Thứ Tư, 4 tháng 12, 2024

Quan niệm chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Dân chủ có nghĩa là quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, dân là chủ, dân làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ là một quan hệ xã hội thể hiện sự bình đẳng về quyền lực giữa các công dân và cộng đồng trong một chế độ xã hội. Dân chủ phản ánh khát vọng, nhu cầu bình đẳng về quyền lực của con người trong đời sống xã hội. Dân chủ bị chi phối bời trình độ phát triển kinh tế, cơ cấu xã hội, trình độ dân trí, văn hóa và các nhân tố khác.

Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái chính trị của nhà nước, mà ở đó chính thức thừa nhận quyền bình đẳng giữa các công dân, thừa nhận mọi người có quyền ngang nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước, đồng thời chế độ dân chủ cũng là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống bắt buộc đối với mọi người để bảo đảm dân chủ chung cho toàn xã hội. Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen, C.Mác chỉ rõ: “Chế độ dân chủ là chế độ nhà nước… chế độ dân chủ là sự tự quy định của nhân dân… chế độ dân chủ ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân”[1]. Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng: “Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước. Cho nên, cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta. Một mặt thì như thế. Nhưng mặt khác, chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhận quyền bình đẳng giữa những công dân, thừa nhận cho mọi người được quyền ngang nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước”[2].

Từ những tư tưởng đó của các nhà kinh điển, có thể thấy: Không phải nhà nước nào cũng là chế độ dân chủ; chế độ dân chủ chỉ là một trong những hình thức nhà nước, mà trong đó từ cơ cấu tổ chức, bộ máy, hoạt động của nó dựa trên nguyên tắc quyền lực của nhân dân; sự ra đời, phát triển của một chế độ dân chủ gắn liền với sự ra đời, phát triển của nhà nước nhất định. Cơ sở kinh tế của chế độ dân chủ thể hiện trực tiếp ở chế độ sở hữu các tư liệu sản xuất của xã hội. Cơ sở xã hội của một chế độ dân chủ không chỉ là giai cấp cầm quyền mà còn là các giai cấp và tầng lớp khác cấu thành dân tộc, các cộng đồng dân cư trong xã hội. Do vậy, tính dân tộc và tính xã hội là đặc tính khách quan của bất cứ một chế độ dân chủ nào. Dân chủ chịu sự qui định của tính chất, trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, dân trí, đặc điểm dân tộc...

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa - hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bao gồm toàn bộ những thể chế, thiết chế, cơ chế, quy chế được thể chế hóa thành luật pháp, thể hiện và bảo đảm các quyền dân chủ, quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, phát huy tính chủ động, sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và toàn thể những người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa tư bản. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ khác biệt về bản chất và nguyên tắc so với chế độ dân chủ tư sản - đó là chế độ dân chủ của đông đảo nhân dân trong xã hội, quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân tự tổ chức và thực hiện, trước hết và chủ yếu là thông qua nhà nước của mình. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng và văn hóa nhất định. Về kinh tế là chế độ công hữu thay thế cho chế độ tư hữu; về chính trị là khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước; về tư tưởng và văn hóa là hệ tư tưởng Mác - Lênin cũng như các quan hệ xã hội thấm sâu giá trị văn hoá dân chủ nhân văn, nhân đạo.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 349.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 123.

Cảnh giác trước luận điệu phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 

Phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nó cho rằng khoa học công nghệ hiện đại càng phải triển thì lợi nhuận, đời sống xã hội sẽ được nâng cao hơn, tuy còn sự bần cùng hóa công nhân, nhưng mâu thuẫn đối kháng trong xã hội sẽ ít gay gắt hơn, nhờ sự điều chỉnh lợi ích của tư sản và chính sách phúc lợi của xã hội, vì vậy sẽ không cần phải tiến hành cách mạng xã hội và không có sứ mệnh lịch sử như Mác xác định cho giai cấp công nhân. Trong nền công nghiệp hiện đại, thời đại cách mạng khoa học và công nghệ tiên tiến thi giai cấp công nhân cùng lắm cũng chỉ là lực lượng đông đảo góp phần xây dựng xã hội tiến bộ, chứ không thể đủ trình độ lãnh đạo xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ như các nhà trí thức, các nhà tư sản. Sứ mệnh “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” của giai cấp công nhân bị nghi ngờ tại đất nước mình với đủ các điều kiện để trở thành người làm chủ nhưng họ lại thích được bị bóc lột hơn là trở thành người làm chủ; ở các nước tư bản phát triển, công nhân có chất lượng rất cao, ấy vậy mà đến nay cũng không thực hiện được và không muốn thực hiện “sứ mệnh lịch sử thế giới” của mình. Sự phát triển èo ọt của công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, công nhân không đủ điều kiện phát triển đầy đủ các tính chất cách mạng của mình; Đảng Cộng sản Việt Nam cũng rất ít tính chất công nhân, nên tất yếu công nhân và chính đảng của nó không thể thực hiện được sứ mệnh như đã vạch ra.

Cảnh giác trước luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

 

Nó công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng dẫu quá khứ có một số việc Đảng làm được, nhưng nay sang thời kỳ Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước. Nó bác bỏ Cương lĩnh, đường lối, quan điểm và các nguyên tắc cơ bản về chính trị, tư tưởng và tổ chức hoạt động của Đảng; phê phán Đảng là độc tài, độc đoán, thủ tiêu dân chủ và động lực phát triển đất nước; đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đang nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nó mô tả Đảng ta là một bộ máy tham nhũng, lợi ích nhóm, nguyên nhân của xã hội mất dân chủ, tự do; tung tin bịa đặt trong Đảng có phe này, phái nọ; bịa đặt, nói xấu lãnh đạo cấp cao, vu cáo cán bộ của Đảng và Nhà nước.

Cảnh giác trước luận điệu phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 

Phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nó cho rằng khoa học công nghệ hiện đại càng phải triển thì lợi nhuận, đời sống xã hội sẽ được nâng cao hơn, tuy còn sự bần cùng hóa công nhân, nhưng mâu thuẫn đối kháng trong xã hội sẽ ít gay gắt hơn, nhờ sự điều chỉnh lợi ích của tư sản và chính sách phúc lợi của xã hội, vì vậy sẽ không cần phải tiến hành cách mạng xã hội và không có sứ mệnh lịch sử như Mác xác định cho giai cấp công nhân. Trong nền công nghiệp hiện đại, thời đại cách mạng khoa học và công nghệ tiên tiến thi giai cấp công nhân cùng lắm cũng chỉ là lực lượng đông đảo góp phần xây dựng xã hội tiến bộ, chứ không thể đủ trình độ lãnh đạo xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ như các nhà trí thức, các nhà tư sản. Sứ mệnh “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” của giai cấp công nhân bị nghi ngờ tại đất nước mình với đủ các điều kiện để trở thành người làm chủ nhưng họ lại thích được bị bóc lột hơn là trở thành người làm chủ; ở các nước tư bản phát triển, công nhân có chất lượng rất cao, ấy vậy mà đến nay cũng không thực hiện được và không muốn thực hiện “sứ mệnh lịch sử thế giới” của mình. Sự phát triển èo ọt của công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, công nhân không đủ điều kiện phát triển đầy đủ các tính chất cách mạng của mình; Đảng Cộng sản Việt Nam cũng rất ít tính chất công nhân, nên tất yếu công nhân và chính đảng của nó không thể thực hiện được sứ mệnh như đã vạch ra.

Cảnh giác trước luận điệu phủ nhận các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác

 

Phủ nhận các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác về hình thái kinh tế - xã hội, coi đó là ảo tưởng, “không tưởng”, không thể thực hiện được, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu là tất yếu, đã được báo trước. Nó phủ nhận nguyên lý về cách mạng xã hội chủ nghĩa, coi đó là con đường sai lầm, đập vỡ xã hội, triệt tiêu thành quả nhân loại, là bước thụt lùi trong sự tiến hóa của loài người, gây nên bất bình đẳng, nghèo nàn, lạc hậu. Nó phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư, tuyệt đối hóa học thuyết “đấu tranh sinh tồn”; lợi dụng các quy luật của chủ nghĩa Mác để bào chữa cho sự bóc lột; khẳng định không phải nhà tư bản nào cũng bóc lột, chủ nghĩa tư bản ngày càng văn minh hơn, nhân văn hơn, tiền công và đời sống của công nhân các nước tư bản được trả cao hơn nhiều lần dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Cảnh giác trước luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, nó cho rằng Hồ Chí Minh “nhập khẩu” chủ nghĩa Mác vào Việt Nam; thực chất là người dân tộc chủ nghĩa; truyền bá mù quáng, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện chứ không có tư tưởng cao siêu; đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm có tính chất lịch sử đối với dân tộc; “không có gì quý hơn độc lập tự do” là tư tưởng phi nhân tính, tác hại lâu dài đến dân tộc, cần được thay thế bằng chủ nghĩa khác - “chủ nghĩa dân tộc hài hòa và đại đồng”. Nó phủ nhận tư tưởng, đạo đức, bôi nhọ nhân cách, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vì dân, vì nước, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.