng 5/2024, theo thông lệ, tổ chức “Phóng viên không biên giới” (RSF) lại công bố báo cáo thường niên về “Chỉ số tự do báo chí năm 2024”.
Tổ chức này xếp Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí - thuộc nhóm các nước “có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới”.
Đây không phải là lần đầu RSF đưa ra những nhận định hoàn toàn phiến diện, thiếu khách quan, thiên kiến và quy chụp về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, bất chấp thực tế đời sống báo chí ở nước ta ngày càng phát triển chuyên nghiệp, sôi động và hiệu quả.
Giống như mọi lần, những quy kết vô căn cứ trong báo cáo của tổ chức này không đưa ra được bất cứ bằng chứng có tính xác thực nào ứng với các tiêu chí được chính họ đưa ra là “thực hiện các hoạt động giúp thúc đẩy tự do báo chí của thế giới” mà chỉ dựa vào những thông tin thiếu khách quan từ một nhóm người có định kiến với nhà nước sở tại về quan điểm, đường hướng hoạt động báo chí hoặc một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, có hành vi vi phạm pháp luật, âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị.
Những nội dung mang tính bịa đặt trong bản báo cáo đã tạo cơ hội cho những phần tử thù địch, cực đoan trong và ngoài nước công kích, chống phá Việt Nam.
Thực tiễn đã chứng minh, trong suốt tiến trình phát triển của đất nước, việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được khẳng định và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và các quy định của pháp luật, phù hợp với các quy định của quốc tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Cụ thể tại Điều 25, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.
Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.
Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam những năm qua rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí đã thể hiện vai trò xung kích trên nhiều lĩnh vực, góp phần định hướng dư luận, giữ ổn định chính trị, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực...
Báo chí thật sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, đến năm 2023, cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000.
Với sự hỗ trợ của công nghệ, hệ thống báo điện tử đang hoạt động ngày càng mạnh mẽ, tạo ra sự tương tác tích cực đối với bạn đọc. Hợp tác quốc tế trong truyền thông cũng đang được tăng cường.
Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Công tác đào tạo, trao đổi, hợp tác về báo chí trong và ngoài nước ngày càng được quan tâm. Không chỉ vậy, mạng xã hội cũng là một kênh thông tin tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông.
Mọi công dân đều được quyền phát ngôn, thảo luận các vấn đề của đời sống. Đây là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất cho vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam được bảo đảm.
Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, tự do báo chí không có nghĩa là bất chấp mọi quy định pháp luật. Tự do phải trong khuôn khổ luật pháp quốc gia. Không chỉ riêng báo chí mà bất kỳ lĩnh vực nào khác của đời sống cũng phải hoạt động theo tinh thần thượng tôn pháp luật.
Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13, khoản 2).
Đồng thời tại khoản 3, Điều 25 về Quyền và nghĩa vụ của nhà báo, Luật Báo chí quy định, nhà báo có nghĩa vụ thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.
Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí ở Việt Nam lấy mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Người làm báo luôn gắn trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, không phải là tự do tùy tiện theo ý chí cá nhân.
Do đó khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mọi công dân đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, không làm ảnh hưởng hay xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Thực chất thủ đoạn xuyên tạc tình hình nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận của Việt Nam không phải là mới. Đây là kịch bản cũ thường xuyên được RSF và một số tổ chức nhân danh dân chủ, nhân quyền áp dụng, rêu rao để vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Mặt khác, qua đó kích động, tuyển lựa hỗ trợ các thành phần chống đối trong nước tiến hành những hoạt động công kích Đảng, Nhà nước, cơ quan công quyền dưới vỏ bọc “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do” nhằm phục vụ cho mục đích đen tối của mình.
Một thực tế không thể phủ nhận là ở Việt Nam, không người nào bị kết án tù vì thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những trường hợp bị xử lý hình sự đều do thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của Nhà nước, cũng như các tổ chức, cá nhân, gây bất bình trong dư luận.
Việc bắt giữ, xử lý hình sự một số đối tượng nhân danh “tự do ngôn luận” để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định chính trị là cần thiết và đúng với quy định pháp luật. Tuy nhiên các thế lực thù địch đã lợi dụng những vụ việc này để rêu rao vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí hòng chống phá Việt Nam.
Chúng cố tình gắn mác cho những đối tượng cực đoan, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là “nhà báo độc lập”, hay “nhà báo tự do”, cho dù các đối tượng này không hề làm việc cho một cơ quan báo chí nào ở Việt Nam, không được Bộ Thông tin và Truyền thông ở Việt Nam cấp thẻ theo luật định.
Từ đây các đối tượng ra sức bóp méo tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, kêu gọi các tổ chức quốc tế lên án Việt Nam.
Có thể thấy rằng, cái gọi là “tự do báo chí” mà những phần tử thù địch muốn tuyên truyền, cổ xúy thực chất là đề cao quan điểm cá nhân nhưng không đi kèm với trách nhiệm xã hội, khuôn khổ pháp luật và đạo đức, bất chấp những hậu quả xảy ra với cộng đồng, quốc gia, dân tộc.
Đây là điều không thể chấp nhận được bởi trong một xã hội tiến bộ, tự do ngôn luận, tự do báo chí không thể nằm ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc. Mọi hành vi phá hoại đất nước, gây mất an ninh trật tự xã hội nhân danh tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải bị ngăn chặn và loại bỏ.
Cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng khẳng định: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.
Trước đó, trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 cũng nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Rõ ràng sẽ không có quốc gia nào ủng hộ tự do báo chí nếu đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, xã hội. Như tại Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận cũng đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc, trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự); đồng thời, việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.
Hệ thống các quy định pháp luật của nước ta luôn tương thích với các quy định quốc tế trong vấn đề tự do báo chí. Nền báo chí cách mạng Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước.
Do đó, những luận điệu xuyên tạc, thiếu thiện chí nhằm bôi nhọ, bịa đặt tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, hay các bảng xếp hạng thiếu căn cứ của một số tổ chức, cá nhân không thể phủ nhận, bóp méo những thành tựu to lớn mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được.
Trong cuộc đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng, bên cạnh việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị rất cần sự vào cuộc tích cực của nhân dân. Bởi nếu phát huy được sức mạnh của người dân trong việc nhận diện với các quan điểm, xu hướng tiêu cực để đấu tranh ngăn chặn kịp thời, đồng thời làm tốt công tác tư tưởng sẽ giúp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
Sinh năm 1942, 54 năm tuổi đảng, là cựu giáo chức, dù đã về hưu nhiều năm nay nhưng bà Hà Thị Thi (phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội) vẫn luôn đau đáu với các vấn đề của đất nước, đồng thời tích cực tham gia công tác Đảng tại nơi cư trú. Bà thường xuyên dành thời gian theo dõi các vấn đề chính trị-xã hội, chủ động cập nhật các chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước để thông tin, chia sẻ cùng các cán bộ, đảng viên trong Chi bộ cũng như người dân trên địa bàn. Bên cạnh việc tích cực xem tin tức trên báo, đài, bà còn quan tâm đến các thông tin được đăng tải trên mạng xã hội. Thời gian gần đây, bà Thi hết sức lo lắng trước hiện tượng các thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin sai sự thật về công tác cán bộ được phát tán trên mạng. Điều nguy hại là không ít người dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên tìm đọc, tham gia bình luận và chia sẻ rộng rãi. Từ đây những thông tin “vỉa hè”, với chủ ý xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng, tuyên truyền thuyết âm mưu về cái gọi là “đấu tranh phe cánh, thanh trừng nội bộ trong Đảng” đã ít nhiều gây tâm lý hoang mang trong dư luận. Thậm chí có lúc, có nơi một bộ phận người dân có biểu hiện suy giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, hoài nghi về công tác nhân sự của Đảng.
Nếu chỉ nhìn bề ngoài thì dường như đây chỉ là những hiện tượng có tính chất manh mún, nhỏ lẻ. Tuy nhiên nếu không kịp thời nắm bắt, có biện pháp kiểm soát và ngăn chặn kịp thời, rất có thể từ những “đốm lửa nhỏ” này sẽ gây ra mối nguy hại lớn ảnh hưởng tiêu cực đến công tác xây dựng Đảng, gây mất ổn định trật tự an toàn xã hội, đe dọa đến sự tồn vong của hệ thống chính trị. Tâm tư của bà Hà Thị Thi cũng là tâm tư của nhiều đảng viên lão thành, cũng như trong bộ phận nhân dân hiện nay, nhất là trong bối cảnh thông tin mạng xã hội đang phát triển nhanh chóng, ngày càng phổ cập. Thực trạng này cho thấy công tác chủ động, phòng chống các thông tin xấu độc, bịa đặt, xuyên tạc, giữ vững “mặt trận tư tưởng” trong quần chúng nhân dân ở giai đoạn hiện nay cần phải được hết sức quan tâm.
Thực tế qua quan sát thực tiễn đời sống thì không chỉ cán bộ, đảng viên mà đông đảo người dân đều dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác nhân sự của Đảng. Điều này xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề này đối với việc duy trì môi trường chính trị-xã hội ổn định và thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên sự quan tâm của từng cá nhân không phải lúc nào cũng được thể hiện một cách đúng đắn, phù hợp. Cụ thể là trong khi đa số cán bộ, đảng viên, người dân thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, cũng như công tác cán bộ của Đảng, đánh giá cao quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh thì bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận tỏ ra hoài nghi, thiếu tin tưởng, có thái độ chỉ trích cách điều hành, hoạt động của các tổ chức đảng cũng như của cả hệ thống chính trị.
Tư tưởng không vững thì ắt sẽ dẫn đến những suy nghĩ, hành động không đúng đắn, chuẩn mực. Hậu quả là xuất hiện một số cá nhân tùy tiện bày tỏ sự bất mãn trên mạng xã hội, thể hiện những cái nhìn cực đoan, méo mó, sai trái về công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước, cho rằng đó là vì “lợi ích nhóm chứ không vì lợi ích của đất nước”. Thay vì tìm hiểu các thông tin, sự việc được quan tâm từ các nguồn chính thống, tin cậy, các cá nhân này đưa ra những suy đoán vô căn cứ, hồ đồ, ác ý, hoặc đưa ra những dự báo về những thay đổi nhân sự trong thời gian tới kèm theo những phân tích mang mầu sắc chủ quan, thiếu căn cứ. Ma trận tin thật-tin giả ít nhiều gây hoang mang, dao động trong cộng đồng đang ngày càng lây lan với tốc độ chóng mặt, đe dọa gây ra những hậu quả khôn lường. Đã xuất hiện tình trạng “làm nhân sự” tại bàn trà, quán nhậu. Đã có những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ, nguy cơ làm lung lay niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, từ đây hình thành tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội.
Lợi dụng điều này, các phần tử cơ hội, cực đoan, thù địch tìm mọi thủ đoạn hòng khoét sâu những nghi ngờ, hoang mang trong dư luận bằng việc tiếp tục “bơm” ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về đời tư các lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, dựng nên một “cuộc chiến một mất một còn giữa các phe phái” trong nội bộ Đảng... Không khó để nhận ra mục tiêu của các đối tượng là phá hoại công tác nhân sự nói riêng, công tác xây dựng Đảng nói chung thông qua việc gây chia rẽ trong nội bộ Đảng và trong quần chúng nhân dân, khiến người dân mất lòng tin đối với Đảng, nghi ngờ công tác nhân sự của Đảng, bất hợp tác với chính quyền, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các đối tượng chống phá kích động người dân kêu gọi tự do dân chủ bằng cách đòi đa nguyên đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, kêu gọi biểu tình bạo loạn chống chính quyền.
Rõ ràng sự quan tâm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công tác nhân sự của Đảng là chính đáng và cần thiết, tuy nhiên sự quan tâm này cũng cần thực hành đúng đắn trên cơ sở tôn trọng luật pháp. Nhằm tạo điều kiện cho người dân được thể hiện vai trò, trách nhiệm đối với các vấn đề của đất nước, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy định, đạo luật có liên quan, tiêu biểu như Hiến pháp, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Dân sự,... Cụ thể tại Điều 3, Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Xác định nguyên tắc “thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” Đảng ta đã không ngừng sáng tạo ra những phương thức mới, cách làm hay nhằm phát huy tối đa vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng.
Liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng được đông đảo người dân quan tâm, theo dõi, phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự (ngày 13/3/2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Ban Chấp hành Trung ương mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, của các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị và các địa phương”. Từ đây đòi hỏi sự quan tâm, thể hiện trách nhiệm tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên đó là phải giữ vững lập trường tư tưởng, thực hiện đúng quan điểm đường lối của Đảng về công tác nhân sự, kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch, tham gia định hướng dư luận xã hội, làm tốt công tác tư tưởng trong quần chúng nhân dân, góp phần giữ vững “thế trận lòng dân”.
Thực tiễn đã chứng minh, trong các giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, việc xây dựng “thế trận lòng dân”, giữ vững mặt trận tư tưởng trong quần chúng nhân dân luôn có ý nghĩa rất quan trọng, được xem là một trong những giải pháp vừa có tính cấp bách vừa có tính bền vững, lâu dài trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Theo đó mục tiêu cần đạt được đó là củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quy tụ, tập hợp, khơi dậy, phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên của các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó phát huy tinh thần chủ động của mọi tầng lớp nhân dân trong công cuộc đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch, kiên quyết bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trước tình hình chống phá ác liệt của các thế lực thù địch đối với công tác nhân sự của Đảng nhất là trên không gian mạng, yêu cầu đặt ra đối với cả hệ thống chính trị đó là phải giữ vững thế trận lòng dân, làm chủ trận địa thông tin, làm tốt công tác định hướng dư luận. Kịp thời thông tin, tuyên truyền về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, cũng như thông tin về các vấn đề, vụ việc nhạy cảm để nhân dân nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng. Cần chú trọng việc đổi mới nội dung, phương thức thông tin tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tiếp tục làm tốt công tác dự báo, nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, kịp thời định hướng dư luận xã hội. Song song đó cần phân tích, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc của các thế lực thù địch, phản động để người dân nhận diện, chủ động phòng tránh cũng như có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân tán phát thông tin sai trái, xấu độc; kịp thời phát hiện và nghiêm trị các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, phản động. Đồng thời các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo, nâng cao sức đề kháng, không để bản thân bị lôi kéo hoặc tiếp tay cho đối tượng xấu, không lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng, tin bịa đặt sai sự thật xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước. Khi bị đề cao cảnh giác, tẩy chay, không ai đọc, không ai quan tâm phát tán, lan truyền thì các thông tin xấu độc sẽ không còn cơ hội để phát tán, gieo rắc mầm độc hại trong cộng đồng. Dân tin Đảng, quyết tâm bảo vệ Đảng thì không kẻ thù nào có thể làm suy yếu được sức mạnh của Đảng, của đất nước, không thể cản trở con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ■
Có thể thấy, an ninh mạng không gian vũ trụ là vấn đề mới trên thế giới, hiện đang được quốc tế cũng như nhiều quốc gia, chủ thể lợi ích nghiên cứu, tìm hiểu. Đối với Việt Nam, mặc dù chưa có văn bản nào thể hiện quan điểm, lập trường hay nghiên cứu về vấn đề này, nhưng ngay từ sớm, Đảng ta đã đề ra những chủ trương thúc đẩy việc giải quyết các tác động của an ninh mạng, công nghệ vũ trụ, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc nói chung, hệ thống quốc phòng - an ninh của đất nước nói riêng.
Về an ninh mạng, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia đầu tiên quan tâm đến vấn đề an ninh mạng và những mối nguy cơ, đe dọa từ an ninh mạng. Điều này được thể hiện xuyên suốt trong các Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng, đó là: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(12). Những quan điểm, nội hàm về an ninh mạng của Việt Nam đều được thể hiện ở các cấp độ cao nhất tại các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương, nhất là Liên hợp quốc.
Đối với vấn đề không gian vũ trụ, trong nhiều năm qua, tại các diễn đàn đa phương khu vực, quốc tế, Việt Nam luôn nhấn mạnh việc tham gia khoảng không vũ trụ là quyền bất khả xâm phạm của tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt trình độ phát triển; thể hiện ủng hộ các nỗ lực quốc tế nhằm thúc đẩy việc sử dụng hòa bình khoảng không vũ trụ, kêu gọi các quốc gia kiềm chế không để xảy ra chạy đua vũ trang trong vũ trụ, đồng thời chia sẻ mong muốn tăng cường trao đổi, hợp tác với cộng đồng quốc tế về khoa học - công nghệ vũ trụ, bảo đảm an ninh, an toàn không gian vũ trụ, nhằm phục vụ phát triển bền vững cho tất cả mọi người dân trên thế giới. Đồng thời, Việt Nam luôn nhấn mạnh các hoạt động thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ phải phục vụ mục đích hòa bình và lợi ích của toàn thể nhân loại, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Theo đó, Việt Nam đã ký kết các hiệp định, bản ghi nhớ về nghiên cứu, hợp tác, sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vào mục đích hòa bình với Nga (năm 2012), Ấn Độ (năm 2016), Mỹ (năm 2019). Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã ký kết nghị định thư, thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn Airbus Defense & Space ASA (năm 2018), Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA, năm 2011), Cơ quan vũ trụ thuộc Bộ Khoa học Công nghệ Israel (năm 2017). Hằng năm, Việt Nam đều cử các đoàn cán bộ chủ động, tích cực tham dự, đóng góp nội dung chương trình nghị sự của các cuộc họp của Ủy ban sử dụng hòa bình không gian vũ trụ (COPUOS) tại Thủ đô Viên (Áo). Trong khuôn khổ Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), Việt Nam chủ động tham gia các phiên họp, đóng góp ý kiến cho các nghị quyết, khuyến nghị, mục tiêu chiến lược,... trong các chương trình của ITU, nhằm bảo đảm quyền lợi của các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam; tích cực tham gia các hoạt động về quản lý, vận hành vệ tinh... Ở trong nước, bên cạnh việc triển khai các dự án quan trọng, như xây dựng Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, các dự án vệ tinh viễn thám VNREDSAT-1, VINASAT-1, VINASAT-2, xây dựng trạm thu, trung tâm xử lý ảnh vệ tinh, hệ thống giám sát tài nguyên thiên nhiên, trạm xử lý hình học viễn thám và trung tâm xử lý dữ liệu nhằm phục vụ cho các ngành kinh tế quốc dân và nghiên cứu khoa học; Việt Nam đã và đang xây dựng, ban hành các văn bản quan trọng về công nghệ vũ trụ phục vụ các lợi ích quốc phòng - an ninh và phát triển nhanh, bền vững.
Vệ tinh MicroDragon - vệ tinh đầu tiên do các chuyên gia, kỹ sư Việt Nam thiết kế, chế tạo đã phóng lên quỹ đạo bằng tên lửa đẩy Epsilon tại Trung tâm vũ trụ Uchinoura (Nhật Bản)_Nguồn: tuoitre.vn
Tuy nhiên, do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, Việt Nam vẫn còn có những hạn chế trong lĩnh vực không gian vũ trụ. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh như vũ bão, đặc biệt là công nghệ vũ trụ, tạo ra không ít cơ hội về kinh tế và phát triển, nhưng cũng mang đến nhiều rủi ro, thách thức, nguy cơ khó lường về chính trị, đối ngoại và an ninh đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đơn cử như, an ninh mạng không gian mạng vũ trụ là vấn đề phát sinh rất mới với những nguy cơ đã và đang khiến cộng đồng quốc tế nói chung và các quốc gia đang phát triển như Việt Nam nói riêng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm hướng tiếp cận, giải quyết và bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia trong không gian mạng và không gian vũ trụ. Do đó, để nhận diện, giải quyết các nguy cơ đến từ vấn đề an ninh mạng không gian vũ trụ, từ đó tổng kết thành các phương thức đóng góp vào lý luận bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, xin đề xuất một số hàm ý tham chiếu đối với Việt Nam như sau:
Về chủ trương chung, cân nhắc việc sớm coi vấn đề an ninh mạng không gian vũ trụ là một trong những nội dung quan tâm hàng đầu về quốc phòng - an ninh mà Việt Nam cần triển khai nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vị thế, ảnh hưởng của đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Ở cấp độ toàn cầu: Một là, cân nhắc tham gia tích cực các sáng kiến xây dựng cơ chế toàn cầu về quản trị không gian mạng, không gian vũ trụ, trong đó tập trung vào việc xây dựng nhận thức chung về chuẩn mực, luật lệ và ứng xử trong không gian mạng và không gian vũ trụ, cũng như các quy định trách nhiệm khi vi phạm những chuẩn mực, luật lệ có tính ràng buộc đã được đề ra. Bên cạnh đó, tham gia, thực thi các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc về khoảng không vũ trụ nhằm bảo vệ chủ quyền, bảo đảm an ninh và các lợi ích quốc gia - dân tộc về quốc phòng - an ninh; nghiên cứu, chủ động tham gia xây dựng, cập nhật văn kiện quốc tế tại các cơ chế hợp tác đa phương quốc tế của Liên hợp quốc về kiểm soát vũ khí mạng, không gian vũ trụ, các giải pháp công bằng và minh bạch cho vấn đề quỹ đạo không gian, tài nguyên tần số, trong đó nhấn mạnh cần xem xét đầy đủ sự quan tâm của các quốc gia đang phát triển; ủng hộ việc cấm các hoạt động phi pháp xâm nhập mạng đối với các tài sản không gian vũ trụ và việc triển khai bất kỳ loại vũ khí nào trong không gian, cũng như sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong không gian vũ trụ; nêu các quan ngại, hệ lụy an ninh từ vấn đề rác thải vũ trụ. Hai là, thúc đẩy hợp tác quốc tế giữa các quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực vũ trụ cùng an ninh mạng có chung lợi ích và giá trị chung để tăng cường sự phát triển các khuôn khổ hợp tác trong một số lĩnh vực chính, như phát triển năng lực và công nghệ, duy trì hoạt động và nâng cao năng lực an ninh tập thể. Ba là, theo dõi, nghiên cứu, đánh giá tác động của cuộc xung đột Nga - Ukraina (hay còn được gọi là cuộc chiến không gian mạng vũ trụ đầu tiên) và những căng thẳng địa - chính trị toàn cầu khác đối với cục diện thế giới, nhất là quan hệ giữa Mỹ, phương Tây và Nga, Trung Quốc trong thời gian tới, qua đó, có sự chuẩn bị trước, cũng như tranh thủ nắm bắt thời cơ, chủ động tham gia, đóng góp vào quá trình thảo luận xây dựng các cam kết chính trị toàn cầu về sử dụng hòa bình và bảo đảm bền vững khoảng không vũ trụ gắn liền với an ninh mạng. Bốn là, chủ động tham gia, đóng góp và tranh thủ các cơ hội từ việc thực hiện Chương trình vũ trụ đến năm 2030 (Space 30) của Liên hợp quốc, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết tham gia hợp tác của tất cả các chủ thể liên quan trên thế giới; tham gia đóng góp, thảo luận tại Liên hợp quốc về triển khai 7 ưu tiên trong chương trình đối tác toàn cầu nhằm cung cấp các hỗ trợ, lợi ích thu được từ không gian vũ trụ cho các quốc gia để hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững(13). Năm là, nghiên cứu, đề xuất các đóng góp của Việt Nam đối với những nội dung cập nhật cơ chế quốc tế về quản trị, quản lý không gian vũ trụ và an ninh mạng không gian vũ trụ, trong đó nhấn mạnh biện pháp xây dựng lòng tin trong các loại hình không gian, phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam và các nguyên tắc bảo đảm không gian vũ trụ là tài sản chung của nhân loại và là một miền hòa bình.
Ở cấp độ khu vực: Thứ nhất, trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), nghiên cứu thúc đẩy xây dựng lập trường, quy tắc của ASEAN về quản trị an ninh mạng không gian vũ trụ, cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin về rủi ro mạng đối với các thông tin viễn thám phục vụ các hoạt động nhân đạo, cảnh báo sớm sự xuống cấp của môi trường... Thứ hai, chủ động tham gia đóng góp vào quá trình xây dựng các quy định ràng buộc hoặc không ràng buộc đối với các chủ thể tham gia trong khai thác và sử dụng không gian vũ trụ và không gian mạng trên cơ sở các khuôn khổ hợp tác (hỗn hợp) hiện có. Thứ ba, tham gia thúc đẩy nội dung hợp tác quốc tế, xây dựng lòng tin, minh bạch, giải quyết các nguy cơ an ninh mạng không gian vũ trụ với cách tiếp cận toàn diện và cân bằng tại các cơ chế về vũ trụ trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).
Ở cấp độ quốc gia: Một là, cân nhắc nghiên cứu, rà soát, bổ sung nội dung về an ninh mạng không gian vũ trụ vào các chiến lược về quốc phòng - an ninh, an ninh mạng, không gian mạng quốc gia của Việt Nam; sớm xây dựng văn bản pháp luật khung về nội dung an ninh mạng không gian vũ trụ phục vụ việc quản lý, phát triển nhanh, bền vững, trong đó có nội dung về bảo vệ, quản lý tài sản vũ trụ thiết yếu phục vụ hoạt động của ngành tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, làm rõ nội hàm, đặc điểm, tác động của vấn đề này đối với lợi ích an ninh, phát triển và vị thế của Việt Nam, qua đó đề xuất phương thức triển khai bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới phù hợp với thực tiễn của từng thời điểm(14). Hai là, từng bước xây dựng, phát triển, nâng cấp “đơn vị đặc biệt” (nếu có) về an ninh mạng và không gian vũ trụ trong triển khai bảo vệ Tổ quốc và các lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới. Ba là, thúc đẩy hợp tác quốc tế song phương về an ninh mạng không gian vũ trụ, trong đó chú trọng vào mạng lưới quan hệ đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam, trên một số phương diện, như: 1- Nỗ lực ngăn ngừa và chống những nguy cơ chung về an ninh mạng, chia sẻ thông tin về các hoạt động mạng nguy hiểm hoặc các mối đe dọa không gian mạng và tham gia phối hợp diễn tập, hiệp đồng tác chiến giải quyết các nguy cơ, đe đọa an ninh mạng không gian vũ trụ; 2- Hợp tác, hành động và ứng phó tập thể đối với các biến cố, tấn công an ninh mạng vào không gian vũ trụ, góp phần giải quyết các sự cố và ngăn chặn những hoạt động gây hại trên không gian vũ trụ một cách hiệu quả; 3- Chia sẻ chính sách và xây dựng đồng thuận chung đối với sự ổn định không gian mạng và không gian vũ trụ nhằm thiết lập các quy chuẩn, quy định quốc tế và biện pháp trừng phạt đối với những hành vi đe dọa trên không gian mạng. Bốn là, nghiên cứu xây dựng hệ sinh thái vũ trụ Việt Nam, trong đó tập trung nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, người dân về tiềm năng phát triển sản xuất, kinh doanh, khởi nghiệp theo hướng đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực khoa học - công nghệ vũ trụ đi kèm với bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Năm là, cân nhắc nghiên cứu xây dựng cơ chế liên ngành về vấn đề này, trong đó cần có sự tham gia của các ngành khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, thông tin - truyền thông..., đồng thời tính đến sự tham gia hợp tác của các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân về công nghệ; xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về không gian vũ trụ trên cơ sở phát huy các nguồn lực hiện có, có thể tính đến xã hội hóa.
Ở cấp độ doanh nghiệp: Thứ nhất, an ninh mạng không gian vũ trụ đang nổi lên như một thị trường sinh lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi sự phụ thuộc của con người vào vệ tinh để liên lạc, điều hướng và truyền tải dữ liệu ngày càng tăng sẽ dẫn tới tăng nhu cầu về các biện pháp an ninh mạng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tranh thủ nắm bắt cơ hội này đầu tư nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ tiên tiến, đổi mới sáng tạo đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của ngành an ninh mạng không gian vũ trụ. Thứ hai, an ninh mạng không gian vũ trụ có thể dẫn đến việc hình thành liên minh chiến lược với các chủ thể lợi ích khác trong lĩnh vực này, chẳng hạn như nhà sản xuất vệ tinh, nhà cung cấp dịch vụ phóng vệ tinh, nhà khai thác vệ tinh..., có thể giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng phạm vi tiếp cận, cũng như củng cố vị thế trên thị trường khu vực và thế giới. Những mối quan hệ hợp tác này cũng có thể mang đến nhiều dự án hợp tác chung, góp phần tăng cường lòng tin trong hợp tác phát triển khoa học - công nghệ vũ trụ.
Tóm lại, an ninh mạng không gian vũ trụ là một vấn đề rất mới, mang đến những cơ hội, thách thức, thậm chí là hậu quả khó lường đối với chủ thể nhà nước và phi nhà nước trong quan hệ quốc tế. Để có thể tránh rủi ro, cũng như quản lý, quản trị tốt các nguy cơ từ vấn đề này, khai thác tối đa các tiềm năng từ các công nghệ đột phá mang tính biến đổi trong không gian mạng và không gian vũ trụ, cần có sự nỗ lực ở cấp chính sách quốc gia và quản trị toàn cầu. Đáng chú ý, cần có sự thiện chí, hợp tác trong việc xác định những nguyên tắc ứng xử có trách nhiệm trong không gian mạng và không gian vũ trụ để mang lại sự đồng thuận đa phương một cách rộng rãi. Các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cần kịp thời xây dựng, ban hành các chính sách quốc gia để bảo vệ chống lại các mối đe dọa đối với tài sản và ứng dụng trên không gian vũ trụ ngày càng quan trọng đối với cả an ninh quốc gia và an ninh kinh tế. Bên cạnh đó, việc khuyến khích sự phát triển của ngành an ninh mạng vũ trụ, ngoài mục tiêu bảo vệ, chống các mối đe dọa đến từ an ninh mạng không gian vũ trụ, cũng sẽ mang lại các lợi ích căn bản đối với Việt Nam, khi lĩnh vực này đang có tiềm năng trở thành động lực đáng kể cho tăng trưởng./.
1-Thực tiễn đã cho thấy, dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn mong muốn, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập. Tuy nhiên, xuyên suốt lịch sử của dân tộc, các thế lực ngoại bang luôn tìm mọi cách để thôn tính, xâm lăng, chống phá nước ta. Vì vậy, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh để làm cho “quốc phú - binh cường”; chú trọng giữ vững ổn định ở bên trong và tiến hành bang giao hòa hiếu với các quốc gia láng giềng để giữ cho “nội yên - ngoại tĩnh” đã trở thành ý thức thường trực, kinh nghiệm quý báu trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Kế thừa, phát huy truyền thống, kinh nghiệm quý báu của dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và luôn quan tâm, chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh nhằm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Bộ đội Biên phòng giúp dân vươn khơi bám biển quê hương (ảnh: Dương Xuân Bình)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Sau cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước bước vào thời kỳ độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nước ta vẫn phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách nặng nề; khi đó, Đại hội IV của Đảng (năm 1976) chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách cần phải tập trung giải quyết là: “Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đi đôi với việc xây dựng đất nước về mọi mặt, phải ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâm lược. Phải kết hợp chặt chẽ nghĩa vụ lao động với nghĩa vụ quân sự để vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế, vừa bảo đảm củng cố quốc phòng một cách vững chắc”(1).
Tuy nhiên, trong khi tình hình kinh tế - xã hội đang khó khăn chồng chất chưa được tháo gỡ, thì ngay sau đó, nước ta lại phải tiến hành hai cuộc chiến đấu chống xâm lược để bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Trong bối cảnh đó, Đại hội V của Đảng (năm 1982) đã chỉ rõ: Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, “phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện và hiện đại... Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Đó là những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của công cuộc bảo vệ Tổ quốc”(2). Chính tinh thần cảnh giác, chủ động và sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã tạo nên sức mạnh to lớn để chúng ta vượt qua thử thách ngặt nghèo, đánh bại mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, tư duy mới của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng từng bước được hình thành, bổ sung và phát triển. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định: “Chúng ta phải thấu suốt và thực hiện đúng quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, kiên trì chấp hành và cụ thể hoá đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3).
Tuy nhiên, khi đất nước ta vừa bắt tay vào công cuộc đổi mới, thì các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng dẫn đến sụp đổ...; lúc này, vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã nhấn mạnh: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”(4).
Đặc biệt, tháng 7-2003, Hội nghị Trung ương 8 khóa IX ban hành “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó chỉ rõ: Chúng ta kiên định lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước. Do đó, “sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước, trước hết là tiềm lực về chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế; tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân mà mấu chốt là thế trận lòng dân; đẩy mạnh giáo dục quốc phòng; phát triển phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức làm nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống”(5).
Như vậy, tư duy của Đảng về quân sự, quốc phòng đã có bước phát triển rất quan trọng, đó là “từ tư duy quân sự là chủ yếu sang tư duy về quốc phòng là cơ bản” nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột và xem đây là lợi ích cao nhất của đất nước.
Tháng 10-2013, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và dự báo những nhân tố tác động mới, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trong đó, xác định củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phải tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Đặc biệt, ngày 16-4-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chiến lược quốc phòng Việt Nam”. Nghị quyết xác định rõ mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương thức, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nền quốc phòng vững mạnh để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Về nguyên tắc xây dựng nền quốc phòng, Đảng ta khẳng định: Thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Những nguyên tắc trên thể hiện rõ mục đích, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam, đồng thời cho thấy mong muốn, thiện chí của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.
Trên cơ sở đó, phương châm chỉ đạo được xác định là: Thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến; kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, sự biến động phức tạp của tình hình, sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng. Kiên định phương châm “người trước, súng sau”, lấy con người là trung tâm, trọng tâm trong công tác quốc phòng. Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, trình độ, năng lực hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì kết hợp vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở nắm vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn bớt thù, giữ cân bằng chiến lược với các nước lớn và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước và các tổ chức quốc tế, không để nước ngoài lợi dụng hoặc thỏa hiệp với nhau làm phương hại tới độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc.
Về phương thức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Chiến lược quốc phòng Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn diện, bảo vệ vững chắc hòa bình, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà không phải tiến hành chiến tranh; tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các loại hình tổ chức kinh tế - xã hội và từng vùng, miền. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững trên cả nước, mạnh ở trọng điểm. Thời bình thực hiện sự nghiệp quốc phòng là “của dân, do dân, vì dân”; quốc phòng thời chiến phải “bám trụ, bám dân” để chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Chuẩn bị sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến.
Đến Đại hội XIII của Đảng, Đảng chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh với phương hướng: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(6). Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại...
Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (tháng 10-2023) tiếp tục ban hành Nghị quyết số 44-NQ/TW, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó xác định: Phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; “… dựa vào dân, lấy “dân là gốc”, khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân”, lấy “yên dân” là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(7). Đồng thời, tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Cùng với tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và đấu tranh quốc phòng. Năm 2019, trong lần thứ tư công bố Sách trắng quốc phòng, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8). Đồng thời, “Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược”(9). Đặc biệt, “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”(10).
Về đấu tranh quốc phòng, Việt Nam chủ trương phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong đấu tranh quốc phòng, cả phi vũ trang và vũ trang; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa; không để nước ngoài lợi dụng, thỏa hiệp với nhau hoặc với các thế lực thù địch làm phương hại đến độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; xử trí linh hoạt, hiệu quả từng tình huống. Điều này cho thấy, mong muốn, thiện chí và lập trường kiên định trước sau như một của Việt Nam trong đối ngoại và đấu tranh quốc phòng là vì một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển, không có xung đột, chiến tranh.
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và trước yêu cầu của thời kỳ mới, ngày 28-4-2023, Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Kết luận số 53-KL/TW, về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, trong đó xác định rõ: Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nhằm góp phần tăng cường tiềm lực, khả năng tự lực, tự cường về quân sự, quốc phòng, nâng cao sức mạnh quốc phòng và sức mạnh tổng hợp của đất nước để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại quốc phòng trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước; nâng cao vị thế, vai trò, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
2- Như vậy, trong thời kỳ mới, tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc nói chung, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng có bước phát triển quan trọng và ngày càng hoàn thiện, với phương châm cốt lõi là làm cho đất nước không phải tiến hành chiến tranh mới là quốc phòng tối ưu và càng chuẩn bị tốt nhất cho sẵn sàng chiến tranh thì chiến tranh càng lùi xa. Do đó, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là “thế trận lòng dân” được củng cố ngày càng vững chắc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vẫn tồn tại những bất cập, hạn chế; trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, quyết liệt và toàn diện hơn. Vì vậy, để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới.
Đây là nội dung quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, toàn diện. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và toàn dân thấm nhuần sâu sắc truyền thống đánh giặc, giữ nước kiên cường, anh dũng của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; thấy rõ được giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; nhận thức đúng đắn quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng, từ đó, phát huy ý thức, trách nhiệm, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững quan điểm về đối tác, đối tượng; biết nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc...; nâng cao cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá ngay từ địa phương, cơ sở, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Cú cùng nhân dân trên địa bàn tuần tra, bảo vệ đường biên, cột mốc_Ảnh: TTXVN
Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hiện nay, do tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng nên sự ảnh hưởng, phụ thuộc và thâm nhập lẫn nhau giữa hoạt động quân sự, quốc phòng với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội ngày càng gia tăng. Vì vậy, sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc không thể chỉ dựa vào lực lượng vũ trang, mà phải thấm sâu và trở thành ý thức thường trực, hành động cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân và trong tất cả các hoạt động, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, phải không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; thể chế hóa kịp thời các chủ trương, chính sách về xây dựng nền quốc phòng toàn dân; hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc; tạo cơ chế để huy động tốt nhất sự đóng góp của các cấp, các ngành, của mọi tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sức ép “chọn bên” ngày càng gay gắt hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền quốc phòng theo hướng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, lấy sức mạnh nội lực là chính; đồng thời, mở rộng hợp tác quốc phòng, tranh thủ có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài để xây dựng nền quốc phòng ngày càng toàn diện, hiện đại cả về lực lượng, thế trận, vũ khí trang bị, khoa học và nghệ thuật quân sự, bảo đảm có đủ tiềm lực, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Ba là, chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.
Thực tiễn lịch sử của đất nước ta cho thấy, khi nào lòng dân thuận thì thế nước mạnh, lòng dân ly tán thì thế nước yếu. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch hiện nay, thì vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân càng có ý nghĩa quan trọng. Do đó, phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn... Thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo, khoảng cách giữa các vùng, miền; thực hiện tiến bộ, công bằng và bảo đảm an sinh xã hội, làm cho mọi người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đặc biệt, phải luôn coi trọng giữ gìn, bồi đắp mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; thực sự trọng dân, gần dân, sát dân, tin dân, hiểu dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm, chăm lo đến lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xử lý triệt để những vấn đề gây bất bình, bức xúc trong nhân dân. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, thực hiện có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; động viên toàn dân tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc ở tất cả các cấp, các địa bàn, biên giới, biển, đảo và trên các môi trường (trên bộ, trên không, trên biển, không gian mạng), sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng thời bình và chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Bốn là, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.
Lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Do đó, phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam có cơ cấu, tổ chức hợp lý, tinh, gọn, cơ động, có sức chiến đấu cao, có vũ khí, trang bị hiện đại; nâng cao khả năng phòng thủ tác chiến tầm cao, tầm xa, khả năng kiểm soát vùng trời, vùng biển, đảo xa bờ, tác chiến ban đêm, sẵn sàng đánh thắng trong các tình huống xung đột và chiến tranh. Cùng với đó, chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có chất lượng cao; đồng thời, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa quân đội với công an và dân quân tự vệ tạo sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, toàn diện các chủ trương, giải pháp để làm cho đất nước mạnh lên về mọi mặt; trong đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh chính là phương thức tối ưu, hiệu quả nhất để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa./.