Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

Nâng cao nhận thức chống địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng

 


Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thống nhất nhận thức, phân công, phân cấp trách nhiệm rõ ràng. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng giúp các chủ thể phát huy được ưu thế, hiệu quả trong quá trình tham gia đấu tranh. Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ mới giúp quá trình tham gia đấu tranh của các chủ thể không bị chồng lấn, chồng chéo và đảm bảo được nguyên tắc trong quá trình tổ chức thực hiện; đảm bảo sự phối hợp thống nhất, chặt chẽ giữa cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể địa phương và với các tổ chức, lực lượng đứng chân trên địa bàn. Qua đó, phát huy cao nhất vai trò của các chủ thể cũng như sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. Để thực hiện nguyên tắc này, các chủ thể tham gia đấu tranh phải xác định đúng chức năng, nhiệm vụ và phát huy thế mạnh, truyền thống của mình. Đồng thời, tăng cường công tác phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ; hoàn thiện các quy định, quy chế phối hợp giữa các tổ chức, lực lượng trong tham gia đấu tranh.

Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước trong chống địch chống phá cách mạng

 


Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước. Nguyên tắc này quy định, chi phối trực tiếp đến toàn bộ quá trình và hiệu quả của cuộc đấu tranh. Sự quy định của nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng, là tiền đề trực tiếp bảo đảm giữ vững định hướng, mục tiêu xuyên suốt trong đấu tranh. Đây là nguyên tắc chỉ đạo, là cơ sở định hướng, tạo hành lang pháp lý, đảm bảo tính đảng, tính khoa học, không mắc mưu kẻ thù cho các chủ thể tham gia đấu tranh. Nguyên tắc trên, đòi hỏi, các chủ thể tham gia đấu tranh phải nắm vững và quán triệt sâu sắc quan điểm, nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo và đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. Trên cơ sở quán triệt quan điểm, nguyên tắc của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng, các tổ chức, lực lượng sẽ cụ thể hóa bằng các chỉ thị, hướng dẫn, kế hoạch trong đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đảm bảo phù hợp với thực tiễn, tình hình của đơn vị và địa phương mình.

Âm mưu các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống cách mạng nước ta rất đa dạng, phong phú và nham hiểm

 


Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm, vừa công khai, hợp pháp, vừa bí mật, bất hợp pháp cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội với nhiều tổ chức, nhiều lực lượng… để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng. Những thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch đã làm cho cuộc sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, vùng sâu, vùng xa ở nước ta đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch có đạt được mục tiêu hay không còn phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của ta.

           Đối với đồng bào dân tộc, tôn giáo, tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch thể hiện ở chỗ: nếu chưa có thể làm cho đồng bào dân tộc, tôn giáo trở thành lực lượng đối lập với đất nước, chế độ và chính quyền; thì cũng có thể tạo ra sự hòai nghi, sự thiếu tin tưởng nhất định của đồng bào đối với đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối với việc thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo của chính quyền các cấp, đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Những luận điệu xuyên tạc dễ làm cho đồng bào dân tộc, tôn giáo hiểu sai chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, nhầm lẫn giữa sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm trái pháp luật với tự do, bình đẳng dân tộc, tôn giáo. Từ đó, một bộ phận đồng bào dân tộc, tôn giáo dễ bị các phần tử xấu kích động, lôi kéo, có thể đi đến những hành động chống đối chính quyền, chống đối cách mạng. Trực tiếp “đẩy” một bộ phận đồng bào dân tộc, tôn giáo về phía đối lập với chính quyền và cách mạng. Đồng bào dân tộc, tôn giáo sẽ không thể yên ổn làm ăn, không thể yên tâm lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, chăm lo hạnh phúc cho bản thân và gia đình mình; mà trái lại, đồng bào còn luôn ở trạng thái không yên ổn, bỏ bê công việc làm ăn, phải “đối phó” với chính quyền, lén lút làm việc cho một số phần tử phản động, cực đoan.

Sự ra đi để “tìm Tổ quốc riêng”, việc bỏ bê ruộng nương, bỏ cả việc thờ cúng tổ tiên… để theo đạo Tin lành Vàng Chứ trong một bộ phận đồng bào dân tộc Mông đã làm cho đồng bào rơi vào tình cảnh sống lang thang nay đây mai đó, cuộc sống không ổn định, nhiều giá trị văn hóa của dân tộc Mông bị mai một…, đã cho thấy tính chất rất nguy hại của âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo đối với chính đồng bào dân tộc, tôn giáo mà các thế lực thù địch đã và đang thực hiện ở Việt Nam.

Đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Trong lịch sử dân tộc ta, các dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam sống hòa thuận, luôn tôn trọng lẫn nhau, không đối đầu nhau, luôn đoàn kết chung sức, chung lòng xây dựng và bảo vệ đất nước. Những người của các dân tộc và các tôn giáo khác nhau có thể sống chung trong một làng, trong một dòng họ, thậm chí trong một gia đình, đã tạo nên sự gần gũi tình cảm quê hương, tình cảm gắn bó dòng tộc, thân thuộc. Các dòng tôn giáo trên thế giới chảy vào Việt Nam đã hòa quyện với văn hóa Việt Nam, trở thành một bộ phận góp phần tạo nên nền văn hóa dân tộc thống nhất nhưng đa dạng và phong phú; đồng bào các dân tộc, tôn giáo sống đoàn kết, hòa thuận và yên ổn làm ăn.

Trong những năm qua, các thế lực thù địch ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, kích động đồng bào chống đối chính quyền, đòi ly khai đã tạo ra nhiều “điểm nóng” về chính trị - xã hội, đặc biệt là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Chúng gây mất ổn định chính trị, để tạo cớ đưa các phái đoàn quốc tế vào xem xét, “giúp” ta ổn định tình hình xã hội, nhưng thực chất là tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ, thậm chí còn để dễ bề can thiệp quân sự vào nước ta.

Điều này tuy chưa phá vỡ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc của chúng ta; nhưng cũng xuất hiện những biểu hiện thiếu tin tưởng của đồng bào dân tộc, tôn giáo với bộ phận còn lại của dân tộc ở mức độ nhất định, ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc khiếu kiện, những đòi hỏi, những yêu cầu vì lý do “dân tộc, tôn giáo” ở khía cạnh này hay khía cạnh khác đã tạo nên những “điểm nóng”, gây mất ổn định, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Những sự kiện ở 48 Nhà Chung, Thái Hà (Hà Nội), Mường Nhé (Điện Biên) Cư Kuin (Đắk Lắk) trong thời gian gần đây đã cho thấy rõ tính chất nguy hiểm và tác hại không nhỏ của vấn đề đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội, chúng ta đã phải mất khá nhiều công sức để xứ lý tình hình.

Đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Trên thực tế, sự chống phá của chúng đã gây nên những ảnh hưởng tiêu cực đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt là ở địa phương, cơ sở. Việc một bộ phận đồng bào dân tộc, tôn giáo bị các thế lực thù địch lôi kéo, đòi hỏi, khiếu kiện, thậm chí có hành vi chống đối chính quyền đã gây rất nhiều khó khăn, phức tạp trong quá trình xử lý, ổn định tình hình để chăm lo phát triển kinh tế - xã hội của các cấp ủy và chính quyền ở các địa phương. Chính quyền địa phương ở một số nơi khu vực Tây Bắc, như Hà Giang, nơi diễn ra một bộ phận người Mông bị kẻ xấu lôi kéo, kích động theo Tin Lành Vàng Chứ từ nhiều năm nay, đã gặp nhiều khó khăn trong quản lý xã hội, quản lý dân cư, quản lý hộ khẩu, thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Ở một số nơi, thậm chí có trường hợp một số cán bộ chính quyền cơ sở bị “vô hiệu hóa”. Các thế lực thù địch không chỉ nhằm làm mất ổn định chính trị - xã hội, mà chúng còn nhằm làm tha hóa, biến chất, mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ ở cơ sở, vô hiệu hóa đội ngũ cán bộ, “thúc đẩy” đội ngũ cán bộ làm việc “không tự giác” cho chúng.

Tình hình an ninh - chính trị ở các huyện, tỉnh ở Tây Nguyên còn khá phức tạp bởi các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống khó khăn, trình độ kinh tế và dân trí thấp của đồng bào các dân tộc thiểu số, các tín đồ tôn giáo để chống phá, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã tốn khá nhiều nhân lực, vật lực để dẹp nạn Fulro, tạo lập, giữ vững môi trường an ninh và ổn định cho Tây Nguyên, nhưng sự ổn định vẫn chưa thực sự bền vững.

Một thực tế cho thấy, trên các địa bàn vùng dân tộc thiểu số có sự phức tạp của vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, đời sống của đồng bào có tín ngưỡng, theo tôn giáo còn rất khó khăn, sự ổn định trên địa bàn không vững chắc. Đảng và Nhà nước ta đã phải thành lập các ban chỉ đạo để tăng cường quản lý, tập trung phát triển các địa bàn này, trong đó có việc giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng[1].

Thực chất sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện nội dung sứ mệnh lịch sử vẻ vang ấy, trong suốt quá trình cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng cộng sản Việt Nam đã thiết lập và lãnh đạo khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức để tập hợp rộng rãi các giai tầng xã hội khác. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; hoàn thành cách mạng dân chủ dân tộc nhân dân, thống nhất đất nước đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình ấy, giai cấp công nhân Việt Nam luôn là lực lượng đi đầu thực hiện các mục tiêu của Đảng và Nhà nước, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thành quả cách mạng to lớn ấy đã và đang khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng duy nhất không thể thay thế của giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng Việt Nam hiện nay. Trong mỗi bước phát triển của cách mạng, sự trưởng thành của Đảng về năng lực và uy tín lãnh đạo, giai cấp công nhân luôn có sự định hướng xây dựng đúng đắn.

Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cho sự nghiệp phát triển đất nước. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam đang cùng toàn dân tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đồng thời, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường ổn định để phát triển, tham gia tích cực cùng các lực lượng tiến bộ trên thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập, phát triển và tiến bộ xã hội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008).

SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

 


Tại Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta chỉ rõ:Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp[1].

Là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lớp công nhân đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt Nam từ thời kỳ khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ hai (1924 - 1929). Là một bộ phận của giai cấp công nhân thế giới, nên giai cấp công nhân Việt Nam mang đầy đủ đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân nói chung và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế, ngoài đặc điểm chung, giai cấp công nhân Việt Nam có những nét đặc điểm riêng của mình.

Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành và phát triển trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống kiên cường, bất khuất trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Dưới ách thống trị của bè lũ thực dân xâm lược và phong kiến tay sai làm cho nỗi nhục mất nước và nỗi khổ vì bị bóc lột, áp bức của giai cấp công nhân tăng lên gấp bội, khiến cho động cơ, nghị lực, lòng nhiệt tình và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân càng được nâng cao.

Ra đời và trưởng thành ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, từ một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, đa số là nông dân lại được hình thành và phát triển sau Cách mạng tháng Mười, khi chủ nghĩa cơ hội trong Quốc tế II đã bị phá sản, Quốc tế cộng sản đã ra đời, nên giai cấp công nhân Việt Nam sớm có chính đảng của mình, không bị ảnh hưởng tư tưởng cải lương trong Quốc tế II, luôn giữ vững được truyền thống, bản chất cách mạng, thống nhất về tư tưởng và tổ chức trong phạm vi cả nước.

Tuy ra đời muộn hơn so với giai cấp công nhân ở các nước châu Âu, số lượng ban đầu còn nhỏ bé, chỉ gắn với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, mà không gắn với sự phát triển của đại công nghiêp nhưng giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm tỏ ra là một lực lượng cách mạng kiên cường, tiên phong trong cuộc đấu tranh cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta, góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Giai cấp công nhân Việt Nam, do nguồn gốc xuất thân chủ yếu từ nông dân và các tầng lớp xã hội khác, nên có mối quan hệ tự nhiên mật thiết với giai cấp nông dân và những tầng lớp lao động khác.

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo môi trường thuận lợi để giai cấp công nhân nước ta phát triển nhanh về số lượng, chất lượng được nâng lên, song chưa đồng đều, cơ cấu đang có sự biến đổi nhanh chóng.

Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức, giai cấp công nhân nước ta có trình độ học vấn ngày càng tăng, đã hình thành bộ phận công nhân trí thức. Tuy nhiên, số công nhân có trình độ học vấn cao, kỹ năng nghề nghiệp giỏi vẫn còn ở mức trung bình và thấp. Công nhân, lao động ở nước ta hiện nay chủ yếu vẫn là lao động giản đơn chưa qua đào tạo nghề. Đặc biệt, còn thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân xuất thân từ nông dân chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống, một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường.

Cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có sự biến đổi nhanh chóng. Cùng với tiến trình đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, ở nước ta đã xuất hiện một số ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò then chốt của nền kinh tế quốc dân như ngành dầu khí, điện tử, tin học, bưu chính viễn thông, một số ngành dịch vụ... Sự phát triển nhanh của các ngành này dẫn đến sự tăng nhanh về số lượng, chất lượng đội ngũ công nhân.

Hiện nay, một bộ phận công nhân có trình độ học vấn, chuyên môn cao đã có thu nhập khá. So với trước đổi mới, đời sống công nhân có cải thiện đáng kể, nhất là công nhân trong các ngành mũi nhọn song, nhìn chung đời sống đa số công nhân vẫn còn nhiều khó khăn.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008).

Vai trò của chính đảng vô sản trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, song để biến khả năng khách quan đó thành hiện thực phải thông qua nhân tố chủ quan của chính giai cấp công nhân. Trong học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã luận giải sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan với nhân tố chủ quan. Trong đó, việc tổ chức ra đội tiền phong của giai cấp công nhân thành một chính đảng mác xít chân chính - đảng cộng sản, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân là nhân tố quyết định nhất. Vai trò của đảng cộng sản trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, thể hiện: Đảng cộng sản làm chuyển biến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển từ tự phát lên tự giác. Trong cuộc đấu tranh để giành chính quyền và lãnh đạo xây dựng xã hội mới luôn đòi hỏi giai cấp công nhân phải được thu hút, tập hợp trong một tổ chức thống nhất dưới sự lãnh đạo của đội tiền phong của giai cấp đó là đảng cộng sản. Chỉ có đảng cộng sản lãnh đạo, tổ chức, tuyên truyền và giáo dục giai cấp công nhân mới đạt tới trình độ tự giác bằng việc tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho phong trào của giai cấp công nhân vươn tới trình độ nhận thức lý luận và trở thành một phong trào chính trị. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định, trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại quyền lực liên hiệp của các giai cấp hữu sản, chỉ khi nào giai cấp công nhân tự mình tổ chức thành chính đảng độc lập với tất cả mọi chính đảng do giai cấp hữu sản lập ra, mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp được. Đảng cộng sản là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. Vai trò này của đảng được quy định từ mối quan hệ khách quan vốn có giữa đảng với giai cấp công nhân, trong đó giai cấp công nhân chính là cơ sở xã hội - giai cấp của đảng cộng sản, nơi xuất phát hình thành ra đội tiền phong của giai cấp và là nguồn bổ sung lực lượng bảo đảm cho đảng tồn tại và phát triển về mọi mặt. Mối quan hệ giữa đảng cộng sản với giai cấp công nhân là mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa tổ chức cao nhất, bộ phận đại diện cho trí tuệ và lợi ích của giai cấp với toàn bộ giai cấp công nhân. Khẳng định đảng cộng sản là lãnh tụ chính trị, là đội tiền phong của giai cấp công nhân, ở chỗ, đảng giữ vai trò là hạt nhân lãnh đạo của giai cấp, là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu dẫn dắt, tập hợp và tổ chức giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Vai trò ấy được thể hiện: đảng có trình độ lý luận và tổ chức cao hơn bộ phận còn lại của giai cấp để lãnh đạo giai cấp và dân tộc; là lực lượng đi đầu nắm bắt, tiếp thu những tinh hoa, trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân để định ra cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động; đồng thời, đảng còn là một tổ chức thống nhất về ý chí, hành động, kỷ luật và đoàn kết. Đảng cộng sản tuyên truyền, vận động, thu hút tập hợp và tổ chức các giai tầng xã hội khác trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Việc thu hút, tập hợp, tổ chức lại và đoàn kết rộng rãi các giai tầng xã hội khác cả trong nước và nước ngoài tạo nên sức mạnh tổng hợp để giai cấp công nhân giành được chính quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ thành công tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước và trên toàn thế giới.

Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, phải triệt để trong đấu tranh loại trừ chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các khuynh hướng sai trái dưới mọi hình thức trong phong trào công nhân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân phát triển đúng hướng, từng bước đi đến thắng lợi cuối cùng. 

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, xuất phát từ đặc điểm và khả năng cách mạng của họ.

 


C.Mác khẳng định: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của nền đại công nghiệp”[1]. Ra đời và phát triển cùng với nền đại công nghiệp, nên giai cấp công nhân có số lượng và chất lượng ngày càng tăng, được đại công nghiệp rèn luyện, tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Giai cấp công nhân lại có hệ tư tưởng độc lập và tiên tiến đó là chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhờ đó, giai cấp công nhân có những phẩm chất ưu việt hơn hẳn tất cả các giai cấp khác trong xã hội. Những phẩm chất đó là: giai cấp tiên tiến nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có ý thức tổ chức kỷ luật cao nhất, đồng thời còn là giai cấp có tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế rộng rãi. Những phẩm chất đó của giai cấp công nhân ngày càng được tôi luyện, củng cố và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp và cuộc đấu tranh của mình chống chế độ tư bản chủ nghĩa.

Địa vị kinh tế - xã hội khách quan không chỉ quy định giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng mà còn tạo cho họ khả năng làm việc đó. Trong xã hội, giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản phù hợp và thống nhất với lợi ích của quần chúng nhân dân lao động và các giai tầng xã hội khác. Chỉ có họ mới có khả năng đại biểu cho quyền lợi, bảo vệ lợi ích chính đáng của toàn bộ quần chúng lao động; có khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp, giác ngộ về địa vị sứ mệnh lịch sử của mình và lôi cuốn, tập hợp, tổ chức quần chúng bị áp bức tham gia vào cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản; có khả năng lãnh đạo và đi tiên phong trong các cuộc đấu tranh của quần chúng lao động và toàn dân tộc chống áp bức, bóc lột cũng như trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa; có khả năng đoàn kết thống nhất toàn thể giai công nhân các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trên tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng. Như vậy, giai cấp công nhân vừa có vai trò tổ chức lãnh đạo cách mạng, vừa là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại.

Lịch sử thế giới đã chứng minh những kết luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là đúng đắn. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm thực hiện sứ mệnh của mình không phải diễn ra một cách bằng phẳng, thuận buồm xuôi gió, mà phải có những điều kiện khách quan, chủ quan nhất định.

Hiện nay, các thế lực thù địch và cơ hội cho rằng, các nước tư bản phát triển công nhân không còn bị bóc lột như trước nữa, đã trung lưu hóa…, cho nên giai cấp công nhân không còn sứ mệnh lịch sử toàn thế giới như trước, không còn đóng vai trò lãnh đạo cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Hiện nay, ở những nước tư bản phát triển, đời sống của một bộ phận không nhỏ giai cấp công nhân đã được cải thiện, có thu nhập cao, có nhà lầu, xe hơi, có cổ phần, cổ phiếu… Song, điều đó không có nghĩa giai cấp công nhân ở các nước ấy không còn bị bóc lột hoặc bị bóc lột không đáng kể. Những sự biến đổi ấy không thể làm thay đổi một sự thật hiển nhiên rằng, toàn bộ tư liệu sản xuất vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản, giai cấp công nhân về cơ bản vẫn không có tư liệu sản xuất, vẫn phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản, cả sức lao động trí óc và lao động chân tay để kiếm sống và vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư. Do vậy, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân vẫn không hề thay đổi, họ vẫn đóng vai trò lãnh đạo cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.

Thêm nữa, trước sự phát triển, tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đến mọi mặt của đời sống xã hội, nhiều người cho rằng sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân đã được chuyển giao cho tầng lớp trí thức. Theo họ, thời đại hiện nay là thời đại của văn minh trí tuệ, thời đại mà khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì tầng lớp trí thức mới là lực lượng xã hội có đủ năng lực trí tuệ và có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo các lực lượng xã hội trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.

Trong mọi xã hội, trí thức luôn có vai trò rất quan trọng, trực tiếp và đi đầu trong quá trình phát triển các lý thuyết, khoa học công nghệ, khoa học quản lý, khoa học xã hội và nhân văn... góp phần trong việc nâng cao dân trí. Song, tầng lớp trí thức không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng thay thế giai cấp công nhân. Vì, trong mọi chế độ xã hội, tầng lớp trí thức chỉ là một tầng lớp xã hội đặc biệt và không thuần nhất. Trí thức chưa bao giờ và không bao giờ là một giai cấp, nó không đại biểu cho một phương thức sản xuất độc lập, không phải là lực lượng kinh tế, chính trị độc lập. Tầng lớp trí thức cũng không có hệ tư tưởng độc lập, nó chỉ theo và chịu ảnh hưởng hệ tư tưởng của giai cấp mà nó phục vụ. Do địa vị kinh tế - xã hội của họ, tầng lớp trí thức không thể là người lãnh đạo cách mạng, mặc dù tất cả các giai cấp thống trị trong lịch sử đều cần đến trí thức và đào tạo ra đội ngũ trí thức của mình để thực hiện vai trò thống trị đối với xã hội. Về kinh tế thì tầng lớp trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Họ cũng là những người làm thuê và bị bóc lột, nhưng họ là tầng lớp làm thuê đặc biệt, được giai cấp tư sản đào tạo và sử dụng với sự ưu đãi cao. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền lợi của tầng lớp trí thức gắn liền với quyền lợi của giai cấp tư sản.

Thực tế lịch sử đã cho thấy, chưa bao giờ tầng lớp trí thức lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng xã hội nào. Các cuộc đấu tranh của tầng lớp trí thức tuy có tiếng vang nhất định, nhưng mục tiêu của các cuộc đấu tranh ấy không bao giờ vượt qua được khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản. Họ cũng dễ sẵn sàng thoả hiệp với giai cấp thống trị khi những yêu cầu tối thiểu đưa ra được chấp nhận. Vì thế, những cuộc đấu tranh do trí thức thực hiện không bao giờ và không thể đi đến mục tiêu cuối cùng giải phóng toàn thể nhân dân lao động trên toàn thế giới như giai cấp công nhân được.

Với quan điểm hoàn toàn khách quan và khoa học về địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân, hoàn toàn khẳng định được rằng, trong thời đại ngày nay, chỉ duy nhất giai cấp công nhân mới là lực lượng có sứ mệnh lịch sử.



[1] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 610.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hoàn toàn khách quan, trước hết từ địa vị kinh tế - xã hội của họ quy định.

 


Giai cấp vô sản - giai cấp công nhân hiện đạicon đẻ của nền đại công nghiệp hiện đại. Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, giai cấp công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân gắn liền với lực lượng sản xuất tiên tiến dưới chủ nghĩa tư bản. Khi đại công nghiệp hiện đại càng phát triển thì lực lượng sản xuất càng phát triển, mang tính xã hội hoá ngày càng cao làm cho mâu thuẫn không thể điều hoà giữa lực lượng sản xuất tiên tiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên gay gắt. Mâu thuẫn này được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân tiến hành để xoá bỏ sự thống trị của giai cấp tư sản và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột.

Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân luôn bị giai cấp tư sản áp bức bóc lột nặng nề, nên họ có lợi ích cơ bản đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Do đó, xét về bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng triệt để nhất trong tất cả các giai cấp đối lập với giai cấp tư sản, họ có tinh thần và ý chí quyết tâm chiến đấu đến cùng cho sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại khỏi mọi áp bức, bất công xã hội.

Sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân đại biểu cho phương thức sản xuất mới, là lực lượng xã hội duy nhất có khả năng lãnh đạo và tổ chức các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động xây dựng xã hội mới, phát triển lực lượng sản xuất, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Tạo ra một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, phương thức sản xuất tiến bộ nhất trong lịch sử nhân loại.

Cơ sở khách quan quy định sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân và vai trò chính đảng vô sản

 


Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là hoàn toàn khách quan: “… cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau”[1].

Song sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân không phải là ý muốn chủ quan của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, mà được quy định một cách khách quan bởi địa vị kinh tế - xã hội và phẩm chất, khả năng cách mạng của giai cấp công nhân hiện đại.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 613.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân khác hẳn về chất so với sứ mệnh của các giai cấp trước đó

 


Mục tiêu cuối cùng mà sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thực hiện là xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Giai cấp công nhân làm cách mạng nhằm xoá bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nguồn gốc sinh ra mọi áp bức bóc lột, bất công xã hội, chứ không phải thực hiện sự thay thế chế độ tư hữu này bằng chế độ tư hữu khác, hay thay đổi hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác như trước đây.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nhằm mang lại lợi ích cho tất cả nhân dân lao động trên toàn thế giới, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tất cả những phong trào lịch sử từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều do mưu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của tuyệt đi đa số, mưu lợi cho tuyệt đại đa số”[1].

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự nghiệp cách mạng vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Tính quốc tế do bản chất của giai cấp công nhân và yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa quy định. Tuy nhiên, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân phải được giai cấp công nhân ở từng quốc gia dân tộc thực hiện trước hết ở nước mình, qua đó góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của giai cấp công nhân toàn thế giới. Điều đó đã được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”[2]. Trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân luôn phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 611.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 613.