Thứ Năm, 30 tháng 5, 2024

Đạo đức của Đảng, các yếu tố tác động và giải pháp bảo vệ, hoàn thiện.

 Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, được Đảng ta đề cao, thường xuyên quan tâm và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Bài viết làm rõ các yếu tố tác động đến đạo đức của Đảng; đề xuất một số giải pháp bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng theo yêu cầu phát triển của thời đại. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia mã số KX.02.11/21 - 25.

 


 

Đạo đức của Đảng, các yếu tố tác động và giải pháp bảo vệ, hoàn thiện

Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh_Ảnh: dangcongsan.vn

1. Mở đầu

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức cách mạng. Đó là các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn điều chỉnh tổ chức, hoạt động của Đảng và đảng viên có tính lan tỏa, định hướng đạo đức xã hội nhằm thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng; được thấm sâu trong chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng và chính trị, tư tưởng, tổ chức phải được thực hiện, điều chỉnh một cách có đạo đức, hòa quyện một cách tự nhiên vào đạo đức. Đạo đức đó được thể hiện qua tổ chức đảng và cá nhân thành viên của Đảng (đảng viên).

2. Khái quát về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam

Về phương diện đạo đức của tổ chức: Các chuẩn mực cơ bản thể hiện đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định ngay trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết; trong tổ chức, hoạt động lãnh đạo cách mạng và kết quả trong thực tiễn của Đảng. Đó là:

Thứ nhất, về bản chất, mục đích, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ khi thành lập đến nay, Điều lệ Đảng luôn khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc.

Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”. “Đảng kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới”. Đây là những vấn đề có tính cốt lõi về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lợi ích của Đảng chính là lợi ích của nhân dân, của quốc gia, của dân tộc, ngoài ra Đảng không có lợi ích nào khác. Điều đó không chỉ nằm ở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng mà được Đảng ta hiện thực hóa trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, về nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”.

Nền tảng tư tưởng đó không chỉ khẳng định bản chất giai cấp công nhân, mà còn là đạo đức, văn minh của Đảng ta. Trên cơ sở kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh hoa văn hóa nhân loại được tiếp thu, vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với đặc điểm chính trị, văn hóa - xã hội và kinh tế Việt Nam từng giai đoạn lịch sử cách mạng; truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc được phát huy, Đảng ta đã có những đường lối, chủ trương cũng như phương pháp lãnh đạo đúng dắn, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác với mục tiêu hướng tới là tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, của dân tộc; vì hạnh phúc của nhân dân; độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ ba, tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động; kỷ luật nghiêm minh, luôn tự phê bình và phê bình trên cơ sở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật Nhà nước để xây dựng mối đoàn kết, thống nhất, xây dựng tình thương yêu đồng chí, đồng bào

Đảng được tổ chức chặt chẽ, khoa học theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đảng viên có ý khác được bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, nhưng phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết, cấp ủy các cấp không được phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến khác. Những nguyên tắc đó đã làm cho Đảng ta có tổ chức chặt chẽ, thống nhất, có kỷ cương mà rất dân chủ, phát huy được trí tuệ tập thể và vai trò cá nhân; tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động, đoàn kết vì mục đích chung, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn chống phá từ bên ngoài; phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ từ nội bộ Đảng. Đó cũng là đạo đức, văn minh trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta.

Kỷ luật nghiêm minh theo nguyên tắc tự phê bình và phê bình trên cơ sở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật Nhà nước đã tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, là yếu tố quan trọng trong xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nguyên tắc tự phê bình và phê bình sẽ loại bỏ được tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, tự cao, tự đại; phòng ngừa vi phạm khuyết điểm của bản thân mình và đồng chí mình; xây dựng, củng cố tình thương yêu đồng chí; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ngày càng hoàn thiện đạo đức cách mạng, từ đó lan tỏa tạo ra đoàn kết, đồng thuận trong xã hội, làm nòng cốt cho việc phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc. Chính vì vậy, Đảng ta có uy tín cao trong nhân dân, được nhân dân tin tưởng tuyệt đối, một lòng, một dạ theo Đảng.

Thứ tư, gần dân, quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt với nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; lấy nhân dân làm trung tâm của mọi chủ trương, chính sách; tin tưởng nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Đây là đặc điểm nổi bật, quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc điểm này tiếp tục khẳng định lợi ích của Đảng chính là lợi ích của nhân dân; Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị “chí công vô tư”, tổ chức, hoạt động của Đảng là vì nhân dân; mọi quyết sách của Đảng đều xuất phát từ quyền lợi của quốc gia, dân tộc và của nhân dân. Quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mật thiết, máu thịt; Đảng lãnh đạo nhân dân và nhân dân là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng; Đảng luôn tồn tại trong lòng nhân dân, dù bất cứ hoàn cảnh nào thì “Có dân, có Đảng đêm ngày vẫn vui”. Đó không chỉ là công tác lãnh đạo phong trào nhân dân của Đảng ta mà còn là đạo đức, đó là coi nhân dân là gốc, mọi hoạt động của Đảng đều hướng tới phát huy phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mọi hoạt động của Đảng và của cán bộ, đảng viên được đánh giá trên cơ sở sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân; Đảng dựa vào dân và nhân dân tham gia giám sát để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức.

Thứ năm, nêu gương - phẩm chất mang đậm bản sắc của một đảng cách mạng chân chính và của đạo đức cách mạng

Nêu gương là phương pháp quan trọng, hiệu quả đối với sự hình thành đạo đức xã hội nói chung và đạo đức cách mạng nói riêng; đó không chỉ là phương thức lãnh đạo mà còn là “đạo đức, văn minh” của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là hầu hết các cấp ủy, tổ chức đảng và phần lớn cán bộ, đảng viên của Đảng luôn nêu gương đi đầu trong phong trào cách mạng, thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị, có sức lan tỏa trong toàn bộ hệ thống chính trị và trong xã hội, trong nhân dân. Khi cấp ủy, tổ chức đảng cũng như cán bộ, đảng viên là tấm gương sáng vì nước, vì dân, vì sự phát triển bền vững của đất nước, của cộng đồng xã hội thì sẽ lan tỏa, truyền cảm hứng mạnh mẽ trong nhân dân; đồng thời làm cho chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội cũng trong sạch, vững mạnh. Điều đó không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, mà còn làm cho nhân dân tin tưởng hơn vào tổ chức Đảng, tin tưởng hơn vào đường lối, chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng, từ đó đồng lòng, đồng tâm, đồng sức cùng Đảng thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Về phương diện đạo đức đảng viên: Căn cứ Khoản 1, Điều 1 và Điều 2, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các quy định trong các văn bản hiện hành của Trung ương và các quy định của pháp luật, có thể rút ra những chuẩn mực đạo đức cơ bản của người đảng viên:

Một là, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyệt đối trung thành và suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Hai là, phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt bất cứ việc gì Đảng giao trong bất cứ hoàn cảnh nào; tận tụy, sáng tạo trong lao động, công tác; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; biết sai, biết sửa sai và quyết tâm sửa sai.

Ba là, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và nói không với cục bộ, bản vị ngay trong bản thân mình và với người khác; nói không và kiên quyết đấu tranh với những việc làm sai đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những tiêu cực khác phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Bốn là, có lối sống lành mạnh; ứng xử văn hóa, văn minh trong công việc cũng như trong giao tiếp xã hội; gần gũi, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, nhất là trong những công việc, lĩnh vực mình được phân công phụ trách, giải quyết.

Năm là, gương mẫu đi đầu trong các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, trong chấp hành pháp luật, pháp quy của Nhà nước, nội quy, quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị. Chấp hành nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nêu gương.

Sáu là, nghiêm túc, khách quan, trung thực, cầu thị trong tự phê bình và phê bình; tự giác tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức, cơ quan, địa phương; thường xuyên “tự soi, tự sửa”, biết lỗi và biết khắc phục lỗi lầm; luôn có ý thức và hành động trong xây dựng mối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị và ở khu dân cư.

Đó là yêu cầu, tiêu chuẩn, nhiệm vụ và là những phẩm chất quan trọng, cốt lõi về đạo đức cách mạng của người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Có những phẩm chất đó, người cán bộ, đảng viên sẽ phòng tránh được nguy cơ chệch hướng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vững vàng trước mọi thử thách và những cám dỗ của danh vọng, tiền tài. Người đảng viên sẽ thực sự là tiên phong, là hạt nhân dẫn dắt để “làng nước đi theo”; góp phần rất to lớn trong việc xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng, để Đảng thực hiện hoàn thành sứ mệnh của mình.

Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng với chuẩn mực đạo đức của đảng viên

Chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng là bao trùm, là cái chung định hướng cho mọi hoạt động mà mỗi đảng viên của Đảng cần nhận thức và nghiêm túc thực hiện. Ngược lại, chuẩn mực đạo đức của đảng viên có vai trò to lớn, quan trọng quyết định đạo đức của tổ chức đảng. Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên không tách rời đạo đức của tổ chức đảng. Đạo đức của tổ chức đảng cũng chính là chuẩn mực chung được thể hiện qua thái độ, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng có trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức hay không phần lớn do việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức có vai trò quan trọng tác động đến ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện tốt, hiệu quả các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức thì Đảng là “đạo đức, văn minh”.

3. Các thành tố tạo nên đạo đức của Đảng

Thứ nhất, bản lĩnh chính trị

Bản lĩnh chính trị thể hiện qua sự kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành đạo đức chính trị của Đảng. Kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, trung thành với tôn chỉ, mục đích lý tưởng đặt ra; tránh được những sai lầm, chệch hướng về đường lối chính trị. Bài học quý báu trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đó là, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, đặc điểm từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những thành tựu vẻ vang của dân tộc, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Không kiên định với nền tảng tư tưởng, không trung thành với tôn chỉ, mục đích sẽ dẫn đến nguy cơ sai lầm về đường lối chính trị, xa rời mục đích lý tưởng. Điều này được minh chứng rõ qua sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó có những cán bộ ngả nghiêng, dao động, bên cạnh đó là chiêu bài đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp cũng đã tác động tới tâm tư của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, thậm chí gây ra sự hoài nghi đối với đường lối lãnh đạo của Đảng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đạo đức của Đảng ta. Tại thời điểm những biến cố lịch sử xảy ra, Đảng ta vẫn vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi chông gai, thử thách; thực hiện từng bước, có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tiếp tục đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan, hợp lòng dân, vững vàng tiến bước trên con đường cách mạng XHCN với những bước đi vững chắc, thu được nhiều thành quả vẻ vang, được thế giới ghi nhận.

Thứ hai, sự tuân thủ nguyên tắc tổ chức, hoạt động và kỷ luật của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ với kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh. Đây là nguyên tắc cơ bản của đảng cộng sản nói chung và của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Đó là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng ta trở thành một tổ chức chính trị chặt chẽ để phát huy thế mạnh, năng lực, trí tuệ của mỗi đảng viên tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng. Nguyên tắc này chỉ đạo toàn bộ và xuyên suốt quá trình xây dựng tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng. Xa rời hoặc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là vi phạm một trong những vấn đề cốt lõi, bản chất của Đảng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm suy yếu vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, làm giảm sút uy tín của Đảng trong nhân dân. “Không thể có một đảng cách mạng chân chính nào mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu không có tập trung thì Đảng trở thành một tổ chức biệt phái, hỗn độn, một “câu lạc bộ tranh luận”; nếu xa rời dân chủ, Đảng sẽ bị biến thành một tổ chức chuyên quyền, độc đoán, quan liêu”(1). Do vậy, việc tuân thủ nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” khi và chỉ khi nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng được thực hiện nghiêm túc; kỷ luật của Đảng được nghiêm minh.

Thứ ba, thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng

Nói đến sự lãnh đạo của Đảng là nói đến vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng trong định hướng, dẫn dắt, thuyết phục nhân dân và các lực lượng xã hội đi theo Đảng và thực hiện mục đích, lý tưởng của Đảng. Sự lãnh đạo đó không phải là sự cưỡng bức, bắt buộc mà thông qua việc xác định đường lối, chủ trương phù hợp nguyên vọng đại đa số nhân dân và thông qua tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên để lôi cuốn, hấp dẫn họ.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội bằng năm phương thức chủ yếu là: “1) Bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng lớn về chính sách và chủ trương lớn; 2) Bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; 3) Bằng công tác tổ chức, cán bộ và thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị; 4) Bằng công tác kiểm tra, giám sát; 5) Bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(2).

Thực hiện tốt, có hiệu quả các phương thức đó không chỉ đem đến việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra, mà còn là thực hiện chuẩn mực đạo đức của Đảng. Khi các chủ trương, nghị quyết của Đảng được xây dựng sát thực tiễn, dân chủ, phù hợp quy luật khách quan; nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng, của tập thể và cá nhân được xác định rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm; công tác thông tin, tuyên truyền được thực hiện tốt, định hướng được nhân dân, phát huy được vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân nhân; cán bộ, đảng viên thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý, người đứng đầu các cấp; công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, sâu sát thì mục tiêu chính trị của Đảng sẽ được thực hiện thành công, hiệu quả. Ngược lại, nếu các phương thức lãnh đạo đó không được thực hiện tốt thì không chỉ niềm tin của nhân dân đối với Đảng sẽ bị giảm sút, mà cũng sẽ dẫn tới sự hoài nghi của cán bộ, đảng viên, là cơ hội cho những kẻ thoái hóa, biến chất trong Đảng trỗi dậy, làm suy đồi đạo đức của Đảng.

4. Các yếu tố tác động đến đạo đức của Đảng

Thứ nhất, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị

Chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị là yếu tố ảnh hưởng xấu, không chỉ làm băng hoại đạo đức của cá nhân cán bộ, đảng viên mà còn làm suy yếu đạo đức của Đảng. Chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị thường có những biểu hiện cơ bản là: Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân; tham vọng quyền lực, địa vị, thành tích. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể; kén chọn chức danh, vị trí công tác; không tận tâm, tận lực với công việc chung, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Thoái thác trách nhiệm; thành tích thì nhận vào, lỗi lầm thì chối bỏ; thiếu trung thực về các khuyết điểm, sai phạm. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không dám bảo vệ”, “thấy sai không dám đấu tranh”; thiếu trung thực trong tự phê bình và phê bình, thậm chí lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau nhằm mưu cầu lợi ích cho mình. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham nhũng, nhận hối lộ; để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt công quỹ, tạo bè phái gây mất đoàn kết nội bộ. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Những biểu hiện nêu trên của cán bộ, đảng viên chính là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, ảnh hưởng xấu đến đạo đức và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, mặt trái của kinh tế thị trường, sự phát triển của công nghệ thông tin, hội nhập văn hóa

Kinh tế thị trường là sản phẩm, thành quả của nhân loại. Bên cạnh những mặt tích cực, ưu điểm thì kinh tế thị trường cũng có những mặt trái của nó là dễ phá vỡ sự cân đối nền sản xuất xã hội; tạo sự cạnh tranh khốc liệt, độc quyền, buôn bán gian lận, lừa đảo, phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp... là một trong những nguyên nhân chính làm băng hoại đạo đức, lối sống, nhân cách con người trong xã hội.

Thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên có tính quyết đoán, năng động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm; đồng thời, là điều kiện thuận lợi để mỗi người rèn luyện, hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, lối sống mới tốt đẹp; các năng lực tiềm ẩn trong nhân dân được giải phóng, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện từng bước. Qua đó, niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào sự nghiệp đổi mới được củng cố. Đó là điều kiện tốt để chúng ta xây dựng, củng cố, phát triển nhân cách người cán bộ, đảng viên.

Tuy nhiên, mặt trái của nó cũng đã gây ra những tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách của đội ngũ cán bộ, đảng viên; phân hóa giàu nghèo làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn xã hội; nảy sinh những tệ nạn tham nhũng, tội phạm, bạo lực; kích thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý. Những vấn đề đó đã làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến đạo đức của Đảng ta.

Công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển đã đem đến nhiều lợi ích trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng đã trở thành môi trường để các thế lực thù địch ra sức truyền bá luận điệu sai trái, thông tin xấu độc, phát ngôn gây thù hận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, âm mưu xóa bỏ chế độ XHCN. Một số người lợi dụng mạng xã hội để thoả mãn cái tôi cá nhân, gây sự chú ý của cộng đồng, cố tình làm cho thông tin bị nhiễu loạn, thật giả lẫn lộn... ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh xã hội. Những vấn đề đó làm cho người sử dụng mạng xã hội, trong đó có cán bộ, đảng viên dễ sinh ra hoài nghi, giảm sút niềm tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng, dẫn đến suy thoái tư tưởng chính trị, đi ngược lại lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân.  

Hội nhập quốc tế về văn hóa cũng được Đảng ta coi trọng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Truyền thống văn hóa của dân tộc được phát huy, lan tỏa, tinh hoa văn hóa nhân loại được tiếp thu; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được xây dựng ngày càng hoàn thiện và phát huy hiệu quả trong mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, hội nhập về văn hóa cũng có nhiều vấn đề phức tạp, đó là sự du nhập của những văn hóa ngoại lai không lành mạnh, sự non kém trong quản lý hoạt động văn hóa và trong hội nhập văn hóa dẫn đến tình trạng xuống cấp về văn hóa, đạo đức, sự thiếu tôn trọng các chuẩn mực xã hội... Một số giá trị đạo đức tốt đẹp, thiêng liêng vốn có vị trí quan trọng trong hệ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta có nguy cơ bị mai một và tha hóa; lối sống tình nghĩa, tương thân, tương ái bị suy giảm; lối sống hẹp hòi, ích kỷ... có xu hướng gia tăng; nhiều giá trị và phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp bị coi nhẹ. Những điều kể trên dẫn đến sự suy thoái về phẩm chất đạo đức và lối sống.

Thứ ba, sự chống phá của các thế lực thù địch

Một trong những trọng tâm mà các thế lực thù địch hướng vào chống phá công cuộc xây dựng đất nước theo con đường CNXH của Việt Nam là tìm mọi cách cổ xúy, truyền bá văn hóa, đạo đức, lối sống độc hại phương Tây để làm phai mờ những giá trị văn hóa truyền thống cách mạng tốt đẹp của Việt Nam. Gieo rắc những sản phẩm văn hóa phản động nhằm tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc; gieo rắc lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ, thích hưởng lạc, sa đọa, phi nhân tính. Xuyên tạc đời tư, bôi nhọ, nói xấu lãnh tụ và các lãnh đạo Đảng, Nhà nước để gây hoang mang trong dư luận xã hội hòng hạ bệ uy tín đạo đức của cán bộ lãnh đạo của Đảng.

Thứ tư, thái độ, hiệu quả học tập, rèn luyện, tu dưỡng của cán bộ, đảng viên và công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đạo đức không phải từ trên trời rơi xuống mà được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên và qua công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức. Việc mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên có ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của người đảng viên, chấp hành tốt các quy định về nêu gương là góp phần quan trọng xây dựng, bảo vệ đạo đức của Đảng. Ngược lại, sẽ làm tổn hại thanh danh, đạo đức của Đảng. Thực tế hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, có hành vi tham nhũng, lãng phí, hách dịch, cửa quyền, chạy chức, chạy quyền đã và đang làm hoen ố thanh danh, đạo đức của Đảng.

Công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng về xây dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên có vị trí hết sức quan trọng. Khi công tác giáo dục được thực hiện hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ thì vừa phát huy tính tự giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong học tập, rèn luyện, đồng thời kịp thời phát hiện, uốn nắn những lệch lạc để việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên hiệu quả hơn, thực chất hơn.

5. Một số giải pháp cơ bản bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Trong bối cảnh thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp, khó lường; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ số; trước yêu cầu của hội nhập quốc tế sâu rộng; các nguy cơ Đảng ta chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn thì công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh nói chung, xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” nói riêng là hết sức cần thiết, cấp bách. Trong đó, công tác xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức của Đảng có vai trò quan trọng. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, các cấp uỷ, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Các cấp ủy, tổ chức đảng có kế hoạch cụ thể, thường xuyên giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đảng viên, nhất là làm cho đảng viên nắm được những vấn đề cốt lõi về đường lối, chủ trương của Đảng. Đồng thời, từng cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự giác, tìm hiểu, nghiên cứu, học tập chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để củng cố bản lĩnh chính trị, kiên định, vững vàng, không dao động trước bất kỳ hoàn cảnh nào hay trước bất kỳ hành động chống phá nào của các thế lực thù địch.

Hai là, xây dựng, củng cố tổ chức đảng vững mạnh, chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh; mỗi cán bộ, đảng viên thực sự coi trọng, tự giác trong xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, xây dựng đoàn kết, nhất trí trong Đảng. Tuân thủ nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng và các quy định của pháp luật. Thường xuyên tự phê bình và phê bình với tinh thần cầu thị, “tự soi, tự sửa”, dũng cảm nhận sai lầm và kiên quyết khắc phục, sửa chữa lỗi lầm và với tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội, xây dựng đoàn kết, nhất trí trong Đảng để lan toả ra toàn xã hội.

Ba là, xây dựng Đảng thực sự là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở phải đổi mới mạnh mẽ phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động để đạt hiệu quả thực chất trong lãnh đạo, chỉ đạo cũng như trong quản lý, rèn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên; gắn bó mật thiết với nhân dân, cầu thị tiếp thu ý kiến của nhân dân về các hoạt động của Đảng và đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, các ngành phải thường xuyên quán triệt, tự giác thực hiện nghiêm túc các quy định về nêu gương. Định kỳ 6 tháng cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu và 1 năm đối với đảng viên cần phải được kiểm điểm trước chi bộ về kết quả thực hiện nêu gương theo quy định và theo chức trách của mình.

Bốn là, ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị trong cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, các ngành. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự hiểu rõ, thấm nhuần và kiên quyết, kiên trì thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nói đi đôi với làm; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với mọi khó khăn, thử thách vì sự nghiệp của Đảng, vì lợi ích của nhân dân. Đồng thời, cấp ủy đảng cũng cần có giải pháp để từng cá nhân phát triển mọi khả năng sáng tạo của mình, hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng; quan tâm tới lợi ích cá nhân nhưng kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Đấu tranh không khoan nhượng và kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lộng hành, thao túng, chủ nghĩa phường hội, lợi ích nhóm, cục bộ, bản vị, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng.

Năm là, nâng cao cảnh giác cho cán bộ, đảng viên trước các âm mưu chống phá của thế lực thù địch; đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan mà phải đưa thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, từ đó lan tỏa trong nhân dân, tạo thành phong trào tự giác bài trừ tư tưởng, hành động chống phá của thế lực thù địch.

Sáu là, thực hiện thường xuyên, có hiệu quả công tác rà soát, phân loại, đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng; thông tin kịp thời đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thông tin thời sự và những vấn đề khác cần thiết cho đảng viên thông qua sinh hoạt chi bộ thường kỳ, chuyên đề, đột xuất. Chấn chỉnh công tác kết nạp đảng viên mới để bảo đảm chất lượng (thà ít mà tốt).

Bảy là, thường xuyên kiểm tra, giám sát đảng viên trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng. Các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên học tập, tu dưỡng, rèn luyện, thực hành các chuẩn mực đạo đức của Đảng. Cấp uỷ cấp trên thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới trong công tác triển khai, tổ chức thực hiện. Có giải pháp phù hợp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong giám sát hoạt động của Đảng và của cán bộ, đảng viên; đồng thời tôn trọng, cầu thị, công tâm, khách quan trong tiếp thu, xử lý các ý kiến góp ý.

6. Kết luận

Việc bảo vệ, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức của Đảng là hết sức quan trọng. Xây dựng Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì vai trò, uy tín của Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền được nâng cao; Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo, là ngọn cờ thiêng liêng của dân tộc ta để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phồn vinh, hạnh phúc; uy tín của Đảng ta trên trường quốc tế tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ và góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình trên toàn thế giới.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 552 (tháng 2-2024)

Ngày nhận bài: 16-01-2024; Ngày bình duyệt: 24-02-2024; Ngày duyệt đăng: 27-02-2024.

(1) Đỗ Xuân Tuất: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn, ngày đăng: 17-11-2022.

(2) Trần Khắc Việt: Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, http://lyluanchinhtri.vn, ngày đăng: 25-3-2022.

Chiến thắng Điện Biên Phủ và bài học phát huy sức mạnh toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), quân và dân ta đã làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đây là thắng lợi to lớn của dân tộc Việt Nam, đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một mốc son chói lọi, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Chiến thắng Điện Biên Phủ và bài học phát huy sức mạnh toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Bức tranh Panorama - tái hiện toàn cảnh Chiến dịch Điện Biên Phủ_Ảnh tư liệu

1. Chiến thắng Điện Biên Phủ - sự kế thừa và phát triển sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của dân tộc

Chiến tranh nhân dân được hiểu là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Chiến tranh nhân dân chính là toàn dân tham gia đánh giặc bằng tất cả các lực lượng và phương tiện sẵn có. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, tư tưởng chiến tranh nhân dân: “Cử quốc nghênh địch” (cả nước đánh giặc) hay “Tận dân vi binh” (mọi người dân là lính) đã góp phần quyết định làm nên những chiến công hiển hách của dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), đường lối chiến tranh nhân dân được Đảng khởi xướng, lãnh đạo và phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống, kinh nghiệm đánh giặc giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, vận dụng sáng tạo quan điểm chiến tranh cách mạng là sự nghiệp của quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ thực tiễn tình hình đất nước trong sự so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch.

Ngay ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nội dung đường lối chiến tranh nhân dân đã được Đảng nêu trong Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng ngày 12-12-1946, đó là: "Đoàn kết chặt chẽ toàn dân; thực hiện toàn dân kháng chiến"(1). Để thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, Đảng ta chủ trương “Toàn dân kháng chiến, kháng chiến khắp nơi, mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài…”(2). Đường lối chiến tranh nhân dân tiếp tục được bổ sung, phát triển trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19-12-1946) và trong tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh đã khẳng nội dung, tính chất của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp là: “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh”.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến toàn dân là nội dung cốt lõi của đường lối kháng chiến. Theo đó, Đảng tổ chức động viên toàn dân tham gia kháng chiến. Để tiến hành chiến tranh nhân dân, Đảng chủ trương, tổ chức mỗi người là một chiến sĩ, mỗi nhà là một ổ đề kháng, mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài. Trong đó, “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(3).

Đảng kêu gọi, động viên, tổ chức toàn dân tham gia kháng chiến bằng cách đưa họ vào các đoàn thể, tổ chức kháng chiến, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Động viên toàn dân tham gia đánh giặc, Đảng đã phát huy được tính chủ động, sáng tạo của mỗi người dân và từng địa phương, toàn dân là lính, khiến kẻ thù đi đến đâu cũng bị đánh, bị đẩy vào mâu thuẫn không thể giải quyết giữa phân tán và tập trung xây dựng lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với chủ lực của quân ta. Quân đội viễn chinh Pháp không chỉ phải chống chọi với một quân đội chính quy, mà còn phải đương đầu với cả một dân tộc đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên, phát huy mọi tiềm năng và sức mạnh của toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù. Tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp không chỉ đánh ta về quân sự, mà còn chống phá ta cả về chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - tư tưởng,... Chính vì thế, quân và dân ta cũng phải đánh địch trên tất cả các mặt trận. Trong chiến tranh, quân sự là mặt đấu tranh chủ yếu, đấu tranh vũ trang trên chiến trường giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, hoạt động quân sự không thể tách rời các hoạt động khác. Các mặt đấu tranh chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - tư tưởng đều có vị trí, vai trò riêng, góp phần vào thắng lợi chung, cũng như hỗ trợ cụ thể cho đấu tranh quân sự trong những thời điểm và hoàn cảnh nhất định.

Trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, đường lối chiến tranh nhân dân được thể hiện sinh động qua sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”(4) đã phát huy sức mạnh toàn dân tộc, cống hiến sức người, sức của cho tiền tuyến. Có thể nói, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

2. Chiến thắng Điện Biên Phủ - chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, để đánh thắng đội quân nhà nghề với vũ khí trang bị hiện đại và hệ thống phòng thủ vững chắc, ta phải tiến hành chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, huy động sức người, sức của to lớn cho chiến dịch.  

Về lực lượng tham gia chiến tranh nhân dân chính là toàn dân đánh giặc. Hưởng ứng Nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đã xung trận, nhân dân ta từ vùng tự do đến vùng địch hậu, hậu phương tới tiền tuyến, miền núi và miền xuôi, già, trẻ, gái, trai đã “đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”(5).

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, không chỉ có lực lượng quân đội tham gia đánh giặc, mà toàn dân bằng mọi phương tiện, vũ khí có trong tay đều tham gia đánh giặc. Nhờ đó, ta đã huy động đông đảo nhân dân tham gia với gần 10 vạn người, bao gồm bộ đội, dân công và các lực lượng khác. Tính riêng lực lượng tham gia chiến đấu lên đến 55.000 người. Chiến tranh nhân dân là cội nguồn sức mạnh dân tộc, cơ sở bảo đảm thắng lợi của toàn chiến dịch.

Về công tác hậu cần, thực hiện khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, các địa phương đã cung cấp 23.000 tấn gạo, 266 tấn muối, gần 2.000 tấn thực phẩm, cùng gần 21.000 chiếc xe đạp thồ, gần 1.000 con ngựa thồ, hơn 3.000 chiếc thuyền và hơn 261.400 lượt dân công với 12 triệu ngày công phục vụ chiến dịch”(6). Đây thực sự là sức mạnh của chiến tranh nhân dân, hậu cần toàn dân bắt nguồn từ đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng; qua đó, giải quyết được vấn đề “khó khăn nhất” đó là công tác hậu cần, bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi.

 Hưởng ứng Nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đã xung trận, nhân dân ta từ vùng tự do đến vùng địch hậu, hậu phương tới tiền tuyến, miền núi và miền xuôi, già, trẻ, gái, trai đã “đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”

Trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, ta chủ trương phân tán lực lượng địch ra đánh trên khắp các chiến trường từ Tây Bắc, Liên khu 3 đến Bình -Trị Thiên, Liên khu 5, Bắc Tây Nguyên, Sài Gòn - Gia Định, Nam Bộ, thượng Lào… Quân ta đẩy mạnh các hoạt động phối hợp, liên tiếp tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng, căng mình chống đỡ trên các chiến trường. Đây là điều kiện thuận lợi để ta tập trung bộ đội chủ lực tấn công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp, mặc dù tương quan so sánh lực lượng trực tiếp tham chiến cũng như vũ khí, phương tiện phục vụ chiến trường, quân Pháp chiếm ưu thế áp đảo (về quân số, tỷ lệ giữa địch và ta là: 3,3/ 1; súng pháo:  3,1/ 1. Riêng lực lượng không quân, Pháp có 1 phi đội máy bay 14 chiếc. Ta: 0).

Đánh giá về sức mạnh của nhân dân trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “chưa bao giờ trong suốt mấy năm kháng chiến, dân ta đã góp sức nhiều như trong Đông Xuân 1953 - 1954, chi viện cho quân đội giết giặc. Bọn đế quốc, bọn phản động không bao giờ đánh giá được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân”(7).

3. Điện Biên Phủ - thắng lợi của phương châm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân với ba thứ quân

Để có thể đánh bại đội quân nhà nghề của một đế quốc thực dân, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ sớm đã chủ trương xây lực lượng vũ trang nhân dân. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tháng 12-1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm rõ vai trò của quân đội, của quân chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương. Người chỉ rõ đó là lực lượng vũ trang cách mạng, lực lượng vũ trang của dân, do dân, vì dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngay sau khi được thành lập, Người chăm lo xây dựng quân đội ta từ một đội quân du kích dần lớn mạnh trở thành một đội quân ngày càng chính quy và hiện đại.

Có được sự ủng hộ từ nhân dân trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, là do Đảng ta quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân bao gồm: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng vũ trang ba thứ quân mặc dù còn non trẻ nhưng đã thể hiện sự phát triển lớn mạnh, trưởng thành nhanh chóng, đã kết hợp nhuần nhuyễn nhiều hình thức tác chiến từ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh của các đại đoàn chủ lực trong thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng. Quán triệt tư tưởng “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc”, “Kiên quyết không ngừng thế tấn công... Tấn công phòng thủ không sơ hở”, “Đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương sáng tạo nhiều cách đánh tài giỏi tiêu hao sinh lực địch. Đặc biệt, bộ đội chủ lực trên chiến trường Điện Biên Phủ thực hiện nghệ thuật biết thắng từng bước, tiến công từ bộ phận đến toàn bộ, tập trung sức mạnh đánh tan từng mục tiêu, tiến lên đánh bại hoàn toàn quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ, hoạt động của quân và dân ta ở các chiến trường đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

4. Bài học về phát huy sức mạnh toàn dân, chiến tranh nhân dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đặc biệt là đường lối nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã để lại cho cách mạng Việt Nam nhiều bài học sâu sắc cần được kế thừa, phát huy và vận dụng sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Một là, bài học về tư tưởng lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh toàn dân, tăng cường thế trận lòng dân trong đường lối nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân là một chiến lược xuyên suốt, quyết định thành công của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn trong gần 40 năm đổi mới đất nước đã chứng minh, Đảng, Nhà nước ngày càng nhận thức sâu sắc hơn sức mạnh và vai trò của nhân dân, luôn nhất quán quan điểm “dân là gốc”, “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(8), “nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(9); “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(10). Nhờ đó, sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đúng như khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(11).

Hai là, bài học về tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo

Đại đoàn kết toàn dân là biết phát huy những điểm tương đồng, điểm chung của mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, già hay trẻ, giàu hay nghèo, nam hay nữ, nếu “ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(12), nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ hiện nay là: đánh bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Vì vậy, không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng liên minh công nhân - nông dân - trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng là đòi hỏi khách quan, có tính chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Ba là, phải luôn khơi dậy lòng yêu nước, khát vọng độc lập, hòa bình và ý chí tự lực, tự cường của dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng luôn “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước; tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(13). Đây chính là cội nguồn sức mạnh để tiếp tục củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh hiện nay.

Bốn là, không ngừng củng cố, giữ vững niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Từ kinh nghiệm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như trong thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, lòng tin của nhân dân vào mục tiêu, lý tưởng, đường lối cách mạng và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chính là cơ sở tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, Đảng cần không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị  tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, để đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đồng thời, Đảng phải không ngừng củng cố, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh; xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có đầy đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực.

Năm là, phát huy sự đóng góp, ủng hộ của nhân dân cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần của nhân dân ở các địa phương là vô cùng to lớn, nhờ đó mới huy động được các nguồn lực cần thiết phục vụ chiến dịch đến thắng lợi cuối cùng. Ngày nay, để thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “từ khi nước chưa nguy”, sự đóng góp, ủng hộ của nhân dân, kiều bào về vật chất, tinh thần trong xây dựng các công trình quốc phòng, an ninh trọng điểm, đầu tư nguồn lực trang bị vũ khí, khí tài quân sự hiện đại là cơ sở để nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc là rất cần thiết. Vì vậy, Đảng, Nhà nước cần thực hiện hiệu quả phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Huy động và  tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế tham gia có hiệu quả bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Sáu là, tăng cường công tác đối ngoại nhân dân giữ vững sự ổn định chính trị của đất nước. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nhờ biết khơi dậy, phát huy vai trò của công tác đối ngoại nhân dân, chúng ta đã phát huy được tiềm năng, nguồn lực của đất nước; nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại. Hiện nay, đối ngoại nhân dân tiếp tục được Đảng ta phát huy để đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Chiến thắng Điện Biên Phủ trở thành một trong những chiến công vĩ đại nhất trong thế kỷ XX của dân tộc Việt Nam. 70 năm qua, tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ là nguồn cổ vũ lớn lao cho toàn thể nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, ý chí quyết chiến, quyết thắng và những bài học lịch sử từ Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn vẹn nguyên giá trị, đã, đang và mãi tiếp thêm sức mạnh cho Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực hiện thắng lợi nội dung cơ bản của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được nêu trong Nghị quyết 44-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII của Đảng.

_________________

Ngày nhận bài: 3-4-2024; Ngày bình duyệt: 5 -4-2024; Ngày duyệt đăng:26-4-2024.

(1), (2) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150, 155.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.534.

(4) Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 202.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 88.

(6) Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, t.1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993, tr. 305 - 306.

(7) Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr.158 - 159.

(8)  ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 65.

(9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 27-28, 157.

(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Sđd, tr. 322.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr. 611.

(13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 158-159.

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024

 

Lòng tự trọng của cán bộ - Từ Quy định 41 đến Quy định 144-QĐ/TW

Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. (Ảnh minh họa)

Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. (Ảnh minh họa)

KHÔNG PHẠM "ĐIỀU CẤM" KHI CÓ LÒNG TỰ TRỌNG

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: Tự trọng là coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình.

Lòng tự trọng có được từ sự rèn luyện của con người trong cả một quá trình, thể hiện trách nhiệm cá nhân đối với công việc, gia đình và xã hội. Lòng tự trọng luôn song hành với tính trung thực – người biết tự trọng thì có tính trung thực, người trung thực thì có lòng tự trọng.

Một công dân bình thường cũng cần có lòng tự trọng. Cán bộ, đảng viên lại càng phải coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình, vị trí càng quan trọng, trách nhiệm càng lớn thì lòng tự trọng càng cần được nêu cao. Lòng tự trọng của cán bộ, đảng viên gắn liền với bản lĩnh chính trị và là một thành tố cấu thành đạo đức cách mạng.

Ngày 25/10/2021, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm.

Trong số này có những “điều cấm” mà một đảng viên sẽ không phạm phải nếu có lòng tự trọng, sự trung thực, chưa cần đến ý thức chính trị và tầm hiểu biết cần thiết: Đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh (Điều 3); viết bài sai sự thật, không đăng tải ý kiến cải chính theo quy định (Điều 5); tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt, trả thù người khiếu nại, tố cáo (Điều 6); kê khai lý lịch, tài sản, thu nhập không trung thực, sử dụng văn bằng giả (Điều 9); thực hiện không đúng quy định trong quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng nhà, đất, tài sản của Đảng, Nhà nước (Điều 10); vi phạm đạo đức công vụ, bao che, báo cáo sai sự thật (Điều 11); tham ô, đưa, nhận, môi giới hối lộ (Điều 14)…

Ngược lại, người thiếu lòng tự trọng, thiếu tính trung thực thì thường cơ hội, vụ lợi, không có ý thức phê bình và tự phê bình, trốn tránh trách nhiệm, tranh công - đổ lỗi, tham lam, vun vén cho bản thân, sẵn sàng chạy chức, chạy quyền, có chức vụ thì cao ngạo, chèn ép cấp dưới, nịnh bợ cấp trên…

Thực tế cho thấy, trong thời gian qua có không ít đảng viên, cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, do không thường xuyên tu dưỡng đạo đức, đánh mất lòng tự trọng và tính trung thực để mắc những sai phạm nghiêm trọng, bị kỷ luật, bị xử lý hình sự, trong đó có tội tham nhũng, cố ý làm trái để trục lợi.

"TỰ LUI" KHI KHÔNG CÒN UY TÍN

Hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng để phù hợp với các yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới; luôn luôn tu dưỡng, nêu cao danh dự, lòng tự trọng, tính trung thực là đòi hỏi thường xuyên của Đảng đối với cán bộ, đảng viên.

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt ra yêu cầu: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”.

Mới đây nhất, ngày 9/5/2024, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay được quy định tại Điều 1: Yêu nước, tôn trọng nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; Điều 2: Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; Điều 3: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Điều 4: Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm; Điều 5: Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời.

Điều 3 đề cập tới các tiêu chí trung thực, tự trọng, danh dự, phẩm giá: “Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu. Trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình, không giấu khuyết điểm, không nói sai sự thật; thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh. Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng”.

Căn cứ vào nội dung được quy định tại Điều 3 của Quy định số 144-QĐ/TW, lòng tự trọng, phẩm giá của cán bộ, đảng viên được nêu cao là nhằm để “bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng”.

Còn một biểu hiện cụ thể của việc bảo vệ danh dự của cá nhân người lãnh đạo và tập thể là “thực hiện văn hóa từ chức khi không đủ khả năng, uy tín”.

Trước đó, ngày 3/11/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ.

Theo Quy định số 41-QĐ/TW, từ chức là việc "cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận”. Căn cứ để xem xét việc từ chức là cán bộ có “hạn chế về năng lực hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao”.

Như vậy, có thể nói rằng Quy định số 144-QĐ/TW là sự tiếp nối và hoàn thiện đối với Quy định số 41-QĐ/TW về quan điểm từ chức. Căn cứ vào quy định mới, các cán bộ dù ở địa phương hay Trung ương, ở cấp thấp hay cấp cao, đều phải có ý thức tự nguyện rời khỏi vị trí khi không còn đủ khả năng, uy tín, tạo thành “văn hóa từ chức”.

Đây là hành động cần thiết của những người có lòng tự trọng và cũng là giải pháp khả dĩ trong bối cảnh cụ thể để bảo toàn danh dự cho bản thân và tổ chức mà họ đang lãnh đạo./.

TTXVN

 TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Trước tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(3). Do đó, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc “Đẩy mạnh học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong thời gian tới, cần tập trung vào những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cấp ủy đảng các cấp cần tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc vận động này để mọi người có nhận thức đầy đủ, sâu sắc, coi việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nhu cầu tự thân, tự nguyện, tự giác thực hiện. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, lan tỏa những cá nhân thực hiện tốt việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để nhân rộng những tấm gương điển hình tiên tiến, tạo động lực và cổ vũ cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện có hiệu quả cuộc vận động này.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức thực hiện việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo hướng thiết thực, hiệu quả. Việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã được triển khai trong thời gian dài nên để thu hút được đông đảo sự tham gia của toàn xã hội, cần tạo thêm một luồng sinh khí mới với việc đổi mới nội dung, hình thức thực hiện. Các nội dung thực hiện cần gắn với những nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua những hình thức phong phú, phù hợp với từng chủ thể thực hiện. Theo đó, việc đánh giá hiệu quả thực hiện cũng cần có những tiêu chí riêng, tránh rập khuôn máy móc nhưng cũng tránh tùy tiện, qua loa. Ngoài ra, cần gắn việc thực hiện học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị khác như vấn đề “tự soi”, “tự sửa”, tự chịu trách nhiệm”, “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Điều đó làm cho việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thực chất, hiệu quả hơn, tránh lối hình thức, xáo mòn.

Ba là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu lợi dụng việc xuyên tạc, phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để chống phá Đảng, Nhà nước. Gần đây, một thực tế không thể phủ nhận là các thế lực thù địch ngày càng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng theo chiều sâu. Đó là bên cạnh việc xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn xuyên tạc, phủ nhận cả những hoạt động của Đảng ta trong việc lan tỏa, tôn vinh đóng góp của Người với dân tộc. Biểu hiện rõ nét nhất là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận việc Đảng ta đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, cần nhạy bén hơn nữa trong việc nắm bắt những thông tin sai trái, xấu độc về vấn đề này, kịp thời định hướng, tuyên truyền cho nhân dân theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực” để tránh việc bị các luận điệu sai trái chiếm lĩnh thông tin. Ngoài ra, cần tổ chức đấu tranh phản bác có hiệu quả với những luận điệu sai trái về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, nhất là trong những thời điểm đất nước có những sự kiện chính trị quan trọng để tiếp tục tuyên truyền, lan tỏa tính đúng đắn trong những chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Như vậy, có thể khẳng định việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là một chủ trương đúng đắn của Đảng ta. Điều đó một mặt làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục ăn sâu, bám rễ hơn nữa vào đời sống tinh thần, tư tưởng và tiếp tục trở thành “kim chỉ nam” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, điều đó cũng góp phần củng cố, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong bối cảnh mới; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu hơn nữa, nhân lên những điều tốt đẹp, lan tỏa và góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội./.

 NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được ra đời và kết tinh trong suốt quá Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta, soi sáng sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta và hiện đang vẫn là “kim chỉ nam” cho nước ta trên con đường đổi mới và phát triển. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người không chỉ được cả dân tộc Việt Nam tôn vinh mà còn được đông đảo bạn bè trên khắp thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Nhà nghiên cứu Hélène Tourmaire từng nhận định: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”(1). Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra đánh giá: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(2). Đó những ghi nhận rất khách quan của dư luận quốc tế về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại. Trọn cả cuộc đời, Người dâng hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người không chỉ là hệ thống những vấn đề mang tính lý luận mà có sự thống nhất giữa “tri” và “hành”, giữa tư tưởng với đạo đức và phong cách. Với Người, lý luận và thực tiễn, nói và làm luôn đi liền với nhau. Do đó, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta. Điều đó giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn biết “tự soi”, “tự sửa”, “nêu gương”, “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích khả năng độc lập tư duy, sáng tạo và khám phá, Người luôn đề cao sự tự học, tự nghiên cứu và học hỏi, khuyến khích mọi người phát triển trí tuệ và tư duy sáng tạo của mình. Do đó, không thể cho rằng học tập làm theo tấm gương Hồ Chí Minh là “vô bổ”, “hình thức”, hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác vạch sẵn. Đó là sự cố tình xuyên tạc, quy chụp nhằm tạo ra sự lệch lạc về nhận thức trong quần chúng nhân dân. Đây không chỉ là chiêu bài “hạ bệ thần tượng” mà còn nhằm mục đích chống phá, xuyên tạc một cuộc vận động rất có ý nghĩa, được tổ chức sâu rộng, thường xuyên, liên tục trong thời gian dài.

Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; trở thành phong trào, được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Từ đó, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình “học Bác”, “noi gương Bác”; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp sức cho sự phát triển đất nước. Không chỉ có cán bộ, đảng viên noi gương mà đông đảo quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng xã hội cũng ra sức học tập theo tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong thực tiễn, đã có những câu chuyện cảm động về những tấm gương bình dị mà cao quý trong học tập và làm tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là người giáo viên đã 80 tuổi nhưng vẫn không một ngày ngơi nghỉ với công tác khuyến học, khuyến tài, vận động nhân dân xây dựng “dòng họ học tập”, “tổ dân phố học tập”. Đó là những cô giáo còn rất trẻ nhưng đã dành cả tuổi thanh xuân của mình dũng cảm ngày ngày chèo đò qua sông đưa học trò tới lớp. Đó là người bác sĩ sẵn sàng từ bỏ những bệnh viện lớn của thành phố, rời xa cuộc sống phồn hoa đô thị để chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng cao với mong muốn mang đến nụ cười cho trẻ em khuyết tật. Đó là những cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng đến với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, không quản khó khăn, nguy hiểm vì sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân…

Những tấm gương điển hình trong học tập và làm theo Bác tuy có những cách thể hiện khác nhau song đều có một điểm chung, đó là đều học Bác tinh thần sẵn sàng hy sinh cho sự phát triển của đất nước và cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân. Điều đó chứng tỏ việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải kiểu “hô hào khẩu hiệu”, “mang tính hình thức” như luận điệu mà các thế lực thù địch thường rêu rao. Điều đó đã thật sự ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân Việt Nam; thực sự khơi dậy và tạo động lực cho mọi giai tầng trong xã hội phát huy được năng lực, ý chí, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến của mình cho đất nước. Mỗi tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến đó là “những bông hoa đẹp”, đang từng ngày, từng giờ vun góp, góp phần tạo nên “rừng hoa đẹp” cho đất nước. Do đó, không thể quy chụp một cách phiến diện rằng việc “đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là “vô bổ”, “kém hiệu quả”!

Có thể khẳng định, thời gian qua việc “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh" đã tạo nên những dấu ấn nổi bật cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; tuyên truyền, lan tỏa; tổ chức thực hiện… Những kết quả tích cực trên đây đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tạo ra những đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

Lần đầu tiên GDP của nước ta đạt mức 430 tỷ USD, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài

Lần đầu tiên GDP của nước ta đạt mức 430 tỷ USD, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài