Thứ Hai, 7 tháng 4, 2025

Sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý

  Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là bước đi đúng đắn và cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, giảm tầng nấc trung gian và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, góp phần tạo ra một hệ thống quản trị linh hoạt, hiệu quả, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp. Quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sự đồng thuận của toàn dân và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị là điều kiện quan trọng bảo đảm sự phát triển mạnh mẽ của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đóng vai trò quyết định đối với việc nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý đất nước. Một bộ máy cồng kềnh, chồng chéo chức năng không chỉ làm tăng gánh nặng ngân sách, mà còn làm trì trệ quá trình ra quyết định, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, một tổ chức bộ máy cồng kềnh, thiếu linh hoạt sẽ trở thành rào cản đối với sự phát triển. Tinh gọn bộ máy là yêu cầu cấp thiết của Việt Nam hiện nay và là xu hướng được nhiều quốc gia thực hiện, như Trung Quốc, Hoa Kỳ, các nước thuộc Liên minh châu Âu, Anh, Xin-ga-po… Việc giảm tầng nấc trung gian, đơn giản hóa thủ tục hành chính và trao quyền nhiều hơn cho địa phương sẽ giúp hệ thống quản lý vận hành linh hoạt hơn, hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao năng lực điều hành của chính quyền cấp cơ sở. Đây chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm sự minh bạch, hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Nhận thức rõ vấn đề, Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, đang tập trung cao lãnh đạo thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Một bộ máy tinh gọn, vận hành linh hoạt không chỉ giúp phát triển bền vững, mà còn tăng khả năng thích ứng với biến động toàn cầu. Việc cắt giảm thủ tục hành chính, loại bỏ điểm nghẽn trong hệ thống quản lý tạo thuận lợi hơn cho môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút nhiều hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển nội tại, mà còn giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Một bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tinh gọn tổ chức bộ máy - một đòi hỏi tất yếu của thực tiễn

Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển đất nước, nhưng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện vẫn bộc lộ nhiều bất cập, như tổ chức cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, chức năng chồng chéo và cơ chế phối hợp vướng mắc. Thực trạng này dẫn đến hiệu suất làm việc thấp, thủ tục hành chính rườm rà, cán bộ quan liêu, trì trệ trong giải quyết công việc.

Nhiều bộ, ngành có nhiệm vụ tương đồng dẫn đến sự chồng chéo trong quản lý, khó xác định trách nhiệm. Việc phối hợp giữa các cơ quan còn nhiều vướng mắc, làm giảm hiệu quả thực thi chính sách. Tinh giản biên chế ở một số nơi vẫn mang tính cào bằng, chưa tính đến đặc thù từng đơn vị, làm giảm chất lượng hoạt động của bộ máy. Dù đã nỗ lực đề ra nhiều giải pháp để cải cách hành chính, nhưng nhiều thủ tục vẫn làm mất thời gian và gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Việc phải qua nhiều cấp trung gian khiến tiến trình xử lý kéo dài, làm giảm hiệu quả phục vụ của bộ máy nhà nước.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện cải cách bộ máy hành chính để nâng cao hiệu quả quản trị. Tại Xin-ga-po, chính phủ thực hiện chính sách “chính phủ thông minh”, giảm số lượng cơ quan và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong điều hành. Cơ quan công quyền của Xin-ga-po cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân. Với đội ngũ công chức tinh gọn, dù chỉ có 16 bộ, nhưng Xin-ga-po vẫn phát huy được hiệu quả quản trị. Tại Anh, từ những năm 80 của thế kỷ XX, chính phủ đã thực hiện cải cách theo mô hình “quản lý công mới”, chuyển nhiều dịch vụ công sang khu vực tư nhân, đồng thời tinh gọn bộ máy hành chính. Nhờ đó, số lượng nhân viên khu vực công giảm, nhưng hiệu suất làm việc lại tăng đáng kể...

Cách tiếp cận của nhiều nước trên thế giới cho thấy, để quản trị hiệu quả, không chỉ giảm bớt đầu mối tổ chức, mà còn phải thay đổi cách thức quản trị, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và cung cấp dịch vụ công. Một bộ máy tinh gọn, hiệu quả không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách, mà còn cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm tính khoa học, hợp lý, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Tinh giản không có nghĩa là cắt giảm một cách một cách cơ học, mà là loại bỏ những vị trí không cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả”(1). Như vậy, tinh gọn bộ máy cần tổ chức một cách khoa học, hợp lý, giúp hệ thống vận hành hiệu quả, linh hoạt hơn. Việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy không chỉ giảm đầu mối, mà điều quan trọng là hướng đến việc vận hành hiệu quả, tối ưu hóa nguồn lực.

Thực tế, nhiều đơn vị có chức năng tương đồng đã được sáp nhập, giúp giảm sự chồng chéo về đầu mối và nâng cao hiệu quả quản lý. Trong quản lý nhà nước về xây dựng, Cục Kinh tế xây dựng, Cục Quản lý hoạt động xây dựng của Bộ Xây dựng và Cục Quản lý đầu tư xây dựng của Bộ Giao thông vận tải đã được thống nhất về một đầu mối là Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng, bởi ba đơn vị này có nhiều chức năng, nhiệm vụ cơ bản tương đồng. Việc thống nhất các đơn vị trên về một đầu mối giúp tạo sự thống nhất về quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả giám sát và điều hành trong lĩnh vực hạ tầng. Trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, một số cơ sở giáo dục - đào tạo có nhiệm vụ tương đồng đã được sáp nhập, như Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã được sáp nhập vào Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường được sáp nhập vào Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, giúp tập trung nguồn lực và nâng cao chất lượng đào tạo.

Không chỉ triển khai ở cấp trung ương, việc tinh gọn tổ chức bộ máy được triển khai đồng bộ ở cấp địa phương nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý. Các địa phương đã thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính giảm cấp hành chính trung gian phù hợp với thực tiễn, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã để mở rộng quy mô quản lý, bảo đảm phục vụ nhân dân tốt hơn. Quá trình thực hiện đã bám sát yêu cầu của Trung ương, theo đó xác định rõ mô hình chính quyền địa phương cấp xã đối với khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, hải đảo, quy mô dân số, diện tích, lịch sử, văn hóa, vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo...; xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, định biên của chính quyền địa phương cấp xã. Một số đề xuất cũng đang được triển khai, như sáp nhập các tỉnh, thành phố để mở rộng địa giới hành chính gắn với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch địa phương, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, mở rộng không gian phát triển, phát huy lợi thế so sánh, không tổ chức cấp huyện nhằm giảm tầng nấc trung gian, tiết kiệm chi phí hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý.

Việc triển khai tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã giúp tinh gọn đáng kể số đầu mối trong bộ máy nhà nước. Bộ máy Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã giảm từ 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ còn 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ. Việc sáp nhập các sở, ngành có chức năng tương đồng, như sở giao thông vận tải và sở xây dựng, sở kế hoạch và đầu tư với sở tài chính, sở lao động - thương binh và xã hội và sở nội vụ, sở khoa học và công nghệ và sở thông tin truyền thông, báo và đài địa phương... ở các tỉnh, thành phố giúp tăng cường công tác phối hợp, hạn chế chồng chéo và nâng cao hiệu quả quản lý.

Tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ giúp tăng cường hiệu quả vận hành, mà còn khắc phục tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, khi một số đơn vị vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa trực tiếp triển khai hoạt động, dẫn đến nguy cơ xung đột lợi ích, lãng phí nguồn lực. Tuy nhiên, để quá trình thực hiện đạt hiệu quả cao nhất, phải thực hiện bảo đảm khoa học, bài bản, bảo đảm sự ổn định trong lãnh đạo, quản lý. Nếu triển khai hợp lý, khoa học thì đây sẽ là bước đi quan trọng giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành, cải thiện chất lượng dịch vụ công và tối ưu hóa sử dụng nguồn lực quốc gia.

Giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn quá trình ra quyết định, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý

Một trong những bất cập hiện nay gắn với hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị là quá trình ra quyết định chưa linh hoạt, kéo dài, gây chậm trễ trong xử lý công việc. Cùng với đó, thủ tục hành chính còn rườm rà, phải trải qua nhiều cấp xét duyệt, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Điều này không chỉ làm suy giảm hiệu quả quản lý, mà còn gia tăng chi phí tuân thủ, gây rào cản đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Trước khi tiến hành sắp xếp bộ máy bên trong các bộ, ngành, cả nước có 30 tổng cục và tương đương, thực tế, cấp tổng cục là một tầng trung gian giữa cấp bộ và cấp cục, làm tăng sự phức tạp trong quản lý hành chính. Tình trạng nhiều cấp trung gian không chỉ làm chậm tiến độ triển khai chính sách, mà còn khiến trách nhiệm bị phân tán, dẫn đến việc ra quyết định thiếu nhất quán và kém hiệu quả.

Bên cạnh vấn đề tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính phức tạp cũng là một rào cản lớn đối với doanh nghiệp và người dân. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, 15,2% doanh nghiệp gặp khó khăn do thủ tục hành chính rườm rà, điều kiện kinh doanh phức tạp và quy trình đấu thầu thiếu minh bạch, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp(2). Báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm 2023 cũng chỉ ra rằng, 38% doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin về thủ tục hành chính, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp hoạt động lâu năm(3). Các con số này chỉ ra sự cần thiết của việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, giảm thủ tục hành chính, tăng tốc độ xử lý công việc, từ đó góp phần làm giảm chi phí vận hành của doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Việc giảm tầng nấc trung gian và tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã được xác định là một nhiệm vụ chiến lược, mang tính đột phá. Việc tối ưu hóa cơ cấu tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đồng thời cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính nhằm giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc cắt giảm quy trình xét duyệt không cần thiết, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước không chỉ giúp rút ngắn thời gian xử lý công việc, mà còn nâng cao chất lượng phục vụ đối với người dân và doanh nghiệp.

Tại buổi làm việc với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương (ngày 24-2-2025), Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tầm quan trọng của cải cách thủ tục hành chính và giảm chi phí kinh doanh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng chí Tổng Bí thư đặt ra mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp và người dân giảm bớt gánh nặng hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh và đầu tư. Bên cạnh đó, cần giảm ít nhất 30% chi phí kinh doanh, bao gồm chi phí tuân thủ quy định và chi phí không chính thức, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời, bãi bỏ ít nhất 30% điều kiện kinh doanh không cần thiết cũng là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm loại bỏ rào cản không đáng có, thúc đẩy môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch hơn.

Sự hiện hữu của quá nhiều tầng nấc trung gian và sự rườm rà của thủ tục hành chính đã làm chậm trễ quá trình ra quyết định và cản trở sự phát triển của doanh nghiệp. Việc tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm cấp trung gian và đơn giản hóa thủ tục hành chính không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng dịch vụ công và tăng cường niềm tin của doanh nghiệp, người dân vào bộ máy chính quyền.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Việc phân quyền mạnh mẽ hơn cho các cấp chính quyền phải đi đôi với cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ”. Điều này không chỉ đòi hỏi giảm khâu trung gian không cần thiết, mà còn đòi hỏi đẩy mạnh phân cấp, trao quyền gắn với giao trách nhiệm cho chính quyền địa phương, giúp tăng tính chủ động trong lãnh đạo, quản lý và thúc đẩy hiệu suất công việc. Trong mô hình quản lý mới, vai trò của cấp Trung ương sẽ tập trung vào hoạch định chính sách và định hướng chiến lược, trong khi địa phương được trao quyền nhiều hơn trong triển khai thực hiện. Điều này sẽ giúp rút ngắn quá trình ra quyết định, tăng tốc độ xử lý công việc, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý - Hướng tới quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả

Việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ dừng lại ở việc tinh gọn tổ chức, mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo và quản lý, xây dựng một nền hành chính thực sự phục vụ nhân dân. Tinh gọn tổ chức bộ máy không đơn thuần là giảm số lượng cơ quan, mà còn phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, loại bỏ cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ: “Không để cơ quan nhà nước là “vùng trú ẩn an toàn” cho cán bộ yếu kém”(4). Tinh giản biên chế không thể thực hiện theo hướng cắt giảm cơ học, mà cần gắn liền với việc kiện toàn tổ chức, sắp xếp lại nhân sự theo hướng chọn lọc. Mục tiêu là loại bỏ vị trí không cần thiết, tinh giản công việc kém hiệu quả, đồng thời tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực then chốt. Nếu không thực hiện triệt để, bộ máy hành chính vẫn sẽ cồng kềnh, lãng phí ngân sách và hoạt động kém hiệu quả. Do đó, việc loại bỏ cán bộ yếu kém, thiếu trách nhiệm không chỉ là một phần của công cuộc tinh giản biên chế, mà còn là yêu cầu cấp bách để nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

Chính phủ đã ban hành chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu trước tuổi hoặc chuyển đổi công việc, giúp tinh giản biên chế theo hướng chọn lọc. Đề xuất bỏ “biên chế suốt đời” cũng được xem là một bước đột phá trong cải cách hành chính, nhằm khuyến khích cán bộ, công chức làm việc dựa trên năng lực thực tế, thay vì duy trì tâm lý ỷ lại vào hệ thống. Đây là bước đi quan trọng để tạo động lực làm việc hiệu quả hơn và loại bỏ cán bộ không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Thực tiễn cho thấy, các địa phương thực hiện tinh giản biên chế theo hướng giữ lại người có năng lực đã cải thiện đáng kể hiệu suất làm việc và hiệu quả quản lý. Việc giảm bớt đơn vị, cấp hành chính không cần thiết giúp bộ máy vận hành nhanh hơn, linh hoạt hơn và giảm tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ; không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách, chính sách tinh giản biên chế hợp lý, mà còn tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp hơn, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm và nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công.

Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ nhằm cắt giảm nhân sự, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, bảo đảm sự vận hành hiệu quả của bộ máy, phục vụ tốt hơn cho nhân dân và doanh nghiệp.

Điều này có thể được thực hiện thông qua đào tạo chuyên sâu, cải cách chế độ tuyển dụng, đánh giá cán bộ dựa trên năng lực, thay vì chỉ dựa trên thâm niên. Thước đo của năng lực cán bộ là phải tạo ra sản phẩm cụ thể.

Bên cạnh đó, cần tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số thúc đẩy hoàn thành xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, góp phần đổi mới phương thức làm việc, nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp có đủ năng lực vận hành nền kinh tế số, xã hội số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công. Đầu tư vào hạ tầng công nghệ số không chỉ giúp nâng cao năng suất làm việc của bộ máy nhà nước, mà còn góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tăng cường niềm tin của người dân vào nền hành chính công.

Việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo và quản lý không chỉ là yêu cầu nội tại, mà còn là điều kiện tất yếu để Việt Nam phát triển trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Một bộ máy tinh gọn, chuyên nghiệp, số hóa và vận hành hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội./…

 

 

AMCHAM ỦNG HỘ VIỆC XÓA BỎ TẤT CẢ CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ

 AMCHAM ỦNG HỘ VIỆC XÓA BỎ TẤT CẢ CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ 

Ông Adam Sitkoff, Giám đốc điều hành Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) Hà Nội, ủng hộ việc xóa bỏ tất cả các rào cản thương mại giữa hai quốc gia và tin rằng, bằng cách mở cửa thị trường cho nhiều hàng hóa và dịch vụ của Hoa Kỳ, Việt Nam có thể giúp điều chỉnh cán cân thương mại có lợi cho cả hai bên.

Trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ, ông Adam Sitkoff nhận định, Chính phủ Việt Nam đang nghiêm túc, chủ động thực hiện cam kết giải quyết mất cân bằng thương mại, đồng thời tháo gỡ vướng mắc mà các công ty và nhà đầu tư Hoa Kỳ gặp phải trong quá trình đầu tư kinh doanh.

Gần đây, Việt Nam đã giảm thuế quan đối với 13 nhóm sản phẩm trực tiếp có lợi cho các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ. Lãnh đạo Việt Nam cũng cam kết thúc đẩy nhập khẩu nhiều hơn các sản phẩm của Hoa Kỳ.

Theo ông Adam Sitkoff, Việt Nam đã trở thành một trong những thị trường xuất khẩu phát triển nhanh nhất của Hoa Kỳ.

Khi tầng lớp trung lưu tại Việt Nam ngày càng gia tăng, sẽ có nhiều cơ hội cho nông sản, máy bay, năng lượng, thiết bị, thuốc men, công nghệ và nhiều lĩnh vực khác của Hoa Kỳ xuất sang Việt Nam, tạo ra sự giàu có và việc làm cho Hoa Kỳ. Có rất nhiều điều đạt được từ một mối quan hệ thương mại song phương mạnh mẽ.

AmCham sẽ tiếp tục đối thoại với Chính phủ Hoa Kỳ

Đánh giá về chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, đại diện AmCham bày tỏ sự quan ngại và cho rằng, việc giảm mức thuế lên các sản phẩm nhập khẩu đến từ Việt Nam sẽ mang lại lợi ích cho các công ty, nền kinh tế và người tiêu dùng Hoa Kỳ. 

Ông Adam Sitkoff cho biết, các lãnh đạo của AmCham đã gặp gỡ với Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc trước chuyến thăm của ông tới Hoa Kỳ. AmCham và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã gửi một bức thư chung bày tỏ quan ngại tới Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ đề nghị hoãn việc thực hiện thuế đối ứng.

Bên cạnh đó, AmCham cũng đã có các cuộc thảo luận với nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ và cũng đã liên lạc với các nhà xuất khẩu lớn khác như các công ty Hàn Quốc đang hoạt động tại Việt Nam.

"Chúng tôi sẽ tiếp tục cả các cuộc đối thoại chính thức và không chính thức với Chính phủ Hoa Kỳ và sẽ làm hết sức để giảm thiểu tác động của chính sách mới của Hoa Kỳ đối với thương mại và đầu tư tại Việt Nam", ông Adam Sitkoff nhấn mạnh.

Đề cập tới những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc ứng phó với chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ, đại diện AmCham cho rằng, ngay khi các mức thuế được công bố, Chính phủ Việt Nam đã hành động bằng cách triệu tập các cuộc thảo luận để đánh giá tác động của chính sách mới, đồng thời liên lạc với Chính quyền Tổng thống Trump để đề nghị hoãn thực hiện các mức thuế.

Ông Adam Sitkoff đánh giá cao những dấu hiệu tích cực trong cuộc điện đàm của Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng thống Trump.

Thời gian tới, Việt Nam cần cải thiện quyền tiếp cận thị trường cho các sản phẩm của Hoa Kỳ, cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam, ông Adam Sitkoff khuyến nghị.

Đại diện AmCham bày tỏ hy vọng, hai chính phủ sẽ tạo ra một chương trình mang tính xây dựng để giúp giảm thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Việt Nam theo cách nâng cao mức sống và tạo ra sự thịnh vượng cho cả hai quốc gia./.

CHỦ TỊCH TỈNH CHỈ ĐỊNH CHỦ TỊCH CẤP XÃ, CẦN SÁNG SUỐT, CÔNG TÂM

 CHỦ TỊCH TỈNH CHỈ ĐỊNH CHỦ TỊCH CẤP XÃ, CẦN SÁNG SUỐT, CÔNG TÂM

Chủ tịch tỉnh quyết định điều động, cách chức chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp xã và giao quyền chủ tịch UBND cấp xã.

Nội dung nêu trên là một phần trong dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), theo đó, Bộ Nội vụ đã dành riêng một điều luật để quy định 22 nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo và chịu trách nhiệm về công tác tuyển dụng, sử dụng công chức, viên chức trên địa bàn; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND cấp tỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh sẽ thực hiện phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm và quyết định điều động, cách chức chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp cơ sở và giao quyền chủ tịch UBND cấp cơ sở.

Bộ Nội vụ đề xuất tiêu chí mới để sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, theo đó dự kiến số lượng cấp xã sẽ giảm còn khoảng 5.000 đơn vị. Điều này có nghĩa là trung bình mỗi hai xã sẽ được sáp nhập thành một, dẫn đến khoảng 5.000 chủ tịch xã phải rời chức vụ.

Nhiệm vụ của chủ tịch tỉnh, trong giai đoạn sắp xếp, tinh gọn này, phải lựa chọn người đứng đầu cấp xã đủ trình độ, năng lực, tâm huyết, đáp ứng được yêu cầu của cải cách, đổi mới.

Chủ tịch xã được lựa chọn có thể là các vị chủ tịch xã đương nhiệm, hoặc cán bộ từ quận, huyện, từ tỉnh đưa về. Tiêu chí chọn người đứng ra gánh vác việc dân, việc nước chính là tài đức.

Muốn chọn được người tài đức, chủ tịch tỉnh phải sáng suốt, công tâm, không bị các mối quan hệ riêng xen vào việc chung. Dù là người thân, nhưng kém tài thì cũng mời bước ra nhường chỗ cho người giỏi hơn.

Xét cho cùng, để lựa chọn được người tài đức thì người đưa ra quyết định cũng phải là những con người tài đức, có bản lĩnh. Đưa ra quyết định nhân sự đúng và trúng, được cán bộ, công chức, người dân tâm phục khẩu phục, ủng hộ và đoàn kết một lòng.

Đối với những người được chỉ định làm chủ tịch xã, phải thể hiện được năng lực của mình, đáp ứng được yêu cầu công việc, phục vụ nhân dân thật tốt.

Nếu không hoàn thành nhiệm vụ, bắt buộc phải nhường chỗ cho người khác. Chỉ có áp lực như vậy mới tuyển chọn được nhân tài thực sự./. 

KHẲNG ĐỊNH TINH THẦN QUỐC TẾ CAO CẢ, TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 KHẲNG ĐỊNH TINH THẦN QUỐC TẾ CAO CẢ, TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Đánh giá về đợt hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar của đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, Phó cục trưởng Cục Cứu hộ-Cứu nạn (Bộ Tổng tham mưu), Trưởng đoàn công tác khẳng định, đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ đầy ý nghĩa, đó là giúp đất nước và người dân Myanmar vơi đi những đau thương, mất mát do thảm họa động đất.

Trước đó, thực hiện chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã cử đoàn gồm 80 đồng chí sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp sang Myanmar tham gia cứu hộ động đất từ ngày 30/3.

Chạy đua với thời gian để tìm kiếm, cứu hộ

Theo Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, ngay khi có mặt tại Myanmar, mặc dù đã muộn, nhưng đoàn vẫn tiếp tục di chuyển hơn 500km Naypyidaw - Thủ đô của nước bạn để sẵn sàng nhận nhiệm vụ ngay.

Sau khi làm việc với cơ quan chức năng sở tại, đoàn đã nhanh chóng triển khai tìm kiếm tại 3 vị trí, bao gồm khu chung cư Bala Tidi, Bệnh viện Ottara Thiri và Khách sạn Aye Chan Thar.

Nói về mức độ nguy hiểm trong quá trình cứu nạn, cứu hộ, Trưởng đoàn công tác chia sẻ, các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn.

Đầu tiên phải kể đến điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, nhiệt độ thường trên 40 độ C. Điều này cũng khiến cho tử thi bị phân hủy nặng. Bên cạnh đó, các khu vực tìm kiếm cũng tiểm ẩn nguy hiểm khi có thể xảy ra nguy cơ sập đổ cao. Nhiều đoàn cứu hộ khác đã phải rời đi do tính chất phức tạp và nguy hiểm.

Tại vị trí tìm kiếm, đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam đã sử dụng chó nghiệp vụ, các thiết bị tìm kiếm chuyên dụng. Qua đó đã phát hiện 32 vị trí có nạn nhân mắc kẹt. Đoàn trực tiếp tổ chức tìm kiếm ở 20 vị trí, đưa ra ngoài 21 thi thể.

"Đặc biệt, đoàn đã phối hợp với lực lượng cứu hộ của Myanmar và Thổ Nhĩ Kỳ cứu sống nam thanh niên 26 tuổi trước sự trân trọng của người dân địa phương và lực lượng cứu hộ của nước bạn", Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ nhấn mạnh.

Cũng tại các vị trí nêu trên, đoàn đã tìm thấy nhiều tài sản, trang thiết bị có giá trị lên tới hàng trăm nghìn USD, sau đó bàn giao lại cho Bệnh viện Ottara Thiri và người dân.

Ngoài ra, trong thời gian ở Myanmar, đoàn cũng đã thực hiện tốt các hoạt động đối ngoại, giao lưu tiếp xúc và chia sẻ kinh nghiệm cứu hộ, cứu nạn với các cơ quan chuyên môn của Myanmar, Thổ Nhĩ Kỳ, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE)…

Lan tỏa tinh thần quốc tế cao cả

Theo Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, ông U Myat Thu, Cục trưởng Cục Cứu hỏa, cứu hộ, cứu nạn U Myat Thu (Bộ Nội vụ Myanmar) rất trân trọng những kết quả nói trên. Đại diện phía Myanmar cũng cho biết, đoàn Việt Nam là đoàn tìm thấy nhiều thi thể nạn nhân nhất, đồng thời có nhiều hoạt động ý nghĩa nhất trong số các đoàn cứu hộ nước ngoài đến thủ đô Naypyidaw.

Thực tế, quá trình tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn của đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, Việt Nam nói chung cũng đã nhận được sự đánh giá rất cao từ nước bạn cũng như lực lượng cứu hộ quốc tế; đặc biệt là về tính chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn.

Cũng theo Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, các bạn đồng nghiệp còn trân trọng lòng dũng cảm, sự thông minh, sáng tạo của các chiến sĩ công binh, quân y... Nhiều "ca khó" mà đội nước ngoài chịu thua nhưng vẫn được bộ đội ta hoàn thành xuất sắc.

"Việc Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng sang tham gia cứu hộ động đất ở Myanmar đã góp phần lan tỏa tinh thần quốc tế cao cả, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và phẩm chất 'Bộ đội cụ Hồ', và đặc biệt có ý nghĩa sâu sắc trong quan hệ Việt Nam-Myanmar, qua đó chia sẻ và giúp nhân dân nước bạn vượt qua những khó khăn trong giai đoạn hiện nay", Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ khẳng định.

Nói về kinh nghiệm đúc rút sau chuyến đi, Trưởng đoàn cứu hộ, cứu nạn Quân đội nhân dân Việt Nam cho rằng: Đây là những kinh nghiệm quý giá để lực lượng cứu hộ, cứu nạn tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn. Những kinh nghiệm này cần được tổng kết, rút kinh nghiệm, quy chuẩn thành tài liệu tham khảo để phục vụ cho việc cử các đoàn cứu hộ ra nước ngoài và làm việc trong môi trường đa quốc gia trong tương lai./. 

GIỮA THÁNG TƯ LỊCH SỬ

 GIỮA THÁNG TƯ LỊCH SỬ


Tháng Tư, từ nửa thiên niên kỷ nay, với người Việt, có thêm một tên gọi mới - tháng Tư lịch sử. Với người Hà Tĩnh - nơi từng bị chiến tranh tàn phá, tháng Tư cũng thật đặc biệt.


Ấy là tháng ghi nhớ và nhắc nhớ nhiều sự kiện lịch sử trọng đại dẫn đến ngày vui chiến thắng, thống nhất non sông sau cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ. Và bởi thế, mỗi tháng Tư về, lòng người Việt trên khắp dải non sông lại như xao xuyến, bồi hồi hơn trong những nghĩ suy về quá khứ, như lại phơi phới tin yêu khi hướng về tương lai…


Tôi vẫn thường bắt đầu tháng Tư của mình như thế - ngắm nhìn lại những bức ảnh thời quân ngũ của bố tôi và nhớ lại những câu chuyện trên chiến trường bố từng kể. Bố tôi cũng giống như bao thanh niên thời đại ấy, lớn lên là cầm súng ra chiến trường chống giặc. Ông từng đi lính, từng được đào tạo trở thành sĩ quan, rồi thành giảng viên đào tạo sĩ quan và ông cũng có nhiều năm tháng hào hùng nơi chiến trường B, chiến trường C, tham gia nhiều chiến dịch lớn, đóng góp không nhỏ vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc.


Bố từng kể rất nhiều về quãng đời quân ngũ nhưng ông chưa bao giờ kể tường tận cho tôi nghe những trận đánh giáp lá cà với địch, có lẽ ông không muốn tâm hồn thơ trẻ của tôi bị ám ảnh hay tổn thương vì những câu chuyện đó. Dẫu sau này, lớn lên, nhìn những “chiến lợi phẩm” ông mang về từ chiến trường như những chiếc thìa có chữ U.S.A, những chiếc bút máy tinh xảo… tôi đều có thể tự hiểu bố đã phải trải qua cuộc chiến khốc liệt như thế nào.


Tôi không nhớ đã có bao nhiêu tháng Tư như thế trong đời, tôi cầm cuốn lưu bút của bố đọc và hỏi chuyện này chuyện nọ. Từ những câu chuyện bố kể, tôi đã hiểu tường tận hơn về cuộc kháng chiến chống Mỹ trong sách lịch sử. Cũng từ những câu chuyện đó mà sau này, khi viết những bài báo về các nhân vật lịch sử, tôi đều tìm được cách tiếp cận sâu hơn và kể lại câu chuyện của họ sinh động và xúc động hơn.


Tháng Tư trong nửa thiên niên kỷ qua đã trở thành mùa hội ngộ, mùa tri ân. Có biết bao nhiêu thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến… đã hò hẹn nhau về thăm chiến trường xưa trong những ngày tháng Tư lịch sử. Và rồi, trên những chiến trường năm xưa đạn bom giày xéo lại rưng rưng tiếng cười, rưng rưng những giọt nước mắt.


Đó là nỗi xúc động được gặp lại nhau trong hòa bình, là nỗi nhớ thương người đồng chí, đồng đội đã mãi mãi nằm xuống cho đất nước đứng lên. Tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc gặp gỡ huyên náo mà trĩu nặng tâm tư, từng biết đến nhiều cuộc trở về lặng lẽ mà mênh mang niềm thương nhớ. Nhiều cựu chiến binh đã chọn tháng Tư để bắt đầu cuộc hành trình đi tìm ký ức của mình. Đâu đó giữa đại ngàn gió núi, đâu đó giữa lau lách rừng già, bên những con sông con suối… họ đã lặng lẽ gửi tâm tư vào lòng đất, vào mạch nước trong từng làn khói mỏng, trong những đóa hoa thơm… Giữa những ngày tháng Tư lịch sử, nghĩ đến những điều đó, trong tôi lại vang lên những câu thơ của tác giả Nguyễn Đình Thi: “Nước chúng tôi/ Nước những người chưa bao giờ khuất/ Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa vọng nói về”…


Trong những vọng về của quá khứ ấy, có rất nhiều câu chuyện hào hùng, cũng có những ngậm ngùi đắng đót. Tất cả đều vì hòa bình, độc lập của dân tộc. Không hiểu vì nguyên cớ gì, trong những ngày tháng Tư lịch sử của dân tộc, tôi thường gặp được rất nhiều cựu chiến binh đặc biệt và năm nay, tôi cũng lại đã vô tình gặp gỡ với một cựu chiến sĩ biệt động Sài Gòn. Câu chuyện ông kể cứ khiến tôi day dứt mãi. Tôi không thể phân định nổi cảm xúc, suy nghĩ của mình lúc đó. Ông kể, những năm ông ra tiền tuyến, tham gia đánh Mỹ thì vợ ông ở nhà “nhỡ nhàng” có thêm một đứa con trai. Ai cũng nghĩ ông sẽ hắt hủi, sẽ ly hôn với bà. Nhưng không. Ông đã bảo người nhà cứ “vào họ” cho thằng bé, đất nước đang cần nam thanh niên để đánh giặc, có thêm người nào tốt người đó.


Tất nhiên, sau này, cậu bé ấy không phải ra trận. Và ông trở về, vẫn yêu thương cậu bé như con của mình, tiếp tục sinh con đẻ cái với người vợ đó. Câu chuyện của vợ ông không phải là câu chuyện hy hữu trong chiến tranh nhưng suy nghĩ và cách ứng xử của ông thì đúng thật là hy hữu. Ông đã cho tôi tiếp cận thêm một tầng nghĩa của tinh thần chiến đấu, của sự hy sinh trong chiến tranh. Đất nước tự hào vì có một thế hệ cha ông như thế, không chỉ dâng hiến tuổi xuân, không chỉ hy sinh xương máu, không chỉ chiến đấu với quân thù mà họ còn phải chiến đấu và chiến thắng bản thân, phải hy sinh tình cảm, cảm xúc riêng tư để sống trọn cho lý tưởng mà mình đã chọn.


Đâu chỉ có trong chiến tranh, sau ngày giang sơn thu về một mối, nước ta, Nhân dân ta đã trải qua nhiều chặng đường gian khó mà ở đó, mỗi người dân lại phải cống hiến, phải hy sinh theo nhiều cách khác nhau để kiến thiết đất nước. Chặng đường 50 năm qua đã ghi dấu thêm rất nhiều bài học quý giá. Và trong những ngày tháng Tư của kỷ nguyên vươn mình này, những bài học lịch sử lại càng có giá trị hơn bao giờ hết, nhất là đối với cuộc cách mạng mới (tinh gọn bộ máy) mà Đảng ta, Nhân dân ta đang cùng nhau thực hiện.


Để phát triển lên tầm cao mới, đất nước lại cần tinh thần chiến đấu và hy sinh của công dân ở một nghĩa khác. Cuộc cách mạng mới đã và đang khẳng định tư tưởng cần phải chăm lo giữ nước, xây nước khi vận nước chưa nguy, khi non sông còn thái bình. Tôi lại nhớ năm xưa, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải trên đường về kinh thành Thăng Long sau khi thành công đánh đuổi giặc Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285) đã viết lên những câu thơ bất hủ: “Đoạt sáo Chương Dương độ/ Cầm hồ Hàm Tử quan/ Thái bình tu trí lực/ Vạn cổ thử giang san” (Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù/ Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy nghìn thu). “Thái bình tu trí lực” - câu thơ tự răn mình nhưng cũng là lời hiệu triệu với muôn dân. Và sau này, là lời dạy sâu sắc, luôn có giá trị trong mọi thời đại…


Tháng Tư bao giờ cũng vậy, luôn thắp lên trong tâm tư người Việt trên khắp dải non sông những rưng rưng thương nhớ, tự hào, những thôi thúc đi tới… Với lịch sử hào hùng của Tổ quốc, các thế hệ công dân Việt Nam sẽ luôn làm tròn sứ mệnh của mình trước vận mệnh của dân tộc. Lịch sử cũng đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần đoàn kết, sẵn sàng chiến đấu của Nhân dân, không có cuộc cách mạng nào ở Việt Nam không thành công cả. Và, kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là dịp để các thế hệ người Việt tô đậm thêm lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Từ đó, bồi đắp niềm tin, nâng cao trách nhiệm của mình trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước./.

CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỘNG THUẾ QUAN

 CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỘNG THUẾ QUAN

Ngay khi Mỹ phát đi thông tin áp thuế nhập khẩu đối ứng hơn 180 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam, Chính phủ đã liên tiếp tổ chức nhiều cuộc họp bàn về vấn đề này. Mức thuế 46% nếu được áp dụng sẽ gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

Khẩn trương tìm giải pháp

Rạng sáng 3/4 Mỹ phát đi thông tin áp thuế nhập khẩu đối ứng với hơn 180 đối tác thương mại. Theo đó, thuế nhập khẩu đối ứng được Mỹ đưa ra dao động 10-50%. Việt Nam nằm trong nhóm các nước bị áp mức thuế cao nhất với thuế suất là 46%. Mức thuế này được đưa ra nhằm “đối ứng” với thuế nhập khẩu Việt Nam đang áp với hàng hóa Mỹ, tức là khoảng 90%, theo cách tính của nước này, dự kiến có hiệu lực từ 9/4. Theo phân tích của giới chuyên gia, việc áp thuế sẽ tác động sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam.

Vì vậy, quan điểm chung nhất quán được đưa ra là Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Mỹ để đưa mức thuế nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ về 0%, đồng thời đề nghị Hoa Kỳ áp dụng mức thuế tương tự đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam; tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện để Việt Nam mua hàng hóa của Mỹ theo nhu cầu; đồng thời tạo môi trường thuận lợi hơn nữa để các doanh nghiệp (DN) Mỹ đầu tư tại Việt Nam.

Theo ông Trần Hoàng Sơn - Giám đốc chiến lược thị trường, Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS), về xuất khẩu, hiện Mỹ đang là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 28-30% tổng kim ngạch xuất khẩu và chiếm khoảng 26% cấu phần GDP.

Với mức thuế 46%, giá hàng hóa Việt Nam tại Mỹ sẽ tăng vọt, làm giảm sức cạnh tranh so với các quốc gia khác như Trung Quốc, Ấn Độ hay Mexico. Các ngành chủ lực như dệt may, da giày, điện tử, gỗ và thủy sản sẽ chịu ảnh hưởng. Ước tính xuất khẩu sang Mỹ có thể giảm đến 20- 30% hoặc hơn, tùy thuộc vào khả năng chuyển hướng thị trường.

Về nhập khẩu, Việt Nam có thể phải tăng nhập khẩu từ Mỹ để giảm thặng dư thương mại, nhằm xoa dịu áp lực thuế quan. Tuy nhiên, điều này sẽ làm gia tăng chi phí nhập khẩu, đặc biệt với các mặt hàng công nghệ và nguyên liệu sản xuất.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy cho biết: Các mặt hàng thiết yếu của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu là thủy sản, hồ tiêu, gia vị... trong đó sản phẩm gia vị chiếm đến 70% thị phần tại thị trường này.

“Chính phủ cũng như Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã rất tích cực dỡ bỏ các rào cản thương mại đối với nông sản, mở cửa thị trường cho bạn; giảm thuế cho nhiều mặt hàng. Thông qua trao đổi với Tham tán nông nghiệp Hoa Kỳ, chúng tôi nhận thấy đây sẽ là yếu tố quan trọng trong các cuộc đàm phán sắp tới để Việt Nam có thể được chấp nhận việc giảm thuế hoặc tránh tăng thuế đối với nông sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ”.

Ở góc độ DN, ông Vũ Thái Sơn - Chủ tịch Hiệp hội Điều Bình Phước kiêm Tổng Giám đốc Công ty Long Sơn, cho biết các DN đều bất ngờ và bị động trước chính sách mới của Tổng thống Donald Trump. “Mỹ là thị trường xuất khẩu hạt điều lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu năm 2024 đạt trên 1 tỷ USD. Trường hợp Mỹ áp dụng chính sách thuế mới chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn ngành” - ông Sơn nói.

Chủ tịch Hiệp hội Điều Bình Phước cho hay, ngay sau khi có thông tin về chính sách thuế mới, các DN điều đã chủ động liên hệ với khách hàng Mỹ để điều chỉnh kế hoạch giao hàng nhưng nhận được nhiều phản hồi khác nhau. Theo đó, có khách hàng trả lời nếu mở tờ khai hải quan trước ngày 9/4 thì tiếp tục giao nhưng cũng có khách hàng đề nghị tạm hoãn chờ chính sách rõ ràng hơn.

Nỗi lo bị áp thuế 46% với nhiều mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ thực sự khiến các DN Việt nặng gánh.

Chưa hết, ngày 4/4 vừa qua, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) công bố quyết định sơ bộ trong cuộc điều tra chống bán phá giá với thép mạ nhập khẩu từ nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Cuộc điều tra được khởi xướng từ tháng 9/2024, khi DOC nhận được đơn kiện từ các nhà sản xuất thép Mỹ. Kết quả điều tra ban đầu, các DN thép Việt Nam sẽ phải chịu mức thuế chống bán phá giá lên đến 88,12%.

Sau quyết định sơ bộ này, DOC sẽ đưa ra phán quyết cuối cùng vào ngày 18/8, trước khi Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (ITC) đưa ra kết luận cuối cùng vào tháng 10/2025.

Nâng cao khả năng chống chịu lâu dài

Việt Nam đang xếp thứ 23 về xuất khẩu và thứ 22 về nhập khẩu trên thế giới, với mức tăng trưởng bình quân trên 13% kể từ năm 2007 tới nay. Kim ngạch xuất nhập khẩu ghi nhận vượt kỷ lục 800 tỷ USD vào năm 2024, một nửa trong số này đến từ nhập khẩu.

Tuy nhiên, đối diện với cơn bão thuế quan, những điểm sáng trong bức tranh xuất khẩu có nguy cơ bị tác động rất lớn. Trong bối cảnh đó, giới chuyên gia khuyến cáo muốn giữ được tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2025, cần tận dụng thế mạnh sẵn có của 17 Hiệp định Thương mại tự do với trên 60 quốc gia, vùng lãnh thổ cùng 70 cơ chế hợp tác kinh tế thương mại song phương... Đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tiếp tục thúc đẩy đàm phán các FTA với các thị trường như Trung Đông, Mỹ La tinh, Trung Á và các thị trường mới nổi khác.

Để giảm thiểu rủi ro từ các biến động thương mại quốc tế, Bộ Công thương cũng khuyến nghị các DN trong nước chủ động cập nhật thông tin thị trường. Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về thị trường và chính sách thương mại của các quốc gia, để kịp thời điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp.

Song song với đó, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, lao động và môi trường của các thị trường xuất khẩu, nhằm tăng khả năng cạnh tranh và giảm nguy cơ bị áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại...

Theo TS Chu Thanh Tuấn - Phó Chủ nhiệm ngành kinh doanh Đại học RMIT Việt Nam, các DN cần điều chỉnh lại chuỗi sản xuất, tập trung tăng cường giá trị gia tăng trong nước và hạn chế sử dụng nguyên liệu trung gian từ Trung Quốc - yếu tố thường bị phía Mỹ kiểm tra gắt gao về xuất xứ. Việc đầu tư vào hệ thống truy xuất nguồn gốc và công nghệ đáp ứng tiêu chuẩn của Mỹ sẽ giúp DN vững vàng hơn trước các biến động chính sách. Một số DN có thể xem xét lắp ráp hoặc hoàn thiện sản phẩm tại Mexico - quốc gia có lợi thế thương mại với Mỹ nhờ Hiệp định USMCA để duy trì khả năng tiếp cận thị trường Mỹ mà vẫn tránh được thuế cao.

Theo ông Tuấn, để nâng cao khả năng chống chịu lâu dài, Việt Nam cần cải cách thể chế, nghiêm ngặt trong việc thực thi quy tắc xuất xứ để tránh tình trạng hàng hóa Trung Quốc “đội lốt” Việt Nam. Nếu không kiểm soát tốt, nước ta có thể đối mặt với các biện pháp trừng phạt khác. Do đó, cần thành lập một tổ chức liên ngành, kết hợp giữa khu vực công và tư để theo dõi diễn biến thương mại toàn cầu, đánh giá tác động và đưa ra phản ứng chính sách kịp thời.

Cụ thể hơn, ông Nguyễn Minh Đức - đại diện Hội đồng DN Hoa Kỳ US-ASEAN (US ABC) chỉ rõ, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, diễn biến khó lường, đơn cử như việc Tổng thống Donal Trump bất ngờ áp thuế đối ứng rất cao đối với các đối tác thương mại lớn của Mỹ, trong đó có Việt Nam. Có thể sẽ có các biện pháp đáp trả trong tương lai gây hỗn loạn thị trường thương mại thế giới và tác động mạnh tới thị trường Việt Nam.

“Hiện tại, Chính phủ và các bộ, ngành đang khẩn trương xây dựng kế hoạch ứng phó. Một trong những mũi nhọn, động lực để đạt mục tiêu tăng trưởng 8% năm 2025 và hai con số cho giai đoạn tiếp theo là “đẩy mạnh xuất khẩu” sẽ bị tác động nặng nề. Vì vậy, cần phải em xét các động lực bền vững từ chính các sức mạnh nội tại của Việt Nam trong đó có đầu tư từ khu vực tư nhân, kích cầu tiêu dùng trong nước…” - ông Đức nêu quan điểm./.

TÔ THẮM TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG QUÊ HƯƠNG

 TÔ THẮM TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG QUÊ HƯƠNG

Trong lịch sử 90 năm của lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) cả nước, DQTV tỉnh Hà Nam luôn đoàn kết một lòng, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, chiến đấu ngoan cường, lập nhiều chiến công, tô thắm truyền thống cách mạng của quê hương và của LLVT tỉnh.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hà Nam là một trong những địa bàn nóng bỏng, là nơi đọ sức quyết liệt giữa ta và địch. Với ý chí kiên cường, bất khuất, trong 9 năm kháng chiến, dân quân, du kích tỉnh Hà Nam vừa xây dựng vừa chiến đấu, trưởng thành và là lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân đánh giặc. 

DQTV trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu tại khắp các địa phương, là nguồn bổ sung cho lực lượng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, kiên trì bám đất, bám dân, chiến đấu ngày đêm, chống địch càn quét, bảo vệ từng tấc đất, từng mảnh vườn. DQTV đã cùng với quân và dân tỉnh Hà Nam đánh hàng nghìn trận, diệt hàng chục nghìn tên địch... góp phần cùng cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, giải phóng quê hương, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu n­ước, DQTV tỉnh Hà Nam được xây dựng và phát triển rộng khắp, tính đến tháng 11-1961 đã có hơn 41.000 đội viên, chiếm 9,3% dân số và cũng trong năm 1961, Hà Nam trở thành tỉnh tiên tiến, được nhận cờ luân lưu 5 năm của Quân khu Hữu Ngạn; xã Liêm Trực (nay là xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm) được công nhận là một trong 6 đơn vị tiên tiến toàn miền Bắc về công tác DQTV.

Khi giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, DQTV tỉnh Hà Nam không chỉ là lực lượng nòng cốt, xung kích trong phục vụ chiến đấu mà còn là nguồn bổ sung hùng hậu cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương. Trong thời gian này, tỉnh Hà Nam đã tổ chức được 65 cụm chiến đấu, 398 tổ săn máy bay, 608 tổ dân quân vừa sản xuất vừa chiến đấu; có nhiều đơn vị dân quân tiêu biểu, đặc biệt xuất sắc như Trung đội dân quân nữ phòng không xã Phù Vân và Đại đội dân quân xã Lam Hạ (nay là phường Lam Hạ, TP Phủ Lý) đã ngày đêm phối hợp với lực lượng phòng không của bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực, tạo thành l­ưới lửa phòng không dày đặc bảo vệ vùng trời quê hương, giữ vững tuyến giao thông huyết mạch chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Từ năm 1965 đến 1972, lực lượng DQTV tỉnh Hà Nam đã tham gia chiến đấu và bắn rơi 13 máy bay Mỹ, bắt sống nhiều giặc lái, góp phần cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược...

Bước vào giai đoạn cách mạng mới, Bộ CHQS tỉnh Hà Nam luôn làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương; tổ chức xây dựng lực lượng DQTV rộng khắp, chất lượng theo đúng quy định của Luật DQTV. Tính đến năm 2024, lực lượng DQTV của tỉnh đạt 1,28% dân số, trong đó đảng viên chiếm 26%. Cán bộ, chiến sĩ DQTV trong tỉnh luôn phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, nỗ lực khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạo, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ./.#HY

XA TỔ QUỐC, CÀNG CỐNG HIẾN NHIỀU HƠN

 XA TỔ QUỐC, CÀNG CỐNG HIẾN NHIỀU HƠN 

Viết như ngày nào cũng là ngày cuối cùng của mình, tác giả “Đất nước tình yêu” khiến công chúng kinh ngạc về số lượng tác phẩm chị đã sáng tác trong mấy năm trở lại đây. Dù sống xa Tổ quốc nhưng chị luôn hướng về quê nhà và muốn đóng góp ngày càng nhiều hơn cho đời sống âm nhạc.

Phóng viên (PV): Sớm nổi tiếng với các ca khúc “Đất nước tình yêu”, “Uớc mơ xanh” rồi bẵng đi nhiều năm, gần đây nhạc sĩ trở lại con đường âm nhạc với nhiều sản phẩm mới. Chị có thể chia sẻ về album vừa phát hành của mình?

Nhạc sĩ Lệ Giang: Album “Trở về ký ức” có 9 ca khúc tôi viết với nhiều phong cách, chất liệu khác nhau: Nhạc đỏ, nhạc âm hưởng dân gian, nhạc thính phòng, cổ điển. NSƯT Hoàng Tùng đã thể hiện rất tuyệt vời. Khi nghe Hoàng Tùng hát vài ca khúc âm hưởng dân gian tôi viết, có một đồng nghiệp đã nhận xét: “NSƯT Hoàng Tùng trước đây tưởng chỉ tung hoành trong lĩnh vực âm nhạc thính phòng, nay ngọt ngào trong trẻo, tươi tắn, hồn nhiên rất dân gian, rất đời”. Tôi nghĩ đây là một cái duyên rất lớn giữa tôi và Quán quân Sao Mai 2003.

PV: Trong đời sống nghệ thuật, có nhiều nghệ sĩ nổi danh bằng vài tác phẩm rồi dừng lại. Còn chị, ở tuổi ngỡ là chỉ vui hưởng thụ đời sống lại bất ngờ dào dạt cảm xúc sáng tác và làm việc không ngừng. Tiếng gọi ấy bắt đầu từ đâu?

Nhạc sĩ Lệ Giang: Tôi yêu âm nhạc từ nhỏ, được gia đình cho đi học đàn mandolin. Cha tôi cũng dạy chơi đàn ghita Hawaii từ rất sớm. Tôi theo đuổi đam mê âm nhạc cho dù phải đi tắt làm một cô giáo trước khi thi vào nhạc viện. Nhưng sau đó cuộc đời xô đẩy sang một ngã rẽ khác cho tới hơn 40 năm sau mới được quay trở lại với âm nhạc, khi đã là người con xa xứ. Tôi bắt đầu viết, có cảm xúc là viết ngay, viết như sợ quỹ thời gian không còn nhiều.

Tôi chỉ viết bài khi có cảm xúc nên không bị gượng ép và không bị kéo dài thời gian. Tôi thường xây dựng một sườn ca khúc ngay trong vài tiếng đồng hồ... và sau đó hoàn chỉnh chi tiết. Quan trọng là cảm xúc để ra ngay được một cái khung, cái sườn, còn phần chỉnh trang chi tiết thì đơn giản. Vì thế tôi viết rất nhanh. Ngược lại, nếu không có cảm xúc thì cả tuần cũng không viết được một câu. Những lúc như thế tôi ngừng để đọc sách, xem phim và đi dạo.

PV: Sống và làm việc ở Scotland, nhưng âm nhạc chị lại thấm đẫm tinh thần, chất liệu Việt Nam, đặc biệt là chất dân ca? Chị có thể lý giải thế nào?

Nhạc sĩ Lệ Giang: Tôi là người rất dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh. Scotland là quê chồng và là quê hương thứ hai của tôi. Cuộc sống văn minh, êm đềm nhưng khi càng ở xa lâu thì nỗi nhớ quê nhà càng lớn lên, hoài niệm càng rõ nét hơn. Quê nhà với tôi là những câu dân ca, những cánh cò bay trên đồng lúa trong tiếng sáo chiều về... Tất cả là hồn Việt.

Tất cả những ca khúc tôi viết sau này đều có chủ đề chính là hoài niệm. Chắc có lẽ nhiều tuổi hơn nên cứ nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy điều gì ở nơi đây là lập tức liên tưởng về ký ức tuổi thơ, những ngày tháng thanh xuân. Cảm xúc ấy luôn thường trực trong tôi, đôi khi viết bài mà “khóc nhè” vì nhớ cảnh cũ, ngôi nhà xưa có cha mẹ, anh chị em, cây đa, bến nước, mùa hoa gạo. Tôi viết để cảm ơn những tấm lòng, những hy sinh cho đất nước và viết cũng để nói lên sự nhớ thương quê nhà đã chất chứa bấy lâu.

Việc sáng tác đối với tôi bây giờ đã vượt ra khỏi câu chuyện danh hay lợi, mà tôi viết để “trả nợ” cho những ân tình của cuộc đời, viết vì tình yêu âm nhạc luôn dào dạt trong tôi.

PV: Chồng chị, một người Scotland, có thường xuyên nghe và nhận xét gì về tác phẩm của chị?

Nhạc sĩ Lệ Giang: Chồng tôi là người Scotland gốc nhưng hay nói với tôi rằng, kiếp trước anh ấy là người châu Á và là người Việt Nam. Mỗi lần viết xong một ca khúc, đưa lên video thì anh là người nghe đầu tiên, nhấn like và comment ngay nói về cảm xúc của mình... Anh luôn nghe chăm chú và rất xúc động với những ca khúc tôi hoài niệm ngày xưa. Dù không hiểu tiếng Việt nhưng nói rằng, anh hiểu bằng ngôn ngữ âm nhạc. Chồng tôi tự hào và luôn khuyến khích, động viên cũng như tôn trọng công việc sáng tác của tôi. Điều đó làm tôi rất hạnh phúc!

PV: Ngoài sáng tác chị còn có công việc kinh doanh bận bịu. Chị phân phối thời gian thế nào để có thể sáng tác?

Nhạc sĩ Lệ Giang: Nếu bạn sống ở nước ngoài mà không giao tiếp, gia nhập cộng đồng ở đó thì cuộc sống sẽ rất buồn tẻ. Tôi có một Gallery - Cafe như một Việt Nam thu nhỏ, hằng ngày mở từ 11 giờ trưa tới 5 giờ chiều. Tôi vui vì mỗi ngày vẫn ra khỏi nhà, có công việc và gặp gỡ mọi người. Tối về cơm nước xong sẽ là một khoảng trời riêng của tôi với âm nhạc. Với cây đàn piano, tôi tha hồ vẫy vùng trong thế giới của mình để sáng tạo.. Tôi chỉ cầu mong mình có nhiều sức khỏe để được cống hiến lâu dài cho mọi người, cho quê hương và cho cuộc đời .

NỖ LỰC THỰC HIỆN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ HOA KỲ CÂN BẰNG, BỀN VỮNG

 NỖ LỰC THỰC HIỆN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ HOA KỲ CÂN BẰNG, BỀN VỮNG 

Tối 7/4, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành để tiếp tục đánh giá, cập nhật tình hình, diễn biến mới, thảo luận về các giải pháp trước mắt và lâu dài sau khi phía Hoa Kỳ vừa công bố áp thuế đối ứng với hàng hóa đến từ nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Cùng dự có Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn.

Sau khi nghe các bộ, nghành, cơ quan, đơn vị báo cáo, kết luận cuộc họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ đầy đủ phục vụ đoàn đàm phán bên Hoa Kỳ; thực hiện các biện pháp ngoại giao để đề nghị phía Hoa Kỳ trước hết hoãn việc thực hiện áp thuế đối ứng với Việt Nam ít nhất 45 ngày để có cơ sở đàm phán, chuẩn bị và chuyển tiếp trạng thái.

Tiếp cận, đàm phán với Hoa Kỳ để cân bằng thương mại bền vững, có lợi cho cả hai bên với tinh thần lợi ích hài hoà, rủi ro chia sẻ, có lợi cho người tiêu dùng hai nước, không làm ảnh hưởng các cam kết quốc tế, những Hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết; phấn đấu có thoả thuận song phương.

Về thuế, yêu cầu thực hiện đàm phán theo định hướng của cuộc điện đàm giữa Tổng Bí thư Tô Lâm với Tổng thống Donald Trump tối 4/4 vừa qua.

Về các giải pháp thương mại, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục tăng cường nhập khẩu thêm các mặt hàng mà Hoa Kỳ có thế mạnh, Việt Nam có nhu cầu, kể cả các mặt hàng liên quan an ninh quốc phòng; thúc đẩy việc giao hàng sớm máy bay Boeing cho Vietnam Airlines.

Tiếp tục giải quyết vấn đề liên quan yêu cầu của phía các doanh nghiệp Hoa Kỳ; rà soát lại và tiếp tục giải quyết dứt điểm, hiệu quả mà các nội dung phía Hoa Kỳ quan tâm.

Xử lý tốt các vấn đề liên quan chính sách tiền tệ theo luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế để ổn định lãi suất, tỷ giá cân bằng, phù hợp nền kinh tế Việt Nam.

Đối với những vấn đề có tính chất phi thuế quan, yêu cầu Văn phòng Chính phủ rà soát lại các vấn đề phía Hoa Kỳ quan tâm, giao các bộ, ngành nghiên cứu, có trả lời thoả đáng và sát tình hình thực tế.

Thủ tướng yêu cầu Bộ Công thương rà soát, kiểm soát việc xuất xứ hàng hoá theo quy định pháp luật của Việt Nam, không để sự việc đáng tiếc có thể xảy ra.

Liên quan vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ, Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát lại, thực hiện nghiêm các quy định của Việt Nam, tổ chức thực hiện hiệu quả để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng liên quan những tổ chức, cá nhân có sáng kiến, sáng chế, sở hữu trí tuệ; chống hàng giả, hàng nhái, hàng đội lốt xâm nhập Việt Nam.

Về nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, Thủ tướng đề nghị xây dựng gói tín dụng hỗ trợ các doanh nghiệp liên quan thủy sản, dệt may, da giày, điện tử, đồ gỗ…; tiếp tục mở rộng các gói tín dụng về thủy sản và nghiên cứu gói tín dụng cho các mặt hàng khác.

Tiếp tục giảm lãi suất cho các mặt hàng có thể chịu tác động bởi chính sách thuế của Hoa Kỳ; hoãn, giãn thuế và tiền thuê đất cho các doanh nghiệp trong lúc khó khăn; rà soát, tiếp tục nghiên cứu đề xuất các cấp thẩm quyền để hoàn thuế giá trị gia tăng, giảm thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân, doanh nghiệp; đề xuất giảm thuế giá trị gia tăng.

Tiếp tục các biện pháp ngoại giao bằng các kênh khác nhau để tác động các cơ quan liên quan của Hoa Kỳ có các giải pháp phù hợp điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, phù hợp quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện hai nước./. 

KIẾN NGHỊ TĂNG TUỔI NGHỈ HƯU VÀ CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CHO SĨ QUAN QUÂN ĐỘI

 KIẾN NGHỊ TĂNG TUỔI NGHỈ HƯU VÀ CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CHO SĨ QUAN QUÂN ĐỘI

Bộ Quốc phòng vừa trả lời cử tri về kiến nghị tăng tuổi nghỉ hưu, bổ sung chế độ đãi ngộ cho Quân đội.

Ngày 6.4, theo Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng, Bộ Quốc phòng vừa nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Hải Dương do Ban Dân nguyện chuyển đến.

Theo đó, cử tri tỉnh Hải Dương thể hiện sự đồng tình với việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, đặc biệt là việc tăng tuổi nghỉ hưu đối với đội ngũ sĩ quan QĐND Việt Nam nhằm phát huy năng lực, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ sĩ quan được đào tạo cơ bản, góp phần giảm áp lực đào tạo lực lượng QĐND.

Đồng thời cũng phù hợp với tinh thần mới của Bộ luật Lao động. Bên cạnh đó, cử tri tỉnh Hải Dương mong muốn bổ sung thêm các chính sách, chế độ đãi ngộ đối với lực lượng QĐND Việt Nam.

Phản hồi kiến nghị này, Bộ Quốc phòng cho biết, trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách ưu đãi đối với lực lượng vũ trang nói chung và QĐND Việt Nam nói riêng như: Chính sách về tiền lương và phụ cấp; nhà ở; bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; giáo dục và đào tạo; tăng tuổi nghỉ hưu; trợ cấp ngành nghề có tính chất đặc thù...

Từ đó, góp phần ổn định hậu phương gia đình, động viên bộ đội khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Vấn đề cử tri mong muốn bổ sung thêm các chính sách, chế độ đãi ngộ đối với lực lượng QĐND Việt Nam, Bộ Quốc phòng xin tiếp thu, tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành Trung ương, địa phương nghiên cứu các nội dung quy định tại Luật Sĩ quan sửa đổi, trên cơ sở đó để đề xuất Chính phủ ban hành chế độ, chính sách phù hợp với chủ trương cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) và điều kiện kinh tế của đất nước./. 

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: VỪA “MỞ CỬA” ĐÓN BẠN ĐẾN NHÀ, VỪA “ĐI XA” ĐỂ MỞ RỘNG TẦM NHÌN!

     Chưa đầy một tháng, hoạt động ngoại giao cấp cao của Việt Nam diễn ra theo hai chiều song hành: đón tiếp và chủ động tiếp cận. Ở chiều “đón bạn đến nhà”, Việt Nam thể hiện vai trò một điểm đến an toàn, ổn định và có năng lực hợp tác thực chất. Ở chiều “đi xa”, các chuyến thăm chiến lược đến những khu vực ít được chú ý trước đây phản ánh nỗ lực dịch chuyển trọng tâm chiến lược – không chỉ nhằm đa dạng hóa quan hệ, mà còn để mở rộng không gian hành động trong một trật tự thế giới đang biến đổi nhanh chóng.

Sự xuất hiện liên tục của các nguyên thủ, lãnh đạo cấp cao từ châu Phi, Nam Mỹ, châu Âu và Đông Nam Á không phải là dấu hiệu ngoại giao thông thường. Nó cho thấy Việt Nam đang trở thành một điểm tựa tiềm năng trong mạng lưới hợp tác liên khu vực. 

Chuyến thăm đầu tiên của Tổng thống Burundi đến Việt Nam là trường hợp đáng chú ý. Trong mắt một quốc gia đang tìm cách bứt lên sau xung đột, Việt Nam là mô hình chuyển hóa thành công từ một nền kinh tế hậu chiến sang một quốc gia có tốc độ tăng trưởng ổn định. Quan trọng hơn, Việt Nam không chỉ mang đến công nghệ, như trường hợp Lumitel của Viettel tại Burundi, mà còn xuất khẩu cách tiếp cận cùng phát triển – thứ ngày càng khan hiếm trong các quan hệ Bắc – Nam truyền thống.

Việc Tổng thống Brazil – nhà lãnh đạo có ảnh hưởng trong nhóm các nền kinh tế mới nổi – chọn Việt Nam là điểm dừng chân tiếp theo, cho thấy xu hướng dịch chuyển trọng tâm chiến lược về phía châu Á – Thái Bình Dương. Việc Brazil công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật trong xử lý các tranh chấp thương mại. Đây còn là chỉ báo chiến lược: một bên đang tìm kiếm đối tác mới ngoài trục Mỹ – Trung, bên còn lại thì cần những đối trọng thương mại giúp giảm phụ thuộc vào một vài thị trường lớn.

Tại Đông Nam Á, chuyến thăm của Thủ tướng Singapore tiếp tục củng cố vị thế của Việt Nam như một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị công nghệ cao khu vực. Singapore không đầu tư dàn trải – họ chọn nơi có độ mở thể chế và có khả năng thu hút dòng vốn chất lượng. Việc Việt Nam lọt vào tầm ngắm của nhà đầu tư này cho thấy nỗ lực cải cách thể chế và nâng cấp hạ tầng số trong nước đang bắt đầu tạo hiệu ứng lan tỏa.

Ở bình diện châu Âu, chuyến thăm của Nhà vua Bỉ mang tính biểu tượng cao. Từ một đối tác phát triển truyền thống, Bỉ đang chuyển dịch quan hệ với Việt Nam sang hợp tác kỹ thuật – môi trường. Thay vì chỉ nhìn nhận hậu quả chiến tranh như một “gánh nặng lịch sử”, Việt Nam chủ động biến nó thành lĩnh vực hợp tác công nghệ, thông qua các dự án xử lý đất nhiễm độc. Đây là một dạng “chuyển hóa bất lợi chiến lược” – tận dụng điểm yếu thành không gian đối thoại mới.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng đang chủ động “đi xa” để mở rộng bản đồ hợp tác. Chuyến thăm Armenia là một ví dụ ít được chú ý nhưng có tính toán. Trong lúc các nền kinh tế lớn trở nên khó đoán, thì việc tiếp cận những quốc gia nhỏ nhưng có vị trí kết nối với các khu vực lớn hơn – như Liên minh Kinh tế Á – Âu – sẽ giúp Việt Nam có thêm lựa chọn chiến lược khi cần thiết. Đây là cách phân tán rủi ro điển hình trong tư duy đối ngoại hiện đại.

Tổng thể các động thái này cho thấy một Việt Nam không còn chỉ đứng ở trung tâm của các tiến trình khu vực, mà đang vươn ra để tạo ra các “trục liên kết mềm” – những kết nối dựa trên lợi ích thực chất thay vì mô hình trục – vệ tinh cũ. Không có tuyên bố rầm rộ, không chọn phe, Việt Nam đang dần xây dựng vị trí riêng bằng chiến lược tiếp cận linh hoạt, gắn kết lợi ích kinh tế với khả năng ứng xử chính trị đa chiều.

Trong bối cảnh thế giới đang trong giai đoạn “tái phân cực mềm” – nơi ranh giới địa – chính trị không còn cứng nhắc – quốc gia nào biết chủ động điều hướng, quốc gia đó sẽ có vị trí. Việt Nam, với các bước đi thực dụng nhưng bài bản, đang cho thấy khả năng thích nghi đáng chú ý trong một thế giới nhiều bất định./.
Yêu nước ST.

Vai trò của Bộ đội Đặc công trong Đại thắng mùa Xuân 1975

 Trong Chiến dịch Tây Nguyên, lực lượng đặc công1 đã phát huy vai trò, khả năng “luồn sâu, đánh hiểm”, tham gia các trận then chốt, then chốt quyết định, chiếm giữ một số mục tiêu quan trọng ở Buôn Ma Thuột; nghi binh, kiềm chế, chia cắt địch ở Pleiku, Kon Tum và kiên cường bám trụ, đánh bại các đợt phản kích của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch. Tiếp đó, Bộ đội Đặc công đã phối hợp cùng các lực lượng thực hiện thắng lợi chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Đặc biệt, từ ngày 11 đến 29/4/1975, thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng, Đoàn Đặc công nước 126 phối hợp với đặc công Quân khu 5 và Đoàn 125 (Quân chủng Hải quân) vượt biển, bí mật đổ bộ, bất ngờ tiến công giải phóng hoàn toàn các đảo: Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa Lớn,… thuộc quần đảo Trường Sa, lập nên chiến công có ý nghĩa chiến lược trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Phát huy những chiến công vang dội, Bộ đội Đặc công cùng toàn quân và dân ta bước vào trận quyết chiến chiến lược - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong Chiến dịch này, ta đã huy động, sử dụng hầu như toàn bộ lực lượng đặc công2 đảm nhiệm vai trò như một lực lượng đột phá chiến dịch, thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm 14 cây cầu trên các trục đường tiến vào nội đô Sài Gòn và các mục tiêu hiểm yếu, quan trọng của địch, tạo bàn đạp, thế trận vững chắc để các cánh quân thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu, kết thúc toàn thắng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta.

Sự mưu trí, dũng cảm hy sinh và những chiến công vang dội của Bộ đội Đặc công trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và Đại thắng mùa Xuân 1975 nói riêng đã khẳng định vai trò quan trọng, nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật sử dụng lực lượng, tác chiến đặc công; đồng thời, thấy rõ niềm vinh dự, tự hào, truyền thống “Đặc biệt tinh nhuệ, anh dũng tuyệt vời, mưu trí táo bạo, đánh hiểm thắng lớn” của Bộ đội Đặc công anh hùng.

Phụ nữ gìn giữ và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc

 Với sự nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam, phụ nữ là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hóa dân tộc; là người giữ gìn, tái tạo và sáng tạo làn điệu dân ca, câu ca dao, tục ngữ, bài hát, bài thơ. Bằng lời ru, tiếng hát dân ca mượt mà, thắm đượm tình yêu thương, người mẹ, người bà trong gia đình truyền lại cho con cháu vốn văn hóa dân tộc; đem lại cho con cháu trong nhà không chỉ là tình yêu thương, mà còn là bài học về đạo lý làm người qua lời ru ấy. Phụ nữ Việt Nam là người giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Từ giữ gìn làn điệu dân ca, phong tục, tập quán tốt đẹp, đến việc giáo dục đạo lý cho thế hệ trẻ, phụ nữ chính là người nối liền truyền thống và hiện đại.

Ở cơ sở, phụ nữ luôn là người hăng hái tham gia hoạt động xây dựng đời sống văn hóa thông qua mô hình, hoạt động, câu lạc bộ về gia đình, xây dựng đời sống văn hóa, hoạt động thể dục, thể thao trong cộng đồng. Phụ nữ tích cực thực hiện cuộc vận động xây dựng mô hình “Gia đình 5 không, 3 sạch” (không đói nghèo, không tệ nạn xã hội, không bỏ học, không sinh con thứ ba, không bạo lực; sạch nhà, sạch bếp và sạch ngõ), thí điểm xây dựng mô hình “Gia đình 5 có, 3 sạch” (có ngôi nhà an toàn, có sinh kế bền vững, có sức khỏe, có kiến thức, có nếp sống văn hóa; sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ) trong xây dựng nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu với nhiều hoạt động rất thiết thực, xây dựng cảnh quan môi trường với tuyến đường hoa, hàng rào cây xanh, nhà có số, phố có tên, góp phần đưa nông thôn Việt Nam trở thành miền quê đáng sống. Không dừng lại ở việc bảo tồn, phụ nữ Việt Nam còn tích cực tham gia vào hoạt động sáng tạo văn hóa, góp phần đưa các giá trị truyền thống ra thế giới.

Biến nỗi nhớ thương con thành động lực luyện tập

Trong các khối nữ đang luyện tập diễu binh, diễu hành, nhiều người đã lập gia đình, có con nhỏ, nhưng tất cả đều "biến nỗi nhớ thương con thành động lực", tích cực huấn luyện với quyết tâm cao, sẵn sàng cho ngày hội lớn.

Sau một tháng tập luyện trong tiết trời "đỏng đảnh" của vùng trung du, núi đá phía Tây Hà Nội, chiến sĩ dân quân Lê Thị Yến (khối Nữ dân quân miền Bắc, quê ở xã Hải Định, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) đã tự tin, thuần thục các động tác điều lệnh, thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của nữ dân quân Việt Nam. Yến chia sẻ, đây là lần đầu tiên thực hiện nhiệm vụ xa nhà và chị phải gửi con trai đang học lớp 2 nhờ ông bà nội chăm sóc. Chồng là bộ đội công tác xa, nhiều đêm Yến khó ngủ, nước mắt cứ trào ra vì nhớ con, nhưng chị đã cố gắng kìm lòng, cùng đồng đội nỗ lực luyện tập để toàn khối bảo đảm đều, đẹp, thống nhất.

Các "bóng hồng" nỗ lực tập diễu binh, diễu hành
Khối Nữ sĩ quan quân y tập luyện diễu binh, diễu hành tại Trung tâm Huấn luyện quân sự Quốc gia 4. Ảnh: VIỆT TRUNG 

Thượng úy QNCN Nguyễn Thị Nhàn (Lữ đoàn 596, Binh chủng Thông tin liên lạc) tâm sự: “Tôi có hai con nhỏ nên thời gian đầu cũng gặp không ít khó khăn khi vừa tập luyện vừa lo việc nhà. Buổi tối, toàn thân mỏi nhừ sau cả ngày luyện tập cường độ cao nhưng tôi vẫn tranh thủ giảng bài cho con trai học lớp 2 qua điện thoại. Những lúc giảng bài xong, nhìn con mếu máo chào mẹ, lòng tôi cồn cào... Chồng tôi cũng là bộ đội nên anh ấy hiểu và chia sẻ với nhiệm vụ của vợ. Bên cạnh đó, tôi luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của hai bên gia đình nội, ngoại cùng sự động viên của cấp ủy, chỉ huy đơn vị và đồng đội nên tôi yên tâm, tự nhủ phải phấn đấu hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ”.

Tại Trung tâm Huấn luyện quân sự Quốc gia 4 có 16 khối thuộc Cụm 1 tham gia tập luyện diễu binh, diễu hành, trong đó 5 khối nữ gồm: Nữ sĩ quan gìn giữ hòa bình, Nữ sĩ quan thông tin, Nữ sĩ quan quân y, Nữ quân nhạc và Nữ dân quân miền Bắc. "Hơn một tháng luyện tập cường độ cao trong điều kiện thời tiết giao mùa khắc nghiệt (khi nồm ẩm, lúc nắng nóng, mưa rét), nhưng chị em luôn thể hiện ý chí, quyết tâm không thua kém các nam quân nhân; tích cực luyện tập từ động tác cơ bản đến nâng cao, lấy luyện tập cơ bản từng người, từng tổ, từng hàng làm cơ sở để luyện tập hiệp đồng thống nhất động tác trong khối. Bên cạnh đó, để nâng cao sức khỏe, mọi người đều tích cực tập thể thao, rèn sức bền bằng cách chạy dài và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ lành mạnh khác”,

NHỮNG THÀNH TỰU CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 Thứ nhất, thành tựu nền CNQP Việt Nam là hệ quả tất yếu của đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta về phát triển CNQP trong thời kỳ mới.

Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện phát triển nền CNQP nước nhà gắn với xây dựng Quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định rõ định hướng chiến lược: Phát triển nền CNQP theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Mục tiêu là làm chủ công nghệ tiên tiến để xây dựng Quân đội hiện đại, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm đổi mới, hội nhập và nâng cao hiệu quả quản lý CNQP, tích cực cải cách hành chính, bảo đảm tính khả thi trong triển khai thực hiện. Các cơ chế, chính sách đặc thù và chương trình hợp tác khoa học-công nghệ; hệ thống quản lý và cơ sở CNQP được kiện toàn đồng bộ; các doanh nghiệp quốc phòng được tái cơ cấu theo hướng tinh gọn, hiệu quả... Đây là hành lang, thể chế quan trọng, thể hiện sự quan tâm và tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước ta trong phát triển CNQP thời kỳ mới, tạo điều kiện để CNQP Việt Nam bứt phá và phát triển.

Thứ hai, thành tựu của CNQP Việt Nam toàn diện, vững chắc và có bước đột phá.

Từ công tác nghiên cứu sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật; thực hiện chủ trương phát triển lưỡng dụng đến công tác phát triển nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao và hoạt động hợp tác quốc tế về CNQP đều đạt những thành tựu nổi bật. Hơn một thập kỷ qua, ngành CNQP Việt Nam đã đạt được những bước tiến vượt bậc khi làm chủ công nghệ, thiết kế và sản xuất nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu tác chiến của Quân đội, tiêu biểu như: Các tổ hợp tên lửa tiên tiến, radar thế hệ 3; hệ thống tự động hóa chỉ huy phòng không-không quân, máy bay trinh sát không người lái; tàu ngầm quân sự cỡ nhỏ; xe thiết giáp; các loại súng đạn chống tăng, đạn pháo; khí tài quan sát ngày đêm; trang bị thông tin thế hệ mới... đã minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của nền CNQP Việt Nam.

Đội ngũ nhân lực trong ngành CNQP Việt Nam có bước tiến vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng. Tính đến đầu năm 2022, số cán bộ có trình độ tiến sĩ trở lên tăng gần 2,4 lần so với năm 2011. Các nhóm nghiên cứu mạnh và tiềm năng được hình thành, tập trung vào những lĩnh vực then chốt như vũ khí bộ binh, đóng tàu, chế tạo tên lửa và phát triển trang thiết bị công nghệ cao, khẳng định sự phát triển toàn diện của ngành. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “CNQP, an ninh được tập trung đầu tư phát triển, sản xuất được nhiều loại phương tiện, thiết bị, vũ khí, công cụ hỗ trợ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và nhiều thiết bị máy móc, sản phẩm dân dụng chiếm được chỗ đứng vững chắc trên thị trường”(1), góp phần khẳng định tầm quan trọng và giá trị của ngành CNQP trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Thứ ba, CNQP Việt Nam từng bước khẳng định năng lực tự chủ trong nghiên cứu, chế tạo, sản xuất và bước đầu định vị giá trị của mình trong hệ sinh thái công nghệ quốc phòng thế giới.

Những năm gần đây, ngành CNQP Việt Nam có những bước đột phá trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật, đáp ứng một phần nhu cầu trong nước, giảm đáng kể sự phụ thuộc vào nhập khẩu, góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước. Theo lãnh đạo Tổng cục CNQP, trong 10 năm qua, 80% vũ khí và trang bị được đưa vào sử dụng xuất phát từ các đề tài nghiên cứu trong nước.

Sự xuất hiện của các loại vũ khí, khí tài hiện đại, đa dạng do Việt Nam tự chủ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024, như: Radar cảnh giới tầm gần, radar 3D phòng không cấp chiến thuật, radar phòng không tầm trung; tổ hợp trinh sát, gây nhiễu chống phương tiện bay không người lái cấp chiến thuật; tổ hợp tên lửa đất đối hải Trường Sơn gồm bệ phóng, tên lửa hành trình Sông Hồng, radar phát hiện và chỉ thị mục tiêu được đặt trên khung gầm xe việt dã; xe chiến đấu bộ binh XCB-01; các UAV trinh sát, cảm tử, đa năng. Đặc biệt, máy bay huấn luyện TP-150 lần đầu ra mắt công chúng-chiếc máy bay đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam bởi một công ty Việt Nam là minh chứng sống động cho năng lực tự chủ và sự phát triển vượt bậc của CNQP Việt Nam.

Không chỉ tự chủ đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa Quân đội, CNQP Việt Nam còn chứng minh khả năng vươn ra thị trường quốc tế. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và cựu chiến binh Nam Phi Richard Hlophe khi tham dự Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024, đã nhận định: “Tôi đánh giá rất cao nền CNQP của Việt Nam. Các loại vũ khí, khí tài mới của các bạn rất tiên tiến. Đó là lý do tại sao chúng tôi sẽ hợp tác với Việt Nam để cả hai bên có thể cùng nhau phát triển”. Qua triển lãm và trao đổi giữa các đoàn, Việt Nam đã ký kết hàng chục hợp đồng trị giá hàng trăm triệu USD; thiết lập hàng loạt thỏa thuận hợp tác chiến lược với các doanh nghiệp quốc phòng đến từ những quốc gia có nền công nghiệp phát triển, đồng thời mở ra hướng phát triển mới là minh chứng sinh động đối với nền CNQP Việt Nam và Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam.

Thứ tư, ngành CNQP không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà còn góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Với việc làm chủ công nghệ hiện đại và phát triển sản xuất trong nước, ngành CNQP góp phần quan trọng giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu, tiết kiệm nguồn lực và tối ưu hóa ngân sách nhà nước. Nhiều sản phẩm quốc phòng không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu, tạo nguồn thu cho quốc gia, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Bên cạnh đó, ngành CNQP đã tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Các dự án và cơ sở sản xuất quốc phòng góp phần phát triển hạ tầng, cải thiện đời sống nhân dân ở các địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước. Trung bình mỗi năm, các doanh nghiệp Quân đội đã tạo ra khoảng 5% GDP và đóng góp cho ngân sách nhà nước từ 40.000-50.000 tỷ đồng, bằng khoảng 25% đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước.

Như vậy, thành tựu của CNQP Việt Nam đã đạt được thời gian qua là toàn diện, vững chắc, có bước đột phá mạnh mẽ, đã và đang khẳng định vị thế của mình trong hệ sinh thái công nghệ quốc phòng toàn cầu. Những luận điệu xuyên tạc thành tựu CNQP Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, âm thanh “lạc nhịp”, phiến diện của thiểu số những kẻ mang định kiến và thiếu hiểu biết về Quân đội nhân dân Việt Nam và CNQP Việt Nam.

Phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế

 Kinh tế phát triển là nền tảng của sự phát triển và phụ nữ Việt Nam đã chứng minh vai trò không thể thiếu trong hành trình kiến tạo sự thịnh vượng cho đất nước. Trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động luôn duy trì ở mức cao, hiện nay đạt hơn 47%. Họ hiện diện trong mọi ngành, nghề, từ nông nghiệp - lĩnh vực truyền thống, đến các ngành kinh tế mũi nhọn, như sản xuất công nghiệp, thương mại, công nghệ, tài chính, logistics, đặc biệt là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Theo số liệu từ điều tra doanh nghiệp của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Tính đến hết tháng 9-2022, có 263.444 doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, chiếm 22,2%, và hiện nay Việt Nam là một trong 20 thị trường mà nữ doanh nhân phát triển thuận lợi, có mạng lưới doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ hoạt động hiệu quả nhất ASEAN. Trong bối cảnh hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, nữ doanh nhân Việt Nam ngày càng khẳng định được năng lực, trình độ của mình không thua kém so với cộng đồng nữ doanh nhân các nước. Họ không chỉ đạt được thành tích, giải thưởng tôn vinh ở trong nước, mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá và ghi nhận. Nỗ lực vươn lên không mệt mỏi và thành công của nữ doanh nhân trong điều hành doanh nghiệp và câu chuyện thành công của họ đang truyền cảm hứng mạnh mẽ cho cộng đồng nữ doanh nhân về tinh thần khởi nghiệp và phát triển kinh doanh, làm giàu của phụ nữ Việt Nam.

Nhìn từ bình diện chung, với việc ngày càng được Đảng, Nhà nước quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu, đại đa số phụ nữ đã tự tin, nắm bắt cơ hội, vươn lên thoát nghèo, nhiều người đã có cuộc sống khá giả. Ở vùng sâu, vùng xa, phụ nữ vẫn nỗ lực vượt khó để thoát nghèo. Các chương trình, như “Phụ nữ khởi nghiệp” và “Thúc đẩy kinh tế xanh từ phụ nữ” đã hỗ trợ hàng nghìn phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, vươn lên làm giàu. Họ xác định rõ việc thoát nghèo, làm giàu trước hết là trách nhiệm của chính bản thân, gia đình và đã chung sức cùng với cộng đồng, xã hội tạo nên thành công của chương trình xóa đói, giảm nghèo nhiều năm trong cả nước, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Chiếm 48,1% trong lực lượng lao động thành thị và 46% trong lực lượng lao động nông thôn(1),  phụ nữ có mặt ở hầu hết lĩnh vực và chiếm số đông trong một số ngành, nghề, như nông nghiệp, thương mại, giáo dục, y tế. Dù phải đối diện với nhiều khó khăn, thử thách, nhưng phụ nữ nông thôn luôn nỗ lực vươn lên, làm chủ trong sản xuất; đa số phụ nữ đã tiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế tuần hoàn và xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của đất nước, phụ nữ tham gia ngày càng đông đảo vào các ngành công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, điện tử, thương mại, tài chính, ngân hàng. Quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã hình thành và phát triển đội ngũ nữ doanh nhân, kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành, nghề, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc gia.

XỬ LÝ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN!

     Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính mới đây đã ký Công điện yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh công tác phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Lập Tổ công tác tăng cường hợp tác, chủ động thích ứng với điều chỉnh chính sách kinh tế, thương mại của Hoa Kỳ

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định thành lập Tổ công tác về tăng cường hợp tác, chủ động thích ứng với điều chỉnh chính sách kinh tế, thương mại của Hoa Kỳ. Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn làm Tổ trưởng Tổ công tác. Tổ công tác có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi sát diễn biến tình hình thế giới, khu vực, nhất là điều chỉnh chính sách kinh tế, thương mại của Hoa Kỳ để chủ động tham mưu, đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các biện pháp nhằm thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực và các điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ thời gian tới…

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính mới đây đã ký Công điện yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh công tác phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong đó, Công điện yêu cầu Bộ Công an chỉ đạo công an các đơn vị, địa phương tập trung triển khai có hiệu quả đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng hoạt động phạm tội, đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là trong giai đoạn sắp xếp tổ chức bộ máy công an địa phương (không tổ chức công an cấp huyện)…

Chính phủ gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 81/2025/NĐ-CP gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước. Nghị định nêu rõ: Gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp phát sinh của kỳ tính thuế tháng 2, tháng 3, tháng 4, tháng 5 và tháng 6 năm 2025 đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước. Thời gian gia hạn kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đến hết ngày 20 tháng 11 năm 2025./.
Yêu nước ST.

Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm tính khoa học, hợp lý, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

 Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Tinh giản không có nghĩa là cắt giảm một cách một cách cơ học, mà là loại bỏ những vị trí không cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả”(1). Như vậy, tinh gọn bộ máy cần tổ chức một cách khoa học, hợp lý, giúp hệ thống vận hành hiệu quả, linh hoạt hơn. Việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy không chỉ giảm đầu mối, mà điều quan trọng là hướng đến việc vận hành hiệu quả, tối ưu hóa nguồn lực.

Thực tế, nhiều đơn vị có chức năng tương đồng đã được sáp nhập, giúp giảm sự chồng chéo về đầu mối và nâng cao hiệu quả quản lý. Trong quản lý nhà nước về xây dựng, Cục Kinh tế xây dựng, Cục Quản lý hoạt động xây dựng của Bộ Xây dựng và Cục Quản lý đầu tư xây dựng của Bộ Giao thông vận tải đã được thống nhất về một đầu mối là Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng, bởi ba đơn vị này có nhiều chức năng, nhiệm vụ cơ bản tương đồng. Việc thống nhất các đơn vị trên về một đầu mối giúp tạo sự thống nhất về quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả giám sát và điều hành trong lĩnh vực hạ tầng. Trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, một số cơ sở giáo dục - đào tạo có nhiệm vụ tương đồng đã được sáp nhập, như Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã được sáp nhập vào Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường được sáp nhập vào Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, giúp tập trung nguồn lực và nâng cao chất lượng đào tạo.

Không chỉ triển khai ở cấp trung ương, việc tinh gọn tổ chức bộ máy được triển khai đồng bộ ở cấp địa phương nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý. Các địa phương đã thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính giảm cấp hành chính trung gian phù hợp với thực tiễn, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã để mở rộng quy mô quản lý, bảo đảm phục vụ nhân dân tốt hơn. Quá trình thực hiện đã bám sát yêu cầu của Trung ương, theo đó xác định rõ mô hình chính quyền địa phương cấp xã đối với khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, hải đảo, quy mô dân số, diện tích, lịch sử, văn hóa, vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo...; xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, định biên của chính quyền địa phương cấp xã. Một số đề xuất cũng đang được triển khai, như sáp nhập các tỉnh, thành phố để mở rộng địa giới hành chính gắn với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch địa phương, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, mở rộng không gian phát triển, phát huy lợi thế so sánh, không tổ chức cấp huyện nhằm giảm tầng nấc trung gian, tiết kiệm chi phí hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý.

Việc triển khai tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã giúp tinh gọn đáng kể số đầu mối trong bộ máy nhà nước. Bộ máy Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã giảm từ 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ còn 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ. Việc sáp nhập các sở, ngành có chức năng tương đồng, như sở giao thông vận tải và sở xây dựng, sở kế hoạch và đầu tư với sở tài chính, sở lao động - thương binh và xã hội và sở nội vụ, sở khoa học và công nghệ và sở thông tin truyền thông, báo và đài địa phương... ở các tỉnh, thành phố giúp tăng cường công tác phối hợp, hạn chế chồng chéo và nâng cao hiệu quả quản lý.

Tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ giúp tăng cường hiệu quả vận hành, mà còn khắc phục tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, khi một số đơn vị vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa trực tiếp triển khai hoạt động, dẫn đến nguy cơ xung đột lợi ích, lãng phí nguồn lực. Tuy nhiên, để quá trình thực hiện đạt hiệu quả cao nhất, phải thực hiện bảo đảm khoa học, bài bản, bảo đảm sự ổn định trong lãnh đạo, quản lý. Nếu triển khai hợp lý, khoa học thì đây sẽ là bước đi quan trọng giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành, cải thiện chất lượng dịch vụ công và tối ưu hóa sử dụng nguồn lực quốc gia.

Tinh gọn tổ chức bộ máy - đòi hỏi tất yếu của thực tiễn

 Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển đất nước, nhưng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện vẫn bộc lộ nhiều bất cập, như tổ chức cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, chức năng chồng chéo và cơ chế phối hợp vướng mắc. Thực trạng này dẫn đến hiệu suất làm việc thấp, thủ tục hành chính rườm rà, cán bộ quan liêu, trì trệ trong giải quyết công việc.

Nhiều bộ, ngành có nhiệm vụ tương đồng dẫn đến sự chồng chéo trong quản lý, khó xác định trách nhiệm. Việc phối hợp giữa các cơ quan còn nhiều vướng mắc, làm giảm hiệu quả thực thi chính sách. Tinh giản biên chế ở một số nơi vẫn mang tính cào bằng, chưa tính đến đặc thù từng đơn vị, làm giảm chất lượng hoạt động của bộ máy. Dù đã nỗ lực đề ra nhiều giải pháp để cải cách hành chính, nhưng nhiều thủ tục vẫn làm mất thời gian và gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Việc phải qua nhiều cấp trung gian khiến tiến trình xử lý kéo dài, làm giảm hiệu quả phục vụ của bộ máy nhà nước.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện cải cách bộ máy hành chính để nâng cao hiệu quả quản trị. Tại Xin-ga-po, chính phủ thực hiện chính sách “chính phủ thông minh”, giảm số lượng cơ quan và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong điều hành. Cơ quan công quyền của Xin-ga-po cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân. Với đội ngũ công chức tinh gọn, dù chỉ có 16 bộ, nhưng Xin-ga-po vẫn phát huy được hiệu quả quản trị. Tại Anh, từ những năm 80 của thế kỷ XX, chính phủ đã thực hiện cải cách theo mô hình “quản lý công mới”, chuyển nhiều dịch vụ công sang khu vực tư nhân, đồng thời tinh gọn bộ máy hành chính. Nhờ đó, số lượng nhân viên khu vực công giảm, nhưng hiệu suất làm việc lại tăng đáng kể...

Cách tiếp cận của nhiều nước trên thế giới cho thấy, để quản trị hiệu quả, không chỉ giảm bớt đầu mối tổ chức, mà còn phải thay đổi cách thức quản trị, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và cung cấp dịch vụ công. Một bộ máy tinh gọn, hiệu quả không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách, mà còn cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.