Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

Phản bác quan điểm “Việt Nam tham gia cung ứng sản phẩm quốc phòng là trái với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ”

 

Xây dựng Quân đội hiện đại không thể không hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 xác định: “Phấn đấu đến năm 2030, công nghiệp quốc phòng sẽ có sức cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu”. Đây là chủ trương có tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong tự chủ, hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch xuyên tạc Việt Nam “cung ứng, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng ra thế giới là trái với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam”. Luận điệu này là vô căn cứ, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn nên cần phải phản bác.

Xuyên tạc nhằm chống phá mục đích phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam

Đảng, Nhà nước Việt Nam định hướng xây dựng, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng là chủ trương đúng đắn có tầm nhìn chiến lược trong bối cảnh diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, thế giới đang đe dọa tiềm tàng đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Một trong những mục tiêu có tính đột phá trong phát triển công nghiệp quốc phòng được công bố trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 là phấn đấu đến năm 2030, các sản phẩm được sản xuất từ nền công nghiệp quốc phòng nội địa sẽ tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu (tức là xuất khẩu sản phẩm quốc phòng). Đây là mục tiêu có tính đột phá, đặt ra yêu cầu rất cao phải xây dựng được nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự cường, hiện đại, có sức cạnh tranh quốc tế.

Đây là chủ trương đúng đắn, nhưng bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo. Các đối tượng chống phá cho rằng, Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm công nghiệp quốc phòng là “buôn bán vũ khí để kiếm lời, bán vũ khí là gián tiếp gây chiến tranh, xung đột, bất ổn”, “nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam cũng chẳng khác gì bản chất của chủ nghĩa tư bản, trái ngược với bản chất của nền quốc phòng hòa bình, tự vệ”. Đây là luận điệu không đúng sự thật, cố tình chống phá bản chất, mục đích phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Việt Nam tham gia cung ứng sản phẩm quốc phòng chỉ vì mục đích hòa bình, tự vệ

Cần khẳng định rằng, Việt Nam tham gia cung ứng, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng không trái ngược với tính chất của nền quốc phòng hòa bình, tự vệ Việt Nam đã công bố với thế giới. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Một là, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam là hòa bình, tự vệ, do đó chủ trương tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng không nằm ngoài mục đích hòa bình, tự vệ. Việt Nam công bố công khai với thế giới chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ với mục đích thực hiện quyền tự vệ quốc gia chính đáng. Đây là định hướng căn bản, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tổ chức, hoạt động quốc phòng từ xây dựng, hiện đại hóa Quân đội đến xây dựng, hiện đại hóa các mặt, các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực công nghiệp quốc phòng. Điều đó cũng có nghĩa là mục đích, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam chi phối xuyên suốt mục đích xây dựng, hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng. Theo đó, nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam được xây dựng tự chủ, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng để sản xuất các loại vũ khí, trang bị hiện đại vừa phục vụ mục đích xây dựng Quân đội hiện đại, đủ sức tự chủ với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng có khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu để đóng góp xây dựng nền hòa bình thế giới dưới góc độ gia tăng khả năng tự vệ chính đáng của các quốc gia đối tác.

Hai là, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng luôn tuân thủ công ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam tham gia xuất khẩu sản phẩm quốc phòng luôn tuân thủ các nguyên tắc theo công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc tuân thủ các thỏa thuận hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực quốc phòng dựa trên các điều ước quốc tế là nguyên tắc bắt buộc để bảo đảm trật tự thế giới, tránh việc tùy tiện trong trao đổi, mua bán vũ khí, trang bị quân sự vì mục đích chạy đua vũ trang, gây chiến tranh, xung đột, kích động mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, đe dọa sự ổn định và hòa bình thế giới.

Phản bác quan điểm “Việt Nam tham gia cung ứng sản phẩm quốc phòng là trái với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ”

Cán bộ Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) kiểm tra sản phẩm công nghiệp quốc phòng công nghệ cao. Ảnh: CHÍ PHAN

Ba là, đối tác để Việt Nam có thể xuất khẩu sản phẩm quốc phòng phải là quốc gia hợp pháp được quốc tế công nhận và là thành viên của Liên hợp quốc có nhu cầu tự vệ chính đáng, phù hợp với chính sách quốc phòng Việt Nam. Theo đó, nếu các đối tác là quốc gia hợp pháp nhưng mục đích sử dụng vũ khí, trang bị được cung ứng từ Việt Nam không được cam kết rõ ràng; hoặc các đối tác không phải là quốc gia hợp pháp được công nhận theo công ước quốc tế; các tổ chức khủng bố; các tổ chức ly khai... không phải là đối tác để Việt Nam cung ứng các sản phẩm quốc phòng. Chỉ các quốc gia hợp pháp được công nhận theo công ước quốc tế, có cam kết sử dụng vũ khí, trang bị vì mục đích hòa bình, tự vệ, mục đích sử dụng đó cũng không nhằm vào bất kể quốc gia thứ ba nào mới là đối tác để Việt Nam cung ứng các sản phẩm quốc phòng theo thỏa thuận.

Bốn là, mục đích sử dụng sản phẩm quốc phòng sản xuất từ Việt Nam là thực hiện quyền tự vệ quốc gia chính đáng. Đối tác mua vũ khí, trang bị hoặc chuyển giao công nghệ sản xuất của nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam phải được thẩm định chặt chẽ về tính pháp lý, nhu cầu, mục đích sử dụng. Theo đó, vũ khí, trang bị là sản phẩm quốc phòng Việt Nam sẽ được xuất khẩu cho đối tác sử dụng với mục đích thực hiện quyền tự vệ chính đáng khi bị đe dọa, bị xâm phạm, bị tấn công xâm lược. Quốc gia đối tác với tư cách là người sử dụng cuối cùng sản phẩm vũ khí, trang bị từ Việt Nam phải có các điều khoản cam kết chặt chẽ, rõ ràng về mục đích sử dụng. Việc sử dụng chỉ với mục đích duy nhất là tự vệ, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia đối tác mà không nhằm gây chiến tranh, xung đột với quốc gia khác, không nhằm vào hoặc đe dọa bất kỳ quốc gia nào.

Năm là, chủng loại vũ khí, trang bị Việt Nam xuất khẩu là các loại có khả năng phòng thủ. Cũng giống như chính sách mua sắm vũ khí, trang bị trong nước, để phù hợp với khả năng hòa bình, tự vệ, Việt Nam chỉ chủ trương mua các loại vũ khí, trang bị, phương tiện có tính năng phòng thủ phù hợp để tự vệ trước các hình thái chiến tranh xâm lược. Việt Nam không chủ trương mua sắm vũ khí tấn công chiến lược, không tham gia chạy đua vũ trang, thực hiện chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ trong mua sắm vũ khí, trang bị. Việc tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm quốc phòng Việt Nam cho các quốc gia đối tác cũng như vậy, sẽ cung ứng vũ khí, trang bị có tính năng phòng thủ, bảo vệ.

Xây dựng công nghiệp quốc phòng Việt Nam có đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Trước hết, cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trên cơ sở đó tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức làm cho cán bộ, đảng viên, mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm trong xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Bên cạnh đó, cần làm tốt công tác truyền thông về ý nghĩa phát triển, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng, sự cần thiết tham gia hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng nói chung, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng nói riêng để tạo sự yên tâm, tin tưởng, ủng hộ, hợp tác của cộng đồng quốc tế, của các đối tác nước ngoài về chủ trương, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam.

Vấn đề có ý nghĩa then chốt là xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia có trình độ chuyên sâu về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị, đồng thời có khả năng, nghiệp vụ, trình độ pháp lý, ngoại ngữ để đàm phán, thẩm định đối tác trong lĩnh vực mua bán, chuyển giao công nghệ, sản phẩm quốc phòng. Đó là cơ sở nền tảng vững chắc để thực hiện đúng định hướng chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ trong tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng. Do vậy cần thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo các lĩnh vực chuyên sâu về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị trong nước, đồng thời đẩy mạnh hợp tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia khoa học quân sự, chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ vũ khí, trang bị với các đối tác nước ngoài, nhất là các đối tác chiến lược toàn diện, các đối tác có nền công nghiệp quốc phòng tiên tiến, hiện đại.

Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học-công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất quốc phòng để nghiên cứu, sản xuất sản phẩm công nghiệp quốc phòng phù hợp với từng đối tác, từng thị trường trong khuôn khổ các nội dung hợp tác quốc tế. Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và chuyển đổi nền kinh tế số, công nghiệp quốc phòng muốn đạt trình độ hiện đại, đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thì không thể nằm ngoài xu thế đó. Việc thay đổi tư duy, cách tiếp cận các dạng thức sản xuất, kinh doanh, thương mại trên nền tảng hạ tầng kinh tế số là một tất yếu. Theo đó, nền công nghiệp quốc phòng phải từng bước cập nhật, ứng dụng nhanh thành tựu Cách mạng công nghiệp 4.0 theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, đồng bộ hóa, kết nối hóa để nghiên cứu, thiết kế, sản xuất sản phẩm vũ khí, trang bị mới.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục đưa ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá vấn đề tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của sản phẩm công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Âm mưu của chúng là tìm cách gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc sự thật để gây áp lực ngăn cản Việt Nam tham gia thị trường thế giới. Do đó, cần tiếp tục phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng; phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà nghiên cứu và các cơ quan báo chí truyền thông để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của thế lực thù địch. Cùng với đó, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đồng thuận, ủng hộ chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam; đồng thời củng cố niềm tin của bạn bè quốc tế đối với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam.

Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào; những tác động tiêu cực của tình hình thế giới khó khăn cho đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Vào những năm cuối thế kỷ XX, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Chủ nghĩa tư bản có sự điều chỉnh thích nghi. Điều đó làm cho vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam càng trở lên khó khăn. Việt Nam mất đi chỗ dựa vững chắc từ thành trì chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, đây là cơ hội cho các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong nội bộ Đảng và nhân dân tamột số người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Điều đó, đặt ra những khó khăn, thách thức trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ mục tiêu con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những thách thức, nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nổi lên đó là khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực đến mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hậu quả của nó tác động đến tất cả các mặt của đời sống: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh.

Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ do mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, can thiệp lật đổ, khủng bố tiếp diễn biến phức tạp; các điểm nóng vẫn tồn tại và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới. Bên cạnh đó, cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh phi truyền thống, đang tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Đó là những vấn đề mang tính toàn cầu không một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà cần sự chung tay của cộng đồng quốc tế.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi thủ đoạn phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 


Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam với chiến lược toàn cầu phản cách mạng “diễn biến hòa bình”, là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị bằng mọi thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích chính trị của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là những tác động tiêu cực đến tâm lý, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp là nước lạc hậu, trải qua hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đất nước gặp muôn vàn khó khăn.


Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, trình độ sản xuất thấp, tàn dư của xã hội cũ còn tồn tại nặng nề. “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội[1]. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi, nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp. Lực lượng sản xuất ở trình độ thấp; nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại đan xen. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa còn nhiều bất cập, hạn chế; cơ cấu giai cấp - xã hội đa dạng, phức tạp, tồn tại đa xen nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội; cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt, phức tạp. Văn hoá, tinh thần, tâm lý, tập quán, lối sống cũ còn tồn tại; sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá, lối sống tư sản.

Hai cuộc chiến tranh do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra đối với dân tộc ta để lại hậu quả hết sức nặng nề, nhất là sự tổn thất về sinh mạng con người không gì có thể bù đắp được; sự tàn phá các cơ sở kinh tế, cơ sở hạ tầng; các công trình, các di sản văn hoá; sự tàn phá môi trường sinh thái… Điều đó, làm mất đi nguồn lực vô cùng to lớn để xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ; không những thế, nhiều di chứng, nhiều hậu quả của chiến tranh còn ảnh hưởng đến tận ngày nay không dễ gì khắc phục. Đây là những tác động tiêu cực, những khó khăn rất lớn đối với nước ta để vượt qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.



[1] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 25. 

Mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận

 

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là khi Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

Sự xuyên tạc, bịa đặt thâm độc 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là nhằm “hạ bệ thần tượng”,  thay đổi tình cảm của dân tộc với lãnh tụ Hồ Chí Minh; tạo tâm lý hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh; sâu xa là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng để thực hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. 

Mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận
Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, tháng 3-1961. Ảnh tư liệu 

Các đối tượng khi xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh thường tập trung vào: Thứ nhất, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, xuyên tạc những tư tưởng cụ thể trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng hạn như: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, hoặc có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ là những lý thuyết giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “tư biện, lý thuyết, ảo tưởng, phi thực tế”... Thứ ba, xuyên tạc về bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước”; tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới...

Để xuyên tạc, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường lập luận dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, những hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén. Hoang đường hơn, chúng còn dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, những nhân chứng giả, bằng chứng giả và đưa ra những quy kết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy tính tư biện.

Các thế lực thù địch thường sử dụng các diễn đàn công khai như tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn... Đặc biệt, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, chúng triệt để lợi dụng vùng “lãnh thổ đặc biệt” là không gian mạng với hàng nghìn trang mạng xã hội, trong đó có nhiều trang giả mạo các cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền những nội dung chống phá....

Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta kỷ nguyên rực rỡ trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian qua, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang.

Tình cảm mà nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước dành cho Người là điều không thể phủ nhận. Không những vậy, những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), của các chính khách, giới nghiên cứu quốc tế, từ các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa... Do vậy, mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận.

Bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

Nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người ở vị trí quan trọng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đó, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức toàn diện về nội dung, bản chất và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin, trau dồi bản lĩnh chính trị, cung cấp cơ sở luận cứ đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả và sắc bén nhằm làm thất bại những chiêu bài xuyên tạc, bóp méo sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trái lại, nhận thức chưa đúng đắn, toàn diện có thể dẫn tới việc đấu tranh trở nên mơ hồ, thiếu căn cứ, kém hiệu quả. Do vậy, chúng ta cần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh với những phương pháp, cách thức sáng tạo và phù hợp hơn.

Đổi mới cách thức tổ chức các hội thảo và tọa đàm khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chú trọng đến trao đổi, thảo luận có định hướng, gắn với những vấn đề thực tiễn trong nước và thế giới. Bên cạnh những sản phẩm có tính “hàn lâm”, nghiên cứu chuyên sâu, cần nhiều sản phẩm có tính “thường thức” với cách thể hiện giản dị, ngắn gọn, sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, nhất là đối với lớp trẻ. 

Giảng dạy về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được coi trọng ở tất cả các cấp. Trường học, các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống trường Đảng cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tư tưởng ngại học, lười học, học mà không vận dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất hơn nữa; cần có chế độ kiểm tra, giám sát việc học tập, thưởng-phạt công minh, đưa vào tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên...

Hai là, đẩy mạnh và triển khai các hướng nghiên cứu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là góp phần bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, nhất là khi các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng một số "khoảng trống" trong tư tưởng và tiểu sử Hồ Chí Minh để tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như Chủ nghĩa Mác, là một học thuyết mở. Sức sống của một tư tưởng mở nằm ở những chỉ dẫn có tính nguyên lý. Do vậy, trong việc học tập, chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc vận dụng sáng tạo và phát triển, bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới hiện nay.

Để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, một số hướng nghiên cứu cần được thực hiện, đó là: Tiếp tục hướng nghiên cứu cơ bản nhằm làm rõ những quan điểm, tư tưởng có giá trị bền vững, phản ánh quy luật vận động của xã hội, tiếp tục “soi đường” cho cách mạng Việt Nam; những quan điểm, tư tưởng trước kia đúng đắn nhưng hiện nay đã bị thực tiễn vượt qua, cần được thay đổi hoặc bổ sung, phát triển; những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, phù hợp nhưng chưa được hiểu đúng và đủ, hoặc vận dụng chưa đúng, chưa phù hợp dẫn đến chưa hiệu quả... 

Đẩy mạnh hướng nghiên cứu vận dụng nhằm định hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra gắn với các ngành, các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Tiếp tục hướng nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, nhất là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới...

Ba là, nâng cao hiệu quả và kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận diện một cách chính xác sự xuyên tạc (âm mưu, thủ đoạn, nội dung, động cơ, hình thức) và mức độ tác động đến xã hội của từng loại xuyên tạc để có phương pháp đấu tranh phù hợp và xử lý một cách kiên quyết. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên-lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng này; duy trì và phát huy tác dụng của các nhóm chuyên gia, các đội xung kích tại các cơ quan, đơn vị, nhất là những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh vững chắc, cung cấp cứ liệu và tư liệu đầy đủ, lập luận một cách chặt chẽ, logic, bẻ gãy từ gốc sự bịa đặt, sai trái, thù địch, phản động. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh; tích cực kiểm soát có hiệu quả các trang mạng độc hại, chấn chỉnh những phát ngôn thiếu trách nhiệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kiên quyết và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bốn là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Cần tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả hơn nữa.

Cùng với đó là xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tâm, có tầm, có đức, có tài, thực sự tiêu biểu về mọi mặt, luôn tiên phong, gương mẫu trong công tác, góp phần quan trọng vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Mọi sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được kiên quyết đấu tranh loại bỏ. 

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc bảo đảm cho nước ta tiếp tục giành được những thắng lợi to lớn hơn trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 


Dưới sự lãnh đạo của một chính đảng cầm quyền với trí tuệ, bản lĩnh, độc lập, sáng tạo - một đảng vì nước, vì dân - Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đang tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, viết tiếp những bản anh hùng ca thực hiện khát vọng tự cường dân tộc, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đảng ta thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, một đảng hiện thân “là đạo đức, là văn minh”, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Cùng với đó là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cho phép đất nước ta huy động mọi nguồn lực nội sinh kết hợp với sức mạnh thời đại đưa cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Không có chuyện “đu dây”

 

Sau hàng loạt sự kiện đối ngoại thành công gần đây, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố, mở rộng. Công tác đối ngoại và ngoại giao của Việt Nam đã đạt được những kết quả toàn diện, quan trọng, trở thành điểm sáng nổi bật; tạo bước phát triển mới về chất trong cục diện đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Trước thành công đó của Việt Nam, một số cá nhân, tổ chức phản động, các thế lực thù địch bày tỏ sự tức tối và càng ra sức chống phá. Chúng lợi dụng internet, thông qua các trang mạng xã hội, một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt để xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Việt Nam; trắng trợn bịa đặt rằng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”; nền ngoại giao của Việt Nam "cục bộ", “chọn bên”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. 

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch đưa ra lập luận rằng, để “dân chủ” hơn nữa, Việt Nam cần bỏ chính sách quốc phòng “4 không”. Luận điệu xuyên tạc trên vô cùng nguy hại khi nó làm cho số ít người không có thông tin đầy đủ về tình hình Việt Nam thời gian gần đây hoang mang, dao động; thậm chí có thể gây chia rẽ, hiểu sai lệch về quan hệ Việt Nam với các nước, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh trong trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã đưa ra lập luận rõ ràng để phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

Không có chuyện “đu dây”
Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh. Ảnh: HOA HUYỀN 

Phóng viên (PV): Đề nghị đồng chí làm rõ sự sai trái trong các khái niệm “đu dây”; "ngoại giao cục bộ", “chọn bên”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc... mà các thế lực thù địch xuyên tạc về chính sách đối ngoại của Việt Nam?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Thứ nhất, không biết họ nói những khái niệm đó là gì, nhưng với những nước nhỏ mà không dựa trên lợi ích quốc gia, không dựa trên những đan xen hai bên cùng có lợi, không dựa trên luật pháp quốc tế thì “đu dây" là cực kỳ nguy hiểm. Đu dây theo tôi hiểu, tức là anh đu bên này một tí, anh đu bên kia một tí và anh rất dễ rơi vào thế kẹt giữa sự cạnh tranh của các nước lớn. Việt Nam không phải kiểu đó. Quan điểm rõ ràng của Việt Nam là: Tôi có lợi ích khi hợp tác với anh, anh có lợi ích khi hợp tác với tôi và nếu các bên song trùng lợi ích thì nhân cái hợp tác đó lên.

Thứ hai, tôi chơi với anh A, tôi cũng chơi với anh B trên nguyên tắc chung, khi có khác biệt thì phải giải quyết bằng đối thoại trên tinh thần các bên tôn trọng lợi ích của nhau. Tôi không đi với bên này để chống bên kia. Ví dụ, tôi quan hệ với Trung Quốc là vì lợi ích của tôi, của Trung Quốc và của chung hai bên. Tôi quan hệ với Mỹ cũng vậy, cũng vì lợi ích của Mỹ, lợi ích của Việt Nam, hai bên phải đan xen lợi ích thì mới thiết lập quan hệ ngoại giao.

“Đu dây" là gió chiều nào theo chiều ấy, thiên bên này một tí, thiên bên kia một tí. Việt Nam không có quan điểm như vậy. Trong nhiều năm làm công tác ngoại giao, tôi đôi khi được các bạn quốc tế nhắc rằng, Việt Nam đôi lúc còn "hơi cứng" trong quan hệ, một số trường hợp còn chưa uyển chuyển. Nguyên nhân là vì chúng ta giữ vững nguyên tắc trong thảo luận một số vấn đề thì có động chạm đến lợi ích quốc gia; nguyên tắc của luật pháp quốc tế hay vấn đề về thể chế chính trị.

Phải mất 10 năm cân nhắc để nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ, trong khi đó, ngay từ khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, thế thì "đu dây" ở chỗ nào? Trong những lần trả lời phỏng vấn trước đây, cá nhân tôi không thích sử dụng khái niệm cân bằng quan hệ với các nước lớn. Không phải là vấn đề cân bằng, mà là tôi quan hệ với tất cả nước lớn, dựa trên lợi ích quốc gia, hai bên cùng có lợi và tất nhiên phải dựa trên luật pháp quốc tế.

Còn nếu hiểu cân bằng theo cách hiểu cơ học, là nếu tôi đi 50 với nước này, thì tôi phải đi 50 với nước kia là không đúng. Lợi ích quốc gia sẽ quyết định không gian hợp tác giữa hai nước. Ví dụ Việt Nam quan hệ với Pháp, chúng ta thấy tiềm năng địa chính trị của Pháp ở châu Âu; còn với Trung Quốc, ngoài quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn, với thế mạnh về chuỗi cung ứng hàng hóa, nguyên liệu, hạ tầng... Trong khi đó, với Mỹ thì chắc chắn là khoa học-công nghệ. Mỗi nước có thế mạnh riêng, làm sao có thể xuất sang nước này 50% thì cũng xuất sang nước kia 50% theo cách hiểu thô thiển là cân bằng được.

Và như vậy, câu chuyện "đu dây" hay cân bằng nước lớn, nếu cứng nhắc những nguyên tắc cố định theo kiểu cơ học như vậy sẽ không phản ánh đúng sự độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.

PV: Như vậy có thể hiểu, ngoại giao với các nước lớn cần có tầm nhìn và chiến lược?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Về đối ngoại hay ngoại giao, có hai thành tố quan trọng: Tầm nhìn chiến lược và thủ thuật. Tầm nhìn chiến lược là gì? Nói đại thể, tại sao từ những năm 1945-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy phải thiết lập quan hệ với các nước lớn, trong đó có Mỹ. Đấy là tầm nhìn chiến lược. Còn chỉ để nhằm ứng xử với những cạnh tranh quyết liệt của các nước lớn thì đó là một phần thủ thuật thôi.

PV: Nếu các nước lớn, các đối tác đặt điều kiện thì mới hợp tác, chúng ta phải làm gì?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Trong quan hệ quốc tế, những câu chuyện đặt điều kiện là chuyện thường xuyên. Bởi vì hai bên có lợi ích song trùng và cả những lợi ích không song trùng.

Ví dụ, việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với những điều khoản có thể chưa thực sự phù hợp, nhưng mình phải chấp nhận khi đạt được lợi ích chung lớn hơn. Đấy là khi điểm cộng có tổng bằng dương cho lợi ích quốc gia, không gây hại và không ảnh hưởng tới vấn đề cốt lõi thì phải tiến hành chứ.

Cho nên, trong quan hệ với các nước, luôn tồn tại câu chuyện khác biệt, nhưng vẫn có song trùng, chúng ta phải có cách tiếp cận để giữ được cái cốt lõi của mình nhưng vẫn tranh thủ được thuận lợi từ đối tác.

PV: Trong gần 40 năm đất nước đổi mới, ấn tượng của đồng chí với công tác ngoại giao là điều gì?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Điều tôi ấn tượng nhất có lẽ là chúng ta tham gia vào môi trường quốc tế một cách tự tin, chúng ta đã vững mạnh hơn rất nhiều. Ngoại giao vừa đóng góp hiệu quả vào việc phát triển đất nước, đồng thời vừa tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho hòa bình và phát triển. Vị thế Việt Nam đã lên rất nhiều.

Có những lúc, có những thời điểm ngoại giao tạo ra động lực mới, thậm chí là dẫn dắt. Ví dụ, việc “phá vây” ngoại giao thành công đã tạo được không gian để phát triển. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã “phá vây” thành công. Năm 1991 là Hiệp định Paris về Campuchia; chúng ta bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Năm 1994-1995 là giai đoạn vào ASEAN, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Có thể khẳng định, khi được sự ủng hộ của quốc tế, đặc biệt là các nước lớn, đã tạo ra bước đột phá.

Như vậy, ngoại giao có vai trò định hướng hội nhập và mang tính dẫn dắt. Có thể lấy ví dụ thời điểm dịch Covid-19 mấy năm vừa rồi. Đó là thời gian khó khăn về dịch bệnh, kinh tế thế giới đứng trước bờ vực suy thoái, cạnh tranh nước lớn quyết liệt, nhiều nước không dám quan hệ với xung quanh. Chính thời điểm khó khăn này lại là những năm đối ngoại Việt Nam đột phá. Tôi nghĩ rằng không phải ngẫu nhiên mà tất cả nước lớn và những nước quan trọng nhất lại cung cấp cho Việt Nam lượng vaccine lớn như vậy để phòng, chống dịch.

Trong bối cảnh đầy cạnh tranh, Việt Nam vẫn sử dụng tốt ưu thế, vị thế của mình, đan xen lợi ích với các đối tác, từ đó thiết lập và nâng cấp quan hệ với những nước mà thậm chí giữa họ đang cạnh tranh với nhau. Ví dụ cụ thể chính là việc giữ được quan hệ tốt đẹp với các nước lớn như Mỹ, Nga và Trung Quốc; tranh thủ được nguồn lực từ các nước này, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững quan điểm, đường lối đối ngoại của mình, tạo sự ổn định và môi trường thuận lợi nhất cho phát triển.

Không chỉ với các nước lớn, hiện Việt Nam đang có quan hệ tốt với tất cả những trung tâm quan trọng của thế giới, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mô hình sang phát triển xanh, bền vững, dựa trên đổi mới và sáng tạo. Đối ngoại thể hiện vai trò mở đường, đưa khoa học kỹ thuật mới, công nghệ cao của thế giới về cho đất nước.

PV: Làm tốt công tác đối ngoại chính là góp phần tạo ra sức mạnh mềm. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh mới, đồng chí có thể lý giải sâu hơn về điều này?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Bây giờ Việt Nam đã có sức mạnh mềm và chúng ta phải biết cách nhân lên sức mạnh mềm thì mới tạo ra sức hấp dẫn của chính chúng ta. Không phải chỉ là vấn đề vị thế chung chung, sức mạnh mềm còn có thể tạo ra cơm áo, tiền bạc.

Lấy ví dụ, nếu các khâu liên quan đến thủ tục, thể chế bị trì trệ, chắc chắn các dự án lớn, tập đoàn lớn, nhỏ của các quốc gia sẽ không hài lòng và ta sẽ mất cơ hội. Vì thế, chúng ta phải khắc phục ngay, có môi trường thông thoáng, hạ tầng tốt, con người có trình độ cao, được những người làm công tác ngoại giao quảng bá tốt, nhất định các nhà đầu tư chất lượng cao sẽ tới đầu tư.

PV: Để có thể phản bác kịp thời quan điểm sai trái của các thế lực phản động, là người kinh qua nhiều vị trí công tác trong ngành ngoại giao, đồng chí chia sẻ kinh nghiệm gì với thế hệ cán bộ trẻ?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Trước hết, phải xác định rất rõ thông tin mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Đánh giá đúng các nguy cơ, thường xuyên cảnh giác, làm rõ những vấn đề có tính nguyên tắc, từ đó có biện pháp ngăn chặn. 

Lấy ví dụ, trước đây lo ngại quá trình hội nhập có thể bị hòa tan, nhưng thực tế gần 40 năm đổi mới chứng minh chúng ta tham gia và hội nhập với thế giới mà chúng ta vẫn đứng vững. Chúng ta được lợi rất nhiều, thậm chí là vững hơn, nhận thức tốt hơn.

Thế giới đang chuyển động rất sâu sắc, có cả thuận lợi và tạo động lực nếu chúng ta bắt kịp thì sẽ vươn lên, mà không bắt kịp thì tụt hậu càng xa. Ngoại giao cũng phải thích ứng để đủ sức nhân lên vị thế của Việt Nam. Ngoại giao bây giờ phải biết đặt câu hỏi điều gì tốt cho sự phát triển của đất nước. Nhà ngoại giao cũng phải hiểu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh... cái gì thì tốt cho Việt Nam, liệu có bị lệ thuộc không.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Thực chất con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của nước ta, thực chất là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản[1]. Trên phạm vi cả nước, bỏ qua việc xác lập vị trí chi phối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong phạm vi cụ thể các doanh nghiệp, các đặc khu kinh tế,.. cách thức quản lý theo kiểu tư bản chủ nghĩa vẫn tồn tại, vận hành theo các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Sự vận hành và chi phối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn diễn ra trong quá trình sản xuất gắn với không gian và thời gian nhất định. Phạm vi không gian và thời gian này được quy định bởi các luật và quy định của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều đó, đồng thời bỏ qua việc tước đoạt ruộng đất và tư liệu sản xuất của người lao động, bỏ qua việc tạo dựng giai cấp thống trị, bóc lột người lao động.

Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đó là thành tựu về khoa học và công nghệ, kinh nghiệm tổ chức sản xuất của chủ nghĩa tư bản, tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền và những giá trị văn hóa tiến bộ mà nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại, xây dựng kiến trúc thượng tầng văn minh, tiến bộ.



[1] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 25.