Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Hoàn cảnh lịch sử Sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học từ năm 1924 đến năm 1945

 


Từ năm 1924 đến năm 1945, sau thời kỳ ổn định tạm thời, chủ nghĩa tư bản lại lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế mới, lúc đầu ở những nước tư bản châu Âu, đến năm 1929 lan sang Mỹ, Canada, Nhật Bản và các nước tư bản khác. Khủng hoảng kinh tế - xã hội, làm cho mâu thuẫn xã hội ở các nước tư bản phát triển gay gắt. Để giải quyết mâu thuẫn, các nước tư bản phát xít hóa bộ máy trong nước, cắt xén dân chủ, tăng cường chuẩn bị chiến tranh. Từ giữa những năm 30 của thế kỷ XX, nguy cơ chiến tranh thế giới tăng nhanh. Trong thời gian chuẩn bị chiến tranh, các lực lượng phát xít ở các nước đẩy mạnh thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại phản động, tìm mọi cách đàn áp lực lượng đối lập trong nội bộ nước mình, xóa bỏ quyền tự do dân chủ tư sản, tấn công vào quyền lợi của nhân dân lao động và bắt nền kinh tế và chính trị phục vụ mục tiêu chuẩn bị chiến tranh xâm lược. Tình thế đó, đòi hỏi các lực lượng tiến bộ phải tăng cường cuộc đấu tranh chống nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh.

Ngày 01/ 9/1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, mở đầu Chiến tranh thế giới thứ Hai. Sau khi chiếm hầu hết các nước châu Âu, ngày 22/6/1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô. Trong giai đoạn đầu, quân Đức đã thu được những thắng lợi lớn, tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô. Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân Liên Xô tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại. Đến tháng 11 năm 1942, cuộc phản công chiến lược của Hồng quân Liên Xô mở màn ở Xtalingrát. Ngày 09/5/1945, Liên Xô và lực lượng Đồng minh đã chiến thắng chủ nghĩa phát xít, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong giai đoạn này có nhiều biến đổi. Sau thời kỳ ổn định tạm thời, sự khủng hoảng của các nước tư bản thúc đẩy cao trào cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản. Tiêu biểu là, phong trào cộng sản và công nhân ở Đức, Anh, Pháp, Ý, và Tây Ban Nha. Bên cạnh đó, trong bối cảnh mới, giai cấp công nhân ở nhiều nước lại chịu ảnh hưởng, tác động của chủ nghĩa cải lương; chủ nghĩa cơ hội, từ đó, đã tạo ra ảo tưởng vào chủ nghĩa tư bản; một số đảng cộng sản bị phân tán, chia rẽ thành, gây cản trở, ảnh hưởng đến hoạt động của phong trào công nhân.

Trong giai đoạn này, Liên Xô đạt được nhiều thành tựu to lớn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Liên Xô (tháng 12 năm 1925) đã xác định nhiệm vụ chiến lược của Đảng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Từ năm 1928 Liên Xô đã đề ra các kế hoạch 5 năm và đã hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hóa, trở thành một cường quốc công nghiệp đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ). Liên Xô là lực lượng đi đầu, chủ chốt góp phần quyết định cùng lực lượng Đồng minh và nhân loại tiến bộ chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Quốc tế Cộng sản (1919 - 1943) ra đời và có nhiều đóng góp đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc. Dù có một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, Quốc tế Cộng sản đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, thiết lập chuyên chính vô sản ở một số nước; thúc đẩy sự ra đời của một loạt đảng cộng sản ở các nước; củng cố tình đoàn kết giữa giai cấp công nhân các nước trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản; định ra chiến lược, sách lược đúng cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng như phong trào giải phóng dân tộc các nước thuộc địa.

Dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, sự giúp đỡ của Liên Xô, nhất là sự chỉ đạo, giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc có sự phát triển. Phong trào giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản và là một bộ phận hợp thành phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Sau khi V.I.Lênin mất, quá trình bảo vệ, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn này tập trung ở các đại hội Quốc tế Cộng sản, ở cương lĩnh, nghị quyết của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế. Trong đó, có vai trò rất lớn của I.V.Xtalin trong giai đoạn này.

 

Về vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chiến tranh và hòa bình


Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, nước Nga bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi chiến tranh thế giới vẫn tiếp diễn và đứng trước sự chống phá quyết liệt của thù trong và giặc ngoài, V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến một trong những chức năng quan trọng nhất của chính quyền của giai cấp công nhân là bảo vệ những thành quả cách mạng của nhân dân. V.I.Lênin khẳng định: Cách mạng chỉ có thể đứng vững nếu nó biết tự bảo vệ mình.

V.I.Lênin cho rằng phải bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tán thành “Bảo vệ tổ quốc”. Nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tư cách là Tổ quốc, bảo vệ nước cộng hòa Xô viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[1].

Nội dung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lênin, bao gồm cả bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ của dân tộc, những thành tựu kinh tế và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để bảo vệ Tổ quốc, Người cho rằng, phải vũ trang cho quần chúng, đồng thời phải xây dựng Hồng quân công - nông đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.

Người đã quan tâm đến việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Hồng quân. Chính từ đó V.I.Lênin đã phát triển thành học thuyết về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, về những nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. V.I.Lênin đã chỉ rõ, sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó khẳng định vai trò quyết định của nhân tố chính trị, tinh thần trong chiến tranh. Người nói: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”[2].

V.I.Lênin đã kế tục, bảo vệ và phát triển lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen về quân đội và vận dụng xây dựng thành công quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản ở nước Nga Xô viết. Những nguyên tắc cơ bản về xây dựng Hồng Quân theo V.I.Lênin đó là: Đảng cộng sản lãnh đạo Hồng quân, tăng cường bản chất giai cấp công nhân; đoàn kết thống nhất quân đội với nhân dân; tăng cường với chủ nghĩa quốc tế vô sản; xây dựng chính quy; không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức; phát triển hài hòa các quân chủng,binh chủng; sẵn sàng chiến đấu. Trong đó sự lãnh đạo của đảng cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định sức mạnh, sự tồn tại, phát triển, chiến đấu, chiến thắng của Hồng quân.

V.I.Lênin cũng đề cập đến nội dung và lực lượng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Những nội dung đó bao gồm cả bảo vệ độc lập dân tộc, những thành tựu kinh tế và chế độ xã hội chủ nghĩa. Lực lượng bảo vệ đó là quần chúng được vũ trang dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, mà nòng cốt là quân đội - Hồng quân công nông.

Những luận điểm trên của V.I.Lênin đã góp phần to lớn bảo vệ và phát triển những lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học và thực tiễn đấu tranh của phong trào cộng sản - công nhân quốc tế trong điều kiện lịch sử mới. Ngày nay, những nguyên tắc về xây dựng quân đội kiểu mới của V.I.Lênin vẫn giữ nguyên giá trị. Đó là lý luận cho các đảng cộng sản đề ra phương hướng tổ chức, xây dựng quân đội của mình.



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, Nhiệm vụ chủ yếu của thời đại chúng ta” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.102.

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 41, Diễn văn tại hội nghị mở rộng của công nhân và binh sĩ” (1920), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.147. 

Về phê bình và tự phê bình trong đảng theo quan điểm của V.I.Lênin


Trong “Thư gửi các đảng bộ Đảng cộng sản Nga về việc chuẩn bị đại hội đảng”, các báo cáo và diễn văn đọc tại Đại hội IX Đảng cộng sản (b) Nga, các bài báo và bài phát biểu nói với quần chúng, V.I.Lênin nêu các vấn đề tổ chức quản lý kinh tế, công nhân hóa bộ máy nhà nước, các công đoàn tham gia xây dựng kinh tế, đấu tranh thói quan liêu và đặc biệt phải luôn phê bình và tự phê bình.

Đảng cộng sản không bao giờ để cho những thắng lợi cám dỗ, không bao giờ dừng lại ở những thành quả đã đạt được, mà sẽ ra sức phấn đấu đạt những thắng lợi mới. Vũ khí mạnh nhất trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện bàng quan và tự cao tự đại, điều kiện cơ bản để tăng cường năng lực chiến đấu của đảng là phê bình và tự phê bình, một phương pháp công tác đã được thử thách, một biện pháp để vạch ra và sửa chữa những sai lầm và khuyết điểm, để giáo dục đúng đắn đội ngũ cán bộ. V.I.Lênin nhắc đảng ngăn ngừa tính tự mãn: “Sau cùng, tôi hy vọng rằng, vô luận thế nào, chúng ta cũng sẽ không để cho đảng ta rơi vào tình trạng một đảng tự kiêu, tự đại

Năng lực chuyển đổi số của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường quân đội hiện nay

 Chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo ở các trường đại học nói chung và các trường quân đội nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Nâng cao năng lực chuyển đổi số của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường quân đội là vấn đề cấp thiết, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận. Bài viết phân tích lý luận về năng lực chuyển đổi số của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường quân đội, từ đó đề xuất giải pháp phát triển năng lực này trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

1. Mở đầu

Hiện nay, chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, khách quan, là vấn đề sống còn, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của mọi quốc gia, dân tộc. Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh chuyển đổi số trên tất cả các lĩnh vực, trong đó quốc phòng là lĩnh vực được quan tâm đầu tư và phát triển. Thực hiện chủ trương, định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân quyết liệt quán triệt, nâng cao nhận thức, xây dựng, củng cố hạ tầng kỹ thuật, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.

Giảng viên khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) ở các nhà trường quân đội là lực lượng được đào tạo cơ bản, chuyên sâu về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có vai trò quan trọng góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Trong kỷ nguyên mới, vai trò của đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội ngày càng được nâng cao đáp ứng yêu cầu mới về phẩm chất, trình độ, năng lực, nhất là năng lực chuyển đổi số. Đây là vấn đề cốt lõi, quyết định đến thắng lợi của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, cũng như trong quân đội. Do đó, năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV là điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận trong môi trường chuyển đổi số.

2. Nội dung

2.1. Lý luận về năng lực chuyển đổi số của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường quân đội

Năng lực là phạm trù được luận bàn trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, năng lực là: “1- Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; 2- Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”(1). Như vậy, năng lực có thể hiểu là tổng hòa các yếu tố tri thức, kỹ năng và thái độ của chủ thể tạo thành sức mạnh chủ quan, được chủ thể huy động vào thực hiện một hoạt động thực tiễn nhất định với mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, điều kiện cụ thể.

Bàn về chuyển đổi số, các nhà nghiên cứu đã có những cách tiếp cận đa chiều. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, chuyển đổi số là “bước phát triển tiếp theo của tin học hóa, có được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số”; là “quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên công nghệ số”(2). Như vậy, chuyển đổi số là quá trình sử dụng công nghệ số để thay đổi căn bản phương pháp, cách thức hoạt động của chủ thể nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng, tăng cường giá trị, đổi mới sáng tạo, tạo ra mô hình, phương thức quản lý, điều hành mới. Chuyển đổi số không đơn thuần là việc áp dụng công nghệ số mà còn bao hàm sự thay đổi trong tư duy, văn hóa tổ chức, cách thức vận hành để tận dụng tối đa tiềm năng mà công nghệ số mang lại, tạo ra giá trị mới. Cần phân biệt giữa số hóa và chuyển đổi số, bởi điều này có ý nghĩa quan trọng trong xác định nhận thức, hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của cá nhân đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu cụ thể. Theo đó, số hóa là mắt xích quan trọng, bước đầu tiên trong quá trình chuyển đổi số, là quá trình biến đổi các giá trị, thông tin thực sang giá trị, thông tin số, là quá trình ứng dụng công nghệ thông tin vào vận hành, giúp việc xử lý thông tin trở nên dễ dàng, nâng cao hiệu suất, hiệu quả trong công việc.

Trên cơ sở tiếp cận đó, năng lực chuyển đổi số có thể hiểu là khả năng của một tổ chức, cá nhân hoặc hệ thống trong việc áp dụng, khai thác và tận dụng các công nghệ số để cải thiện hiệu quả hoạt động, đổi mới quy trình, tối ưu hóa tài nguyên và tạo ra giá trị mới. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc chuyển đổi số trong giáo dục là mục tiêu quan trọng của quốc gia, nhất là yêu cầu về năng lực chuyển đổi số của các chủ thể.

Giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội là đội ngũ sĩ quan chính trị được đào tạo cơ bản, chuyên sâu về sư phạm theo các chuyên ngành KHXH&NV, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ, năng lực đảm nhiệm giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận ở các nhà trường quân đội. Cùng với đó, KHXH&NV là một trong những ngành khoa học được Đảng, Nhà nước và Quân đội quan tâm, chú trọng, đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trong toàn quân. Do đó, năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội có vai trò to lớn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm của người giảng viên, đồng thời đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia và của Quân đội.

Năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội là tổng hòa các yếu tố tri thức, kỹ năng và thái độ tạo thành sức mạnh chủ quan của giảng viên được huy động vào khai thác, ứng dụng công nghệ số để cải thiện chất lượng, hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận gắn với quá trình đào tạo ở các nhà trường quân đội trong điều kiện lịch sử cụ thể.

Về cấu trúc, năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội bao gồm hệ thống tri thức khoa học chuyên ngành, liên ngành và tri thức về chuyển đổi số; kỹ năng chuyển đổi số trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận; thái độ, trách nhiệm trong chuyển đổi số. Các yếu tố này có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau:

Một là, tri thức khoa học chuyên ngành, liên ngành và tri thức chuyển đổi số. Đó là tri thức lý luận chính trị, tri thức khoa học xã hội và nhân văn bao gồm những hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng, tâm lý học quân sự, công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang và khoa học nghệ thuật quân sự, sư phạm quân sự,... Đồng thời, có hiểu biết, tri thức về chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo quân đội, từ đó tạo được nhận thức đúng đắn, chuyển đổi về tư duy, chuyển đổi về các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số; những hiểu biết về các công cụ, nền tảng công nghệ số.

Hai là, kỹ năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm trong ứng dụng công nghệ số vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận. Trong giảng dạy, đó là kỹ năng sử dụng thành thạo công nghệ số trong phát triển chương trình, biên soạn tài liệu; giảng dạy và đánh giá. Trong nghiên cứu khoa học, đó là kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu số trong lựa chọn, xác định vấn đề nghiên cứu; kỹ năng thu thập và xử lý thông tin số dựa trên các phần mềm phân tích dữ liệu; kỹ năng ứng dụng công nghệ số vào báo cáo, trình bày kết quả nghiên cứu, số hóa công trình nghiên cứu trên nền tảng số. Trong đấu tranh tư tưởng, lý luận, đó là kỹ năng nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch; kỹ năng phân tích và phản biện trên không gian mạng; xây dựng nội dung tuyên truyền số.

Ba là, thái độ tích cực, tinh thần trách nhiệm trong thực hiện các nhiệm vụ, bản lĩnh chính trị của người giảng viên. Giảng viên phải có thái độ tích cực học hỏi, thích ứng với các công nghệ mới trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận, đồng thời thể hiện được tinh thần đổi mới sáng tạo trong ứng dụng công nghệ số để nâng cao chất lượng chuyên môn. Giảng viên có trách nhiệm cam kết mang lại giá trị tri thức cao nhất cho học viên thông qua các phương pháp, cách thức giảng dạy hiện đại, phù hợp; trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học bảo đảm tính chính xác, khách quan, khoa học; trách nhiệm trong kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Đặc biệt, trong bối cảnh internet và mạng xã hội bùng nổ thì việc giữ vững bản lĩnh, kiên định về lập trường chính trị, không phai nhạt tư tưởng, đạo đức cách mạng của giảng viên phải được đặt lên hàng đầu, nhất là tinh thần sẵn sàng đối mặt với những thách thức về tư tưởng trên không gian số.

Các yếu tố cấu thành năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội vừa có tính thống nhất, vừa có tính riêng biệt tạo thành một chỉnh thể sức mạnh chủ quan của người giảng viên, góp phần xây dựng năng lực toàn diện, giúp người giảng viên khai thác, ứng dụng hiệu quả công nghệ số vào nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận trong điều kiện lịch sử - cụ thể hiện nay.

2.2. Giải pháp phát triển năng lực chuyển đổi số của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường quân đội

Để tạo bước đột phá chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo quân sự, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển năng lực chuyển đổi số đối với giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội có ý nghĩa cấp thiết, cụ thể:

Một là, nâng cao nhận thức của các chủ thể về phát triển năng lực chuyển đổi số của giảng viên

Cấp ủy, chỉ huy các cấp ở các nhà trường quân đội là chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo phát triển năng lực chuyển đổi số của giảng viên. Do đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nâng cao nhận thức về nội dung, yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo, tầm quan trọng của năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt thực hiện nghiêm công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm tạo chuyển đổi về nhận thức một cách toàn diện đối với toàn thể quân nhân trong đơn vị, trên cơ sở đó thống nhất giữa nhận thức và hành động trong chuyển đổi số. Nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của giảng viên KHXH&NV là một trong những chủ thể trung tâm của chuyển đổi số, mối quan hệ giữa giảng viên KHXH&NV và công nghệ số, mối quan hệ giữa thể chế, chính sách và công nghệ số, từ đó đưa các nội dung chuyển đổi số, năng lực chuyển đổi số của giảng viên vào chiến lược phát triển, nghị quyết lãnh đạo của đảng ủy nhà trường.

Cơ quan chức năng ở các nhà trường quân đội là chủ thể có trách nhiệm tham mưu, đề xuất với đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu) về chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, từ đó xây dựng hướng dẫn, kế hoạch triển khai cụ thể, sát thực nhằm phát triển năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV gắn với mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo của nhà trường. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV; kịp thời đề xuất biểu dương, khen thưởng, nhân rộng điển hình tiên tiến trong khai thác, áp dụng công nghệ số vào giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Giảng viên KHXH&NV cần phát huy tính tích cực, tự giác trong tích lũy, trau dồi tri thức, rèn luyện kỹ năng, xây dựng thái độ, trách nhiệm tích cực, đúng đắn đối với công cuộc chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo ở các nhà trường quân đội.

Năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy chất lượng giáo dục, nghiên cứu khoa học, và đấu tranh tư tưởng, lý luận trong bối cảnh chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc.

Hai là, nâng cao trình độ kiến thức toàn diện, bồi dưỡng kỹ năng, xây dựng thái độ đúng đắn cho giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội về chuyển đổi số

Đây là giải pháp quan trọng góp phần nâng cao từng yếu tố cấu thành năng lực chuyển đổi số của giảng viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp, cơ quan tham mưu đề xuất tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu, nâng cao trình độ tri thức khoa học chuyên ngành và liên ngành trong kỷ nguyên mới; xây dựng các chương trình tập huấn tích hợp giữa KHXH&NV và công nghệ số, nội dung cơ bản, cốt lõi về chuyển đổi số, cách thức, phương pháp khai thác, ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số trong giảng dạy như kỹ năng thiết kế bài giảng tương tác, giáo án trực tuyến (E-learning), phương pháp, cách thức giảng dạy trực tuyến, dạy học kết hợp, số hóa nội dung, tài liệu, hệ thống quản lý học tập (LMS) với việc phát huy vai trò của người học, lấy người học là trung tâm của chuyển đổi số. Xây dựng, tổ chức các lớp học tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số trong nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận bao gồm hướng dẫn sử dụng thư viện số, xuất bản các nghiên cứu khoa học trên nền tảng số, bài giảng điện tử về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Quân đội. Xây dựng thái độ tích cực của giảng viên về công tác chuyển đổi số giáo dục, đào tạo trong quân đội, vai trò năng lực chuyển đổi số, từ đó thúc đẩy nhận thức và hành động, tri thức và kỹ năng chuyển đổi số của giảng viên.

Ba là, xây dựng môi trường chuyển đổi số tích cực ở các nhà trường quân đội

Môi trường chuyển đổi số tích cực đóng vai trò nền tảng trong phát triển năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV. Môi trường này cần đáp ứng yêu cầu về nền tảng cơ sở số, thể chế, chính sách khuyến khích giảng viên KHXH&NV hoàn thiện năng lực chuyển đổi số và văn hóa số trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và đấu tranh tư tưởng, lý luận. Về nền tảng cơ sở số, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần nâng cao, đầu tư công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực số, nhất là đội ngũ giảng viên KHXH&NV bảo đảm đáp ứng tiêu chí về năng lực chuyển đổi số và hệ thống cơ sở công nghệ thông tin, phần mềm hỗ trợ dạy - học, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận. Về thể chế, chính sách, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để giảng viên KHXH&NV tham gia nâng cao trình độ, năng lực chuyển đổi số; có cơ chế khen thưởng, biểu dương kịp thời, khuyến khích tư duy đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận. Về văn hóa số, các chủ thể ở các nhà trường quân đội cần xây dựng, phát triển văn hóa làm việc số, chuyển đổi nhận thức, chuyển đổi mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động đổi mới sáng tạo của giảng viên KHXH&NV trong phát triển năng lực chuyển đổi số

Năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội được tạo nên từ nhiều yếu tố, trong đó nhân tố chủ quan có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả, chất lượng phát triển năng lực chuyển đổi số. Trước hết, giảng viên KHXH&NV phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong tự đào tạo, tự bồi dưỡng năng lực chuyển đổi số của bản thân thông qua tích lũy tri thức, phát triển kỹ năng, xây dựng thái độ tích cực, đúng đắn về chuyển đổi số. Thứ hai, xây dựng đức tính kiên trì, bền bỉ, niềm tin trong phát triển năng lực chuyển đổi số. Trong đó, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn tới cái mới trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận. Thứ ba, giảng viên KHXH&NV thể hiện sự gương mẫu, tiên phong trong phát huy tư duy đổi mới sáng tạo nhằm phát triển năng lực chuyển đổi số của bản thân.

3. Kết luận

Năng lực chuyển đổi số của giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy chất lượng giáo dục, nghiên cứu khoa học, và đấu tranh tư tưởng, lý luận trong bối cảnh chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc. Trong kỷ nguyên số, khi công nghệ đóng vai trò quyết định trong mọi lĩnh vực, việc phát triển năng lực chuyển đổi số của giảng viên là yếu tố then chốt để các nhà trường quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ quân đội vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn và làm chủ công nghệ. Chuyển đổi số quốc gia mang đến nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo và đổi mới không ngừng từ đội ngũ giảng viên KHXH&NV. Việc xây dựng và phát triển năng lực chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu bắt buộc, mà còn là trách nhiệm cao cả trong truyền tải tri thức, hình thành bản lĩnh chính trị và góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng.

 

Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng

 

Xây dựng Đảng về đạo đức là tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa tư tưởng của Người và vận dụng trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bài viết khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức và việc vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn xây dựng Đảng về đạo đức.

1. Mở đầu

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Tư tưởng đạo đức của Người đã trở thành nền tảng quan trọng trong việc xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi nói về những vĩ nhân và sự ưu việt của các học thuyết trong lịch sử nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, C. Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội”(1)... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy. Dù Khổng tử, Giêsu, hay C.Mác, Tôn Dật Tiên khác nhau về màu da, tiếng nói, thời đại thì cũng đều có điểm chung là tinh thần yêu thương con người đến vô cùng, đó chính là đạo đức cốt lõi của con người. Hồ Chí Minh tìm thấy điểm hội tụ, tương đồng để từ đó người tích hợp, chuyển hóa thành giá trị đạo đức của người cách mạng, coi đạo đức là yếu tố tất yếu để ở đời và làm người.

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của đạo đức trong việc xây dựng và phát triển Đảng; việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức là cần thiết trong giai đoạn hiện nay để tìm ra các giải pháp thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên.

2. Nội dung

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh rất đề cao, chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là yếu tố sống còn cho sự tồn tại, phát triển và lãnh đạo của Đảng. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin về vai trò của công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức trong xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh còn đặc biệt bổ sung, nhấn mạnh đến yếu tố đạo đức trong xây dựng Đảng, nhiều thời điểm Người còn đề cao đạo đức hơn các công tác khác đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Vì đạo đức là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là một bộ phận năng động nhất của thế giới quan, nó chỉ đạo mọi tư duy và hành động của con người. Sự suy thoái về đạo đức là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng và cái chết về đạo đức sớm muộn cũng sẽ dẫn đến cái chết về chính trị. Bởi vậy, người có đạo đức “thà chết trong hơn sống nhục”, ngọc có thể nát nhưng gương sáng đạo đức phải lành(2).

Một là, đạo đức cách mạng là căn cốt trong xây dựng Đảng về đạo đức

Đây là một sáng tạo đặc sắc của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, bổ sung vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng một đảng vô sản kiểu mới, cùng với các phương diện khác như xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đó thực sự là một trong bốn trụ cột làm nên sự bền vững và trường tồn của Đảng.

Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc, là nền tảng của người cách mạng. Người nhấn mạnh rằng, như cây phải có rễ, sông suối phải có nguồn, người cách mạng phải lấy đạo đức cách mạng làm cơ sở để hoàn thành sự nghiệp cách mạng vô cùng khó khăn và gian khổ, bởi lẽ, “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3). Người luôn chú trọng xây dựng và củng cố Đảng về tổ chức, cùng với việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Người mong muốn đội ngũ này có đủ tài năng và phẩm chất đạo đức để Đảng vượt qua mọi hoàn cảnh và thử thách khó khăn để trở thành tổ chức cách mạng tiêu biểu nhất, đại diện cho trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, lương tâm, trách nhiệm và danh dự của dân tộc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức không chỉ tạo ra sức mạnh và là yếu tố quyết định cho sự thành công của mọi công việc mà còn thể hiện phẩm chất và uy tín của mỗi người. Đạo đức giúp người cách mạng kiên định trong mọi hoàn cảnh. Khi có đạo đức cách mạng, con người sẽ không sợ hãi, e ngại hay nao núng trước khó khăn, gian khổ, thất bại; và vẫn khiêm tốn, nhún nhường, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không vội vàng, không tham nhũng, không hủ hóa khi gặp thuận lợi và thành công. Đây chính là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, xuất phát từ lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và của nhân loại.

Hồ Chí Minh cho rằng, xây dựng Đảng về đạo đức trước hết được bằng giáo dục những phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ, đảng viên, bởi theo Người “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(4). Những người cộng sản phải là những người trung với nước, hiếu với dân, là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, là “tận trung, tận hiếu” đây là “điều chủ chốt nhất”, người đảng viên cộng sản phải yêu thương con người, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Điều này được Người so như bốn mùa của Trời, bốn phương của Đất, đủ thấy nó quan trọng như thế nào đối với người cách mạng. Đặc biệt, Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ cách mạng phải có tinh thần quốc tế trong sáng, đó là tinh thần đoàn kết vô sản, đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với nhân dân thế giới vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội.

Hai là, xây dựng đạo đức người đảng viên suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân

“Trung với nước” là trung thành với lợi ích của đất nước và lợi ích chung của nhân dân. Lợi ích của đất nước chính là độc lập, tự do của Tổ quốc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đất nước của nhân dân, đất nước của cả dân tộc, mọi người đều là “chủ nhân” của đất nước. Hồ Chí Minh khẳng định, mỗi người Việt Nam, dù ít hay nhiều, đều có lòng yêu nước, vì vậy “trung với nước” là đạo đức chung của mọi tầng lớp xã hội và mọi cá nhân. Trung với nước còn có nghĩa là trung thành với Đảng, nghĩa là cán bộ, đảng viên phải suốt đời theo đuổi mục tiêu, lý tưởng của Đảng và phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng, bởi lẽ “Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác”(5). Trung với Đảng chính là chấp hành triệt để đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.

“Hiếu với dân” có nghĩa là tôn trọng, tin tưởng vào dân, lắng nghe ý kiến của dân, gần gũi và hòa nhập với dân, yêu thương và quan tâm đến lợi ích của nhân dân, và tận tâm phục vụ nhân dân. Người từng nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(6). Người thường dùng từ “đồng bào” để nói về người dân Việt Nam; đối với Người, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”(7) và “hiếu với dân” là kính dân, yêu dân, chăm lo lợi ích cho dân. Vì thế, Người đã sử dụng từ “hiếu” trong mối quan hệ với nhân dân để làm nổi bật chiều sâu của nguồn cội, sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tình yêu quê hương, gia đình và sự bình đẳng không phân biệt.

Phạm vi, đối tượng của chữ “hiếu” trong tư tưởng Hồ Chí Minh được mở rộng nhưng cũng rất thực tế. Chữ “hiếu” có địa vị cao nhất trong các gia đình nhỏ, và chữ “hiếu” cũng có địa vị cao nhất trong các gia đình lớn. Người nói: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến giày vò. Mình không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa... Chữ tình, chữ hiếu, cũng phải hiểu một cách rộng và hiểu như thế mới là đúng”(8). “Hiếu với dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện lòng biết ơn đối với đất nước, đối với các thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước(9).

Trong mối quan hệ giữa nước và dân, sức mạnh của quốc gia nằm ở nhân dân, nước và dân luôn gắn kết chặt chẽ. “Trung với nước” có nghĩa là đạt được những mục tiêu mang lại lợi ích cho toàn dân tộc; “hiếu với dân” được thực hiện trong mối quan hệ với các nhóm chủ thể là nhân dân (giai cấp, tầng lớp, cộng đồng, tập thể, cá nhân) và mục tiêu chính là đạt được lợi ích cho quốc gia, dân tộc. “Trung với nước” được thể hiện qua việc “hiếu với dân”, và “hiếu với dân” cũng là cách để thực hiện “trung với nước”.

Đối với Người, “trung với nước, hiếu với dân” còn là “yêu nước, thương dân”. Lòng yêu nước, tình yêu nhân dân thể hiện qua tinh thần hăng hái thực hiện mục tiêu phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân bằng những hành động cụ thể. Người bày tỏ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(10) và đã phụng sự nhân dân thì phải cố gắng làm tất cả những việc tốt đẹp nhất mang lại lợi ích cho nhân dân: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò. Nghĩa là việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”(11).

Theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, “trung với nước, hiếu với dân” được thể hiện trong mọi công việc của Đảng cũng như trong từng suy nghĩ và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân. Mặc dù mục tiêu và nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng có thể khác nhau, song yêu cầu về lòng trung và hiếu vẫn luôn nhất quán, trở thành chuẩn mực chung để mọi người học hỏi và rèn luyện. Đây là tinh thần yêu nước, niềm tự hào về truyền thống dân tộc; là trách nhiệm với xã hội và sự nghiệp đấu tranh của Đảng và dân tộc; là ý chí vượt qua khó khăn và sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu chung của cách mạng; là sự tin tưởng, yêu thương và tôn trọng nhân dân. Trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Người luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng trung và hiếu ở mỗi người dân, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên.

Ba là, luôn đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên vị trí ưu tiên hàng đầu

Bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng trong cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đối với đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, điều quan trọng nhất là luôn đặt lợi ích của Đảng lên trên hết trong mọi hoàn cảnh. Theo Hồ Chí Minh, đó là một loại đạo đức lấy “vì dân” và “vì mọi người” làm trung tâm. Trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập số 12 (tháng 12-1958), Người khẳng định, “tính đảng” trong mỗi cán bộ, đảng viên là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng “phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”(12). Người đảng viên thật sự có đạo đức thì sẽ luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Người từng nói: Phải dùng sức dân, trí tuệ của dân, của cải của dân để làm lợi cho dân, dựa vào sức dân và tinh thần dân tộc để mang lại hạnh phúc cho dân. Nhân dân là những người xây dựng và bảo vệ đất nước. Một đất nước không có con người thì không phải là một đất nước. Nước do dân xây dựng, nước do dân giữ, dân làm chủ nước. Mục đích suốt đời của Người là “phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”(13).

Bốn là, xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng, kết hợp đạo đức truyền thống của dân tộc với tinh hoa đạo đức của nhân loại

Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân. Là tấm gương về phẩm chất của một người kiên định trong đấu tranh, dành trọn cuộc đời và sự nghiệp cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giai cấp công nhân, xã hội và con người.

Hồ Chí Minh được giáo dục theo Nho giáo từ nhỏ và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu và tiếp thu các nền văn hóa phương Đông và phương Tây, cả văn hóa hiện đại và văn hóa truyền thống. Người luôn học hỏi và đón nhận những giá trị tốt đẹp, tiến bộ từ các nền văn hóa khác nhau, coi bản thân mình là “học trò nhỏ” của các bậc tiền bối. Với thái độ khiêm nhường, Người luôn nỗ lực học hỏi và tiếp thu kiến thức của nhân loại, áp dụng vào thực tiễn của đất nước, kiên trì đấu tranh và phục vụ nhân dân.

Hồ Chí Minh là tấm gương trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam, biến chúng thành nội lực của đất nước, góp phần vào sự tiến bộ và phát triển của đất nước. Đó là truyền thống trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cùng tinh thần quốc tế trong sáng. Đạo đức Hồ Chí Minh còn là sự kết tinh từ những tinh hoa đạo đức của nhân loại, chịu ảnh hưởng bởi những giá trị tốt đẹp của Phật giáo như tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, yêu thương con người; sống đạo đức, trong sáng, giản dị và siêng năng làm việc thiện; khuyến khích lao động và từ bỏ lười biếng; tôn trọng tinh thần dân chủ, bình đẳng và không phân biệt đẳng cấp.

Người cũng tiếp thu những khía cạnh tích cực của Nho giáo như: dân là gốc của nước, dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, và tư tưởng “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”… Người coi Nho giáo là một khoa học về kinh nghiệm đạo đức và hành vi ứng xử; tiếp thu và đánh giá cao những mặt tích cực, đồng thời phê phán những mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo.

Người đã tiếp xúc với văn hóa phương Tây từ sớm và tiếp thu những giá trị tích cực, tiến bộ của văn minh phương Tây trong quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, như tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái; các tư tưởng dân chủ, giá trị nhân văn, tư tưởng nhân quyền và dân quyền. Trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã có sự thay đổi sâu sắc về quan niệm đạo đức khi gặp được ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã đóng góp vào việc hoàn thiện đạo đức truyền thống của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức từ cả phương Đông và phương Tây để xây dựng một nền đạo đức mới cho đất nước. Sự kết hợp này đã tạo ra một sức mạnh tinh thần mạnh mẽ, cùng với sức mạnh vật chất, giúp dân tộc Việt Nam đạt được những thắng lợi vẻ vang.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức tư sản dựa trên chủ nghĩa cá nhân, sản sinh từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Hồ Chí Minh đã vạch trần tội ác của chủ nghĩa đế quốc: “Chúng cướp của chung do xã hội sản xuất ra, làm của riêng…, để chúng “ngồi mát ăn bát vàng”. Nhưng miệng chúng luôn luôn huênh hoang những từ “đạo đức”, “tự do”, “dân chủ”(14). Như vậy, bản chất của đạo đức giai cấp tư sản là chủ nghĩa cá nhân, trong khi đạo đức của giai cấp công nhân nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa tập thể và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân; Người kêu gọi người dân Việt Nam thường xuyên thực hiện những công việc hàng ngày để xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng.

2.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống quan điểm toàn diện về đạo đức cách mạng nói chung và xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng, và bản thân Người là tấm gương sáng ngời về thực hành đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh rằng, đạo đức là nền tảng, gốc rễ của người cách mạng. Đạo đức cách mạng không chỉ là yếu tố cấu thành nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là yêu cầu cốt lõi để mỗi cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Người khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(15).

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng, luôn được chú trọng và đẩy mạnh trong suốt quá trình cách mạng. Việc này không chỉ nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước.

Những năm vừa qua, Đảng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Một là, qua việc triển khai các nghị quyết và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng được nâng cao rõ rệt. Nhiều cán bộ, đảng viên đã tự giác tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng nỗ lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hai là, niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được củng cố. Nhiều cán bộ, đảng viên đã trở thành tấm gương sáng về đạo đức, gương mẫu trong học tập, công tác, lao động sản xuất và chiến đấu, góp phần xây dựng hình ảnh đẹp về người cán bộ, đảng viên trong lòng nhân dân. Ba là, công tác xây dựng Đảng về đạo đức đã góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nhiều biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được phát hiện và xử lý kịp thời, bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.

Qua các kỳ đại hội, công tác xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng được chú trọng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI tập trung vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhận diện các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tự phê bình và phê bình, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Đại hội XII của Đảng lần đầu tiên đưa công tác xây dựng Đảng về đạo đức ngang hàng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức(16). Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII xác định 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để khắc phục, Nghị quyết đã đề ra các giải pháp như tăng cường kỷ luật đảng, kiểm tra giám sát, phát huy vai trò nêu gương của lãnh đạo, đồng thời đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đại hội XIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ(17). Kết luận 21 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII tiếp tục phát triển trên nền tảng các nghị quyết trước đó, bổ sung các giải pháp cụ thể hơn về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nội bộ Đảng, tăng cường trách nhiệm giải trình của cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ quan trọng.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Bên cạnh đó, nhiều chỉ thị, nghị quyết đã được ban hành nhằm đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngày 18-5-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05 “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trên cơ sở đó, kết hợp với nhiệm vụ chính trị của địa phương và đơn vị theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, các cấp ủy đảng và chính quyền đã ban hành các văn bản nhằm triển khai thực hiện Kết luận số 01. Các văn bản này xác định rõ nội dung công việc, phân công trách nhiệm cụ thể và thời gian hoàn thành, đồng thời đề cao vai trò nêu gương của lãnh đạo cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, các cơ quan, đơn vị. Nhờ đó, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được đẩy mạnh, trở thành nền nếp thường xuyên và thực chất hơn, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, áp dụng vào những công việc hàng ngày, gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao đã giúp thấm nhuần tư tưởng, đạo đức và phong cách cách mạng, thúc đẩy hiệu quả từ học sang làm. Các cấp ủy đảng đã tập trung chỉ đạo xây dựng kế hoạch và cam kết tu dưỡng học tập, coi đây là tiêu chuẩn để đánh giá tổ chức đảng và đảng viên cuối năm. Các tỉnh ủy, thành ủy mở các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao ý thức tự giác và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.

Trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến động, tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh, trong đó có vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, ngày 9-5-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Đây là lần đầu tiên Đảng ta ban hành một hệ thống chuẩn mực đạo đức cách mạng cụ thể cho cán bộ, đảng viên.

Quy định xác định 5 điều về chuẩn mực đạo đức cách mạng mà cán bộ, đảng viên cần tuân thủ trong giai đoạn mới: tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; gương mẫu về đạo đức, lối sống; chủ động đấu tranh với những biểu hiện suy thoái; tận tụy, trách nhiệm với công việc; đề cao tinh thần đoàn kết, kỷ luật, 19 tiêu chí để đánh giá việc thực hiện chuẩn mực. Quy định cũng xác định 5 mối quan hệ quan trọng được nhấn mạnh bao gồm quan hệ với Đảng, quan hệ với Nhà nước, quan hệ với nhân dân, quan hệ với đồng chí, đồng nghiệp, quan hệ với bản thân và gia đình; đồng thời chỉ ra các nghĩa vụ, trách nhiệm của đảng viên trong các mối quan hệ đó.

Để triển khai hiệu quả Quy định này, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 159-HD/BTGTW ngày 3-7-2024, đề ra các biện pháp cụ thể như: tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung Quy định 144-QĐ/TW; đưa nội dung Quy định vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Việc ban hành và thực hiện Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng thể hiện quyết tâm của Đảng trong việc nâng cao đạo đức cách mạng, tăng cường sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đây là một bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và bảo đảm sự vững mạnh của Đảng.

3. Kết luận

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, với nội dung cốt lõi là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đạo đức là nền tảng của chính trị và là gốc rễ của người cách mạng. Đạo đức cách mạng bao gồm các phẩm chất trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, và yêu thương con người, là sự kết hợp truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa đạo đức của nhân loại, đặc biệt là những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin. Rèn luyện đạo đức đối với cán bộ, đảng viên là yêu cầu bắt buộc để giữ vững niềm tin của nhân dân và bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Xây dựng đạo đức của Đảng là nhiệm vụ của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân, là trách nhiệm của toàn Đảng, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.


Cảnh giác luận điệu vu cáo, xuyên tạc hoạt động tinh gọn bộ máy của lực lượng Công an

 Công cuộc cải cách tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị đang được triển khai đồng bộ, trong đó lực lượng Công an đi đầu, tiên phong và đạt được kết quả quan trọng. Thế nhưng bất chấp những kết quả đạt được, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại tung ra những thông tin gây nhiễu, xuyên tạc hoạt động tinh gọn bộ máy của lực lượng CAND.

Âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm

Lợi dụng việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy Công an địa phương từ 3 cấp thành 2 cấp, không tổ chức Công an cấp huyện nhằm thay đổi cơ chế vận hành, giảm tầng nấc trung gian để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác, các thế lực thù địch, phản động, trong đó trên các trang mạng xã hội của tổ chức phản động, các hãng truyền thông ở hải ngoại vốn định kiến với Việt Nam tung ra nhiều thông tin sai trái, kích động chống phá. Chúng đặt điều xảo trá rằng, tinh giản bộ máy của công an “chỉ là khẩu hiệu, mị dân”; “tinh giản biên chế thì công an là ngoại lệ”; “việc bỏ công an cấp huyện chỉ là hình thức nhằm thay đổi cuộc chơi”…

Từ đó, chúng xuyên tạc việc tinh gọn bộ máy của lực lượng CAND là “bất công, bất hợp lý”. Một số đối tượng giả danh dân chủ, nhân quyền vu cáo, bỏ Công an cấp huyện gây xáo trộn, lãng phí cơ sở vật chất, tạo “cuộc chạy đua tranh ghế, giành quyền”. Thậm chí số đối tượng thù địch đánh lận con đen rằng, tăng cường Công an về xã cùng với việc hành hành Nghị định 168 là “nỗi khiếp sợ của dân”, “từ nay dân bị kìm kẹp, o bế”, “thời kỳ công an trị”…

Đặc biệt, vin vào việc lực lượng Công an tiếp nhận một số nhiệm vụ của các bộ, ngành khác thì các thế lực xấu vu cáo “công an ôm đồm nhiều việc nhằm thâu tóm quyền lực”, “công an bành trướng quyền lực để trị dân”... Các thế lực thù địch chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video với nội dung xuyên tạc, gây nhiễu thông tin, thu hút sự quan tâm của công chúng, lôi kéo các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, những người thiếu hiểu biết vào bình luận, chia sẻ thông tin sai trái, xấu độc.

Có thể thấy, chống phá lực lượng vũ trang, trong đó có CAND là một trong những hoạt động trọng tâm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Vấn đề tinh gọn bộ máy là công việc hệ trọng của cả hệ thống chính trị, thu hút sự quan tâm, theo dõi, giám sát của nhân dân, trong đó lực lượng Công an thực hiện với vai trò tiên phong, gương mẫu, đạt được những kết quả rất quan trọng. Chính vì thế, các thế lực xấu tìm cách đảo ngược sự thật, xuyên tạc những sự kiện, vấn đề liên quan đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ công tác của lực lượng Công an để bôi nhọ, hạ bệ.

Mục đích của các thế lực xấu nhằm làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Công an, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, từ đó tạo ngòi nổ để lật đổ chính quyền nhân dân. Đối tượng tuyên truyền xuyên tạc mà các thế lực thù địch hướng đến là những thành phần chống đối, bất mãn, người có nhận thức, tư tưởng sai lệch, người thiếu hiểu biết chính trị, đối tượng phạm tội, vi phạm pháp luật… để tạo ra sự kỳ thị, phản kháng lực lượng Công an.

Lực lượng Công an tiên phong, gương mẫu trong công cuộc tinh gọn bộ máy

Tinh gọn bộ máy là cuộc cách mạng lớn mà lực lượng CAND đã tiên phong đi trước, mở đường, triển khai nghiêm túc, nhanh chóng, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Đây là bước đi quan trọng nhằm xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Là tiền đề quan trọng giúp lực lượng Công an hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó; thực hiện bộ máy tinh, gọn, mạnh, giảm tầng nấc trung gian, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số và xu thế toàn cầu hóa, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế.

Việc triển khai sắp xếp, tổ chức bộ máy của lực lượng CAND thời gian qua luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; luôn thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoàn toàn không có chuyện tinh giản lực lượng Công an là hình thức như luận điệu kẻ xấu xuyên tạc. Thực tế cho thấy, việc tinh gọn bộ máy không gây xáo trộn, gián đoạn trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Công an các cấp mà đảm bảo tính liên thông, liền mạch; đảm bảo triệt để nguyên tắc một cơ quan, đơn vị thực hiện nhiều việc và một việc chỉ có một cơ quan, đơn vị chủ trì và chịu trách nhiệm chính.

Thực tế đã chứng minh, việc nghiên cứu, đề xuất sắp xếp, đổi mới tổ chức bộ máy Công an được triển khai đồng thời với nghiên cứu, xây dựng các phương án bố trí, sắp xếp cán bộ đảm bảo khoa học, hợp lý theo hướng tăng cường cho lực lượng chiến đấu, bám cơ sở. Do đó, ngay sau khi triển khai Nghị định 01/2018/NĐ-CP, ngành Công an đã không còn lãnh đạo cấp tổng cục, giảm 172 lãnh đạo cấp cục, hơn 1.500 lãnh đạo cấp phòng, cấp huyện và tương đương; hơn 2.300 lãnh đạo cấp đội và tương đương; nhanh chóng ổn định việc bố trí cán bộ tại các đơn vị để đáp ứng yêu cầu công tác, được Đảng, Nhà nước, nhân dân đánh giá cao, được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đánh giá là lực lượng gương mẫu trong công cuộc cải cách, tinh gọn bộ máy. Do đó, không có chuyện “giảm hình thức” như luận điệu kẻ xấu.

Quá trình tinh gọn bộ máy, Bộ Công an đã có Tờ trình và hồ sơ trình Chính phủ xem xét, phê duyệt, ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Trên cơ sở Nghị định của Chính phủ, Bộ Công an đã nghiên cứu, xây dựng dự thảo Thông tư, Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an cấp tỉnh và các đơn vị trực thuộc; Công an cấp xã; Quyết định giải thể 694 Công an cấp huyện. Đồng thời xây dựng các văn bản hướng dẫn, điều chỉnh phân công, phân cấp trên các lĩnh vực công tác Công an để phù hợp với mô hình tổ chức mới của Bộ Công an và Công an địa phương.

Cùng với đó, lực lượng Công an tiếp nhận 5 nhóm nhiệm từ các bộ, ngành (gồm quản lý nhà nước và thực hiện bảo đảm an ninh hàng không; quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng; quản lý nhà nước về sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ; quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp và thực hiện dịch vụ công cấp phiếu lý lịch tư pháp; quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy) và tiếp nhận đơn vị liên quan để xây dựng nền công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng.

Việc tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ của một số bộ, ngành khác hoàn toàn không phải là ôm đồm công việc như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc mà thực chất là tạo sự gắn kết, liên thông, khắc phục tình trạng chia cắt, xét lẻ công việc, một việc do nhiều cơ quan đảm nhiệm trước đây, từ đó giảm các cơ chế phối hợp không cần thiết, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng công tác, hiệu quả phục vụ nhân dân.

Qua thực tế tinh gọn bộ máy cho thấy, chức năng, nhiệm vụ của Công an các cấp được phân cấp, phân quyền, phân định cụ thể, chi tiết hơn, rõ ràng hơn, từ đó tạo điều kiện để trao quyền thực chất, đầy đủ, tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn cho từng đơn vị. Sắp xếp mô hình Công an 4 cấp thành 3 cấp, đối với Công an địa phương điều chỉnh phương châm “tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở” sang “tỉnh toàn diện; xã vững mạnh, bám cơ sở”; Công an cấp tỉnh giải quyết toàn diện mọi tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; Công an cấp xã được tăng cường xây dựng vững mạnh, bám cơ sở, giải quyết các vấn đề phát sinh về an ninh, trật tự ngay từ đầu và tại cơ sở.

Qua đó, bảo đảm các hệ lực lượng được bố trí toàn diện, chuyên sâu, nắm chắc cơ sở, bám sát thực tiễn đời sống nhân dân để lắng nghe tâm tư nguyện vọng, đề xuất chính đáng của nhân dân, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đồng thời, tăng cường công tác nắm tình hình và kịp thời phát hiện, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh, vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự ngay từ cơ sở, không để lan rộng, kéo dài ảnh hưởng đến đời sống nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội.

Hơn nữa, tăng cường cải cách hành chính, đưa các dịch vụ hành chính công về an ninh, trật tự đến trực tiếp với nhân dân được thuận tiện hơn. Một số công việc người dân phải đến trụ sở Công an cấp huyện để giải quyết, đặc biệt là người dân sống ở vùng sâu, vùng xa do xa trung tâm huyện phải mất nhiều thời gian, việc đi lại gặp nhiều khó khăn sau khi bỏ Công an cấp huyện, nhiều chức năng, nhiệm vụ được Công an cấp xã tiếp nhận, tạo thuận lợi cho người dân trong giải quyết một số thủ tục hành chính.

Đối với cơ sở vật chất, trụ sở, phương tiện của Công an cấp huyện trước đây, hoàn toàn không có chuyện bỏ trống lãng phí như luận điệu kẻ xấu mà được tiếp tục quản lý chặt chẽ, sử dụng theo đúng quy định pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ tài sản công. Bộ Công an đã có phương án điều tiết sử dụng những cơ sở vật chất, trụ sở, phương tiện bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới và định hướng bố trí lực lượng tại địa bàn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, hoàn toàn không xảy ra tình trạng lãng phí.

Tổ chức bộ máy ngành Công an khi không tổ chức Công an cấp huyện tạo bước đột phá trong tinh gọn bộ máy của lực lượng nói riêng, của hệ thống chính trị nói riêng, sẽ phát huy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao nhất, phục vụ tốt nhất cho nhân dân, tạo thuận lợi tối đa cho phát triển đất nước, đảm bảo vững chắc an ninh, trật tự, củng cố môi trường an toàn, lành mạnh, góp phần đưa đất nước vươn mình vào kỷ nguyên mới. Nhận thức rõ tinh gọn bộ máy trong lực lượng CAND là nhiệm vụ cần thiết, quan trọng, do đó mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, loại bỏ thông tin xuyên tạc, xấu, độc.

 

 

Thành tựu phát triển của đất nước bác bỏ mọi sự xuyên tạc về vai trò lãnh đạo của Đảng

 Trải qua 95 năm lãnh đạo và đồng hành cùng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và không ngừng trưởng thành, lớn mạnh. Trong tiến trình đó, sứ mệnh của Đảng  luôn vấp phải sự phản đối, chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động. Song, những thành tựu to lớn mà đất nước ta, nhân dân ta đạt được từ khi có Đảng là minh chứng sống động, bác bỏ mọi sự nghi ngờ, xuyên tạc về vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tháng 2/2025, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hân hoan, tự hào kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, song chúng ta không quên chỉ rõ một trong những yếu tố cản trở tiến trình đi lên của dân tộc, đó chính là âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc về vai trò của Đảng đối với sự phát triển của đất nước của các thế lực thù địch. Hoạt động này đã diễn ra ngay từ ngày thành lập Đảng cho đến nay, và chắc chắn sẽ còn tiếp diễn với những thủ đoạn tinh vi hơn trong thời gian tới, bất chấp những thành tựu to lớn, vượt bậc trên mọi lĩnh vực mà đất nước ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng! Mục đích cuối cùng của chúng là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Về kinh tế. Họ đưa ra nhiều chỉ trích dưới các góc độ khác nhau, song tựu chung lại là luận điệu cho rằng: vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyên nhân khiến nền kinh tế chậm phát triển, thua kém các nước trong khu vực! Luận điệu này rõ ràng mang tính phiến diện và thiếu thực tế. Bởi, mặc dù phải trải qua các cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt để giành độc lập cho đất nước,  nền kinh tế sau chiến tranh gần như kiệt quệ, nhưng trong gần 40 năm qua, kinh tế Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ và đầy ấn tượng, luôn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trung bình khoảng 6 - 7%/năm, thuộc nhóm các quốc gia tăng trưởng nhanh nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng mạnh, từ khoảng 100 USD vào năm 1990 lên 4.700 USD (theo sức mua tương đương) vào năm 2024, đưa Việt Nam từ quốc gia nghèo thành nước đang phát triển, có thu nhập mức trung bình; quy mô nền kinh tế đứng thứ 34 thế giới. Các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2025 tiếp tục thuộc nhóm các nền kinh tế có tăng trưởng cao trên thế giới1. Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới, đặc biệt là gạo, cà phê, hạt điều, thủy sản và hồ tiêu. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghệ cao phát triển mạnh mẽ. Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất điện tử lớn, thu hút được nhiều tập đoàn xuyên quốc gia, như: Samsung, Intel, LG, v.v. Gần đây nhất, Chính phủ Việt Nam và Tập đoàn NVIDIA (Tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và bán dẫn hiện nay) đã ký kết thỏa thuận hợp tác. Sự kiện này được đánh giá mang tính bước ngoặt lịch sử, dấu mốc quan trọng, mở ra cơ hội để Việt Nam trở thành Trung tâm Nghiên cứu và phát triển (R&D) về trí tuệ nhân tạo hàng đầu châu Á, tạo đột phá cho các ngành công nghệ then chốt và mở rộng cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trong nước.

Đó chỉ là một vài trong số rất nhiều những con số thực tế về sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận và công bố rộng rãi. Vậy, điều gì đã khiến một nền kinh tế bước ra từ chiến tranh và chịu bao vây cấm vận suốt thời gian dài lại có thể bứt phá ngoạn mục như thế? Câu trả lời xác đáng nhất chỉ có thể là từ vai trò lãnh đạo của Đảng cùng với niềm tin và nỗ lực của toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Cốt lõi nằm ở quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là sự đột phá tư duy lý luận của Đảng, là kết quả của quá trình tìm tòi, thể nghiệm lâu dài và đã khẳng định sự đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển. Vừa bảo đảm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa tăng tốc bứt phá mạnh mẽ và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không những không kìm hãm mà còn chính là nhân tố quyết định, thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển vượt bậc.

Đối với các vấn đề xã hội. Các thế lực thù địch luôn cho rằng, dưới sự lãnh đạo “độc tôn” của Đảng Cộng sản Việt Nam, đời sống nhân dân gặp khó khăn, nghèo đói, mất quyền tự do, dân chủ,... nhưng thực tế hoàn toàn không phải như vậy. Với quan điểm con người là trung tâm của sự phát triển, nhất quán mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng đã luôn quan tâm chú trọng lãnh đạo xây dựng các chính sách an sinh xã hội nhằm giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và đời sống mọi mặt của người dân. Nhờ đó, Việt Nam đã giảm mạnh tỷ lệ nghèo từ hơn 60% (đầu thập niên 1990) xuống còn dưới 2% vào năm 2023 (theo chuẩn nghèo đa chiều); là một trong những quốc gia giảm nghèo nhanh nhất. Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức quốc tế đánh giá cao, trở thành mô hình tham khảo cho các nước đang phát triển. Về giáo dục, Đảng ta luôn xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, trên cơ sở đó, đã tiến hành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên toàn quốc, đảm bảo mọi trẻ em đều có cơ hội đi học. Nếu như năm 1945, trên 90% dân số Việt Nam mù chữ (hệ lụy từ chính sách ngu dân của thực dân Pháp), thì đến năm 2023, tỷ lệ người đạt chuẩn biết chữ trong độ tuổi từ 15 - 60 tại Việt Nam đạt 98,85% ở mức độ 1. Đó là bước tiến quan trọng, không thể phủ nhận.

Cùng với đó, các quyền bầu cử, tự do tín ngưỡng, tự do báo chí và tự do ngôn luận được bảo đảm trong khuôn khổ pháp luật. Các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân đã tạo điều kiện để người dân tham gia trực tiếp vào đời sống chính trị. Dân chủ ở Việt Nam mang tính tập trung, bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội, thay vì chạy theo các hình thức dân chủ hình thức hoặc lợi ích cục bộ. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” và “Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) cụ thể hóa các quyền này, tạo hành lang pháp lý để người dân thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 26 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm gần 27% dân số cả nước. Có 43 tổ chức tôn giáo, đại diện cho 16 tôn giáo khác nhau, được Nhà nước công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động. Các tôn giáo đều có điều kiện phát triển thuận lợi. Sự tồn tại và phát triển rất phong phú, đa dạng của các tôn giáo là minh chứng cho việc Nhà nước Việt Nam không những không “đàn áp” như các thế lực thù địch rêu rao, mà còn tạo điều kiện tốt nhất để các tôn giáo cùng đồng hành với dân tộc. Về điều kiện tiếp cận thông tin, theo thống kê, đến đầu năm 2024, Việt Nam có 78,44 triệu người dùng Internet (chiếm 79,1% dân số); 73,3% dân số sử dụng mạng xã hội, xếp thứ 13 thế giới về số lượng người dùng; có tổng cộng 168,5 triệu kết nối di động đang hoạt động, v.v. Những số liệu này là rõ ràng, không chỉ minh chứng sự phát triển vượt bậc của Việt Nam, mà còn vạch rõ bộ mặt “giả tạo” của những kẻ luôn “lo” cho người dân Việt Nam “mù thông tin”!

Vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam là minh chứng rõ nét đập tan luận điệu cho rằng Việt Nam lệ thuộc vào nước khác, hay Việt Nam bị cô lập vì chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo! Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến mau lẹ, phức tạp, khó lường, khó đoán định, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán, kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; là bạn tốt, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới, v.v. Nhờ đó, vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Từ một nước bị bao vây, cấm vận kéo dài trong 30 năm, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 10 nước (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Pháp, Malaysia, New Zealand). Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc năm 1977, hiện đóng vai trò quan trọng trong nhiều chương trình, tổ chức của Liên hợp quốc. Là thành viên của nhiều tổ chức lớn, như: ASEAN, APEC, WTO, CPTPP, RCEP,... giúp Việt Nam hội nhập sâu vào khu vực và thế giới. Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN (năm 2020), tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN trực tuyến trong đại dịch COVID-19. Đặc biệt, Việt Nam trúng cử vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2008 - 2009, 2020 - 2021) với số phiếu tín nhiệm cao. Cùng với đó, Việt Nam cũng đóng góp tích cực vào hòa bình và an ninh thế giới. Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc từ năm 2014, cử nhiều sĩ quan tham gia các phái bộ tại Nam Sudan và Trung Phi. Đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều (năm 2019), thể hiện vai trò trung gian ngoại giao tin cậy. Giữ vững lập trường trong vấn đề Biển Đông, thúc đẩy giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, v.v. Có thể nói rằng, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước có được là nhờ rất nhiều yếu tố, song suy đến cùng vẫn là vai trò lãnh đạo, đặc biệt là đường lối đối ngoại độc đáo của Đảng.

Sự ổn định chính trị ở Việt Nam khẳng định rõ nét vai trò lãnh đạo của Đảng. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nền chính trị ổn định nhất thế giới, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á. Sự ổn định này đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Có được điều này là do Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững vị thế lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Sâu xa, cốt lõi nhất là do Đảng có được uy tín rất cao đối với nhân dân. Suốt chặng đường 95 năm qua, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài độc lập cho dân tộc, hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Nhân dân là người hiểu hơn ai hết điều đó. Chính nhờ niềm tin của nhân dân đối với Đảng mà mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước đều thất bại. Niềm tin của nhân dân không chỉ là một tài sản chính trị to lớn, mà còn là cơ sở vững chắc để Đảng tiếp tục lãnh đạo và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Đây cũng là câu trả lời đanh thép cho luận điệu của một số người cho rằng: “Đảng không đại diện cho lợi ích của toàn dân, mà chỉ bảo vệ quyền lợi cho một nhóm nhỏ các lãnh đạo hoặc đảng viên”.

Những thành tựu mà đất nước ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng trong suốt 95 năm qua là vô cùng to lớn. Phạm vi bài viết chưa thể đề cập toàn diện và sâu sắc. Tuy nhiên, những vấn đề nêu trên cũng đủ để khẳng định rằng, việc phủ nhận vai trò của Đảng là không có cơ sở thực tiễn, lịch sử và chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ mãi là nhân tố quyết định để đưa đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng./.

 

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là yêu cầu khách quan, vấn đề hệ trọng, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là nền tảng duy trì, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển phồn vinh, thịnh vượng càng trở nên đặc biệt quan trọng, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nội dung bao trùm, cốt lõi trong hệ thống quan điểm, đường lối quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, được hình thành trên cơ sở kế thừa, phát triển truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước”, kinh nghiệm, bài học quý báu về tinh thần “cả nước đồng lòng, toàn dân đánh giặc”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của dân tộc Việt Nam và sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nền quốc phòng chúng ta xây dựng là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, do nhân dân làm chủ; được xây dựng trên cơ sở sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ đất nước, bảo đảm đất nước có đủ sức mạnh cần thiết để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược ở mọi loại hình, quy mô, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy tốt vai trò nòng cốt, tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, pháp luật về quân sự, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn và cả nước, nhất là trên địa bàn chiến lược, trọng điểm ngày càng vững chắc, đi vào chiều sâu. Xây dựng phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ các cấp tiếp tục đạt kết quả tích cực. Toàn quân luôn sẵn sàng chiến đấu cao nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân và các lực lượng xử lý kịp thời, hiệu quả tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ về chiến lược; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thành tựu đạt được trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nỗ lực và quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; tạo nên thế và lực mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng để đất nước đạt được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1).

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, rất phức tạp. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức gay gắt hơn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện; chạy đua vũ trang, liên kết quân sự, xung đột cục bộ, chiến tranh ủy nhiệm gia tăng. Thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là thành tựu khoa học - công nghệ quân sự, ứng dụng trí tuệ nhân tạo... tiếp tục tác động sâu sắc đến tất cả lĩnh vực, với sự xuất hiện của nhiều hình thái chiến tranh, phương thức, thủ đoạn tác chiến mới cả trong lĩnh vực truyền thống và phi truyền thống, đe dọa hòa bình, ổn định và an ninh toàn cầu. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương có vị trí ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn.

Đối với nước ta, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để tiếp tục xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn”(2); các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng sự việc, vấn đề nhạy cảm để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc…

Bối cảnh, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; đòi hỏi không ngừng gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và những thành tựu đã đạt được, đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững hơn. Theo đó, cần thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.

Đây là nội dung đặc biệt quan trọng, nhằm thống nhất về nhận thức, hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tổ chức xây dựng nền quốc phòng toàn dân; đồng thời, là biện pháp trực tiếp xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Theo đó, các ban, bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, để toàn dân, trước hết là cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc; nhận thức đúng đắn quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng, cùng khó khăn, thách thức và yêu cầu mới đặt ra. Về nhận thức, phải thấu suốt quan điểm: xây dựng nền quốc phòng toàn dân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, yêu cầu khách quan, vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài; là nền tảng, phương thức tối ưu để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt.

Trong bối cảnh hiện nay, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục cần được tích cực đổi mới về hình thức, phương pháp và nâng cao chất lượng nội dung. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến để các đối tượng liên quan nhận thức sâu sắc, đầy đủ về tình hình thế giới, khu vực, quan điểm, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; về vấn đề phức tạp, nhạy cảm; về đối tác, đối tượng, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đặc biệt, kịp thời thông tin làm rõ thời cơ, vận hội, thách thức trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; đẩy mạnh quán triệt, tuyên truyền tư tưởng chỉ đạo, định hướng, quyết sách lớn, quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước để khơi dậy niềm tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo xung lực mới, khí thế mới, tinh thần phấn khởi, đoàn kết, đồng thuận xã hội cao…, huy động sức mạnh tổng hợp trong thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc, phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của mọi tầng lớp nhân dân, tạo đột phá xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ. Đồng thời, chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá đường lối quốc phòng toàn dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; các biểu hiện hình thức, thỏa mãn dừng lại, lơ là chủ quan, mất cảnh giác trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; tư tưởng phiến diện, tuyệt đối hóa kinh tế, xem nhẹ quốc phòng, an ninh, cho rằng quốc phòng, an ninh là công việc, nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng và xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 14/11/2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030… và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, quân sự, an ninh, và vận dụng vào thực tiễn từng bộ, ngành, địa phương. Trong đó, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm quan điểm, đường lối, mục tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo bước đột phá trong xây dựng khu vực phòng thủ, nhất là xây dựng cơ sở chính trị - pháp lý, tiềm lực kinh tế, thế trận quân sự trên địa bàn chiến lược, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, khu kinh tế trọng điểm.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước đang quyết liệt chỉ đạo thực hiện đột phá xây dựng, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ nút thắt, điểm nghẽn, tạo động lực cho đất nước phát triển trong kỷ nguyên vươn mình với rất nhiều đổi mới. Đây vừa là cơ hội, vừa là yêu cầu, thách thức đặt ra, đòi hỏi tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng. Theo đó, các bộ, ngành, trước hết là Bộ Quốc phòng cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, làm cơ sở tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng. Chú trọng thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ quan điểm, đường lối của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hoàn thiện cơ chế, chính sách,  nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng, nhất là các cơ chế, chính sách đặc biệt để xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Thực hiện hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại.

 Ba là, tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Đây là nội dung rất quan trọng, không chỉ bảo đảm giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, mà còn phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Sắp xếp tinh gọn và bảo đảm cho bộ máy trong hệ thống chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn của đất nước, cũng là yêu cầu khách quan của xu thế thời đại. Đây là một cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Các ban, bộ, ngành, địa phương cần quán triệt sâu sắc tinh thần đó, triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt chủ trương, định hướng, mục tiêu, yêu cầu sắp xếp của Trung ương, Bộ Chính trị đã đề ra. Trong quá trình thực hiện, cần chú trọng gắn sắp xếp bộ máy với kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; quan tâm cơ cấu, sắp xếp, kiện toàn tổ chức cơ quan quân sự ở ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương; đặc biệt, cần chủ động làm tốt việc lựa chọn nguồn cán bộ lực lượng vũ trang để tham gia cấp ủy và kiện toàn cấp ủy quân sự các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh.

Cùng với thực hiện hiệu quả cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, cần tiếp tục củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, trọng tâm là đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” và các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, chương trình, mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội để “không ai bị bỏ lại phía sau”Qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là trên địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh.

Bốn là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, đối ngoại gắn với củng cố, tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ thông tin, chuyển đổi số của nền quốc phòng toàn dân ngay từ trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ở các cấp, ngành, lĩnh vực, bảo đảm “mỗi bước tăng trưởng về kinh tế - xã hội là một bước củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh”. Quán triệt sâu sắc, thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Chủ động rà soát, điều chỉnh phân vùng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, hậu phương chiến lược, quy hoạch thế trận quân sự khu vực phòng thủ..., kiên quyết không phát triển kinh tế bằng mọi giá.

Xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành một mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại để bảo vệ đất nước; tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả khu kinh tế - quốc phòng phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội trên các hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm, biên giới, biển, đảo, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh từ nơi “phên giậu” Tổ quốc. Tiếp tục thực hiện Kết luận số 64-KL/TW, ngày 30/10/2019, của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới; Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 3/10/2011, của Ban Bí thư và Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22/2/2019, của Chính phủ, Về khu vực phòng thủ; chủ động cân đối, phân bổ hợp lý nguồn lực bảo đảm xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự ngày càng vững chắc, sẵn sàng cho tình huống quốc phòng, an ninh.

Cùng với đó, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và Quân đội trên trường quốc tế, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Năm là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; trong bất cứ hoàn cảnh nào, Quân đội phải luôn giữ vững định hướng chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/1/2022, của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2/4/2022, của Quân ủy Trung ương, Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; định hướng của Ban Chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

Tiếp tục đột phá đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục, đào tạo, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luậtxây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”. Tăng cường thu hút, trọng dụng nhân tài, bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập trung nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học quân sự, thành tựu của khoa học, công nghệ và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào phát triển lý luận về quốc phòng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở tầm chiến lược, thường xuyên nêu cao cảnh giác, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn cả nước; thực hiện hiệu quả Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 5/9/2019, của Chính phủ, về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng; kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chiến lược, sách lược linh hoạt, đúng đắn, phù hợp, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, xử lý kịp thời, thắng lợi mọi tình huống quân sự, quốc phòng, không để bị động, bất ngờ. Tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc trên từng địa bàn và cả nước. Tích cực thực hiện công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, “thế trận lòng dân” vững chắc, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội, tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Quán triệt sâu sắc chủ trương chiến lược của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đề cao trách nhiệm, phát huy kết quả, kinh nghiệm đã đạt được, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo nền tảng để xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.