Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

 VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Để quy tụ và cụ thể những chuẩn mực đạo đức giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện có hiệu quả, cần khái quát ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá, ở mấy điểm chính sau: Trung thành với lý tưởng; Liêm chính trong công việc; Gương mẫu trước nhân dân; Kiệm cần trong lối sống; Kỷ cương luôn coi trọng; Đoàn kết thật chân thành.

Đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường dạy. Có nhiều cách tiếp cận để xác định chuẩn mực đạo đức của người cách mạng  - người cán bộ, đảng viên, trong đó cách tiếp cận cơ bản, cốt lõi nhất là căn cứ vào vị trí, vai trò, trách nhiệm người cán bộ, đảng viên đối với Đảng, với dân, với nước. Đó là sự hy sinh phấn đấu vô điều kiện cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân. Điểm chung của đạo đức người cán bộ, đảng viên là vậy, thường xuyên phải tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững, thể hiện trong công tác, đời sống và mọi mối quan hệ hằng ngày. Để quy tụ và cụ thể những chuẩn mực đạo đức giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện có hiệu quả, cần khái quát ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá, ở mấy điểm chính sau: Trung thành với lý tưởng; Liêm chính trong công việc; Gương mẫu trước nhân dân; Kiệm cần trong lối sống; Kỷ cương luôn coi trọng; Đoàn kết thật chân thành.

Có thể coi đó là những nội dung cơ bản, cốt lõi về chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên ở mọi giai đoạn cách mạng. Trong mỗi chúng ta, có được những phẩm chất đó, mới xứng danh là cán bộ, đảng viên. Ngược lại, nếu không có được những phẩm chất đó một cách thực chất, chỉ hình thức, hời hợt, trá hình, giả tạo,… thì không thể xứng đáng, không thể là cán bộ, đảng viên chân chính.

TRUNG THÀNH VỚI LÝ TƯỞNG

Đảng lãnh đạo cách mạng, định hướng con đường lý tưởng cho nhân dân đi và tổ chức thực hiện thông qua hàng triệu cán bộ, đảng viên của mình. Vì thế, người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ là “thay đi cái cũ, xã hội cũ lạc hậu, xây lên cái mới, xã hội mới tốt đẹp hơn”. Lý tưởng của chúng ta đã được Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta lựa chọn là “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Ngay từ ngày đầu đến hôm nay, trong quá trình từng bước thực hiện lý tưởng ấy, đã có biết bao tấm gương hy sinh vô điều kiện của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân, đưa đất nước ta từ thân phận nô lệ, kiếp ngựa trâu, đánh đổ đế quốc xâm lược và phong kiến, giành độc lập chủ quyền dân tộc, xây dựng và phát triển không ngừng để có cơ đồ, vị thế vinh quang, sánh vai với các nước trên thế giới, đời sống nhân dân hòa bình, dân chủ, ấm no, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ như ngày nay, làm thỏa tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Trung thành với lý tưởng” của Đảng là trung thành với lợi ích của dân tộc; trung thành với lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đã là cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ, hoàn chỉnh về mục tiêu lý tưởng đó để không những củng cố niềm tin vững chắc cho bản thân, mà còn tuyên truyền, giáo dục, vận động đông đảo quần chúng nhân dân cùng nhận thức đúng đắn, sâu sắc, đầy đủ và làm theo. Một số cán bộ, đảng viên đã “phai nhạt lý tưởng” dẫn đến “tự diễn biến, tự chuyển hóa” đã là không còn phẩm chất cách mạng của người cán bộ, đảng viên; là không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên; thậm chí là đã đi ngược lý tưởng của Đảng, phản bội nhân dân. Vì thế, trung thành với lý tưởng của Đảng là phẩm chất cơ bản, là nền tảng, là sức mạnh để người cán bộ, đảng viên hy sinh, phấn đấu, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

LIÊM CHÍNH TRONG CÔNG VIỆC

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ, phải “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Đặc biệt, với cán bộ, đảng viên, Người nghiêm khắc yêu cầu phải thực sự liêm chính trong thực hành công việc, bất cứ to hay nhỏ; lớn hay bé. Cán bộ, đảng viên được Đảng, nhân dân giao nắm giữ những nhiệm vụ là để phục vụ nhân dân, tuyệt đối không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bòn rút, trục lợi cá nhân bằng mọi thủ đoạn tinh vi, trắng trợn, liên kết bè nhóm khuất tất hòng che mắt nhân dân, làm giàu bất chính. Bác Hồ cũng từng chỉ rõ tiền của đó là mồ hôi, nước mắt, sức lực của nhân dân. Bác gọi những người tham nhũng “chiếm công vi tư” là một thứ “giặc” - giặc nội xâm. Thứ giặc này nằm ngay trong chúng ta, phá chúng ta từ bên trong, mà bản chất của nó chính là chủ nghĩa cá nhân, là phi đạo đức. Cho nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Mỗi cán bộ, đảng viên muốn có được đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự, xứng đáng, phải thường xuyên cảnh giác, rèn luyện, tự chống lại những ham muốn cá nhân chủ nghĩa, phải liêm chính, ngay thẳng, minh bạch trong mọi công việc và đời sống của mình.

GƯƠNG MẪU TRƯỚC NHÂN DÂN

Cán bộ, đảng viên là những người tiên phong, gương mẫu trước nhân dân về mọi phương diện: tư tưởng, hành động, lối sống, sự hy sinh phấn đấu cho lợi ích chung của Đảng, của nhân dân và dân tộc. Đảng lãnh đạo nhân dân bằng sự gương mẫu, tiền phong của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhân dân nhìn thấy cán bộ, đảng viên miệng nói, tay làm, tiền phong gương mẫu là sẽ làm theo. Nhân dân ta có câu “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn gian khổ, sống chết kề bên hay lúc bình yên vinh hoa phú quý, bao giờ cũng cần sự gương mẫu tiền phong của người cán bộ, đảng viên. Đó là sự gương mẫu hy sinh phấn đấu vì Đảng quang vinh, vì dân giàu, nước mạnh, văn minh hạnh phúc, trong đó có niềm vinh dự của chính mình. Đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên là “miệng nói, tay làm”, “nói ít làm nhiều”, đã nói thì làm, làm cho bằng được, làm có hiệu quả, vì lợi ích chung. Nhân dân rất kính trọng, khâm phục, tin tưởng, đi theo những cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu trước nhân dân, trước Đảng trong mọi công việc, trong cuộc sống hằng ngày.

KIỆM, CẦN TRONG LỐI SỐNG

Đây là sự đồng nhất trong phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Người cán bộ, đảng viên phải thực sự là người lao động cần cù, sáng tạo trong lĩnh vực mà mình đảm nhiệm, đóng góp hết mình cho nhân dân, cho đất nước. Tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của, cần mẫn học tập, không ngừng trau dồi tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lao động sáng tạo, tạo ra những thành quả vật chất, tinh thần thiết thực, hữu ích cho đất nước, cho xã hội, đó chính là những phẩm chất quý báu của người cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ chỉ rõ, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là hướng rèn luyện, là phương châm hành động, là phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh, tiết kiệm là yêu cầu cần thiết, là đức tính, là khoa học trong công tác của người cán bộ, đảng viên. Nếu làm ra của cải mà không tiết kiệm, không chi dùng đúng việc, phung phí thì khác nào như “gió vào nhà trống”. Tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, thấy việc cần mà không dám làm, không dám chịu trách nhiệm. Trước mỗi công việc, cần cân nhắc, tính toán cẩn thận, xem xét hiệu quả, cân đối toàn diện, nhìn nhận trước mắt, lâu dài, tránh tình trạng “vung tay quá trán”, hình thức, gây lãng phí tiền của của nhân dân. Gần đây, có những hiện tượng lãng phí ghê gớm về tiền của, sức lao động, tài nguyên, nhất là tài nguyên đất đai,… do hàng loạt dự án “treo”, công trình dở dang, đầu tư không hiệu quả, chất lượng kém… rất đáng báo động. Tình trạng này là hệ quả xấu của tâm lý nhiệm kỳ, của sự vô trách nhiệm, xa rời, buông lỏng vai trò lãnh đạo, quản lý, là sự vi phạm nghiêm trọng đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Trong rất nhiều lĩnh vực khác, nếu cán bộ, đảng viên thiếu đạo đức cách mạng, buông lỏng, lơ là với vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình, không thực sự cần kiệm, đều gây ra những thiệt hại lớn cho xã hội, đất nước, làm mất lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín, thanh danh của Đảng.

KỶ CƯƠNG LUÔN COI TRỌNG

Là cán bộ, đảng viên, không những phải gương mẫu tuân thủ pháp luật, mà phải thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương, điều lệ, nghị quyết của Đảng. Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là thực hiện nghiêm, chủ động, sáng tạo, có hiệu quả mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; mọi quy định của cộng đồng từ việc nhỏ đến việc lớn. Sự gương mẫu chấp hành, thực hiện nghiêm sẽ tạo thành nếp sống nghiêm túc, luôn tuân thủ kỷ luật kỷ cương, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tạo nên phẩm chất đạo đức của người cách mạng.

Giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng là bảo vệ Đảng, là nguyên tắc, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên không mắc sai lầm, không xa rời Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, có đủ bản lĩnh đấu tranh, bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng vững chắc.

ĐOÀN KẾT THẬT CHÂN THÀNH

Đoàn kết là sức mạnh làm nên mọi thắng lợi của Đảng và nhân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng, là bài học vô cùng quý giá của Đảng. Bao giờ, ở đâu, lĩnh vực nào cũng cần có sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trong nhân dân để tạo ra sức mạnh. Đoàn kết về tư tưởng, hành động, tổ chức gắn kết mọi cán bộ, đảng viên trên cơ sở vì lợi ích chung, lâu dài.

Sự đoàn kết của cán bộ, đảng viên, nâng tầm là đạo đức cao quý của Đảng, là yêu cầu của nhân dân, của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Người nhấn mạnh: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công! Để trở thành phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, sự đoàn kết như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta yêu cầu, phải thực sự vì lợi ích chung; phải thật sự chân thành, trung thực, gạt bỏ mọi mưu đồ, lợi ích, thủ đoạn cá nhân được che đậy bằng “đoàn kết”. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy ta phải yêu thương đồng chí, không đố kỵ, ghét ghen, không dùng quyền lực loại người tài đức, đưa con cháu, người thân, cùng cánh vào thay, kéo cả nhà làm quan…

Đoàn kết phải trên nền tảng đạo đức của người cộng sản, vì tạo nên sức mạnh, nội lực kiên cường của Đảng.

Sáu nội dung chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên là một thể thống nhất, bổ sung, liên hệ gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau. Đó chính là chuẩn mực, là thước đo đánh giá phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ, đảng viên ở bất cứ lĩnh vực nào./.

Điểm chung của đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là phải thường xuyên phải tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững, thể hiện trong công tác, đời sống và mọi mối quan hệ hằng ngày.

PGS. TS. TRẦN QUANG NHIẾP

 KHÔNG THỂ SUY DIỄN VÀ BẺ CONG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG

Thực hiện theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác phát triển Đảng luôn được thực hiện nghiêm túc để Đảng thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực, sức chiến đấu, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc và bôi đen công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, phải kể đến một số luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường rêu rao là: Hiện nay, tình trạng "nhạt Đảng, xa Đoàn" trở nên phổ biến trong đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên; các thủ tục để trở thành đảng viên rườm rà, gây ức chế cho người muốn vào Đảng, nên quần chúng không ham; nhất là, sự bịa đặt trắng trợn rằng "vào Đảng chả ích lợi gì" nên quần chúng không muốn phấn đấu vào Đảng…

Về vấn đề này, cần phải khẳng định chắc chắn rằng:

I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

Khi nói về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.

Cùng với đó, “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” cũng ghi rõ điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành đảng viên cộng sản, trong đó, không thể không nhắc đến các yêu cầu như thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc chống cộng sản; hoạt động phù hợp với mục đích của Đảng; có nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành khi tiến hành công tác tuyên truyền; giữ bí mật công việc của Đảng; được một chi bộ đồng ý kết nạp… Điều đó có nghĩa là, Đảng Cộng sản là tổ chức của những con người thực sự tiêu biểu, vượt trội về nhận thức, tư tưởng, hành động hơn quần chúng ngoài Đảng và đảng viên của Đảng Cộng sản phải là những người có đủ năng lực, phẩm chất để tuyên truyền, vận động, thuyết phục giai cấp công nhân và các tầng lớp khác tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp bóc lột.

Ở Việt Nam, được xây dựng và phát triển theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnít chân chính, Đảng Cộng sản là một tổ chức của những con người tiên tiến nhất. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Trong một chỉnh thể được tổ chức chặt chẽ, thống nhất ấy, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng; sinh hoạt gắn liền và chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra của tổ chức Đảng. Để trở thành một thành viên của tổ chức ấy, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930) đã ghi rõ tại mục III: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng thời được vào Đảng”. Trong từng giai đoạn cách mạng, từng thời điểm cụ thể, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng và trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên phù hợp và chặt chẽ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Cụ thể, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội lần thứ XI, tháng 1-2011) quy định tại mục 2, Điều 1 là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.

Từ quy định trong Điều lệ vắn tắt và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể thấy rõ rằng, người/quần chúng muốn trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thì tất yếu phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Đó gọi là “tính Đảng”, đồng thời cũng chính là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; với lý tưởng cách mạng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà Đảng lựa chọn. Người được kết nạp vào Đảng nhất định phải là những người ưu tú trong quần chúng; phải có giác ngộ chính trị tốt, thể hiện được tính tiên phong trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường; đồng thời, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đó chính là giá trị cao quý của Đảng để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong; đồng thời cũng là giá trị của mỗi người đảng viên trong quá trình phấn đấu, trưởng thành. Điều đó cũng có nghĩa là quần chúng đã muốn/đã quyết tâm phấn đấu vào Đảng thì đều phải nhận thức sâu sắc rằng, đã "gọi là đảng viên thì phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì…Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng… Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.

Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”, song “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”. Vì thế, Người yêu cầu "Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”, thông qua quá trình phát hiện, bồi dưỡng quần chúng về mọi mặt; đồng thời, các tổ chức cơ sở Đảng “cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng” để đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng.

Vì nghiêm túc trong công tác phát triển đảng viên và coi đó là một nội dung quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương hướng phát triển đảng viên được đẩy mạnh theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Theo nghị quyết các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và kế hoạch công tác hằng năm, các cấp ủy Đảng đã căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung phát triển Đảng toàn diện; đặc biệt, đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân và các thành phần khác như sinh viên đang học tập tại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các học viện, nhà trường, ở các vùng nông thôn hay tại các doanh nghiệp, trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và lao động tự do tại các địa phương… tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân/mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay” và nếu không được bổ sung nguồn sinh lực thì Đảng đâu có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để đảm đương vai trò cầm quyền/độc quyền lãnh đạo như đã hiến định trong Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, xuyên suốt 9 thập niên xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác phát triển Đảng, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa thường xuyên và lâu dài.

II. BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Thực tế, "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài" và "vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cho nên, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn phấn đấu để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; suốt đời tận trung với nước, tận tâm phụng sự nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Những điều căn cốt này đã được mỗi quần chúng nhận thức rõ. Vì thế, khi đã xác định phấn đấu trở thành đảng viên, tất yếu mỗi người đều không chỉ cần phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc thuộc về tổ chức, sinh hoạt và Điều lệ Đảng mà còn phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thử thách để trưởng thành.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức, cũng ở trong xã hội và Đảng trong sạch, vững mạnh được quyết định bởi số lượng, chất lượng đảng viên và việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Số lượng đảng viên là cần thiết, song số lượng đó chỉ trở thành sức mạnh khi đạt được những yêu cầu về chất lượng. Vì thế, công tác phát triển Đảng toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, bộ đội xuất ngũ; trong các vùng xung yếu và các cơ sở còn ít đảng viên để khắc phục tình trạng "vùng trắng", nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết. Hơn nữa, việc phát triển Đảng trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện, nhà trường; ở các vùng nông thôn; trong các khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… càng cần phải được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Nếu không quán triệt và thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc đó; nếu chỉ chú trọng số lượng mà coi nhẹ chất lượng, thì các tổ chức Đảng dù "đảm bảo chỉ tiêu kết nạp", song cũng chỉ là "một câu lạc bộ", không thể mạnh mà trái lại còn trở nên lỏng lẻo, rệu rã.

Trên thực tế, việc kết nạp người vào Đảng luôn được các cấp ủy xem xét toàn diện, từ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác đến trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng; từ quá trình rèn luyện, tu dưỡng thông qua thử thách thực tiễn đến việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng và theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu trong thời gian là đảng viên dự bị. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều hiểu rõ rằng vào Đảng/trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là để mưu cầu lợi ích cho mình, làm giàu cho bản thân và người thân mà là để cống hiến và phụng sự. Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh đại đa số giới trẻ, những quần chúng ngoài Đảng đã và đang nỗ lực trau dồi tri thức, nỗ lực làm việc để gây dựng sự nghiệp cho mình; thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu để vinh dự được trở thành người đảng viên cộng sản, thì đâu đó cũng vẫn có một bộ phận giới trẻ (công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên ở các vùng nông thôn…) sống thiếu lý tưởng, hoài bão, chỉ biết an phận mình. Đồng thời, cũng vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xa rời lý tưởng cách mạng, vi phạm kỷ luật Đảng…, song đó chỉ là hiện tượng. Cho nên, không thể vì một vài nhận xét về thực trạng công tác phát triển Đảng ở một số địa bàn cụ thể mà vội quy kết rằng "nếu không bị bắt buộc" thì người dân "không muốn vào Đảng"; và hiện nay công nhân lao động, thanh niên "ngại vào Đảng", "không tha thiết vào Đảng" như các phần tử phản động đã suy diễn, xuyên tạc.

Chỉ riêng những con số cụ thể này: "Theo dự thảo báo cáo, trong giai đoạn 2010-2020 và 9 tháng đầu năm 2021, tổng số đoàn viên ưu tú do tổ chức đoàn giới thiệu cho đảng là 2.868.498. Theo phân bổ chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2012-2017 số lượng đoàn viên ưu tú giới thiệu cho đảng xem xét kết nạp so với chỉ tiêu đề ra đạt 99,16%; nhiệm kỳ 2017-2022, tính đến thời điểm hiện tại đạt tỉ lệ 87,39%. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp đảng, theo số liệu thống kê của 67/67 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc, toàn Đoàn có gần 1,6 triệu đảng viên là đoàn viên đang sinh hoạt tại các chi đoàn, chiếm 25,39% tổng số đoàn viên cả nước và chiếm 30,76% tổng số đảng viên cả nước" cũng đủ là minh chứng sinh động cho thấy công tác phát triển Đảng trong đoàn viên, thanh niên những nhiệm kỳ gần đây. Đó cũng là một trong những bằng chứng bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng: cả 3 nhiệm kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng cũng không "chữa được hiện tượng chán đảng" dù có sự vào cuộc của ngành Tuyên giáo, của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Thực tế, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu phấn đấu; đồng thời cũng là niềm tự hào của mỗi quần chúng ngoài Đảng nói chung, của tuổi trẻ nước nhà nói riêng. Vì thế, việc vin vào cớ cho rằng thủ tục vào Đảng "rườm rà", nhất là phải khai lý lịch và được xác minh từ địa phương là thành phần ưu tú trong xã hội về mọi mặt như đạo đức, lối sống, gương mẫu, trong sạch; phải đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và "vào Đảng không đem lại lợi ích cụ thể gì', "vào Đảng không có gì khác biệt"… đã "cản trở nhiều người không muốn vào Đảng" chỉ là sự suy diễn cá nhân của những kẻ cơ hội đầy dã tâm chống phá Đảng. Hơn nữa, trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân" và Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” cùng Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về "Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”…, công tác phát triển Đảng, thành lập tổ chức Đảng cũng như tạo nguồn phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp và có vốn đầu tư từ nước ngoài thời gian qua cũng có những chuyển biến nhất định và đạt được những kết quả khả quan.

Thông qua việc thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp với vấn đề phát triển Đảng và thành lập tổ chức Đảng; việc khắc phục những khó khăn về thời gian tham dự lớp cảm tình Đảng của công nhân các khu công nghiệp; nhất là việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về công tác phát triển Đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ở các vùng nông thôn… công tác phát triển đảng viên ở những địa bàn này đã có những thay đổi tích cực. Vì thế, câu chuyện "giới trẻ nhạt Đảng", "giới trẻ ngại vào Đảng" là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam mà một luận điệu thù địch nêu ra không phản ánh đúng thực tế công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một vài hiện tượng đơn lẻ, chỉ là thiểu số, không phải là bản chất, cho nên sự quy chụp đó là vội vàng, là thiển cận và ác ý; là bôi đen sự thật để xuyên tạc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, công tác phát triển Đảng nói riêng.

Đương nhiên, để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiên phong, trong thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng công tác phát triển Đảng mà còn luôn tự chỉnh đốn và đổi mới. Một mặt, các cấp ủy Đảng chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo nguồn trong quần chúng tích cực, đảm bảo về số lượng, cơ cấu hợp lý; bồi dưỡng, theo dõi, giúp đỡ để họ có đủ điều kiện trở thành đảng viên cộng sản; xem xét toàn diện về mọi mặt (trình độ giác ngộ, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, uy tín trước quần chúng…) và thử thách trong thực tiễn; bồi dưỡng, kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức. Mặt khác, Đảng thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, để kịp thời phát hiện, xử lý, đưa ra khỏi Đảng những kẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong từng tổ chức cơ sở Đảng/những kẻ đã xa rời lý tưởng cách mạng, thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng của người đảng viên, không còn là "tấm gương" cho quần chúng noi theo.

Một trong những nội dung quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII cần được cả hệ thống chính trị và cấp ủy Đảng các cấp quán triệt sâu sắc là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Theo đó, để công tác phát triển Đảng thật sự đảm bảo chất lượng, toàn Đảng không chỉ cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên này theo đúng tinh thần Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/1/2019 của Ban Bí thư về "Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng" mà còn phải chú trọng, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ngoài Đảng nói riêng về mục đích, ý nghĩa của công tác phát triển đảng viên. Đồng thời, quan tâm đào tạo, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ, cho những quần chúng ngoài Đảng trong các tổ chức chính trị-xã hội ở các vùng, các địa bàn, các giới… để chủ động phát hiện và tạo nguồn dự bị của Đảng; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng để giúp quần chúng, đảng viên mới nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, xác định đúng đắn động cơ vào Đảng trên cơ sở giác ngộ lý tưởng và tự giác phấn đấu, rèn luyện để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Cùng với đó, các tổ chức cơ sở Đảng phải quán triệt sâu sắc quan điểm "trọng chất lượng hơn số lượng", để khi tiến hành các khâu, các quy trình phát triển Đảng vừa tránh sa vào hiện tượng chạy theo chỉ tiêu mà tùy tiện hạ thấp tiêu chuẩn, điều kiện của người vào Đảng vừa tránh được tình trạng mắc bệnh hẹp hòi, cầu toàn, gây tác hại nhiều mặt, làm tổn hại đến việc bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Trong quá trình triển khai, một mặt, phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và tuyên truyền, giáo dục về mục tiêu, lý tưởng của Đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý để làm gương cho quần chúng tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Mặt khác, điều chỉnh linh hoạt những bất cập (bố trí các lớp cảm tình Đảng, lớp đảng viên mới bằng hình thức trực tuyến, học vào ngày nghỉ, ngoài giờ hành chính, bố trí địa điểm, thời gian cho phù hợp điều kiện thực tế…) để tạo thuận lợi cho những đối tượng đặc thù; đồng thời, thực hiện nghiêm các khâu, các quy trình bồi dưỡng, kết nạp, giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức để Đảng thật sự thu hút và kết nạp được những người ưu tú nhất, tiêu biểu nhất về phẩm chất, bản lĩnh, năng lực, trí tuệ vào Đảng.

Chỉ có như vậy, công tác phát triển Đảng mới đạt chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh nói riêng, để Đảng có đủ uy tín, năng lực và trí tuệ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thành công!.

Theo TS. VĂN THỊ THANH MAI

ThS. NGUYỄN TUẤN DŨNG - CCTN

LTT/PĐT (st)

 NHỮNG LỜI RĂN DẠY CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LUÔN VẸN NGUYÊN GIÁ TRỊ

1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.

2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác.

ST/ĐT-QP

 XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Quân đội ta luôn mang trong mình bản chất cách mạng, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân - Bộ đội vì dân.

Đó chính là cội nguồn sức mạnh, góp phần làm nên mọi thắng lợi của QĐND Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Gần 78 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, cùng toàn dân chiến đấu, chiến thắng các thế lực xâm lược, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và ngày nay đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thử thách trên con đường phát triển nhưng Quân đội ta luôn một lòng sắt son với Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân; không ngừng nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

Trong giai đoạn hiện nay, việc giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ của quân đội thể hiện rõ nét ở việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; thực hiện “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trên, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

Quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, tính chủ động, sáng tạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này là sự kế thừa bài học, kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của tổ tiên, của ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Nhờ sớm nêu cao tinh thần chủ động giữ nước mà chúng ta luôn giữ vững non sông, bờ cõi, khẳng định nền độc lập, tự chủ, bảo toàn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia.

Quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” là tổng thể các tư tưởng, hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân diễn ra từ trước, nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu, hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Tư duy chiến lược về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” của Đảng gồm nhiều nội dung, trong đó tập trung vào một số vấn đề cơ bản, như: Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước; xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh; phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phương thức bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; đẩy mạnh công tác đối ngoại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN... Những nội dung đó cần được thường xuyên quán triệt để mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp hiểu rõ và hành động đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Hai là, tập trung xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong mọi tình huống.

Xây dựng QĐND là chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn chiến lược nhằm không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều bài viết và phát biểu chỉ đạo về xây dựng QĐND. Đặc biệt, trong bài “Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm mà Đảng bộ Quân đội và toàn quân phải tiếp tục quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện tốt. Đó là: (1) Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân...; (2) Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, "gương mẫu, tiêu biểu", đáp ứng sự tin tưởng, kỳ vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; (3) Đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân; (4) Chủ động nghiên cứu, nắm, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước chủ trương về quân sự, quốc phòng; xử lý có hiệu quả các tình huống, bảo đảm trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không để bị động, bất ngờ; chuẩn bị sẵn sàng các giải pháp tổng thể, hóa giải nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; ứng phó có hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống trong tình hình mới; (5) Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; (6) Thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại. Đặc biệt, toàn quân tiếp tục nỗ lực thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Ba là, tiếp tục phát huy truyền thống, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong bối cảnh, tình hình quốc tế, trong nước với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Việc tiếp tục phát huy, bồi đắp phẩm chất cao quý đó trong tình hình hiện nay sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội và trong quân đội, góp phần xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, tăng cường bản chất cách mạng, xây dựng QĐND “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trước hết là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Để làm được điều đó, các cấp ủy đảng trong quân đội cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn làm tốt công tác giáo dục, quán triệt, rèn luyện, trau dồi cho cán bộ, chiến sĩ những phẩm chất tốt đẹp, giá trị nhân văn của Bộ đội Cụ Hồ đã được lưu giữ, kế thừa, không ngừng phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị của Bộ Chính trị (khóa XII, khóa XIII) và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, gắn với Phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động, các phong trào khác; tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ được thử thách, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, tạo môi trường thuận lợi để phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn phát huy và tỏa sáng.

Phát huy truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là sự thể hiện sâu sắc tình cảm, sự tôn kính, trách nhiệm của Quân đội ta đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu; đồng thời cũng là trách nhiệm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ QĐND hiện nay và mai sau đối với lớp lớp cán bộ, chiến sĩ QĐND thế hệ đi trước đã xây dựng, bồi đắp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ-Bộ đội của dân. Bất luận trong điều kiện nào, hoàn cảnh khó khăn đến mấy, giá trị, phẩm chất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ luôn phải được phát huy, phát triển và tỏa sáng, nhất là trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Báo QĐND

 MẶC TRANG PHỤC DÂN QUÂN TỰ VỆ TRÁI PHÉP CÓ THỂ BỊ PHẠT CAO NHẤT TỚI 4 TRIỆU ĐỒNG.

Hiện nay tình trạng mang mặc, sử dụng trang phục dân quân tự vệ, đội mũ có gắn sao trái phép xảy ra khá phổ biến. Việc sử dụng trái phép loại trang phục dành cho Dân quân tự vệ là hành vi vi phạm pháp luật. Cá biệt, có tình trạng sử dụng trang phục Dân quân tự vệ để giả danh lực lượng thu lợi bất chính và hành vi này phải được nghiêm cấm.

Theo điều 14, Luật Dân quân tự vệ 2019 quy định: Các hành vi bị nghiêm cấm về Dân quân tự vệ:

1. Thành lập, tham gia, tài trợ tổ chức, huấn luyện, điều động, sử dụng Dân quân tự vệ trái pháp luật.

2. Trốn tránh, chống đối, cản trở việc tổ chức, huấn luyện, hoạt động và thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ.

3. Giả danh Dân quân tự vệ.

4. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, nhiệm vụ của Dân quân tự vệ được giao xâm phạm lợi ích của quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

5. Sản xuất, vận chuyển, mua bán, thu gom, tàng trữ, sử dụng, chiếm giữ trái pháp luật vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, trang phục, sao mũ, phù hiệu, tài sản của Dân quân tự vệ.

6. Phân biệt đối xử về giới trong công tác Dân quân tự vệ.

Vậy sử dụng trang phục hoặc đội mũ có gắn sao của Dân quân tự vệ trái phép bị phạt bao nhiêu tiền?

Theo khoản 26, Điều 1, Nghị định 37/2022/NĐ-CP quy định: Vi phạm quy định về sử dụng quân trang (Trang phục Dân quân tự vệ)

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đội mũ có gắn quân hiệu hoặc sao mũ của dân quân tự vệ trái phép;

b) Mặc quân phục có gắn cấp hiệu hoặc phù hiệu, cành tùng, biển tên quân nhân, biểu tượng quân binh chủng trái phép;

c) Mặc trang phục của dân quân tự vệ khi không thực hiện nhiệm vụ.

2. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.”./.

Nguồn: Luật dân quân tự vệ năm 2019 #DQTVxavinhloihuyentanhungtinhlonganquankhu7

0 bình luận

 

 

Anh Hoai Công đã chia sẻ một bài viết.

55 phút  ·

 NGUỒN GỐC TÊN GỌI "ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

Mùa Hè năm 1954, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đây là chiến thắng quyết định, dẫn tới kết quả của Hiệp định Geneve, trong đó các bên cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Đồng thời thực dân Pháp phải rút hoàn toàn khỏi Đông Dương, các nước Đông Dương sẽ tiến hành tổng tuyển cử tự do để tiến tới thống nhất nước nhà.

Nhân loại còn biết đến Điện Biên Phủ như một “Waterloo của thế kỷ XX”, là “hồi chuông báo tử của thực dân Pháp trên khắp quả địa cầu”, là “ngọn hải đăng trên biển cả”, là “ánh đèn pha chiếu sáng con đường đi của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới”… góp phần cổ vũ các phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa trên thế giới. Bước sang thời kỳ chống Mỹ, đã có nhiều trận đánh lớn tiếp nối, trong đó có một “Điện Biên Phủ” hết sức oanh liệt diễn ra trên bầu trời Hà Nội mà báo chí thường gọi là “Điện Biên Phủ trên không”. Vậy cụm từ “Điện Biên Phủ trên không” xuất hiện từ bao giờ?

Theo Trung tá Lưu Trọng Lân - Nguyên Phó trưởng Phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng PK-KQ, tác giả cuốn sách “Điện Biên Phủ trên không - Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam”, ông được nghe nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Tuyên kể lại: Đêm 26-12-1972, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên thắng lớn. Trong không khí hồ hởi, ngay sáng hôm sau 27-12, tại phòng giao ban của Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng Giám đốc Trần Lâm thông báo: “Đêm qua bộ đội ta bắn rơi 8 chiếc B-52. Riêng Hà Nội diệt 5 pháo đài bay, có 4 chiếc rơi tại chỗ. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biểu dương các đơn vị lập công và ra lời kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn còn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B-52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn “Điện Biên Phủ” ngay trên bầu trời Hà Nội, Thủ đô thân yêu của chúng ta”.

Lời của Đại tướng đã tạo cho Nhạc sĩ Phạm Tuyên niềm xúc động sâu sắc. Ý nghĩ sáng tác một bài hát mang tên “Hà Nội - Điện Biên Phủ” bỗng lóe lên trong trí óc ông. Ngay đêm hôm đó, trong căn hầm của Đài Tiếng nói Việt Nam giữa lòng Thủ đô rực lửa chiến đấu, những nốt nhạc, những lời ca hùng tráng tuôn chảy trên giấy, dưới ngòi bút của ông: “B-52 tan xác cháy sáng bầu trời. Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời. “Rồng” ta lao vút... Một trận Điện Biên nay sẽ vùi mộng xâm lăng. Hà Nội ơi!”. Sáng 28-12, cầm bản nhạc trên tay, Nhạc sĩ Phạm Tuyên đến tòa soạn Báo Nhân Dân, bài ca “Hà Nội - Điện Biên Phủ” của ông liền được đăng trên Báo Nhân Dân và phát hành ngay sáng 29-12. Và cũng trong ngày hôm ấy, khi chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội còn đang tiếp diễn, trong chương trình “Tiếng hát gửi về Nam” của Đài Tiếng nói Việt Nam, bài hát đã được phát đi trên làn sóng điện, để rồi những ngày tiếp theo, nó được lan tỏa đi muôn phương, đến với bạn bè năm châu, bốn biển.

"Hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn Điện Biên Phủ ngay trên bầu trời Hà Nội” - lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và “Một Điện Biên nay vùi mộng xâm lăng, Hà Nội ơi!” - lời trong bài hát của Nhạc sĩ Phạm Tuyên phải chăng là những gợi ý đầu tiên cho sự ra đời của tên gọi đặc biệt “Điện Biên Phủ trên không”?

Thực tế là sau khi thua trận đánh mang tính quyết định trên bầu trời Hà Nội, cũng giống như sau thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954, đế quốc Mỹ đã buộc phải ký Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, cam kết tôn trọng các quyền cơ bản của Nhân dân Việt Nam, chấp nhận rút quân ra khỏi Việt Nam… tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho Nhân dân ta tiến lên giành toàn thắng vào mùa Xuân năm 1975. Tuy nhiên, ở đây vẫn còn một dấu hỏi là: Báo nào, đài nào đã sử dụng cụm từ “Điện Biên Phủ trên không” đầu tiên? Câu hỏi khó khăn ấy đã khiến cán bộ, nhân viên của Bảo tàng PK-KQ vào cuộc. Họ đã đến các thư viện lớn, lật từng trang báo (Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới…) phát hành trong những ngày tháng hào hùng cuối năm 1972, đầu năm 1973. Cuối cùng họ đã đạt kết quả, tìm ra được đáp số: Đó là Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay). Trong số ra ngày 29-12-1972, bên cạnh bài hát “Hà Nội - Điện Biên Phủ” của Nhạc sĩ Phạm Tuyên, ở trang 2,  chuyên mục “Viết tại chỗ về Hà Nội - Điện Biên Phủ có một dòng chữ: “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không”.

Như vậy, cái tên đầy hình ảnh và ý nghĩa “Điện Biên Phủ trên không” ấy đã xuất hiện đầu tiên trên tờ Báo Nhân Dân và lập tức được làng báo phương Tây hưởng ứng. Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” từ đó đã nhiều lần được nhắc đến trên các sách, báo, các đài phát thanh, truyền hình trong nước và nước ngoài trong suốt 50 năm qua để nói đến chiến thắng lịch sử trong 12 ngày đêm của quân và dân ta, trong đó có sự đóng góp to lớn của Bộ đội PK-KQ.

 TƯỞNG HÀ NỘI NHƯ "CHỐN KHÔNG NGƯỜI", B-52 MỸ THUA NHỤC NHÃ VÌ CHỦ QUAN KHINH ĐỊCH

Mỹ tuyên bố: "Giờ đây Không quân Mỹ có thể ném bom vào bất cứ mục tiêu nào trên lãnh thổ Bắc Việt Nam như đi dạo chơi". Và sự kiêu ngạo đó đã phải trả giá đắt.

Kết quả sau 12 ngày đêm có 81 máy bay Mỹ bị ta bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B-52. Đi đôi với tổn thất về máy bay, phía Mỹ còn phải chịu tổn thất không bù đắp được là mất rất nhiều phi công. Tổn thất về máy bay của Mỹ chỉ tính riêng B-52 đã lên tới 17,6% (34/193 chiếc); cùng với 43 giặc lái (trong đó có 33 phi công lái máy bay chiến lược B-52), chưa kể số máy bay bị thương, mất tích và số phi công chết theo máy bay.

Với thất bại này buộc Tổng thống Mỹ Nixon buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ Vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Paris về Việt Nam. Ngày 27-01-1973, Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết.

Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là một trong những chiến thắng vĩ đại trong lịch sử của dân tộc ta, có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện như chính trị, quân sự, ngoại giao, khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, của Bác Hồ kính yêu; cũng như tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, sức sáng tạo của cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nguồn ST

 6 NGƯỜI VIỆT NAM ĐƯỢC UNESCO TÔN VINH DANH NHÂN VĂN HOÁ

1. Nguyễn Trãi: Tôn vinh năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh.

2. Hồ Chí Minh: Tôn vinh năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh.

3. Nguyễn Du: Tôn vinh năm 2015, nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh.

4. Chu Văn An: Tôn vinh năm 2019, nhân dịp kỷ niệm 650 năm ngày mất.

5. Nguyễn Đình Chiểu: Tôn vinh năm 2022, nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh.

6. Hồ Xuân Hương: Tôn vinh năm 2022, nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh.

 HỒ CHỦ TỊCH - VỊ ANH HÙNG KHÔNG NGHĨ TỚI MÌNH...

_________________________________________

U. Bớcsét (Ôxtrâylia)

Nói tới một con người mà cả cuộc đời đã để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều ân hận là Người đã qua đời trước khi hoàn thành sự nghiệp cách mạng và đạt được mục đích giành độc lập hoàn toàn cho một nước Việt Nam thống nhất mà Người đã cống hiến cả đời mình, nhưng ít nhất thì Người cũng đã ra đi với một lòng tin tưởng vào thắng lợi không còn bao xa nữa.

Đồng chí Hồ Chí Minh là một người đã cảm hóa tất cả mọi người Việt Nam từ già đến trẻ. Người là một con người thẳng thắn, khiêm tốn, giản dị. Hình ảnh anh hùng không nghĩ tới mình trước sau như một của Người, từ cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh trước đây đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt cộng (Mặt trận Dân tộc giải phóng) ngày nay, đã cổ vũ, trở thành tấm gương cho hàng chục vạn thanh niên Việt Nam thà chết, không chịu làm nô lệ.

Từ khi bắt đầu ném bom miền Bắc, Mỹ đã dùng mọi cách tàn phá những công trình công nghiệp, y tế, giáo dục – tất cả đều được xây dựng sau khi thắng Pháp – hầu như tất cả những di sản của tổ tiên để lại cũng đều bị bom đạn Mỹ biến thành những đống gạch vụn, nhưng toàn thể nhân dân miền Bắc Việt Nam đều tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, dù có bị tàn phá nặng nề đến như thế nào, dù cả Hà Nội và Hải Phòng cũng bị tàn phá chăng nữa.

Trong thời gian miền Bắc bị ném bom ác liệt nhất, một nông dân Việt Nam đã nói với tôi: “Ném bom quả là đáng sợ thật, nhưng so với ách chiếm đóng của bọn thực dân thì không nghĩa lý gì. Có bị tàn phá thì chúng tôi lại xây dựng lại”.

Làm việc ở ngoài hiên

Một chuyện điển hình về Hồ Chủ tịch là sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Người đã đặt Văn phòng Chủ tịch ở một căn nhà nguyên là chỗ ở của những nhân viên phục vụ phủ toàn quyền của Pháp trước đây. Còn phủ toàn quyền, Người chỉ chuyên dành cho các cuộc tiếp đãi chính thức.

Khi tôi hỏi Người: “Văn phòng của Chủ tịch đâu?”. Câu trả lời của Người làm cho tôi kinh ngạc: “Lúc nào trời tối thì ở ngoài hiên, khi trời mưa thì ở trong buồng ngủ”.

Sự thực là Người không có một ngôi nhà nào khác. Khi tôi đến thăm Người, với bộ quần áo vải nâu mà những người nông dân thường mặc và đôi dép cao su lốp ô tô, Người ra đón tôi như đón một người quen cũ. Tác phong giản dị, không cầu kỳ đó, Hồ Chủ tịch suốt đời không thay đổi.

Một con người nói ngắn gọn, dễ hiểu

Một đặc điểm nữa của Hồ Chủ tịch là Người trình bày những sự việc hết sức phức tạp bằng những lời lẽ rất ngắn gọn, dùng những hình ảnh hết sức trong sáng khiến cho ai cũng có thể hiểu được.

Sau khi Mỹ đưa quân đội chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, có dư luận cho rằng chúng sẽ tiến công ra miền Bắc. Tôi hỏi Hồ Chủ tịch là nếu quân Mỹ làm như vậy thì kết quả sẽ ra sao?

Hồ Chủ tịch đã để cho tôi liên tưởng tới chuyện: “Con cáo bị mắc bẫy một chân” rồi trả lời tôi: “Nếu cứ giãy giụa lung tung định hòng thoát bẫy thì còn chân kia cũng sẽ mắc nốt. Nếu Mỹ dám tiến công miền Bắc thì kết quả rồi sẽ như vậy”.

Lần đầu tiên được gặp Hồ Chủ tịch, tôi cũng đã được thấy những hình ảnh tả thực, được nghe những câu nói ngắn gọn như những lời tiên tri như vậy. Đó là vào đầu tháng 3-1954. Tuy mới đặt chân lên đất nước Việt Nam, nhưng trên đường tới đây tôi đã được nghe Đài phát thanh Hà Nội – lúc này vẫn đang ở trong tay người Pháp - đưa tin về tình hình hoạt động của quân Pháp ở phía sau quân “Việt Minh” từ căn cứ Điện Biên Phủ. Khi đó tên Điện Biên Phủ mới bắt đầu được nói tới trong cuộc chiến tranh, do đó tôi đã hỏi Hồ Chủ tịch về Điện Biên Phủ. Hồ Chủ tịch đặt ngửa chiếc mũ lên bàn, chỉ vào đáy mũ và nói: “Đây là Điện Biên Phủ, một thung lũng có núi bao bọc xung quanh”. Sau đó Người vòng tay theo vành mũ, nói tiếp: “Quân viễn chinh Pháp ở dưới thung lũng này, chúng tôi từ trên núi ở xung quanh bao vây chúng. Chúng nhất định không thể thoát được”.

Đó là xu thế tất nhiên và lịch sử đã chứng minh rằng Hồ Chủ tịch đã nói đúng.

Khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, tôi lại hỏi Hồ Chủ tịch là Người nghĩ như thế nào đối với việc Mỹ tuy thừa nhận là chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam nhưng lại huênh hoang là bằng cách ném bom miền Bắc chúng sẽ có thể thắng được. Hồ Chủ tịch trả lời: “Mỹ đã tính lầm nếu cho rằng dựa vào việc tàn phá miền Bắc bằng bom đạn, chúng sẽ có thể thắng ở miền Nam”, “chúng tôi quyết không ngừng chiến đấu, dù là 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là chính nghĩa, chúng tôi sẽ được sự ủng hộ của nhân dân toàn thế giới kể cả nhân dân Mỹ. Chúng tôi sẽ thắng”.

Ấn tượng nổi bật nhất mà bất cứ ai lần đầu tiên gặp Hồ Chủ tịch cũng đều cảm thấy là trí tuệ tập trung ở đôi mắt đen ngời sáng của Người, là lòng nhân đạo và sức hấp dẫn làm cho người tới thăm thấy gần gũi ngay với Người. ấn tượng thứ hai là khả năng đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề bằng những lời lẽ ngắn gọn và rất đúng. Điều này chứng tỏ Người nắm rất chắc một cách toàn diện nội dung bàn luận.

Người không những biết sử dụng rất nhiều thứ tiếng Âu, á mà đồng thời còn rất hiểu tình hình trong nước của những người khách đến thăm.

Lịch sử sẽ dành cho Người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại mà thế kỷ XX đã sinh ra. Nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi ca ngợi Người.

Trích từ sách: Người là Hồ Chí Minh, (Tập hồi ký), Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 1995.

Hình Ảnh:Bác Hồ trong những ngày ở chiến khu Việt Bắc từ 1951-1953.

 Viettel trên đường giúp Việt Nam ‘không phụ thuộc vào bất kỳ nguồn cung vũ khí nào’

-----

Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) sẽ đem tới Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 60 sản phẩm thể hiện năng lực sáng tạo, tiềm năng sản xuất trang thiết bị công nghệ hiện đại không thua kém nước ngoài của Viettel và nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Viettel đặt trách nhiệm vì nền công nghiệp quốc phòng hiện đại của Việt Nam, liên tục mở rộng nghiên cứu làm chủ, sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có nhu cầu cấp bách, các loại vũ khí thế hệ mới, góp phần hiện đại hóa Quân đội, tự chủ nguồn cung và giảm sự phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.

Ngoài ra, Viettel còn đang tập trung đẩy mạnh “toàn cầu” và “xuất khẩu”, trong đó, mục tiêu doanh thu xuất khẩu trên tổng doanh thu công nghiệp công nghệ cao lên đến hơn 50%, qua đó, góp phần khẳng định và quảng bá hình ảnh Viettel - Việt Nam ra nước ngoài.

Gian hàng quân sự của Viettel tại Triển lãm Quốc phòng

Tại sự kiện quan trọng và quy mô lần này, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) là một trong những đơn vị của Việt Nam có nhiều sản phẩm tham gia trưng bày, giới thiệu rộng rãi với bạn bè quốc tế.

Tại triển lãm, Viettel có hai gian trưng bày. Gian hàng về quân sự giới thiệu tổng số 60 sản phẩm (6 sản phẩm ngoài trời và 54 sản phẩm trong nhà). Theo thông tin trên báo Quân đội nhân dân, gian hàng còn lại tại khu trưng bày chung của Cục kinh tế Bộ Quốc phòng với 16 nhóm sản phẩm thuộc lĩnh vực dân sự, gồm những sản phẩm chuyển đổi số, hỗ trợ cho các lĩnh vực như y tế số, gia đình số, giáo dục số, tài chính số, logistics, doanh nghiệp số, chính quyền số, giao thông số cùng những sản phẩm nghiên cứu sản xuất công nghiệp công nghệ cao.

Được biết, đây là các sản phẩm được giới thiệu đều nằm trong danh sách những sản phẩm quan trọng, hiện tại đang được Viettel đầu tư triển khai và đã thương mại cả trong và ngoài nước.

Bên cạnh việc tạo ra nguồn doanh thu tốt cho Tập đoàn hàng đầu thuộc Bộ Quốc phòng, các sản phẩm này còn thể hiện được năng lực sáng tạo, sản xuất của Viettel cũng như nền công nghiệp quốc phòng – quân sự Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ cao.

Phổ biến hình ảnh công nghiệp quốc phòng của Viettel-Việt Nam ra thế giới

Doanh nghiệp cho biết, tham gia triển lãm, Viettel sẽ giới thiệu năng lực nghiên cứu sản xuất, nắm bắt xu thế phát triển của thế giới, marketing tại chỗ, xác định đối tác, khách hàng tiềm năng.Từ đó, phổ biến hình ảnh công nghiệp quốc phòng của Viettel-Việt Nam ra thế giới. Qua đó, Viettel cũng mong muốn đẩy mạnh hợp tác, tạo ra các hợp đồng thương mại sau sự kiện.

Tập đoàn cho hay, những triển lãm quốc tế uy tín sẽ là điểm đến thường xuyên của Viettel trong giai đoạn phát triển thứ tư của Tập đoàn. “Viettel tập trung đẩy mạnh “toàn cầu” và “xuất khẩu”, trong đó, mục tiêu doanh thu xuất khẩu trên tổng doanh thu công nghiệp công nghệ cao lên đến hơn 50%”, - đơn vị nhấn mạnh.

Đáng chú ý, Viettel mong muốn mang đến những sản phẩm quân sự cũng như dân sự tốt nhất, do đó, với tinh thần không ngừng cải tiến, phát triển, hướng đến người dùng.Tính đến nay, Viettel đã cung cấp tới Bộ Quốc phòng hơn 50 chủng loại với hàng trăm nghìn sản phẩm, chu kỳ cải tiến từ 6 tháng đến một năm tùy dòng sản phẩm.Cũng như Sputnik trước đó đề cập, Viettel gây bất ngờ cho chính người Mỹ khi đạt tới 12 bằng sáng chế tại hoa Kỳ.Viettel đã được cấp 66 sáng chế, giải pháp hữu ích và 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ.

Từ năm 2013 đến nay, Viettel đã cung cấp hơn 2.000 bộ vật tư dự phòng cho các sản phẩm do Viettel sản xuất. Tất cả các sản phẩm do Viettel nghiên cứu, làm chủ hoàn toàn về mặt công nghệ và sản xuất giúp công tác bảo đảm kỹ thuật được nhanh chóng, thuận tiện, chủ động.

Các sản phẩm được cung cấp kèm theo các Bộ vật tư dự phòng theo hướng người sử dụng cuối có thể tự thay thế bảng mạch, nhanh chóng khắc phục sự cố. Từ những năng lực sẵn có, Viettel mong muốn mang đến những thế mạnh của mình, giới thiệu ra quốc tế.

Việt Nam không lệ thuộc vào một quốc gia nào để trang bị vũ khí

Trước đó, hôm 24/1, trả lời báo chí nước ngoài tại cuộc họp báo giới thiệu về Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022, Thiếu tướng Nguyễn Việt Hùng, Phó Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (Bộ Quốc phòng) cho biết, Việt Nam đang hướng đến việc tự chủ cung ứng vật tư, sản xuất ngành công nghiệp quốc phòng.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã làm chủ những công nghệ mới như hệ thống radar, hệ thống quang điện tử và một số trang thiết bị khác sẽ được trưng bày trong Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022.

Đặc biệt, Quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, mang tính chất hòa bình, tự vệ; tích cực, chủ động, kiên quyết, kiên trì ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, do đó, theo Phó Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (Bộ Quốc phòng), Việt Nam là một đất nước yêu chuộng hòa bình, trong lịch sử, các cuộc chiến đấu của Việt Nam là cuộc chiến tranh nhân dân.“Những sản phẩm của công nghiệp quốc phòng sẽ trưng bày tại triển lãm đều mang tính chất nổi bật nhất của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam”, - thiếu tướng Nguyễn Việt Hùng nhắc lại.

Mũi nhọn hiện đại hoá nền quốc phòng

Lĩnh vực nghiên cứu sản xuất của Viettel nói chung và các sản phẩm Viettel mang đến triển lãm nói riêng được Viettel xác định là những mũi nhọn để đóng góp chung vào sự phát triển quốc phòng, an ninh, bám sát theo nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.Viettel đặt trách nhiệm vì nền công nghiệp quốc phòng hiện đại của Việt Nam. Do đó, Viettel liên tục mở rộng nghiên cứu làm chủ, sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có nhu cầu cấp bách, các loại vũ khí thế hệ mới, góp phần hiện đại hóa Quân đội.

Nhìn từ các chia sẻ của Phó Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (Bộ Quốc phòng) có thể thấy, Viettel đang đi đúng hướng trong nỗ lực tăng cường tự lực, tự chủ trong chế tạo, sản xuất các trang thiết bị vũ khí, công nghệ hiện đại và giảm sự phụ thuộc tối đa vào nguồn cung nước ngoài. Tập đoàn Viettel sẽ tiếp tục mở rộng nghiên cứu sản xuất các loại khí tài thông minh hơn, chính xác hơn, tin cậy hơn theo mô hình C5ISR - mô hình tác chiến hiện đại được áp dụng ở nhiều nước có nền khoa học quân sự tiên tiến.

Những thiết bị quân sự của Viettel đã đem lại hiệu quả thiết thực, được các đơn vị đánh giá cao về chất lượng và tính năng kỹ, chiến thuật, phù hợp với điều kiện khí hậu, nhu cầu huấn luyện và tác chiến của Quân đội. Bên cạnh đó, tập đoàn cũng bảo đảm tính bảo mật, chủ động trong sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, bảo hành bảo trì, giá thành cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại của nước ngoài, tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng cho ngân sách.

Hướng đến là nòng cốt trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, Viettel quyết tâm đi ngay vào chinh phục công nghệ quân sự hiện đại nhất.

Trong lĩnh vực công nghiệp điện tử viễn thông, Viettel mong muốn làm chủ các thiết bị hạ tầng của mạng 5G và triển khai diện rộng trên mạng lưới và tiến tới xuất khẩu, hoàn thiện và đưa vào ứng dụng các sản phẩm chipset 5G cho thiết bị hạ tầng mạng 5G.

Bên cạnh đó, Viettel xây dựng nền tảng kết nối vạn vật (IoT) và phát triển các chuẩn kết nối thiết bị IoT tạo ra hệ sinh thái IoT của người Việt, bảo đảm an toàn an ninh thông tin cho người dân và quốc gia, tiếp tục phát triển các thiết bị trong hệ sinh thái sản phẩm IoT cho hộ gia đình, y tế, giáo dục, giao thông, nhà máy thông minh.

Viettel cũng nghiên cứu các công nghệ năng lượng xanh tập trung vào công nghệ lưu trữ năng lượng và công nghệ quản lý sử dụng năng lượng bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế tối đa phát thải vào môi trường.Bên cạnh đó, những công nghệ lõi Viettel đã làm chủ trong lĩnh vực quân sự hoàn toàn sử dụng chéo được cho cả dân sự. Từ đó, giúp giảm thiểu chi phí, tăng tính công nghệ của sản phẩm, tạo ra những giải pháp lưỡng dụng vừa góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng, vừa giúp phát triển kinh tế đất nước.

ST

 CHÍNH UỶ, CHÍNH TRỊ VIÊN: NGƯỜI CẦM SÚNG, PHẤT CỜ

 

Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta gần 76 năm qua cho thấy, ở bất kỳ thời điểm nào, chất lượng bộ đội, nhất là chất lượng về chính trị luôn phụ thuộc lớn vào tư cách, phẩm chất, năng lực của đội ngũ chính ủy, chính trị viên.

 

Tháng 12/1946, hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân, dân Hà Nội cùng quân, dân cả nước đứng lên chiến đấu. Các chính trị viên luôn sát cánh động viên, cùng bộ đội chiến đấu dũng cảm trên các chiến hào, trong từng góc phố, đánh bật nhiều đợt tiến công của quân Pháp.

 

Điển hình như Chính trị viên Lê Gia Định đã đập kíp bom ba càng, dũng cảm hy sinh ngay trước thềm Bắc Bộ Phủ, diệt cả tiểu đội địch. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn chiến đấu đến người cuối cùng tại Nhà máy Điện Yên Phụ, đầu cầu Long Biên…; giao tranh quyết liệt với quân Pháp ở nhiều vị trí quan trọng trong thành phố. Đại đội 134 gan góc chiến đấu suốt ngày đêm, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch; các chiến sĩ quyết tử dùng bom ba càng xông lên diệt xe tăng địch, nhiều đồng chí dũng cảm hy sinh. Đại đội trưởng Vũ Công Định dùng tiểu liên, súng ngắn, sau đó đánh giáp lá cà với địch và hy sinh dũng cảm; Chính trị viên Lê Chí Thực cùng cán bộ, chiến sĩ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng...

 

Ngày 14/02/1947, Tiểu đoàn Quyết tử 101, sau 57 ngày đêm chiến đấu giữ Liên khu 1, chỉ còn 130 tay súng. Tiểu đoàn phó Nguyễn Hùng, Bí thư Khu bộ Ngô Lê Động hy sinh. Chính trị viên kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Khu Đồng Xuân Đỗ Tần và Chính trị viên Lê Thản bị thương vẫn bám trụ, chỉ huy đơn vị chiến đấu.

 

Trong Chiến dịch Biên giới 1950, chiến sĩ La Văn Cầu không chút do dự nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương, tiếp tục lao lên đánh bộc phá; Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình bịt hỏa điểm, tạo thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt địch... Trong các trận chiến đấu đó, người chính trị viên đã làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, khơi dậy lòng căm thù giặc, xác định ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn để bộ đội chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

 

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đội ngũ chính uỷ, chính trị viên cùng cơ quan chính trị quán triệt quyết tâm của Trung ương và Tổng Quân ủy tới cán bộ, chiến sĩ, vượt khó khăn gian khổ, hy sinh, đoàn kết một lòng đưa chiến dịch đến toàn thắng. Có được thành công đó trong mỗi giai đoạn chiến dịch là công việc vô cùng khó khăn của người chính uỷ, chính trị viên, bởi động viên bộ đội có ý chí quyết tâm đã khó, nhưng làm công tác tư tưởng khi thay đổi phương án tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” càng khó khăn hơn. Đội ngũ chính uỷ, chính trị viên đã tiến hành khẩn trương, liên tục công tác giáo dục, thuyết phục, chỉ đạo giải quyết từ chi bộ, từ cán bộ, đảng viên đến quần chúng, nên dù gặp vô vàn khó khăn, bộ đội vẫn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, nhanh chóng kéo pháo ra, khẩn trương cấu trúc lại trận địa, bảo đảm thực hiện đúng phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, đã xuất hiện bao tấm gương hy sinh quên mình, tiêu biểu như: Cù Chính Lan, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện... Người chiến sĩ được giáo dục, rèn luyện, thử thách trong khói lửa chiến tranh đã chiến đấu, hy sinh tất cả cho lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc. Công tác Đảng, công tác chính trị trong các chiến dịch đã có sự phát triển toàn diện và ở đỉnh cao, nổi bật là việc đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng và củng cố quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, lấy chi bộ làm cơ sở.

 

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vai trò đội ngũ chính uỷ, chính trị viên tiếp tục được phát huy, luôn đi đầu, gương mẫu trong mọi lời nói, việc làm, là linh hồn, ngọn cờ để cán bộ, chiến sĩ noi theo, đồng thời làm tốt công tác Đảng, công tác chính trị, tạo nên sức mạnh to lớn trong công tác, huấn luyện và chiến đấu. Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đội ngũ chính uỷ, chính trị viên bằng năng lực, phẩm chất của mình đã động viên, khơi dậy trong cán bộ, chiến sĩ tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, với niềm tin mãnh liệt: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”…, để động viên bộ đội chiến đấu, chiến thắng.

 

Biết bao tấm gương quên mình của người chiến sĩ xuất hiện trong chiến đấu và phẩm chất người chính uỷ, chính trị viên cũng được thể hiện sâu sắc, sáng chói. Tiêu biểu như hành động của Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân trong trận chiến đấu ngày 18/11/1964 trên trọng điểm Cha Lo, miền tây Quảng Bình. Trong khói bom, lửa đạn của quân thù, Nguyễn Viết Xuân dù bị thương, gãy nát chân phải, vẫn tiếp tục chỉ huy, động viên bộ đội chiến đấu... Và trong giây phút trận địa gần như im hẳn tiếng súng bắn trả, chỉ còn tiếng máy bay địch gầm rít, tiếng bom rơi, bỗng vang lên lời hô của Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân: “Phản lực Mỹ không có gì đáng sợ. Nhằm thẳng quân thù mà bắn!”. Hành động anh dũng tuyệt vời đó đã tiếp thêm ý chí, sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3 vững vàng trên mâm pháo, tiếp tục nhả đạn đánh máy bay địch. Khẩu đội trưởng Nguyễn Duy Dĩnh, quần áo bốc lửa vẫn bình tĩnh chỉ huy khẩu đội bắt mục tiêu; các chiến sĩ: Nguyễn Văn Hường, Nguyễn Đặng, Đặng Văn Đinh bị thương nặng vẫn tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu cho đến kết thúc trận đánh...

 

Mệnh lệnh chiến đấu: “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!” của Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của bộ đội phòng không và quân, dân cả nước, trở thành khẩu hiệu hành động và được phát động thành phong trào thi đua bắn rơi thật nhiều máy bay Mỹ... Như vậy, chính uỷ, chính trị viên không chỉ là người cầm cờ, phất cờ ở vị trí tiên phong trong chiến đấu, huấn luyện, công tác; “phất cờ” trong lòng chiến sĩ; là linh hồn, sức mạnh, ý chí của bộ đội trong các trận chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ, mà còn là người chắc tay súng, trực tiếp chiến đấu, động viên bộ đội, biến sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ thành sức mạnh vô địch để chiến thắng kẻ thù./.

 LÁ CỜ ĐỎ SAO VÀNG NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC

 

 

 

Lá cờ đỏ sao vàng in trên nền cờ đỏ thắm vô cùng thiêng liêng cao cả. Nền cờ đỏ tượng trưng cho nhiệt huyết cách mạng, biểu tượng cho sự chiến đấu và chiến thắng. Màu vàng của ngôi sao tượng trưng cho linh hồn dân tộc, năm cánh sao vàng tượng trưng cho các tầng lớp nhân dân cùng đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

 

 

 

Lá cờ đỏ sao vàng mãi mãi là biểu tượng thiêng liêng cao cả của dân tộc Việt Nam, còn là  khát vọng hoà bình, là ước mơ, là lý tưởng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Việt Nam ta đã trở thành biểu tượng  của tinh thần kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm và áp bức nô dịch, vì vậy khắp các châu lục, nơi nào có áp bức người dân đều dương cao cờ đỏ sao vàng. Màu cờ như là biểu hiện cho ý chí của một dân tộc bé nhỏ dám đương đầu và đã chiến thắng những đế quốc hùng mạnh.

 

 

 

Màu cờ đỏ sao vàng giờ đây kiêu hãnh tung bay trong mọi sự kiện diễn ra của đất nước, nó còn hiện diện trên thế giới, cho các quốc gia vẫn còn đang chìm ngập trong khói lửa chiến tranh, trong sự bất công và bạo ngược. Bên cạnh đó, nó còn là hình ảnh tiêu biểu cho nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng và cao đẹp, tuy khác nhau về màu da, ngôn ngữ và ý thức hệ, thế nhưng, ta hoàn toàn có thể nhận ra ở họ đều có chung một tiếng nói Việt Nam.

 

 

 

Thắng  lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân vĩ đại năm 1975, Cờ đỏ sao vàng được tung bay trên đỉnh Dinh Độc lập đã mở ra một bước ngoặc lịch sử vĩ đại mang tên thời đại Hồ Chí Minh. Trong niềm vui hân hoan sau ngày đại thắng, ngày 4/1/1977, nhân dân hai miền cầm trên tay những lá cờ đỏ sao vàng vẫy chào chuyến tàu đặc biệt: Chuyến tàu thống nhất, chuyến tàu của sum họp, đoàn tụ gia đình Bắc - Nam. 

 

 

 

Ngày nay, trên mọi nẻo đường hoan ca của dân tộc Việt Nam ở trong nước cũng như trên trường Quốc tế đều có hình bóng lá Quốc kỳ, nhìn lá cờ tung bay tựa như có niềm hân hoan, niềm tự hào trong lòng mỗi người dân đất Việt, để chúng ta thêm vững bước trên con đường xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong ước của Bác Hồ kính yêu .

 

 

 

 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - CHÌA KHÓA CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

 

 

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, xuyên suốt nhiều nhiệm kỳ. Cũng nhờ đó, mà nền trưởng kinh tế luôn giữ tốc độ trên 6% mỗi năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 70%.

 

 

 

Tuy nhiên, để đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vẫn cần một quyết tâm cao, nỗ lực lớn và cả các giải pháp mang tính đột phá.

 

 

 

Đây là lý do Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" - một Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng để lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

 

 

Đầu tháng 2 năm nay, Tập đoàn Samsung đã đầu tư thêm gần 1 tỷ USD để mở rộng hoạt động sản xuất của Nhà máy tại Thái Nguyên. Như vậy, đến nay tổng vốn đầu tư của tập đoàn này vào Việt Nam đã lên hơn 19 tỷ USD.

 

 

 

Không chỉ Samsung, nhiều tập đoàn lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang tiếp tục chọn Việt Nam là để mở rộng đầu tư đưa Việt Nam trở thành 1 trung tâm sản xuất mới nổi của toàn cầu.

 

 

 

Hiện Việt Nam là 1 trong 20 nước thu hút dòng vốn FDI lớn nhất thế giới vào các ngành sản xuất và dịch vụ. Riêng khu vực này đang đóng góp đến hơn 20% GDP và chiếm tới hơn 70% giá trị xuất khẩu.

 

 

 

Doanh nghiệp FDI phát triển sẽ là tiền đề để cho các khu vực doanh nghiệp khác phát triển. Tuy nhiên điều này dường như vẫn chưa đúng với Việt Nam.

 

 

 

Hiện ở nước ta khu vực kinh tế tư nhân đang chiếm tỉ trọng khoảng 40% GDP và 85% lực lượng lao động nhưng lại chưa thực sự trở thành một động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

 

 

 

Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa đủ điều kiện để tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu và chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI. Do lạc hậu về công nghệ, chất lượng nhân lực thấp và không đồng đều, hạn chế về năng lực quản trị, nên kết quả là hiện chỉ có khoảng 1/5 doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia một số chuỗi giá trị toàn cầu và chỉ 14% thành công trong việc liên kết với đối tác nước ngoài.

 

 

 

Thực trạng này, cũng đã được đưa ra để thảo luận tại Hội nghị lần thứ 6 khi Trung ương thảo luận về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, Trung ương cũng chỉ rõ, nội lực của nền kinh tế nước ta còn yếu, năng lực độc lập, tự chủ còn thấp và phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, công nghiệp phát triển thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp và chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

 

 

 

Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ

 

 

 

Thời gian qua, khoa học, công nghệ đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đóng góp trên 30% tổng giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Giá trị sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ tăng từ 26% năm 2010 lên trên 40% trong những năm gần đây.

 

 

 

Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn còn nhiều điều kiện hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực, trình độ khoa học công nghệ. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp trong nước còn thấp.

 

 

 

Bên cạnh phát huy nội lực về khoa học, công nghệ, một tư duy mới của Đảng đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị về "Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư". Nếu theo tư duy cũ chỉ dựa vào năng lực nội sinh thì chắc chắn Việt Nam sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn về công nghệ so với khu vực và thế giới. Chính vì thế, cần có chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài.

 

 

 

10 năm qua, tăng trưởng kinh tế nước bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 72,7% năm 2020.

 

 

 

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa thực hiện được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Các đột phá chiến lược chưa có sự bứt phá. Nội lực của nền kinh tế còn yếu và quá trình đô thị hóa cũng chưa đồng bộ, chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với công nghiệp hoá, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới.

 

 

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, nhất quán, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong suốt những năm Đổi mới. Mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng để lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

 

 

Việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đánh giá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội ngày càng dựa nhiều hơn vào sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

 

 

 

Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ: Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

 

 

 

Phấn đấu đến 2030, Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Xây dựng được nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn. Còn đến 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu Châu Á.

 

 

 

Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 2011 đề ra nhiệm vụ: "Đến giữa thế kỷ 21, xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội XIII cũng phấn đấu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành một nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao", đến năm 2045 "Trở thành nước phát triển, thu nhập cao".

 

 

 

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ là chìa khóa. Nghị quyết số 29 được ban hành sẽ là những định hướng lớn cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở đường cho sự phát triển của đất nước trong thời gian tới.

 

 

 

Báo Điện tử VTV News

ƯU TIÊN TĂNG TRƯỞNG, TẠO NỀN TẢNG VỮNG CHẮC ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

 Sáng 1-12, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; tình hình kinh tế - xã hội năm 2024, giải pháp tăng tốc, phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế.

Tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề “Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2024, giải pháp tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội năm 2025”.

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, triển khai các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Quốc hội; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, ngành, địa phương đã bám sát tình hình thực tiễn, tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực, trong đó: Ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược, nhất là về thể chế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết, gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân, doanh nghiệp. Tạo động lực, nền tảng phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Chú trọng phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, nhất là cơn bão số 3; tăng cường quốc phòng, an ninh; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế...

Thủ tướng cho biết, tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2024 đạt nhiều kết quả quan trọng, tốt hơn cùng kỳ trên hầu hết các lĩnh vực. Dự kiến 15/15 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch, nhất là mục tiêu tăng trưởng: Tăng trưởng cả năm ước đạt trên 7% (thuộc nhóm số ít các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới); kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 4%. Tính đến cuối tháng 11, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt khoảng 715 tỷ USD, tăng 15,3%, xuất siêu trên 23 tỷ USD; ước cả năm đạt 807,7 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Thu hút FDI là điểm sáng và nằm trong nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới...

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng chỉ ra một số tồn tại lớn, trong đó, thể chế, pháp luật vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, nhất là quan điểm, quy trình, phương thức, phương pháp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đầu tư nguồn lực tài chính, con người cho công tác xây dựng pháp luật chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn...

Nhấn mạnh năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng, 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 80 năm thành lập Nước và là năm tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; cùng với đó, tình hình thế giới, trong nước khó khăn, thách thức và thời cơ, thuận lợi đan xen. Trong bối cảnh đó, Thủ tướng nhấn mạnh: “Tất cả các cấp, ngành, địa phương phải có tư duy đổi mới, đột phá với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, tổ chức thực hiện kịp thời, linh hoạt, hiệu quả với tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung”; “đã nói là làm, đã cam kết là phải thực hiện; đã làm, đã thực hiện là phải có hiệu quả”; “Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ đã thống nhất, Quốc hội đồng tình, nhân dân ủng hộ, thì chỉ bàn làm, không bàn lùi”.

Thủ tướng cho biết, Trung ương xác định mục tiêu tổng quát năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, tháo gỡ khó khăn, vượt qua thách thức; lấy ổn định làm tiền đề thúc đẩy phát triển và phát triển để làm cơ sở cho ổn định; phấn đấu đạt kết quả cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 2021-2025. Tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và có thặng dư cao. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Một số chỉ tiêu chủ yếu gồm 15 chỉ tiêu chủ yếu; trong đó tăng trưởng GDP khoảng 6,5-7%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.900 USD; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân 5,3-5,4%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm khoảng 0,8-1%; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 3,8% GDP; nợ công khoảng 35-38% GDP…

Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh, phải ưu tiên cho tăng trưởng, phấn đấu tăng trưởng GDP đạt khoảng 8% để tạo đà, tạo lực, tạo khí thế thực hiện kế hoạch cả giai đoạn 2021-2030, hoàn thành ít nhất 3.000km đường bộ cao tốc, cơ bản hoàn thành Sân bay Long Thành, các công trình lớn; xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước…; trên cơ sở đó tạo tiền đề, nền tảng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình để trở thành quốc gia giàu mạnh, thịnh vượng và nhân dân ngày càng hạnh phúc, ấm no.

Trên cơ sở đó, theo Thủ tướng, Chính phủ xác định một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, gồm 8 nhóm giải pháp. Nhóm giải pháp thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế là “đột phá của đột phá”; tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả; xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Nhóm giải pháp thứ hai, tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và có thặng dư cao; giữ đà, giữ nhịp và tăng tốc, bứt phá, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8%.

Nhóm giải pháp thứ ba, huy động tối đa các nguồn lực xã hội. Nhóm giải pháp thứ tư, đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, nhất là các dự án lớn, quan trọng, trọng điểm quốc gia.

Nhóm giải pháp thứ năm, bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, đáp ứng nhu cầu cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng cả trước mắt và lâu dài. Nhóm giải pháp thứ sáu, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Nhóm giải pháp thứ bảy, chú trọng phát triển văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhóm giải pháp thứ tám, bảo đảm ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc, độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế.

 

TINH GỌN BỘ MÁY: KHÓ VẠN LẦN DÂN LIỆU CŨNG XONG

 Thực tiễn mô hình tổng thể tổ chức bộ máy Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay, gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo từng giai đoạn cụ thể, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, tổ chức bộ máy và nền hành chính Việt Nam luôn có sự điều chỉnh phù hợp.

Nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tăng cường cải cách nền hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Nhất là, trong gần 40 năm đổi mới của đất nước, từ 1986 đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả nền hành chính nhà nước, xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh.

Do vậy, tinh gọn bộ máy các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cần tiến hành đồng bộ trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cải cách bộ máy nhà nước trên tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, sự đồng thuận của xã hội đối với hệ thống chính trị, phát huy hiệu quả của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó chú trọng giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước – thị trường – xã hội nhằm điều hòa lợi ích của cá nhân, công dân, của các tổ chức và Nhà nước. Có như vậy, mới phát huy được sự đồng thuận của xã hội trong tinh gọn bộ máy nhà nước, thiết lập được xã hội mở rộng, bảo đảm được lợi ích của cộng đồng, thực hiện thống nhất quan điểm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Vì vậy, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp như sau:

Một là, giảm quy mô của hành chính nhà nước.

Cần tiến hành nghiên cứu khoa học trong việc đánh giá vị thế, vai trò, chức năng của Chính phủ, hợp nhất các Bộ có nghiệp vụ gần giống nhau, sắp xếp phù hợp những cơ quan có chức năng trùng lắp, xã hội hóa dịch vụ công… là những biện pháp cơ bản mà nhiều nước trên thế giới tiến hành nhằm tinh giản bộ máy hành chính nhà nước, từ đó giảm chi tiêu, tăng hiệu quả của Chính phủ.

Hai là, đẩy mạnh phân quyền.

Hướng tới một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu quả. Ở nhiều nước trên thế giới, Chính phủ đã và đang chuyển giao bớt thẩm quyền từ Trung ương xuống địa phương. Một nguyên tắc quan trọng trong phân quyền là việc gì cấp dưới có khả năng làm tốt, tiện lợi hơn cho dân và doanh nghiệp thì kiên quyết phân quyền để cấp dưới làm và chịu trách nhiệm trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất và thể chế quản lý nhà nước. Xu hướng này một mặt tăng cường sự quản lý thống nhất và sự điều hành của Chính phủ đối với toàn quốc và địa phương; mặt khác tăng cường thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, phát huy tính chủ động của địa phương.

Ba là, tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế.

Song song với bộ máy tinh gọn cần phải tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đẩy mạnh quá trình xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, tương thích với những giá trị tiến bộ của pháp luật quốc tế, tạo hành lang pháp lý cho bộ máy hoạt động hiệu quả vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Xét cho cùng thành quả của cách mạng thuộc về nhân dân. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy nhà nước cần tiến hành đồng bộ, khoa học, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và phát huy cao nhất sự đồng thuận của nhân dân – “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

 

QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO GIỮ VAI TRÒ ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG

 Ngày 1.12, Tổng Bí thư Tô Lâm có cuộc điện đàm với Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước CHDCND Lào Thongloun Sisoulith.

Tổng Bí thư Tô Lâm gửi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em nhân dịp kỷ niệm 49 năm Quốc khánh nước CHDCND Lào. Tổng Bí thư tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhân dân Lào sẽ tiếp tục giành được những thành tựu to lớn hơn nữa, đưa đất nước Lào ngày càng phát triển phồn vinh và vững mạnh.

Tổng Bí thư nhấn mạnh trước sau như một, quan hệ VN - Lào luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của VN, coi đây là một trong những nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân VN. Tổng Bí thư khẳng định VN luôn ủng hộ Lào trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, trong đó có việc ủng hộ Lào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI và chuẩn bị tổ chức thành công Đại hội XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith nhấn mạnh quan hệ VN - Lào có ý nghĩa quyết định đối với an ninh và phát triển của mỗi nước, Lào sẽ tiếp tục ủng hộ và làm hết sức mình để giữ gìn, vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt này ngày càng phát triển tốt đẹp. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith bày tỏ vui mừng và chúc mừng những thành tựu VN đã đạt được, coi đây là bài học, là nguồn động viên, cổ vũ đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, VN sẽ thực hiện thành công các nhiệm vụ đề ra, vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tại cuộc điện đàm, hai nhà lãnh đạo đã trao đổi và thống nhất một số phương hướng cụ thể nhằm triển khai thực hiện Thỏa thuận cấp cao VN - Lào, phát huy tốt các cơ chế hiện có, nâng cao hiệu quả hợp tác trên các lĩnh vực, tăng cường hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt VN - Lào, vì lợi ích thiết thực của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.