Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

 

LÊN ÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BÔI XẤU ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH HỒ CHÍ MINH VÀ VAI TRÒ, UY TÍN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Chưa bao giờ các thế lực thù địch, phản động từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá sự nghiệp cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Trong đó, nói xấu, bôi nhọ và phỉ báng đạo đức, nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nội dung mà chúng thường tập trung chống phá. Chắc chắn rằng, toàn thể nhân dân Việt Nam, cũng như nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới không ai tin giọng điệu sảo trá, vô lương, bất chính của chúng, bởi vì:

Đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh là một mẫu mực tuyệt vời về nhân cách của người cộng sản và là mẫu hình để toàn thể nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới noi theo, chỉ những kẻ vô ơn, bạc nghĩa mới dám phỉ báng và bôi nhọ hình ảnh, danh dự của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tâm hồn, cốt cách, đạo đức, nhân cách, trí tuệ, tài năng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới thừa nhận và ngợi ca. Ngợi ca Chủ tịch Hồ Chí Minh – ngợi ca đạo đức, nhân cách của Người là tâm nguyện, là trách nhiệm cao cả, là đạo lý uống nước, nhớ nguồn của mọi con dân đất việt. Vậy mà, những kẻ phản động, vô ơn, bạc nghĩa, bất lương lại dám phỉ báng xuyên tạc đạo đức, nhân cách của Hồ Chí Minh.

Nhân dân Việt Nam đời đời biết ơn và ghi nhớ công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã dẫn dắt con đường cách mạng Việt Nam, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ cho thực dân, đế quốc trở thành người dân có quyền sống, quyền độc lập, tự do, mưu cầu hạnh phúc. Nhân dân Việt Nam được sống trong độc lập tự do, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay là công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ai ai cũng hiểu điều đó, chỉ những kẻ phản động, quay lưng lại với Tổ quốc, với dân tộc mới cố tình không nhìn thấy, không nhận ra. Chân lý “Không có gì quí hơn độc lập, tự do”, chân lý đó đã được lịch sử kiểm chứng và nhân dân Việt Nam là người hơn ai hết hiểu được giá trị cao quí của chân lý vĩnh hằng này.

Dân tộc ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã làm “rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông, đất nước ta”. Điều đó, được cả nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới và dân tộc Việt Nam thừa nhận, suy tôn, được lịch sử ghi nhận như một niềm tự hào, kiêu hãnh vô song của nhân dân lao động Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà lãnh tụ thiên tài, thông minh xuất chúng, có trí óc sáng tạo, trọn đời cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, có tầm cao trí tuệ, có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị và khả năng tuyệt vời trong nắm bắt qui luật khách quan về sự vận động, phát triển của lịch sử để dẫn dắt dân tộc đi đến những vinh quang như ngày nay. Những kẻ đang ngày đêm chống phá cách mạng Việt Nam, nếu không nhờ công ơn đó, chắc gì đã được sinh ra và lớn lên trên cõi đời này, vậy nên đừng vô ơn bạc nghĩa, đừng phỉ báng thần tượng Hồ Chí Minh, hãy giữ lại dù chỉ một chút lương tri, nếu không làm gì giúp được cho dân, cho nước thì hãy cứ sống yên phận là “kẻ tôi đòi”, đừng làm gì để mang tội với nhân dân, với đất nước và hậu thế sau này.

Vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được lịch sử dân tộc ghi nhận, được toàn thể nhân dân Việt Nam thừa nhận và suy tôn, chỉ những kẻ vô đạo, bất lương mới cố tình xuyên tạc và phủ nhận.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua bao ghềnh thác để đi đến thành công như ngày nay, đó là niềm tự hào không chỉ của những người cộng sản mà của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Vậy mà, những kẻ phản bội lại Tổ quốc luôn ra sức xuyên tạc, phủ nhận, nói xấu Đảng. Những luận điệu xuyên tạc đó sặc mùi phản động và càng cho thấy chúng không có một chút hiểu biết gì về thế sự của Việt Nam. Cái mà bọn chúng ngày đêm cố nặn ra để tuyên truyền nếu không phải có ý đồ reo rắc sự hoài nghi, không phải để làm lung lạc ý chí, niềm tin của nhân dân Việt Nam, của những người cộng sản, cũng như mọi người dân yêu nước Việt Nam về tương lai tươi sáng của dân tộc, thì đích thị là giọng lưỡi của những kẻ phản động, hại nước, hại dân, kẻ viết thuê cho bọn chống cộng, đi ngược lại mong ước, nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Bằng cách cắt xén trích dẫn ra những sự kiện này sự kiện nọ, lời nói của người này, người khác để vu cáo, xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không có khả năng lãnh đạo đất nước, không có đường lối độc lập tự chủ. Sự thực thì ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là bài học, đường hướng nhất quán của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng và mỗi người dân cũng như mỗi người cộng sản Việt Nam đều ghi nhớ điều này. Bởi vì, họ hiểu sâu sắc rằng nếu không có đường lối độc lập tự chủ thì Đảng ta, nhân dân ta không thể làm nên chiến công thần kì qua hai cuộc khác chiến chống thực dân Pháp về đế quốc Mỹ để thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc. Đặc biệt, nếu Đảng ta không có đường lối độc lập tự chủ thì công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nhất là cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử khó có thể diễn ra và đem lại chiến thắng vẻ vang như vậy. Bước sang thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế và khu vực hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì giữ vững đường lối độc lập tự chủ mới có những thành công như ngày nay. Thành tựu của hơn 36 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh điều đó, sự thật hiển nhiên đó không chỉ những người cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam cảm nhận được mà bạn bè khắp năm châu cũng phải thừa nhận và ngợi ca sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và thành công của cách mạng Việt Nam. Đúng như Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát biểu trong lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng: “Với những thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”; và “Với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đảng ta thật là vĩ đại! Nhân dân ta thật là anh hùng!”./.

 

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – BẬC ĐẠI TRÍ, ĐẠI NHÂN, ĐẠI DŨNG

Trên trang “Baoquocdan” Nguyễn Thị Cỏ May tiếp tục chiêu trò cũ, đả kích, đánh tráo khái niệm, xuyên tạc tác phẩm “Ngục Trung Nhật ký” – “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dẫn lời học giả Lê Hữu Mục, May cho rằng tập thơ này ra đời dưới sự dàn dựng công phu của  ban biên soạn thuộc hệ thống Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đánh bóng tài năng cho Hồ Chí Minh.

Lý lẽ mà bài viết đưa ra là: Lúc đó Bác chưa đủ trình độ tiếng Hán để làm thơ tiếng Hán theo thể thơ Đường và quan điểm trong bài thơ mang tính chung chung, không thể hiện rõ quan điểm giai cấp vô sản. Từ đó Lê Hữu Mục khẳng định tác giả cuốn Ngục trung nhật kí chắc chắn là một người Hán (tức “già Lý”) vốn trung thành với quốc gia, đất nước Trung Hoa, chứ không phải Hồ Chí Minh. Song, Nguyễn Thị Cỏ May thiếu hiểu biết hay cố tình bỏ qua, bởi trong Ngục Trung Nhật ký còn một bài thơ: Bệnh trọng (Ốm nặng), hai câu đầu viết: Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt/Nội thương Việt địa cựu sơn hà. Với hai câu trên trong bài thơ, đã chứng minh: Chẳng lẽ ông già Lý người Hán đang ở tù tại Hồng Kông lại ngồi thương cho nước Việt; chẳng lẽ một người Hán (“già Lý”, vốn là một tướng cướp) lại làm đại biểu cho nhân dân Việt Nam. Và không biết rằng động cơ thúc đẩy Lê Hữu Mục xuyên tạc “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật kí” đã đi ngược lại phiên họp thứ 24 tại Paris năm 1987, Đại hội đồng UNESCO thông qua Quyết định về kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990. Quyết định này đã tôn vinh “Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Do đó, xuyên tạc, bịa đặt nhưng thiếu tri thức, thiếu hiểu biết, chỉ biết dùng lời lẽ của kẻ thù hận để đánh lừa thiên hạ, không những không đạt được mục đích lấy đen đổi trắng, mà càng chứng tỏ Nguyễn Thị Cỏ May và đồng bọn chỉ là những tay bồi bút, phản động không hơn không kém.

Tiếp tục xuyên tạc về phẩm chất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dẫn lời của Trần Đức Thảo, Nguyễn Thị Cỏ May cho rằng: Bác là người hám danh, cuồng danh. Nhận định này đã chứng minh chính May không những là kẻ thiếu hiểu biết, mà còn lú lẫn và mù quáng. Bởi lẽ, chưa cần đề cập đến công lao trời biển mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang lại cho nhân dân, dân tộc Việt Nam, mà cần chỉ qua tập thơ Nhật ký trong tù đã chứng minh Người là một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.

Cái đại trí của Người là những nhận thức đúng đắn về cuộc sống nhân sinh, về thời cuộc, về đường lối chiến lược, chiến thuật của cách mạng. Trong hoàn cảnh lao tù, con người mất tự do, Người luôn hướng về tự do, nghĩ về tự do. Người đáng giá cao tự do: “Tự do tiên khách trên trời” (Quá trưa). Bác luôn cho rằng cuộc đời có gian nan vất vả, những sẽ có ngày vui: “Hết khổ là vui vốn lẽ đời”; “Hết mưa là nắng ửng lên thôi”(Trời hửng)… Đại trí của Người thể hiện: “Thà chết chẳng cam nô lệ mãi/Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền” (Việt Nam có bạo động). Cái đại trí còn thể hiện cái nhìn sâu sắc về đời sống nhân sinh, những hoài cảm và những suy tưởng của Bác về sự vật, sự việc trong nhiều bài thơ, câu thơ khác. Cái đại trí làm nên đặc điểm nhân cách cao cả con người Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh là bậc đại nhân được thể hiện rất rõ qua tấm lòng thiết tha yêu Tổ quốc, yêu thương, trân trọng con người, lòng yêu thiên nhiên, tình cảm quốc tế trong sáng của Người. Trước hết là tình yêu Tổ quốc, là tình cảm thường trực ở Người, nhiều đêm nhớ nước Người không ngủ được: “Một canh, hai canh, lại ba canh/ Trằn trọc băn khăn giấc chẳng thành/ Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh, (Ngủ không được). Nỗi nhớ đồng bào đồng chí canh cánh bên lòng: “Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng/Tin tức bên nhà bữa bữa trông”, (Tức cảnh).

Bác là con người đại dũng tập trung ở khí phách kiên cường, tinh thần vượt qua gian lao thử thách, niềm tin, lòng lạc quan cách mạng ở Người. Khí phách ấy, được nói lên ngay lời mở đầu của tập thơ: “Thân thể ở trong lao/Tinh thần ở ngoài lao/Muốn nên sự nghiệp lớn/tinh thần càng phải cao”. Trong hoàn cảnh lao tù, trước sự hành hạ, cưỡng chế, tra xét Người không hề sợ hãi, nao núng mà lại tự động viên: “Nghĩ mình trong bước gian truân/Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”, (Tự khuyên mình). Đọc Nhật ký trong tù chúng ta được gặp tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng Hồ Chí Minh. Chúng ta thấy trái tim của Người toả ánh sáng chói ngời trong hoàn cảnh tối tăm. Người bị giam hãm, đoạ đầy, trói buộc, xiềng xích, bị nghi ngờ, bêu diễu, cấm đoán, mất hết cả tự do. Tâm hồn Người theo thời gian vẫn cất lên, bất chấp sự cùng khổ về vật chất cũng như tinh thần, coi thường cả sự hiểm nguy, dũng mãnh vượt lên gian lao thử thách, ngạo nghễ để chiến thắng, thể hiện phong thái ung dung, niềm tin tưởng lạc quan son sắt, tình cảm giao hoà với thiên nhiên; đặc biệt là tình cảm thắm thiết đối với đồng bào, nhân dân Việt Nam.

Có thể khẳng định, luận điệu dẫn lời Lê Hữu Mạc, Trần Đức Thảo của Nguyễn Thị Cỏ May không nhằm mục đích đóng góp cho khoa học, cho chân lý mà chỉ cho thấy những thiên kiến chính trị, phục vụ cho ý đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, vu khống như thế không những làm xấu hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam, mà còn cho thấy cái đại trí, đại nhân, đại dũng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Do vậy, những dòng “bồi bút” của kẻ cố tình xuyên tạc sự thật, bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ vấp phải sự chỉ trích, lên án mạnh mẽ của các nhà khoa học và dư luận xã hội và cộng đồng quốc tế. Hồ Chí Minh là tác giả của Nhật ký trong tù, đó là sự thực hiển nhiên. Bọn chúng có cố tình phủ nhận, lái góc này sang góc kia, dùng ý này xỏ ý khác, thì càng chứng minh chúng chính là kẻ thiếu hiểu biết, lú lẫn, phản quốc, hại nước, hại dân./.

 

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Trên trang “baoquocdan”, mới đây phát tán bài viết “Học tập đạo đức Hồ Chí Minh quan chức càng học càng hư, càng học càng ăn cắp” của Trà My. Nội dung bài viết vẫn là giọng điệu xuyên tạc, tuy không mới nhưng ẩn chứa nhiều ý đồ thâm độc, hòng bẻ cong mục đích, nội dung và ý nghĩa việc thực hiện các Chỉ thị, Kết luận về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đây là sự tấn công trực diện vào những vấn đề cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Với việc mượn những sự kiện liên quan đến các vụ án trộm cắp, tham ô, tham nhũng của một phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái, Trà My quy chụp rằng “học tập đạo đức Hồ Chí Minh, cán bộ càng học thì càng hư”, vì thế “việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là điều hoàn toàn không có lợi cho việc xây dựng và phát triển đất nước”. Rõ ràng, đây chỉ là sự suy diễn thiển cận, một chiều. Thực tế thì sao?

Trước hết, cần phải khẳng định: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta”[1].

Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta, soi sáng sự nghiệp cách mạng, dẫn dắt mỗi bước đi lên và thắng lợi của cách mạng Việt Nam; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Xuyên suốt lịch sử hơn 93 năm xây dựng và phát triển của Đảng, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và ý nghĩa của việc triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Vì thế, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được Đảng ta nêu ra và chỉ đạo từ rất sớm, bằng nhiều chỉ thị, nghị quyết, qua nhiều thời kỳ. Việc học và làm theo Bác theo từng nội dung của mỗi Chỉ thị, ứng với mỗi nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều là một cuộc vận động chính trị sâu sắc; là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Điều đó không chỉ giúp cho mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, mà còn góp phần trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng của Người, để kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, những kết quả đạt được của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bao năm qua là không thể phủ nhận.

Quán triệt việc thực hiện các Chỉ thị, Kết luận của Đảng, đến nay việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã triển khai sâu rộng, thường xuyên, ngày càng đi vào thực chất, chiều sâu và đạt được những kết quả quan trọng với nhiều cách làm mới, sáng tạo, ngày càng đi vào thực chất, chiều sâu, từng bước trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên. Qua đó, phong trào đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, có sức lan tỏa trong Đảng và toàn xã hội, đưa đến những thay đổi tích cực trong toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, trực tiếp góp phần “kiềm chế, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ[2]; xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu. Từ trong phong trào học tập và làm theo Bác, đã xuất hiện nhiều tấm gương tập thể, cá nhân tiên tiến, điển hình, thực sự có sức lan toả trong xã hội, khơi dậy tình cảm, động lực, tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc và mong muốn cống hiến, phụng sự đất nước trong mọi tầng lớp xã hội, cổ vũ toàn thể nhân dân ta kiên định, hăng hái, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, thực hiện nghiêm túc, bài bản; kịp thời phát hiện, làm rõ những vi phạm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng[3]. Qua đó, giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác; kỷ cương, kỷ luật trong Đảng được siết chặt hơn, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa vi phạm đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Những viện dẫn của Trà My chỉ xoáy vào hạn chế mà bỏ qua những kết quả tích cực nêu trên đã cho thấy rõ âm mưu kích động, chống phá của y. Và cũng vì thế tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải là “điều hoàn toàn không có lợi” như Trà My xuyên tạc mà ngược lại đã tạo được sức lan tỏa trên các mặt của đời sống xã hội, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thực sự đã trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta di sản vô cùng quý giá. Đó là thời đại Hồ Chí Minh; là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Không ngừng học tập, rèn luyện theo Người đã, đang và luôn là tiêu chí, thước đo, phương châm hành động và biện pháp công tác của các cán bộ, đảng viên, được coi là động lực, cội nguồn sức mạnh để toàn Đảng nỗ lực vượt qua các khó khăn, thách thức, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới./.

[1] Bài phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05/CT-TW của Bộ Chính trị, ngày 12/6/2021.

[2] Kết quả điều tra dư luận xã hội tháng 3-2021: 70% số người được hỏi cho rằng việc thực hiện Chỉ thị số 05 đã “Ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

[3] Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành lập hơn 20 đoàn kiểm tra tại hơn 30 ban, bộ, ngành, địa phương về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thực hiện kiểm tra đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN QUAN HỆ TRUYỀN THỐNG GIỮA VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA

Gần đây, nhân sự kiến chuyến thăm của Tổng Liên bang Nga Vladimir Putin đến Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhiều tờ báo trong nước và cơ quan ngôn luận đã tập trung vào mối quan hệ truyền thống lâu dài giữa Việt Nam và Liên bang Nga, cũng như hợp tác kinh tế, quốc phòng giữa hai nước. Tuy nhiên, đây cũng là thời cơ và cũng là cái “cớ” để các trang mạng phản động, những kẻ luôn có sự đố kỵ, thâm thù với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng và Nhà nước.

Trên trang “Bbc” phát tán bài viết với tiêu đề: “Ông Putin tới Việt Nam: Quốc tế nói gì khác với báo chí Việt Nam?” Trước đó, trong bài viết ngày 17/6 trên “Reuters” đưa tin về chuyến thăm của Tổng Liên bang Nga Vladimir Putin tới Việt Nam người phát ngôn Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội cho biết: “Không có quốc gia nào nên cho Putin một nền tảng để thúc đẩy cuộc chiến tranh xâm lược của ông ta và nếu làm vậy là cho phép ông ta bình thường hóa những tội ác của mình”. “Nếu ông ta có thể đi lại tự do, điều này có thể bình thường hóa những vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế”.

Có thể thấy, tất cả những lời lẽ, cùng các phát ngôn, nhận định trên là không có cơ sở, phiến diện, bịa đặt, với dụng ý nói xấu nhằm bôi nhọ, phá hoại quan hệ hữu nghị Việt – Liên bang Nga.

Trước hết, Liên bang Nga là đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, việc Nguyên thủ thăm nhau, củng cố quan hệ cũng giống với các nước khác như: Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ, … là vì lợi ích dân tộc, thể hiện đúng đường lối đối ngoại theo tinh thần độc lập, tự chủ, đa phương hóa, vì lợi ích quốc gia, dân tộc và đóng góp vào hòa bình, ổn định trên thế giới.

Thứ hai, nhìn lại lịch sử, trải qua hơn 72 năm kể từ khi Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã có bề dày lịch sử, được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước vun đắp, trở thành tài sản vô cùng quý giá của hai dân tộc . Vượt qua những thăng trầm, biến động của lịch sử, hai nước tiếp tục giữ vững mối quan hệ và phát triển mối quan hệ truyền thống. Đồng thời, Việt Nam và Liên bang Nga ký Tuyên bố chung về mối quan hệ Đối tác chiến lược vào ngày 01/3/2001; ra Tuyên bố chung về tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện ngày 27/7/2012. Quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam – Liên bang Nga được thể hiện qua sự gắn bó, hiểu biết và tin cậy; sự giúp đỡ và hợp tác lẫn nhau trong suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ của nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc, khôi phục kinh tế sau ngày đất nước được thống nhất, cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển ngày nay.

Thứ ba, cùng bày tỏ chứng kiến phản bác lại các luận điệu bịa đặt, xuyên tạc của các phần tử chống đối Việt Nam, chính Ông Ian Storey, Nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ISEA – Yusof  Ishak có trụ sở tại Singapo, khẳng định với Reuters một cách thẳng thắn, công bằng, không thiên vị, mạch lạc, rằng “Trên quan điểm của Hà Nội, chuyến thăm của Ông Putin nhằm chứng tỏ rằng Việt Nam theo đuổi đường lối đối ngoại cân bằng, không đi theo bất kỳ cường quốc nào”.

Như vậy, khẳng định rằng, chuyến thăm của Tổng thống Vladimir Putin diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga phát triển rất tốt đẹp, nhanh chóng, toàn diện; là một mô hình trong quan hệ hợp tác cùng có lợi, bình đẳng, phù hợp với lợi ích hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới. Chuyến thăm cấp Nhà nước lần này của Tổng thống Vladimir Putin có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm sâu sắc hơn nữa trong quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt trong bối cảnh hai nước đang nỗ lực hiện thực hóa Tuyên bố chung về Tầm nhìn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đến năm 2030.

Mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động về chuyến thăm của Tổng thống Vladimir Putin, cũng như xuyên tạc về ngoại giao, chính sách ngoại giao của Việt Nam chống phá đất nước và nhân dân Việt Nam cần được nhận diện kịp thời và cương quyết đấu tranh phản bác.

 

VIỆT NAM BIỂU TƯỢNG CỦA HẠNH PHÚC TOÀN CẦU DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Vừa qua, trên trang Facebook: Việt Tân, Thomas Nguyễn có bài viết: “Hãy đồng hành cùng tôi làm chính trị” cho rằng, dưới sự lãnh đạo của độc tài Cộng sản Việt Nam, đất nước đang đi thụt lùi trên tất cả các lĩnh vực, người dân ngày càng cùng cực và bị mất nhân quyền. Từ đó, kêu gọi thiết lập chế độ đa đảng, xoá bỏ chế độ độc đảng ở Việt Nam. Thực tế, Thomas Nguyễn đang cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, lịch sử hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có các Đảng phái khác. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản, còn có hai đảng khác là Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều ủng hộ, thừa nhận vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này cũng tự nguyện giải tán. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử cách mạng và nhân dân Việt Nam đã phủ định. Vì thế, Điều 4, Hiến pháp năm 2013, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và cả xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và toàn thể Nhân dân Việt Nam khẳng định, thừa nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn”.

Thứ hai, thành tựu của sự nghiệp cách mạng sau gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng và thật đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… được cộng đồng quốc tế ghi nhận, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên. Việt Nam được cả thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Ngày 11/10/2022, với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Điều đó, khẳng định uy tín và vị thế của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền, bảo vệ nhân quyền không chỉ trong nước mà còn đối với cộng đồng quốc tế, được quốc tế khẳng định và thừa nhận. Theo Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên hợp quốc công bố, năm 2021 Việt Nam đứng thứ 79/149 trong bảng xếp hạng; năm 2022 Việt Nam đứng thứ 77/150 trong bảng xếp hạng, tăng 2 bậc so với năm 2021; năm 2023 Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022; năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54/150, tăng 11 bậc so với năm 2023. Kết quả này, là sự thừa nhận của Liên hợp quốc, nên các thế lực thù địch không thể xuyên tạc. Vì vậy, cần khẳng định rằng, người dân Việt Nam ngày càng hạnh phúc, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới ở Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng bộc lộ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đi ngược lại với Hiến pháp và nguyện vọng, lợi ích lâu dài, chính đáng của nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn./.

 

NHỮNG NHẬN ĐỊNH THIẾU KHÁCH QUAN VỀ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Lợi dụng vấn đề tôn giáo gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước là một trong những phương thức, thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang đẩy mạnh ở nước ta. Mới đây, trên trang “thongluan-rdp”, Phạm Trần viết bài: “Tự do theo định hướng thì đâu phải là tự do!”, lợi dụng nội dung trong báo cáo tháng 5/2024, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa kỳ, Y cho rằng: “Tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2023 “không có gì thay đổi” so với năm 2022 trong khi chính quyền sử dụng Luật Tín ngưỡng – Tôn giáo để đàn áp các nhóm tôn giáo của người thiểu số và các nhóm tôn giáo không được chính phủ công nhận”. Đây là nhận định thiếu khách quan, không đúng sự thật về thực tế tự do tôn giáo ở Việt Nam, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Vấn đề này cần được nhận diện rõ:

Thứ nhất, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa kỳ (USCIRF) là một cơ quan tham vấn độc lập do Quốc hội Mỹ thành lập, là cánh tay nối dài của Bộ Ngoại giao Mỹ, mục đích nhằm phục vụ cho việc “cải thiện nhân quyền” ở các nước mà Mỹ cho là cần quan tâm đặc biệt. Các thông tin USCIRF sử dụng trong báo cáo không có nguồn gốc chính thống mà chủ yếu dựa trên những thông tin sai sự thật, được thu thập từ các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng thù hận, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam như: “Ủy ban Cứu người vượt biển – BPSOS”, tổ chức “Người Thượng đứng lên vì công lý – MSFJ”…

Trong những năm qua, các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng đã được nhiều nước ghi nhận và đánh giá cao, nhất là, tại phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, ngày 07/5/2024 được tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ. Tuy nhiên, các báo cáo hằng năm, USCIRF liên tục đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt-CPC”; trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 (tháng 5/2024) của USCIRF vẫn đưa ra những nhận định thiếu khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về tự do tôn giáo tại Việt Nam. Vấn đề này đã được Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng, ngày 09/5/2024, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao đã trả lời câu hỏi của phóng viên, khẳng định rằng: Việt Nam bác bỏ những nhận định không khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của Uỷ ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng, có chính sách nhất quán và nỗ lực đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, coi đó là một mục tiêu quan trọng đi cùng với công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, như: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; “Sách trắng tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”… nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch, chính xác về chính sách và thành tựu đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam tới bạn bè quốc tế và nhân dân trong nước.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo tiến hành giao lưu hợp tác quốc tế. Hiện nay, ước tính có khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, hàng năm có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức; tính đến tháng 12/2023, Nhà nước ta đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Tình hình tôn giáo ổn định, đa số các chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc.

Do vậy, Phạm trần và USCIRF cần phải tôn trọng sự thật, đánh giá khách quan về tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tôn trọng pháp luật Việt Nam./.

 

 

Đa nguyên, đa đảng không phải là sự lựa chọn của Việt Nam

Bất chấp những thành quả mà nhân dân ta đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động vẫn điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Trong bài viết “Phải có dân chủ đa nguyên để phục hồi đạo đức, cứu nguy dân tộc”, với cái nhìn định kiến và hận thù, Ban Biên tập Viettan viện dẫn những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, rồi quy chụp thành bản chất và đổ lỗi cho Đảng “đảng CS đã làm cho đất nước này khánh tận cả về tinh thần lẫn vật chất, làm biến dạng xã hội VN” và đưa ra kiến nghị hết sức phản động “Đảng Cộng sản Việt Nam phải nhanh chóng chấp nhận dân chủ hóa để các lực lượng chính trị đối lập tham gia kiến thiết và điều hành đất nước, xây dựng nhà nước tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng”… Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, xuyên tạc tình hình kinh tế, xã hội và đời sống của Nhân dân; hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị trên đất nước ta, nhân dân ta mất quyền độc lập, phải chịu cảnh lầm than, một cổ hai tròng. Trước ách thống trị, bóc lột hà khắc, tàn bạo của thực dân, phong kiến, đã có nhiều cuộc đấu tranh, phong trào yêu nước nổ ra, theo tư tưởng phong kiến, tư sản, nhưng đều thất bại. Những thất bại đó do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân sâu xa và chủ yếu là do chưa có đường lối, tư tưởng phù hợp với thời đại và nguyện vọng của nhân dân.

Trước tình trạng dân tộc đang bế tắc về đường lối cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đó là con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác – Lênin. Người đã tích cực chuẩn bị mọi mặt, nhằm hình thành một chính đảng để lãnh đạo phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đáp ứng được nguyện vọng của dân tộc và nhân dân, bởi Đảng có đường lối đúng đắn, gồm những người ưu tú nhất, đại biểu cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu bức thiết về lực lượng lãnh đạo, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, khơi dậy, quy tụ được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, được quần chúng nhân dân tin tưởng, đi theo. Đó là sự lựa chọn của lịch sử. Ngay khi mới 15 năm tuổi, Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam làm cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất”, giành độc lập, tự do cho dân tộc sau gần một trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ; nhân dân Việt Nam thoát khỏi “kiếp ngựa trâu”, trở thành người làm chủ vận mệnh của mình. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo Nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, vào nhóm những nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, bình quân thu nhập đầu người năm 2020 là 3.561 USD, năm 2023 khoảng 4.200 USD. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật.

Thực tiễn cũng cho thấy, có những thời điểm, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, ở nước ta còn có các đảng khác cùng tồn tại: Đảng Dân chủ, Đảng xã hội. Tuy nhiên, quá trình sàng lọc, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định được vai trò của mình, đủ khả năng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước đi đến thắng lợi, còn Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội đã tự tuyên bố giải tán vào năm 1988.

Lịch sử và thực tiễn đất nước đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã không ngừng phát triển về mọi mặt, đời sống của nhân dân được nâng lên, chứ không phải “làm cho đất nước khánh tận” và cũng không cần đa nguyên, đa đảng theo những “khuyến cáo” phản động của bọn Viettan.

Thứ hai, tiếng nói khách quan của bạn bè quốc tế về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đối với những người có cái nhìn khách quan, không định kiến, khi đề cập đến những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 94 năm qua, đều đánh giá cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Philip Fernandez, thành viên của Hội Hữu nghị Canada-Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Canada, nhấn mạnh “Uy tín và vị thế cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã phản ánh sức mạnh chính trị và ý thức hệ của Đảng, cũng như khả năng tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam khi tìm ra phương hướng trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, và cùng với sự tham gia của nhân dân để đưa ra chương trình nghị sự nhằm xây dựng một nước Việt Nam hiện đại. Một ưu điểm nổi bật của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là khả năng ứng dụng một cách sáng tạo các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện của Việt Nam để đạt được các mục tiêu ở quy mô quốc gia và quốc tế. Điều này cũng phản ánh niềm tin của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng. Và niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã được thể hiện khi Việt Nam mới đây đã trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối”.

Tương tự, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Argentina Victor Kot cho rằng, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa trọng đại không chỉ đối với lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn cả đối với phong trào cách mạng thế giới. Trong thế kỷ 20 và những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, Việt Nam đã tạo ra được sự khích lệ lớn lao cho việc hình thành phong trào quốc tế cộng sản, cho cuộc đấu tranh của những người cộng sản và cách mạng, cũng như lịch sử nhân loại.

Ông Moribe Hiroyuki, Chủ tịch Viện Nghiên cứu kinh tế Việt Nam tại Nhật Bản, Ủy viên Hiệp hội Việt – Nhật tại Nhật Bản nói: cảm nhận của tôi, Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng rất mạnh, bởi Đảng dựa vào dân, tôn trọng dân.

Thành tựu của đất nước đạt được hơn 94 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và những tiếng nói khách quan của bạn bè quốc tế đã chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là sự lựa chọn của lịch sử, là lực lượng duy nhất đủ khả năng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước đi đến thắng lợi. Hoàn toàn phù hợp với điều kiện đất nước và xu thế của thời đại; đa nguyên, đa đảng không bao giờ là sự lựa chọn của Việt Nam./.

 

Lời giãi bày tâm sự của một kẻ phản động

Mới đây, tác giả Nguyên Thạch đã giãi bày tâm sự “Đôi điều muốn nói về hiện tình đất nước dưới sự cai trị của ĐCSVN” trên trang danlambao. Bài viết đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến tình hình trong nước và thế giới, trong đó có một số vấn đề chính sau đây.

Một là, Nguyên Thạch chê trách, phê phán nhân dân Việt Nam (dân quốc nội) hèn nhát, không thật sự đoàn kết để chống Đảng, Nhà nước, chế độ xã hôi chủ nghĩa. Nguyên Thạch viết: “Trước tiên người viết khẳng định rằng đây không phải là một bài viết chứa đựng những cảm nhận bi quan hay yếm thế mà là đôi lời trình bày những sự thật đã và đang cũng như sẽ xảy ra trên đất nước Việt Nam, một quê hương mà hầu hết người dân quốc nội vẫn chưa tìm được bất cứ giải pháp nào để giải cứu dân tộc thoát khỏi ách cai trị tồi tệ của Đảng Cộng sản Việt Nam”.  Sau khi mở đề một cách phản động như vậy, Nguyên Thạch đã lên lớp, chê bai, phê phán dân “quốc nội” không làm được trò trống gì để cứu dân tộc khỏi ách cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Thạch đã dẫn ra một số biểu hiện về sự ươn hèn của dân “quốc nội” biện hộ cho việc không đấu tranh chống Đảng Cộng sản, chống chế độ của mình, đó là  “Vì độc tài”, vì “hệ thống công an trị”, “vì sợ hãi muốn yên thân, không muốn rước họa vào thân”. Và Nguyên Thạch kết luận: “Tất cả những lý do đó, tựu chung chỉ là biểu hiện sự không quan tâm về chính trị, không đồng nhất về quan điểm bảo vệ Tổ quốc và dân tộc để có được hành động thống nhất.”

Chỉ cần đọc mấy dòng trên đây đã thấy bộ mặt thật của Nguyên Thạch – một kẻ phản động, cực kỳ nguy hiểm và ngạo mạn. Một kẻ đã phản bội dân tộc, đất nước, nhân dân, chỉ biết lo cho cái mạng sống của riêng mình mà còn dám cao giọng, lên mặt chê trách, dạy khôn cho nhân dân Việt Nam. Có lẽ Nguyên Thạch đã ngộ nhận mình là lãnh tụ của dân tộc, có sứ mệnh cứu nguy cho dân tộc, vạch đường, chỉ lối cho nhân dân đứng lên lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam chăng ? Nguyên Thạch đã không biết rằng mình chỉ là một kẻ “ăn theo, nói leo” luận điệu của các thế lực thù địch vẫn nhai đi, nhai lại bao nhiêu năm nay rồi. Nếu Nguyên Thạch biết rõ thân phận của mình chắc Nguyên Thạch đã không nói những điều hàm hồ như vậy.

Hai là, Nguyên Thạch kích động “dân quốc nội” hãy đứng lên chống đối chế độ, “tháo ách cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam”.  Từ việc chê bai, phê phán “dân quốc nội”, Nguyên Thạch đã chuyển sang kích động nhân dân ta đấu tranh chống Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nguyên Thạch xúi giục, kích động: “một ngày nào đó không xa, toàn dân Việt Nam bất luận già trẻ, trai gái, tất cả cùng nhau xuống đường đòi Formosa cút khỏi Việt Nam đòi nhà cầm quyền cộng sản phải trưng cầu dân ý và cho ứng cử, bầu cử tự do… bằng không sẽ phế truất tà quyền để dựng lên một chính quyền hợp ý nguyện của cả nước thì liệu rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có dám làm khác đi không?”. Nguyên Thạch tiếp tục kích động: “Người dân quốc nội mới là cốt cán, hải ngoại chỉ là những tổ chức vận động và hỗ trợ. Mỗi người “dân quốc nội” phải tự chất vấn mình cho những việc đơn giản như vậy mà sao chúng ta không thể làm được, chưa thể làm được?”

Những giọng điệu trên đây cho thấy động cơ chống cộng của Nguyên Thạch đã sôi sục, quyết liệt đến mức nào. Chắc hẳn, Nguyên Thạch ngày đêm cầu nguyện, mong chờ lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam…. đến mất ăn, mất ngủ? Nguyên Thạch đã thể hiện đúng bản chất của phần tử phản động. Rất tiếc từ cái đầu nóng và trái tim sôi sục chống cộng sản của Nguyên Thạch đã sản sinh ra những ý tưởng, khát vọng điên rồ. Đây là sự ấu trĩ của của một kẻ phản động, chống cộng cuồng tín ở hải ngoại.

Ba là, Nguyên Thạch đã dựng lên một tương lai đen tối của dân tộc Việt Nam nhằm hù dọa nhân dân ta. Sau khi buông ra những lời lẽ kích động cố tình xúc phạm nhân dân ta, Nguyên Thạch tiếp tục răn đe, hù dọa nhân dân ta bằng cách vẽ ra một tương lai đen tối, thê thảm sẽ ập xuống đầu nhân dân nếu như nhân dân không kiên quyết đứng lên chống lại Đảng Công sản Việt Nam, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nguyên Thạch đã phác họa ra một tương lai của đất nước ta vô cùng thê thảm, nào là: toàn dân sẽ bị nhà cầm quyền cai trị như một thứ nô lệ; để cho Đảng Cộng sản củng cố toàn trị; nhà cầm quyền trở thành tập thể tham quan; môi sinh bị tàn phá, dân thì trở thành nghèo khó, ngu dốt, thất học; nhà cửa, đất đai, tài sản bị tà quyền cướp trắng; từng nhà, từng người sẽ lần lượt vào tù và tự tử ở đó; đất nước ngày càng tụt hậu; nợ nần thêm chồng chất, đất đai, biển đảo mất dần vào tay ngoại bang, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bán đứng đồng bào, dân tộc trở thành nô lệ…”

Những luận điệu đem ra hù dọa trên đây của Nguyên Thạch thực chất là một sự bịa đặt, xuyên tạc một cách trắng trợn với mưu đồ làm cho dân ta hoang mang, lo sợ, khủng hoảng lòng tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam, vào Nhà nước, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo cớ cho các thế lực phản động lợi dụng kích động nhân dân đứng lên lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy, các thế lực phản động, trong có có Nguyên Thạch sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn xấu xa để chống Đảng, Nhà nước.

Thế nhưng, sự hù dọa của Nguyên Thạch sẽ chẳng làm cho ai sợ. Nhân dân ta hiểu rất rõ tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh và những thành tựu, hạn chế, thời cơ, khó khăn thách thức của đất nước và xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch.

Chính vì vậy, “Lời giãi bày tâm sự của kẻ phản động” Nguyên Thạch đã xúc phạm một cách nghiêm trọng, đến lòng tự trọng của mỗi người “dân quốc nội”, do đó y sẽ không lừa được ai. Chỉ có mấy kẻ phản động ở hải ngoại vật vờ thì mới mù quáng mà tin theo những điều nhảm nhí đó mà thôi.


 

Kẻ mộng du không thể nói về cái tốt và cái xấu

Trong những ngày qua, trên trang Danlambao có bài viết “Nói tốt đất nước và lãnh tụ”. Nội dung bài viết không có gì mới ngoài việc trì triết, trách móc, quy kết cho các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước có những bài phát biểu ca ngợi đất nước một cách thái quá và những người khác “mặc dù nói tốt – xấu, dở – hay đều phải vỗ tay, tán thưởng, còn những người nói xấu lại có tội thậm trí bị phạt vạ tù đầy”. Nhận định sai trái này, được thể hiện cụ thể trên những vấn đề sau.

Thứ nhất, những bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đều xuất phát từ thực tiễn đất nước, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc 

Luận điệu cho rằng, “lãnh tụ nói là mọi người phải biết lắng nghe, phải vỗ tay và nhiệt liệt tán thưởng” là hoàn toàn sai trái, phản động, không đúng với thực tế đã và đang diễn ra. Bởi thực tế những bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, có sự nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện, sâu sắc từ nhiều lĩnh vực, thể hiện tập trung cao độ trí tuệ ở bài viết của mình. Nội dung bài phát biểu luôn bám sát thực tiễn xã hội, phù hợp với xu thế của thời đại, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, thể hiện được khát vọng ước muốn vươn lên của dân tộc. Vì thế, những phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân, tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Không phải ngẫu nhiên mà một không khí phấn khởi, tin tưởng ngày càng lan toả sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, tác động tích cực, mạnh mẽ trên khắp cả nước và được nhiều bạn bè quốc tế ghi nhận.

Thứ hai, con người Việt Nam có trình độ, tri thức văn hoá ngày càng cao biết phân biệt rõ đúng – sai, tốt – xấu

Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, trình độ, tri thức văn hoá sự hiểu biết của con người Việt Nam về thế giới xung quanh, về những sự vật, hiện tượng đã và đang diễn ra; đặc biệt là những thành tựu của đất nước sau hơn 30 năm đổi mới không ngừng được nâng cao về mọi mặt. Điều này, được biểu hiện ở việc mỗi giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội đều thể hiện rõ chứng kiến của mình trong việc phát huy những truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Không ngại khó khăn, gian khổ đều đồng tâm, đồng lòng hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, là công dân tốt, tích cực có những đóng góp vào những hoạt động phát triển kinh tế – xã hội địa phương; xoá đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, không vào hùa với những quan điểm sai trải, phản động, những thói hư, tật xấu, tệ nạn tiêu cực.

Thực tiễn cho thấy, mỗi con người Việt Nam từ đồng bằng cho đến miền núi, từ nông thôn cho đến đô thị đều có quan điểm, thái độ rất rõ ràng trong việc phân định giữa đúng – sai, tốt – xấu, tán thành, ủng hộ những quan điểm, đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn, thời điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tích cực, chủ động đấu tranh loại bỏ ra khỏi xã hội những sản phẩm văn hoá độc hại, những cái xấu, cái sai trái đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc để từng bước hoàn thiện bản thân về đạo đức, lối sống. Ông cha ta đã nói: “Chim khôn kêu tiếng rảng rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”. Với những người đầu óc mộng du, u mê thì khó có thể phân biệt được tốt – xấu, đúng – sai một cách tường tận, rõ ràng. Nhân dân Việt Nam có trình độ nhận thức khá cao về mọi mặt nên tự họ sẽ cảm nhận được những thay đổi sâu sắc đang diễn ra trên quê hương đất nước mình có được là do sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội.

Vì vậy, hành động ca ngợi cái tốt, phê phán cái xấu là lẽ thường tình của mọi người dân Việt Nam. Những người “mộng du” không hiểu rõ tình hình nay, thì không thể bàn luận đến cái tốt và cái xấu. Có chăng, đó chỉ là hành động gây nhiễu loạn tình hình, tâm lý và tư tưởng, niềm tin của nhân dân trước những thành tựu rực rỡ của đất nước.

 

Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm - những căn bệnh cần phải được chữa trị!


Hiện nay, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đang trở thành căn bệnh ngày càng trầm trọng, lây lan trong xã hội. Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết, “tương thân, tương ái”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Truyền thống ấy luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, vun đắp nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; kinh tế ngày càng khởi sắc, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Song, những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống nước ngoài, nhất là lối sống thực dụng không phù hợp với truyền thống văn hóa và đạo lý dân tộc đã khiến một bộ phận trong xã hội ngày càng trở nên vô cảm, thờ ơ, thiếu trách nhiệm và trở thành căn bệnh làm mờ nhạt những truyền thống tốt đẹp đó.

Hiện nay, trên nhiều diễn đàn, các phương tiện thông tin truyền thông đã cảnh báo và đưa nhiều minh chứng về sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm gây bức xúc trong xã hội. Thờ ơ, vô cảm đã cho thấy sự thể hiện trơ lì về cảm xúc, dửng dưng trước các sự việc xung quanh; thờ ơ với nỗi đau khổ, mất mát của người khác, chỉ biết quan tâm đến lợi ích của mình. Chính sự thờ ơ, vô cảm ấy mà thấy tốt không ủng hộ, thấy xấu không lên án, ngại va chạm tạo điều kiện, tiếp tay cho cái xấu, cái ác nảy nở.

Không thể đổ lỗi cho nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, trong xã hội vẫn không thiếu những người tốt, những câu chuyện về “người tử tế”, những câu chuyện ấm áp lòng người như những hiệp sĩ đường phố, về người đi xây cầu từ thiện, những tấm gương quên mình cứu người giữa dòng nước lũ; tấm lòng của các nhà hảo tâm chung tay ủng hộ những mảnh đời khó khăn, bất hạnh trong cơn hoạn nạn… đã góp phần xây dựng lối sống hướng thiện, một xã hội, cộng đồng tốt đẹp, nhân văn…

Để chữa trị căn bệnh này cần phát huy vai trò, sức mạnh của toàn dân. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền làm thức dậy tình thương yêu con người, đồng loại, sự hy sinh và trách nhiệm đối với xã hội. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội và cá nhân trong đấu tranh, ngăn ngừa căn bệnh thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; khuyến khích các hoạt động nhân ái, bao dung, nghĩa hiệp, chống lại cái xấu, vun đắp và xây dựng những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.