Từ năm 1924 đến năm 1945, sau thời kỳ ổn định tạm thời, chủ
nghĩa tư bản lại lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế mới, lúc đầu ở những nước tư
bản châu Âu, đến năm 1929 lan sang Mỹ, Canada, Nhật Bản và các nước tư bản
khác. Khủng hoảng kinh tế - xã hội, làm cho mâu thuẫn xã hội ở các nước tư bản
phát triển gay gắt. Để giải quyết mâu thuẫn, các nước tư bản phát xít hóa bộ
máy trong nước, cắt xén dân chủ, tăng cường chuẩn bị chiến tranh. Từ giữa những
năm 30 của thế kỷ XX, nguy cơ chiến tranh thế giới tăng nhanh. Trong thời gian
chuẩn bị chiến tranh, các lực lượng phát xít ở các nước đẩy mạnh thực hiện
chính sách đối nội, đối ngoại phản động, tìm mọi cách đàn áp lực lượng đối lập
trong nội bộ nước mình, xóa bỏ quyền tự do dân chủ tư sản, tấn công vào quyền lợi
của nhân dân lao động và bắt nền kinh tế và chính trị phục vụ mục tiêu chuẩn bị
chiến tranh xâm lược. Tình thế đó, đòi hỏi các lực lượng tiến bộ phải tăng cường
cuộc đấu tranh chống nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh.
Ngày 01/ 9/1939, phát xít Đức tấn công
Ba Lan, mở đầu Chiến tranh thế giới thứ Hai. Sau khi chiếm hầu hết các nước
châu Âu, ngày 22/6/1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô. Trong giai đoạn đầu,
quân Đức đã thu được những thắng lợi lớn, tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô. Đảng Cộng
sản và Nhà nước Liên Xô đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân Liên Xô tiến hành cuộc
chiến tranh giữ nước vĩ đại. Đến tháng 11 năm 1942, cuộc phản công chiến lược của
Hồng quân Liên Xô mở màn ở Xtalingrát. Ngày 09/5/1945, Liên Xô và lực lượng Đồng
minh đã chiến thắng chủ nghĩa phát xít, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.
Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong giai đoạn này có nhiều
biến đổi. Sau thời kỳ ổn định tạm thời, sự khủng hoảng của các
nước tư bản thúc đẩy cao trào cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
ở các nước tư bản. Tiêu biểu là, phong trào cộng sản và công nhân ở Đức, Anh,
Pháp, Ý, và Tây Ban Nha. Bên cạnh đó, trong bối cảnh mới, giai cấp
công nhân ở nhiều nước lại chịu ảnh hưởng, tác động của chủ nghĩa cải lương; chủ
nghĩa cơ hội, từ đó, đã tạo ra ảo tưởng vào chủ nghĩa tư bản; một số đảng cộng
sản bị phân tán, chia rẽ thành, gây cản trở, ảnh hưởng đến hoạt động của phong
trào công nhân.
Trong giai đoạn này, Liên Xô đạt được nhiều thành tựu to lớn trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản
Liên Xô (tháng 12 năm 1925) đã xác định nhiệm vụ chiến lược của Đảng là xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Từ năm 1928 Liên Xô đã đề ra các kế hoạch
5 năm và đã hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hóa, trở thành một cường quốc công
nghiệp đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ). Liên Xô là lực lượng đi đầu, chủ
chốt góp phần quyết định cùng lực lượng Đồng minh và nhân loại tiến bộ chiến thắng
trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Quốc tế Cộng sản (1919 - 1943) ra đời và có nhiều
đóng góp đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải
phóng dân tộc. Dù có một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, Quốc tế Cộng sản đã hoàn
thành vai trò lịch sử của mình, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, thiết lập chuyên chính vô sản ở một số
nước; thúc đẩy sự ra đời của một loạt đảng cộng sản ở các nước; củng cố tình đoàn kết giữa giai cấp công nhân các nước trên tinh
thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản; định ra chiến lược, sách lược đúng cho phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng như phong trào giải phóng dân tộc các
nước thuộc địa.
Dưới ánh sáng của Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917, sự giúp đỡ của Liên Xô, nhất là sự chỉ đạo, giúp đỡ của
Quốc tế Cộng sản, phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc có sự
phát triển. Phong trào giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách mạng
vô sản và là một bộ phận hợp thành phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát
xít.
Sau khi
V.I.Lênin mất, quá trình bảo vệ, phát
triển chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn này tập trung ở các đại hội Quốc
tế Cộng sản, ở cương lĩnh, nghị quyết của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế.
Trong đó, có vai trò rất lớn của I.V.Xtalin
trong giai đoạn này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét