VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, PHÁT HUY SỨC MẠNH NỘI SINH ĐƯA ĐẤT NƯỚC
VỮNG BƯỚC TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN MỚI
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam, đặc biệt là trong
xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc làm nên thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Bài viết khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và sự
vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó gợi mở giải pháp nâng cao nhận thức,
thống nhất quan điểm và trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về đại
đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Quá trình lịch
sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên những
truyền thống quý báu, yêu nước và đoàn kết dân tộc, tạo nên giá trị cốt lõi.
Đoàn kết và yêu nước là hai giá trị gắn bó chặt chẽ với nhau. Yêu nước là chất
keo gắn kết người dân các dân tộc, tôn giáo, làm nên sức mạnh đoàn kết vĩ đại của
dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc làm nên sức mạnh vô địch để hiện thực hóa chủ
nghĩa yêu nước. Đoàn kết dân tộc trên tinh thần yêu nước và yêu nước trước hết
thể hiện ở tình đoàn kết. Sẽ không thể nói là yêu nước nếu đi ngược lại tinh thần
đoàn kết dân tộc.
Kế thừa và
phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc và trên quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin về sức mạnh của quần chúng nhân dân, Hồ Chí Minh luôn khẳng định đại
đoàn kết không phải là sách lược mà là chiến lược lâu dài, là sức mạnh vô địch:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Lịch sử Việt
Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã minh chứng sinh động quan điểm của Hồ Chí Minh,
đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh “giúp Cách mạng tháng Tám thành công”, “đã
giúp kháng chiến thắng lợi” và “sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh
để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước”.
Những biến cố
lịch sử thế giới cuối thế kỷ XX, với sự tan rã của nhiều quốc gia, sự gia tăng
các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo đã cho thấy nguy cơ phân ly và sự suy giảm
sức mạnh quốc gia dân tộc do sự đoàn kết sắc tộc, tôn giáo rạn nứt, suy yếu. Thực
tiễn càng minh chứng quan điểm của Hồ Chí Minh về “động lực lớn”, “động lực vĩ
đại” và tại những thời điểm “tình thế” cách mạng” khó khăn, thách thức, đoàn kết
là động lực “duy nhất” của dân tộc.
Tư tưởng đại
đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh là một chỉnh thể gồm chủ thể lãnh đạo, lực lượng,
đồng minh, nguyên tắc, phương pháp đoàn kết, tập hợp. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng
muốn thành công trước hết phải xác định rõ lực lượng liên minh nòng cốt để hợp
lực của các giai cấp, tầng lớp trong mặt trận dân tộc thống nhất, tạo thành sức
mạnh nội sinh của cách mạng. Sức mạnh nội sinh đó là trụ cột để mở rộng đoàn kết
quốc tế.
Phải đoàn kết
đại đa số nhân dân, trong đó “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là
công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống
nhất” và để đoàn kết rộng rãi thì nền tảng phải vững.
Về cách thức tập
hợp, đoàn kết, cần tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất để gắn kết quần chúng
vào các tổ chức, để hướng lực lượng quần chúng vào thực hiện mục tiêu cách mạng.
Để tập hợp các
tầng lớp nhân dân, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất Đảng phải giữ vững vai
trò lãnh đạo và thực hiện các phương thức lãnh đạo hiệu quả. Trước hết, đường lối,
chủ trương của Đảng phải phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân, là hiện
thân của lợi ích quốc gia dân tộc; giữ mối liên hệ máu thịt với nhân dân; tuyên
truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục nhân dân tin theo và thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng; tổ chức mặt trận và các đoàn thể phù hợp với điều kiện thực
tiễn.
Cần nhận diện
và phân hóa lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng.
Nguyên tắc
trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích
của quốc gia dân tộc với lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp. Phải
luôn giữ vững quan điểm “dân là gốc”, tin vào dân, dựa vào dân, vì nhân dân.
Đoàn kết tự giác, tự nguyện, thành thật, đoàn kết lâu dài.
Hồ Chí Minh đã
khẳng định vai trò sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc: “Trong
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa,
Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng
Việt Nam”. Trong các giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựng và
phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc làm nên thắng lợi.
2.2. Bối cảnh
mới và yêu cầu đối với vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc
Đại hội XIII của
Đảng (năm 2021) đánh giá và dự báo thế giới đang trải qua những biến động to lớn,
diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển
vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh
chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình
thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế,
chính trị, an ninh quốc tế”.
“Chủ nghĩa dân
tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ
quốc tế gia tăng”; trong bối cảnh đó, “Các nước đang phát triển, nhất là các nước
nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới”.
Bối cảnh mới đặt
ra những vấn đề mới về mục tiêu, chính sách, hình thức và biện pháp xây dựng và
phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội
nhập quốc tế.
Trước hết,
trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng cũng phải dự báo đúng tình hình, nắm bắt xu hướng
vận động; đường lối, chủ trương phản ánh đúng nguyện vọng nhân dân, thực hiện
chỉ dẫn của Hồ Chí Minh: “Việc gì đúng với nguyện vọng nhân dân thì được quần
chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh, và như vậy mới thật là một phong
trào quần chúng”.
Trên cơ sở nền
tảng đường lối của Đảng, Mặt trận dân tộc thống nhất phải xây dựng được “cương
lĩnh đại đoàn kết” vững chắc, rộng rãi và rất thiết thực. Thiết thực khi phù hợp
với nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Rộng rãi khi đoàn kết tất cả những người
yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng tôn giáo. Vững chắc
khi dựa trên nền tảng đại đa số nhân dân, tất cả các tầng lớp xã hội.
Rộng rãi, vững
chắc, thiết thực, đó là phương châm Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc. Để thực hiện phương châm đó, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Cái tên Việt
Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân.
Thêm vào đó, chương trình giản đơn, thiết thực mà đầy đủ của Mặt trận gồm có 10
điểm như bài ca tuyên truyền đã kể: “Có mười chính sách bày ra/Một là ích quốc,
hai là lợi dân”. Mười điểm ấy, gồm những điểm chung cho toàn thể dân tộc và những
điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và cho mọi tầng lớp nhân
dân”.
Từ mục tiêu
làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được sung sướng tự do
trong Chương trình Việt Minh đến tiêu chí của nước Việt Nam mới là Độc lập -Tự
do - Hạnh phúc, là những mục tiêu bất biến và chung nhất của dân tộc. Trên nền
tảng lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng, Đảng ta đã xây dựng thành công khối
đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận
Tổ quốc, làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi và lãnh đạo toàn dân
xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Song, trong từng
giai đoạn, mục tiêu đó được cụ thể hóa thành những mục tiêu trong ngắn hạn để
thực hiện. Trong kháng chiến, kiến quốc (1945-1954) là nước Việt Nam độc lập,
thống nhất, dân chủ, phú cường và sau năm 1954 là xây dựng nước Việt Nam hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Trong bối cảnh
mới, Đại hội XIII của Đảng khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh nội
sinh mạnh mẽ để thực hiện mục tiêu phát triển: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu
nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng
phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”, nhằm phát triển đất nước và hội nhập
quốc tế.
Trước yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với mục tiêu trở thành nước đang phát
triển, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và là nước phát triển, thu nhập cao
vào năm 2045, đòi hỏi phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Yêu cầu
đặt ra đó là:
Xác định rõ
xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc là sự nghiệp của toàn dân, là
trách nhiệm của Đảng và cả hệ thống chính trị. Đoàn kết thống nhất là nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của Đảng, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững
chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đại đoàn kết toàn dân tộc
và đoàn kết quốc tế. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
giữ vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết, phát huy mạnh mẽ mọi
nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Trong bối cảnh
hiện nay, để tiếp tục thực hiện mục tiêu bất biến của dân tộc là Độc lập - Tự
do - Hạnh phúc, cần nhận thức được vị trí, vai trò, nhiệm vụ của đại đoàn kết
toàn dân tộc trong tình hình mới, nắm vững những điểm chung, điểm tương đồng để
xây dựng khối thống nhất dân tộc trên cơ sở đáp ứng lợi ích của các giai tầng,
các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở trong và ngoài nước.
Đường lối, chủ
trương của Đảng trong xây dựng đất nước cần tiếp tục được tuyên truyền sâu rộng
hơn để toàn dân tộc tán thành và phấn đấu vì mục tiêu chung, đồng thời chấp nhận
các điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; xoá bỏ mọi định kiến,
mặc cảm, hướng về tương lai, vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của
nhân dân. Đó chính là mục tiêu phấn đấu, là tiêu chí thể hiện sự gắn bó giữa lợi
ích của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, của giai cấp công nhân và của dân tộc
ta.
Trong bối cảnh
hội nhập quốc tế, việc xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
không chỉ gắn với thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà
còn phải kết hợp với phát huy sức mạnh thời đại, của hòa bình, hợp tác và phát
triển, của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế với xu thế của các cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ.
Phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với phát huy ý chí toàn dân tộc vì mục tiêu, khát
vọng phát triển đất nước. Nền tảng vững chắc của đại đoàn kết toàn dân tộc là
liên minh công - nông - trí do Đảng lãnh đạo; đó là mối quan hệ bền chặt giữa Đảng
và nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ; đó là
đoàn kết trong Đảng, đoàn kết giữa các giai tầng xã hội, giữa cộng đồng các dân
tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những
người theo các tôn giáo khác nhau,...
Bối cảnh mới đặt
ra những yêu cầu về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo đồng thời Đảng tự đặt mình
trong mối quan hệ bình đẳng, dân chủ với các thành viên khác trong hệ thống
chính trị. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận
thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất,
hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày,
khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của
Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”.
“Nghiên cứu, vận
dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn
kết dân tộc là nền tảng để thực hiện thắng lợi chiến lược đại đoàn kết dân tộc,
phát huy nguồn nội lực vững chắc để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển
mới, phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường.
Như vậy, tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc phụ thuộc vào
sự thể hiện trên thực tế sự giữ vững bản chất của Đảng, vào sự đúng đắn của đường
lối, chủ trương và năng lực lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và
toàn xã hội. Do đó, Đảng cần thường xuyên nâng cao năng lực hoạch định đường lối,
chủ trương trên các lĩnh vực bảo đảm đúng đắn, đồng thời chú trọng việc bổ
sung, hoàn chỉnh Cương lĩnh, Chương trình hành động của Mặt trận; kiện toàn
cơ quan và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Xây dựng Đảng
luôn là một Đảng trí tuệ, đoàn kết, thống nhất, thực sự là hạt nhân xây dựng, củng
cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, “đoàn
kết dân tộc vừa là động lực, vừa là mục tiêu, là nhiệm vụ chiến lược, đoàn kết
thật sự, lâu dài và “đoàn kết dân tộc không phải là thủ đoạn chính trị”. Cần
xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp giữa Đảng - Nhà nước - Mặt trận, mô
hình tổ chức và luật hóa trách nhiệm quyền hạn của Mặt trận và các tổ chức
chính trị - xã hội. Phân công những đảng viên có năng lực, phẩm chất và nhiệt
tình tham gia công tác mặt trận, có chính sách phù hợp với cán bộ làm công tác
mặt trận, đoàn thể.
Hồ Chí Minh
căn dặn: “Cán bộ làm công tác mặt trận phải tích cực và phải chủ động giúp cấp ủy
đảng lãnh đạo công tác mặt trận; phổ biến và thực hiện chính sách của Đảng về mặt
trận; làm việc phải kiên nhẫn, phải tha thiết với công tác mặt trận”. Quán triệt
tư tưởng Hồ Chí Minh, cần “luôn luôn đấu tranh trên hai mặt trận chống khuynh
hướng cô độc, hẹp hòi, coi nhẹ việc tranh thủ các lực lượng có thể tranh thủ được,
đồng thời chống khuynh hướng đoàn kết một chiều, đoàn kết mà không có đấu tranh
đúng mức trong nội bộ Mặt trận”; “đấu tranh trên hai mặt trận như thế, thì vai
trò lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận dân tộc thống nhất mới được đảm bảo, nền tảng
công nông của Mặt trận mới được vững chắc, tính chất rộng rãi của Mặt trận mới
được phát huy đầy đủ”.
Trước yêu cầu
nhiệm vụ mới, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số
43-NQ/TW, ngày 24/11/2023 “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” với những
quan điểm, mục tiêu, giải pháp cụ thể. Trong đó, Trung ương Đảng khẳng định, đại
đoàn kết dân tộc là sợi chỉ đỏ, truyền thống quý báu, chủ trương, đường lối
quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn góp phần quyết định thắng
lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, xác định bốn quan điểm lớn:
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng,
xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn
vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 làm điểm
tương đồng để động viên, cổ vũ nhân dân đồng lòng, chung sức thực hiện vì tương
lai của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải gắn với
phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, quyền làm chủ của Nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của Đảng và cả hệ thống
chính trị.
Xác định bảy
nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp
uỷ, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và Nhân dân về vị trí, tầm quan trọng của
việc phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; Hoàn thiện chủ
trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy ý chí, khát vọng phát
triển đất nước; Xây dựng, chỉnh đốn Đảng
trong sạch, vững mạnh; tăng cường đoàn kết trong Đảng, giữ vững vai trò hạt
nhân lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và phát huy truyền thống, sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc; Nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà
nước trong phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tiềm năng
và sức sáng tạo của Nhân dân; Đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị
- xã hội; đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, huy động mọi nguồn lực cho
phát triển đất nước; Tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước thiết
thực, hiệu quả.
Cụ thể hóa Nghị
quyết số 43-NQ/TW, cần tập trung thực hiện những giải pháp cơ bản trên các lĩnh
vực nhằm tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ
mới:
Một là, tăng
cường sự lãnh đạo và củng cố mối quan hệ Đảng - Nhà nước - Mặt trận - Nhân dân,
nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, để “Mọi hoạt động của hệ thống
chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của
nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ; lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.
Xây dựng Nhà
nước thật sự của dân, do dân, vì dân để các chính sách được ban hành và thực hiện
trên tất cả các lĩnh vực hướng tới nhân dân, tăng cường đại đoàn kết toàn dân.
Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện công bằng xã hội song song với việc
hoàn thiện hệ thống luật pháp, tăng cường ý thức tôn trọng pháp luật, tạo môi
trường công bằng, bình đẳng, từ đó củng cố và mở rộng Mặt trận.
Hai là, về
kinh tế, có chính sách nhất quán và lâu dài, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật
của các thành phần kinh tế. Thúc đẩy sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế, bảo đảm sự
phát triển cân đối và hợp lý giữa các ngành, vùng, tạo cơ hội về việc làm và giảm
thiểu sự cách biệt về kinh tế giữa các vùng, khu vực và giữa các tầng lớp nhân
dân; điều tiết thu nhập xã hội kết hợp với các nguồn phúc lợi để làm tốt chính
sách đền ơn đáp nghĩa và hỗ trợ các hộ nghèo và đồng bào ở các vùng sâu, xa,
khó khăn....
Phát huy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc của đội ngũ doanh nhân, “chú trọng
phát triển đội ngũ doanh nhân vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy lùi
nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của Việt Nam theo tinh thần xây dựng “đội ngũ
doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc,
có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”.
Ba là, phát
huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hoá, con người Việt Nam; coi trọng
giáo dục chủ nghĩa yêu nước, đạo đức, lễ nghĩa, lành mạnh hoá quan hệ gia đình,
xã hội, nuôi dưỡng tâm lý và trách nhiệm cộng đồng, tạo dựng những cơ sở văn
hoá và tinh thần đại đoàn kết dân tộc cả bề rộng lẫn chiều sâu.
Bốn là, tự đổi
mới, luôn đổi mới là phương thức tồn tại và phát triển của Mặt trận, để mở rộng
khối đoàn kết toàn dân tộc. Đổi mới các tổ chức chính trị -xã hội, cả về tổ chức
và phương thức hoạt động, bảo đảm thiết thực, bảo vệ quyền lợi chính đáng của
thành viên. Các đoàn thể tổ chức các phong trào hoạt động, các phong trào thi
đua để tập hợp nhân dân, xây dựng Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội.
Đại đoàn kết
và phát huy mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của toàn dân tộc trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho
dân”, không ngừng nâng cao đời sống của nhân, để phát huy mọi tiềm năng, sức
sáng tạo của mọi người Việt Nam vào xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, phát huy sức mạnh
khối đại đoàn kết dân tộc là nền tảng để thực hiện thắng lợi chiến lược đại
đoàn kết dân tộc, phát huy nguồn nội lực vững chắc để đưa đất nước bước vào kỷ
nguyên phát triển mới, phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét