Thứ Tư, 9 tháng 4, 2025

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Tự do tôn giáo Việt Nam là sự thật không thể chối bỏ. Tuy nhiên, hiện nay, có không ít các cá nhân, tổ chức cực đoan đã đăng tải những báo cáo không chính thống với nội dung sai lệch bản chất nhằm mưu đồ xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo của nước ta, làm xấu hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế đối với vấn đề nhân quyền. Các luận điệu làm sai lệch bản chất đó là:

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NỀN VĂN HÓA VÀ THÀNH QUẢ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

 

Vừa qua, trên mạng internet, Nguyễn Văn Tuấn đã đăng tải bài viết với tựa đề “Tại sao khó có thể  tự hào là người Việt Nam” với những luận điệu xuyên tạc mang tính chủ quan, phiến diện. Hắn đưa ra những nhận định cảm tính, thiếu khách quan rằng Việt Nam có “Truyền thống và văn hóa nghèo nàn & thiếu bản sắc tích cực” và “thất bại về kinh tế”. Thực chất đây là những luận điệu xiên xẹo, phiến diện với âm mưu phủ nhận nền văn hóa, thành quả nền kinh tế sau gần 40 năm đổi mới, từ đó làm suy giảm niềm tự hào dân tộc của mỗi người Việt Nam. Do đó, cần phải nhận thức đúng về bản sắc nền văn hóa mới và những thành quả đáng tự hào của nền kinh tế Việt Nam; là cơ sở để vạch trần những luận điệu sai trái của những phân tử phản động như Nguyễn Văn Tuấn. Chúng ta cần khẳng định rằng:

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH CHỐNG TUYÊN TRUYỀN, XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CHỐNG THAM NHŨNG

 

Cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và toàn dân sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chống tham nhũng sẽ càng gia tăng, tinh vi và xảo quyệt hơn. Do đó, đấu tranh chống tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch về chống tham nhũng phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đó, chú trọng một số nội dung giải pháp cơ bản sau:

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐIỆN MẶT TRỜI DƯ THỪA NHƯNG SAI QUY HOẠCH

 

Xây dựng Nghị định mua bán điện, Bộ Công Thương đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định mua bán điện trực tiếp giữa các đơn vị phát điện với khách hàng (DPPA) và Dự thảo Nghị định về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời lắp đặt mái nhà dân, công sở, khu công nghiệp. Tại dự thảo Nghị định về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà, Bộ Công Thương giữ đề xuất mua điện mặt trời tự sản, tự tiêu dư thừa với giá 0 đồng. Trước đề xuất trên, nhiều luận điệu cho rằng việc này sẽ không khuyến khích được người dân, doanh nghiệp phát triển điện mặt trời mái nhà vì họ không có lợi ích, rồi đề xuất mâu thuẫn với Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) được Chính phủ phê duyệt, Tất cả những quan điểm trên đều là phiến diện, chưa hiểu bản chất sâu xa của vấn đề, đặc biệt về yếu tố vận hành hệ thống điện và mặt kỹ thuật. Thậm chí, các trang mạng phản động như Việt Tân, BBC còn đưa ra luận điệu xảo trá, xuyên tạc và quy chụp cho rằng mục đích là “muốn dân thiếu, không đủ điện” để “kiếm tiền”…. Từ những thông tin một chiều và quy chụp ấy, nhiều người đã bị “dắt mũi” theo những suy luận xuyên tạc, bóp méo sự thật.

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NHÂN QUYỀN TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN

 

Mỗi khi Việt Nam đưa ra xét xử một đối tượng tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì một số đối tượng nước ngoài không có thiện cảm với chế độ chính trị của Việt Nam ngay lập tức tung ra những bài viết xuyên tạc về nhân quyền.

Mới nhất là trường hợp của đối tượng Phan Tất Thành (sinh năm 1986, ngụ tại TPHCM), người chống phá chế độ núp sau trang “Nhật ký yêu nước”. Theo hồ sơ vụ án, qua công tác quản lý nhà nước về không gian mạng, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ Công an phát hiện tài khoản Facebook cá nhân tên “Chu Tuấn” thông qua trang Fanpage Facebook “Nhật ký yêu nước” (nay đổi tên thành “Văn Toàn”) đăng tải, chia sẻ, phát trực tiếp những nội dung vi phạm pháp luật trên không gian mạng nên chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan An ninh điều tra, Công an TPHCM tiếp nhận, giải quyết theo quy định của pháp luật.

BÓC MẼ CÁI GỌI LÀ GIẢI THƯỞNG DÀNH CHO NGƯỜI ÂM Ỉ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

“VỢ NHẶT” VÀ CHUYỆN CHỐNG PHÁ KHÔNG HỀ VẶT


Kết thúc kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, ông Hưng trăn trở khi xem trên mạng xã hội thấy một số đối tượng lấy cớ đề thi môn Ngữ văn có sử dụng ngữ liệu từ tác phẩm “Vợ nhặt”, cho rằng tác phẩm đó không còn phù hợp; đồng thời kêu gọi loại khỏi chương trình phổ thông một bộ phận văn học kháng chiến. Điều mà nhà giáo về hưu lo lắng hơn là các đối tượng dùng những luận điệu xảo trá để kích động thanh niên phủ nhận các giá trị lịch sử.

TƯ TƯỞNG PH.ĂNGGHEN VỀ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN - Ý NGHĨA VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Ph.Ăngghen là người bạn thân thiết và người cộng sự thân tín của C.Mác. Sau khi C.Mác mất, nhiều bản thảo quan trọng còn dang dở của C.Mác đã được Ph.Ăngghen tập hợp, hoàn thành và xuất bản. Ông cũng bổ sung nhiều tư tưởng quan trọng vào hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác và hiện thực hóa nhiều tư tưởng vĩ đại của C.Mác khi tham gia các phong trào công nhân quốc tế. Một trong số đó là tư tưởng về xây dựng chính quyền. Tư tưởng Ph.Ăngghen về xây dựng chính quyền là một căn cứ lý luận nền tảng của các đảng cộng sản và có giá trị nhận thức luận quan trọng đối với thực tiễn xây dựng chính quyền ở các nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa như Việt Nam. 

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2025

Gỡ rào cản để nhà khoa học dấn thân

 Nghiên cứu khoa học (NCKH) là hoạt động quan trọng để làm chủ công nghệ, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, hoạt động NCKH ở nước ta vẫn gặp nhiều rào cản khiến các nhà khoa học chưa thực sự phát huy hết khả năng vốn có. Đã đến lúc cần có thêm điểm tựa về cơ chế để các nhà khoa học tự tin dấn thân, theo đuổi những đam mê trong lĩnh vực nghiên cứu.

Về thăm chiến khu xưa của Bộ đội Quân giới

 Dòng nước chảy về xuôi, còn chúng tôi ngược về ký ức bằng cuộc gặp gỡ với nhân chứng lịch sử của chiến khu xưa tại Khu di tích lịch sử kháng chiến Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Ban Công đoàn Quốc phòng.

Bản sắc một làng nghề trong nhịp sống mới

 Cách trung tâm Hà Nội chừng 30km về phía Tây Nam có một ngôi làng nhỏ, nơi tiếng đục tiếng đẽo vẫn vang lên mỗi sớm mai như nhịp thở của thời gian. Ấy là làng Bương (nay là thôn Phù Yên, xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ), nơi vẫn giữ gìn và phát huy nghề dựng nhà cổ truyền thống đã được

Ấm áp “bữa cơm cho em”

 Giữa núi rừng biên giới xa xôi, nơi những bữa cơm của trẻ nhỏ thường rất đạm bạc thì hôm nay, 60 em học sinh tại điểm Trường Mầm non Na Cáng (Trường Mầm non Na Ngoi 2, xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An) đã có một bữa ăn đặc biệt, tràn đầy tình yêu thương, đầy dinh dưỡng.

Nam Định quyết tâm xóa nhà tạm, nhà dột nát

 Nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người. Việc chăm lo giải quyết nhà ở cho người dân luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm và xác định là một nhiệm vụ trọng tâm để bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững.

Nghĩa tình của bộ đội hải quân

 Buổi sáng cuối tuần, tại khu vực tập vật lý trị liệu của Bệnh viện Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, một bé gái đang được bác sĩ hướng dẫn bài tập điều trị phục hồi chức năng.

Tận tụy trong công việc, quan tâm đến cấp dưới

 Là một trong những điển hình tiên tiến trong Phong trào Thi đua Quyết thắng của Lữ đoàn 242 (Quân khu 3), Thượng úy Nguyễn Thanh Cường, Đại đội trưởng Đại đội Bộ binh 7 (Tiểu đoàn đảo Thanh Lân) đã khẳng định tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và những đóng góp tích cực cho đơn vị.

Chủ động, sáng tạo trong tham mưu, chỉ đạo

 Ngày 10-4-1950, Ban Công tác chính trị (tiền thân của Phòng Chính trị, Học viện Quân y ngày nay) được thành lập. Trải qua 75 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, Phòng Chính trị đã chủ động, sáng tạo, nhạy bén trong tham mưu, đề xuất và triển khai toàn diện, có chất lượng hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT), góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị của Học viện.

Nâng cao vị thế Quốc hội Việt Nam trong diễn đàn nghị viện đa phương

 Chuyến công tác của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam tham dự Đại hội đồng lần thứ 150 của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU-150); thăm chính thức Cộng hòa Uzbekistan và Cộng hòa Armenia đã thành công tốt đẹp. Nhân dịp này, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Tùng đã trả lời phỏng vấn báo chí về kết quả chuyến công tác của Chủ tịch Quốc hội.

BÁC ƠI! HÒA BÌNH ĐẸP LẮM Ạ🕊

 ⭐BÁC ƠI! HÒA BÌNH ĐẸP LẮM Ạ🕊


Bác Hồ kính yêu, chúng con hôm nay được sống trong hòa bình, tự do, được tận hưởng niềm hạnh phúc mà cả cuộc đời Bác và bao thế hệ cha ông đã hy sinh để giành lại. Đất nước giờ đây là những ngày rực rỡ cờ đỏ sao vàng, là những nụ cười hân hoan trên từng góc phố, là tiếng hô vang đầy tự hào của tình yêu Tổ Quốc.


Bác ơi, nhìn đi! Đây là con cháu của Bác – những đứa trẻ lớn lên trong hòa bình, những người trẻ tràn đầy nhiệt huyết và tình yêu đất nước. Chúng con tự hào vì được thừa hưởng di sản vĩ đại mà Bác để lại. Mỗi ngày, chúng con đều nhắc nhở mình phải sống thật ý nghĩa, phải tiếp nối tinh thần yêu nước, tự lực tự cường mà Bác từng dạy.


Cả đất nước biết ơn Bác, biết ơn những hy sinh lớn lao của Bác, của các bậc tiền nhân. Nhờ có Bác, nhờ có những người đi trước, chúng con mới có những ngày hạnh phúc như hôm nay – được cười dưới ánh mặt trời, được tự do vẫy cờ và hô vang: “Việt Nam muôn năm!”


Bác ơi, hòa bình đẹp lắm, và chúng con sẽ giữ gìn nó bằng cả trái tim mình, như cách Bác đã từng gìn giữ cho Tổ Quốc. 

St


50 NĂM ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳

 50 NĂM ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975

🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳

NGÀY 09/4/1975: MỞ MÀN CHIẾN DỊCH XUÂN LỘC 

🌹 🌹 🌹 🌹 🌹 🌹 🌹


Thị xã Xuân Lộc là tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), nằm cách thành phố Sài Gòn 80km về phía Đông, án ngữ trên trục đường số 1; từ đây nối với Đà Lạt qua đường 20, nối với Bà Rịa - Vũng Tàu qua đường 2 và đường 15. Nằm trong hệ thống phòng vệ Sài Gòn từ xa với các tuyến mắt xích trọng yếu Phan Rang - Xuân Lộc, Tây Ninh - Bắc Củ Chi, Long An - Bến Lức, Xuân Lộc được mệnh danh là “cánh cửa thép” trên cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. 


Tại đây, địch bố trí lực lượng cực mạnh với hệ thống công sự phòng thủ kiên cố, nhiều tầng, gồm: Sư đoàn bộ binh 18, Trung đoàn 8/Sư đoàn bộ binh 5, Lữ đoàn kỵ binh 3 (các thiết đoàn M41, M113, M48), 2 tiểu đoàn Biệt động quân, 2 tiểu đoàn Pháo binh (các pháo đội 105mm và 155mm), cùng lực lượng cảnh sát, địa phương quân. Lực lượng sẵn sàng tăng viện gồm Lữ đoàn dù số 1, Liên đoàn 81 biệt cách dù, toàn bộ hỏa lực của không quân từ hai sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất.


Để mở thông đường tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch đập tan tuyến phòng ngự Xuân Lộc. Ngày 3-4-1975, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 thông qua phương án tác chiến: dùng lực lượng lớn bộ binh, xe tăng, pháo binh đánh thẳng vào Sở chỉ huy Tiểu khu và Sư đoàn 18, nhanh chóng chiếm Xuân Lộc, tạo thế và lực cho Quân giải phóng tiến công áp sát Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu.


5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, chiến dịch tiến công giải phóng Xuân Lộc bắt đầu. Sự an nguy của Sài Gòn và Dinh Độc Lập lệ thuộc trực tiếp vào diễn biến tại “cánh cửa thép” này, vì vậy quân địch tại đây kháng cự rất quyết liệt.


Nguồn SGGP


MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NGÀY 09/4 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳

 MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NGÀY 09/4

🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳


🌹 Ngày 09/4/1925, Nguyễn Ái Quốc với bút danh L.T viết thư góp ý kiến nhận xét về tập luận văn “Cách mệnh” theo yêu cầu của tác giả H. chính là Nguyễn Thượng Huyền, con trai nhà yêu nước Nguyễn Thượng Hiền, lúc này cũng đang hoạt động chính trị ở Trung Quốc.


Trong thư, Nguyễn Ái Quốc đã bày tỏ một số quan niệm sâu sắc về công việc cầm bút: “Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thúy của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm... Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt... Một lối hành văn giản dị, chính xác hơn hẳn cái lối hành văn rườm rà, hoa mỹ... Nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩm hành văn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì”.


Về nội dung của luận văn bàn về cách mạng, Nguyễn Ái Quốc góp ý rằng, viết về cách mạng mà “ông không nói: 1. Phải làm cái gì trước cách mệnh, 2. Phải làm gì trong cách mệnh, 3. Phải làm gì sau cách mệnh. Ông chưa bàn đến lực lượng mà người Pháp có thể sử dụng (ở nước ta) và cũng chưa bàn đến lực lượng của ta”. Cuối thư viết: "Tôi đã nói thẳng những ý kiến của tôi về bài viết của ông; và cũng nhân cơ hội này, nêu lên một số vấn đề để thảo luận mong rằng có thể rút ra từ đó một cái gì để mở rộng thêm kiến thức của tôi. Xin thành thực và nhiệt liệt hoan nghênh tài cao trí lớn của ông. Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không sai lầm mà thôi. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không!”.


🌹 Ngày 09/4/1939, tờ Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta) đăng bài “Thư từ Trung Quốc” của PC.Lin, bút danh của Nguyễn Ái Quốc lúc này đang ở Quế Lâm và mang bí danh là Hồ Quang, trong vai một báo vụ viên trong đơn vị “Bát Lộ quân”. Qua tờ báo, Bác liên hệ với nhóm cộng sản đang hoạt động công khai từ thời Mặt trận Bình dân để chuẩn bị đón chờ những cơ hội cách mạng đang đến gần.


🌹 Ngày 09/4/1946, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các Khu tự vệ thành Hà Nội. Bác động viên và nhắc nhở cần bình tĩnh, nhấn mạnh đến phương châm: “Một sự nhịn, chín sự lành” và xác định những nhiệm vụ trước mắt.


🌹 Ngày 09/4/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc. Sau những sai lầm về cải cách ruộng đất, uy tín của Đảng ta phần nào bị giảm sút, Bác Hồ đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội. Nước mắt Người đã rơi trước những khuyết điểm do chủ quan, thiếu lắng nghe nhân dân, thiếu sâu sát thực tiễn cơ sở. Trước quốc dân đồng bào, Người không ngần ngại công khai khuyết điểm của Đảng, của Bác với tư cách người lãnh đạo cao nhất. Người căn dặn “… Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không có sai lầm mà thôi. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không…".


Đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới

 Ngày 15-4-1945, Trường Quân chính kháng Nhật, nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1-nhà trường đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập theo nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ và chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ngày 26-5-1945, nhân dịp khai giảng Khóa 1, Người đã trực tiếp trao tặng nhà trường lá cờ thêu 6 chữ vàng: "Trung với nước, hiếu với dân".

Suốt chặng đường lịch sử vẻ vang 80 năm xây dựng, chiến đấu, đào tạo cán bộ và trưởng thành, nhà trường đã, đang đào tạo 92 khóa học, trong đó 88 khóa đã tốt nghiệp ra trường, với gần 12 vạn cán bộ cho Quân đội ta và đào tạo hơn 5.000 cán bộ quân sự cho 14 nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin. Lớp lớp thế hệ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng tại nhà trường không ngừng trưởng thành, cống hiến, hy sinh, đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đến nay đã có hơn 400 đồng chí phát triển trở thành tướng lĩnh, cán bộ cao cấp, giữ những trọng trách quan trọng của Đảng, Nhà nước, Quân đội; 37 đồng chí được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng Lao động; nhiều đồng chí trở thành các nhà khoa học, nhà giáo ưu tú, vận động viên tiêu biểu phá kỷ lục quốc gia, quốc tế.

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 29-8-1985, nhà trường vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; được tặng 3 Huân chương Hồ Chí Minh, 5 Huân chương Quân công và nhiều phần thưởng cao quý khác. Nhà trường vinh dự được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều lần về thăm; đặc biệt, được Bác Hồ về thăm 9 lần và nhiều lần Người gửi thư động viên, khen ngợi.

Giữ vững và phát huy truyền thống anh hùng “trung hiếu, tiên phong, mẫu mực, quyết thắng”, ngày nay, nhà trường đang tiếp tục đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), nỗ lực phấn đấu thực hiện sứ mệnh “đào tạo sĩ quan chất lượng cao ngành chỉ huy-tham mưu lục quân cấp phân đội trình độ đại học, sau đại học; nghiên cứu, phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Trong đó, nhà trường tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; đề cao trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng đối với nhiệm vụ GD-ĐT. Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác GD-ĐT, trọng tâm là nghị quyết đại hội đảng các cấp, Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác GD-ĐT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới; các đề án, kế hoạch và phương châm “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”. Đề cao tinh thần trách nhiệm, sự vào cuộc, tính chủ động, sáng tạo, quyết liệt của cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp và các tổ chức, lực lượng trong toàn trường trong thực hiện các giải pháp để đổi mới, nâng cao chất lượng GD-ĐT; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, chủ động đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thỏa mãn dừng lại, bệnh thành tích, bệnh hình thức; kiên quyết khắc phục những hạn chế, khó khăn, bất cập, tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu, nhà trường, các cơ quan, khoa, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Hai là, đột phá đổi mới phát triển chương trình, nội dung đào tạo theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa”, coi đây là khâu then chốt, quyết định nhằm nâng cao chất lượng GD-ĐT cán bộ. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, tăng cường nghiên cứu, khảo sát thực tế, phát hiện những bất cập, hạn chế để có biện pháp khắc phục; kịp thời bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của học viên sau tốt nghiệp.

Thường xuyên rà soát, chắt lọc, tinh chỉnh nội dung, chương trình đào tạo, đề cương môn học, học phần theo chuẩn đầu ra sát với thực tế đơn vị; bám sát sự phát triển của vũ khí, trang bị, khoa học, nghệ thuật quân sự, mục tiêu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, hiện đại và những yêu cầu mới đặt ra trong thời đại số. Chú trọng cập nhật những phát triển mới về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tăng thực hành, tập bài, luyện tập, huấn luyện đêm; nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức quản lý nhà nước, kinh tế, xã hội, pháp luật; đổi mới nội dung, phương pháp diễn tập chỉ huy-cơ quan gắn với diễn tập chiến thuật vòng tổng hợp của học viên sát thực tế chiến đấu. Đồng thời tăng cường các hoạt động ngoại khóa, ôn luyện, tự học, tổ chức các hoạt động thực tiễn ở đơn vị, bồi dưỡng kỹ năng chỉ huy, quản lý, huấn luyện và kỹ năng tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị, rèn luyện thể lực cho học viên.

Đổi mới hình thức, phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, tiếp cận năng lực người học, vận dụng tốt 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp, trang bị kiến thức nền vững chắc, toàn diện, coi trọng kiến thức chuyên nghiệp quân sự; kết hợp chặt chẽ với truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu và thực tiễn huấn luyện, gắn nhà trường với đơn vị.

Chú trọng phát triển năng lực thực hành, tư duy sáng tạo, kỹ năng quản lý, chỉ huy, huấn luyện, giáo dục bộ đội, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng chủ động thích ứng với môi trường sống, làm việc có tính biến động cao ở đơn vị cơ sở và xã hội; khơi dậy khả năng tự học, tự rèn luyện để biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo của mỗi học viên. Tăng cường các hoạt động tham quan, học tập, diễn tập, thực tập, thực hành, nghiên cứu thực tế, tự học, hội thi, hội thao của cán bộ, giảng viên, học viên, thực hiện xã hội học tập trong nhà trường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật mô phỏng, chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả dạy-học.

Đồng thời tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy-học; thực hiện dạy thực chất, học thực chất, đánh giá thực chất kết quả người học, chống bệnh thành tích, tiêu cực trong GD-ĐT. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, phúc tra, rút kinh nghiệm huấn luyện ở các cấp; hoàn thiện, phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong và kiểm định chất lượng GD-ĐT; xây dựng văn hóa chất lượng trong nhà trường.

Ba là, đẩy mạnh kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa. Tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả đề án của Bộ Quốc phòng và Nghị quyết số 115-NQ/ĐU ngày 27-9-2023 về lãnh đạo xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo; triển khai xây dựng, áp dụng khung năng lực quản trị trường, khung năng lực giảng dạy của giảng viên; với mục tiêu xây dựng lực lượng này đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có năng lực toàn diện, chuẩn hóa về trình độ, có tác phong, phương pháp làm việc mẫu mực, mô phạm.

Làm tốt công tác quy hoạch và xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên; đào tạo theo chức vụ và trình độ học vấn, nâng cao tỷ lệ cán bộ, nhà giáo có trình độ sau đại học, đạt chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú. Tăng cường cử cán bộ, giảng viên đi luân chuyển, thực tế các cương vị chỉ huy cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và tổ chức các hoạt động tham quan, học tập, nghiên cứu, trao đổi thực tiễn ở những đơn vị cơ sở để bổ sung kiến thức, kinh nghiệm thực tế.

Khuyến khích các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tự học nâng cao trình độ; tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”.

Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác đào tạo. Khuyến khích đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và học viên nghiên cứu khoa học. Đổi mới phương thức quản lý nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng các nhiệm vụ khoa học, luận án, luận văn, sáng kiến, cải tiến, biên soạn giáo trình, tài liệu theo hướng chuyên sâu, sát chương trình đào tạo. Ứng dụng hiệu quả kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn huấn luyện, đào tạo ở nhà trường. Duy trì có hiệu quả Phong trào Tuổi trẻ sáng tạo ở các cấp.

Đồng thời ký kết quy chế, mở rộng phối hợp, hợp tác giữa nhà trường với các cơ quan, đơn vị, cơ sở đào tạo trong và ngoài Quân đội trong các hoạt động GD-ĐT, nghiên cứu khoa học và huấn luyện chiến đấu; trọng tâm là nâng cao hiệu quả phối hợp mời lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị, các chuyên gia, nhà khoa học tham gia giảng dạy, thông tin chuyên đề tại nhà trường; tăng cường các hoạt động hội thảo, trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm, tập huấn, khảo sát, hỗ trợ bảo đảm cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị phục vụ huấn luyện, đào tạo; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tham quan, học tập, nghiên cứu thực tiễn, luân chuyển, thực tế, thực tập... của nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và học viên nhà trường đến các đơn vị cơ sở. Phối hợp tổ chức tốt công tác đào tạo học viên quân sự quốc tế, học viên Bộ Công an; đào tạo ngành quân sự cơ sở.

Năm là, triển khai hiệu quả Đề án quy hoạch, phát triển Trường Sĩ quan Lục quân 1 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; xây dựng nhà trường tinh, gọn, mạnh, thông minh, hiện đại. Tập trung nguồn lực đầu tư đồng bộ, chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo; chuẩn hóa, thống nhất hệ thống giáo trình, tài liệu dạy học trong nhà trường với tài liệu huấn luyện tại đơn vị.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật mô phỏng và chuyển đổi số trong công tác quản lý giáo dục và quản trị nhà trường. Đồng thời bảo đảm kịp thời, hiệu quả hậu cần, kỹ thuật, tài chính cho các hoạt động của nhà trường; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Xây dựng, phát triển hệ sinh thái giáo dục thông minh, sáng tạo, góp phần thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo.

Với tình cảm, trách nhiệm chính trị trước Đảng, Bác Hồ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Trường Sĩ quan Lục quân 1 tiếp tục phấn đấu vươn lên; đột phá đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng GD-ĐT, góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Chủ động, sáng tạo trong tham mưu, chỉ đạo

 Ngày 10-4-1950, Ban Công tác chính trị (tiền thân của Phòng Chính trị, Học viện Quân y ngày nay) được thành lập. Trải qua 75 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, Phòng Chính trị đã chủ động, sáng tạo, nhạy bén trong tham mưu, đề xuất và triển khai toàn diện, có chất lượng hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT), góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị của Học viện.

Cùng với sự phát triển của Học viện, Ban Công tác chính trị (sau này là Phòng Chính trị) đã thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện lãnh đạo, chỉ đạo, đồng thời trực tiếp hướng dẫn, triển khai, tổ chức các hoạt động CTĐ, CTCT, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị.

Trên cơ sở chức trách, nhiệm vụ được giao, các thế hệ cán bộ, nhân viên của Phòng Chính trị đã nghiên cứu, quán triệt, nắm vững những nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, của Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Học viện tham gia học tập có chất lượng các chuyên đề lý luận chính trị và pháp luật. Phòng đã xây dựng và triển khai thực hiện tốt kế hoạch công tác tổ chức xây dựng Đảng, thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc duy trì các chế độ, nền nếp sinh hoạt Đảng trong toàn Đảng bộ Học viện.

Phòng Chính trị tham mưu giúp Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y xây dựng và triển khai quy chế, quy hoạch, kế hoạch công tác cán bộ của Học viện bảo đảm sát, đúng, phù hợp với thực tế đơn vị. Đã tập trung làm tốt công tác nghiên cứu, đề xuất xây dựng thông tư quy định tiêu chuẩn chức vụ cán bộ, quy định tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ thuộc Học viện Quân y.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc các quyết định về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại chức vụ và chuyển ra đúng chế độ, bảo đảm công khai, dân chủ, minh bạch, đúng nguyên tắc và quy trình. Thực hiện chặt chẽ việc đề nghị, đề bạt quân hàm, nâng lương và đào tạo cán bộ ở các cấp. Làm tốt chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đồng đội, nhà đại đoàn kết...

Thực hiện nghiêm quy chế đối ngoại quân sự, bảo đảm an ninh, an toàn cho các đoàn khách nước ngoài đến thăm, làm việc, hội thảo khoa học tại Học viện. Công tác tổ chức xét duyệt tiêu chuẩn chính trị cho các đối tượng tuyển sinh, nhập ngũ được tiến hành chặt chẽ. Phòng Chính trị cùng với các đơn vị thường xuyên phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách, đường lối quân sự, quốc phòng, chủ động tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh. Thường xuyên quan tâm, chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, hoạt động của các tổ chức quần chúng.

Trong suốt chặng đường 75 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Phòng Chính trị luôn phát huy tốt vai trò trách nhiệm trong công tác, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc chức năng tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn, đồng thời triển khai thực hiện có chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giáo dục-đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị, chăm sóc sức khỏe cho bộ đội và nhân dân, không ngừng bảo đảm tốt đời sống tinh thần cho bộ đội.

Với những thành tích tiêu biểu trong quá trình công tác, Phòng Chính trị, Học viện Quân y vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Ba. Nhiều năm được tặng cờ thi đua, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương. Hàng trăm cá nhân được tặng thưởng Huân chương Chiến công, Huy chương Chiến sĩ vẻ vang, danh hiệu Chiến sĩ thi đua và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Trong thời gian tới, nhiệm vụ của Học viện nói chung, Phòng Chính trị nói riêng đặt ra những yêu cầu mới, ngày càng cao. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Phòng Chính trị tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Học viện Quân y anh hùng, kế tục và phát triển những thành quả của các thế hệ đi trước đã dày công vun đắp. Phòng Chính trị chủ động quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc nghị quyết lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp, tham mưu giúp Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai toàn diện, có chất lượng hoạt động CTĐ, CTCT, góp phần quan trọng cùng với các cơ quan, đơn vị xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, Học viện Quân y vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. các chế độ, nền nếp sinh hoạt Đảng trong toàn Đảng bộ Học viện.

50 NĂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM - THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

    50 năm trước, vào những ngày cuối tháng Tư lịch sử, 5 cánh quân từ các hướng đã xốc tới miền Nam, đập tan sào huyệt cuối cùng của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, đưa giang sơn về một mối.

    50 năm sau, những cánh quân từ nhiều miền Tổ quốc tiếp tục cuộc hành quân hướng về TP Hồ Chí Minh, tham gia lễ diễu binh, diễu hành chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025). Dẫu thời điểm lịch sử khác nhau nhưng cả hai cuộc hành quân đều mang chung một khát vọng hòa bình cho dân tộc.

    Lịch sử hào hùng của dân tộc ta được điểm tô từ những đoàn quân ra trận. Những ngày qua, biết bao giọt mồ hôi đã đổ trên các thao trường luyện rèn, bao cán bộ, chiến sĩ hôm nay đã “vượt nắng, thắng mưa”, mang trong mình niềm vinh dự, tự hào lớn lao khi được tham gia lực lượng diễu binh, diễu hành trong ngày lễ trọng thống nhất non sông.

    Chỉ ít ngày nữa thôi, những cánh bay sẽ tung cánh trên bầu trời, những đoàn quân sẽ rầm rập tiến bước dưới Quân kỳ Quyết thắng giữa lòng Thành phố mang tên Bác. 50 năm trước là âm thanh của chiến trận và chiến công rực rỡ, 50 năm sau là âm thanh của hòa bình, của niềm tin vào một tương lai tươi sáng.

    Trong chiều sâu văn hóa dân tộc Việt Nam thì văn hóa giữ nước là cốt lõi. Để có được hòa bình như hôm nay, biết bao thế hệ đã ngã xuống cho đất nước nở hoa độc lập. Dịp kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước, hòa chung khí thế của những đoàn quân tiến bước, cũng là dịp để gắn kết toàn dân tộc Việt Nam; để mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay biết trân trọng lịch sử và giá trị của hòa bình. Đó cũng là cơ sở để chúng ta nhân lên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy và kết nối trí tuệ, tài năng, tâm huyết của trăm triệu con dân đất Việt trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới./.

KHAI MẠC TRIỂN LÃM CHUYÊN ĐỀ: “50 NĂM VANG MÃI BẢN HÙNG CA” TẠI BẢO TÀNG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

Chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025), sáng 8/4, tại Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh, Cục Chính trị Quân khu 7 phối hợp Cục Chính trị Quân đoàn 34, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức khai mạc triển lãm chuyên đề “50 năm vang mãi bản hùng ca," giới thiệu đến khán giả gần 500 hình ảnh, tư liệu, hiện vật lịch sử liên quan đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Triển lãm là nội dung có ý nghĩa thiết thực trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); góp phần giáo dục cho cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, không ngừng phát huy truyền thống cách mạng, hun đúc tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, quyết tâm xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Trong khuôn khổ triển lãm diễn ra một số hoạt động trải nghiệm di chuyển dưới giao thông hào, hầm chữ A; nhà lợp lá Trung quân tại căn cứ cách mạng; may cờ giải phóng, mũ tai bèo; thưởng thức món ăn của du kích trong kháng chiến (khoai mỳ, muối đậu)…

Tại lễ khai mạc đã diễn ra lễ tiếp nhận kỷ vật kháng chiến của các cựu chiến binh, gia đình cựu chiến binh, nhà sưu tập tư nhân trao tặng Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Triển lãm diễn ra từ nay đến hết ngày 20/5, gồm 4 phần trưng bày chính trong nhà, ngoài trời và một số hoạt động trải nghiệm./.

Tái tổ chức lực lượng quân sự địa phương – Hướng đi “tinh, gọn, mạnh” trong bối cảnh mới

Hội nghị lãnh đạo Bộ Quốc phòng ngày 8-4 dưới sự chủ trì của Đại tướng Phan Văn Giang đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị trong việc kiện toàn tổ chức lực lượng quân sự địa phương – một mắt xích quan trọng trong thế trận quốc phòng toàn dân.

Việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh và không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc hệ thống tổ chức quân sự địa phương. Đây không chỉ là vấn đề sắp xếp bộ máy, mà còn liên quan đến năng lực chỉ huy, quản lý, điều hành lực lượng, nhất là trong tình huống khẩn cấp về quốc phòng – an ninh.

Điều đáng ghi nhận là tinh thần chủ động, nhất quán và cầu thị trong quá trình xây dựng đề án. Bộ Quốc phòng không chỉ nhấn mạnh yếu tố “tinh, gọn, mạnh” mà còn bảo đảm tính kế thừa, ổn định và phù hợp với địa bàn chiến lược. Đặc biệt, mục tiêu cuối cùng vẫn là phát huy hiệu quả thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân – một trong những nguyên lý cốt lõi của chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Với sự tham mưu kỹ lưỡng và đồng bộ từ cấp chiến lược đến địa phương, đề án tái tổ chức lần này hứa hẹn sẽ góp phần tạo bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng lực lượng vũ trang địa phương “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”./.

NHỮNG HÀNH ĐỘNG NHÂN ĐẠO CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG VỚI ĐOÀN NGƯỜI DI TẢN CUỐI THÁNG 4/1975

Trong những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến, phía Quân Giải phóng đã “thả” cho các máy bay địch, binh tướng VNCH, người dân di tản khỏi miền Nam Việt Nam. Theo báo cáo của USAF, Quân Giải phóng đã chiếm được đài radar tại Căn cứ Không quân Biên Hòa vào ngày 25/04 và “soi” được hầu khắp những chiếc máy bay đưa người di tản từ đất liền ra các chiến hạm. Tên lửa SAM cũng sẵn sàng nhưng không có bất cứ một vụ phóng nào được chỉ thị, đài radar chỉ có hoạt động theo dõi chứ không có động thái gây chiến.

Có một số vụ không kích sân bay Tân Sơn Nhất, nhằm phá huỷ không cho các máy bay tiêm kích và vận tải cỡ lớn tiếp cận. Các khu vực cảng biển, cảng sông ở Sài Gòn, Vũng Tàu… gần như không bị không kích. Nhà báo Thomas G Tobin trong cuốn Last flight from Saigon cho biết phía Việt Cộng dường như không có động thái nào ngăn cản hay tấn công đoàn người di tản, họ chỉ muốn tiến vào Sài Gòn và nhanh chóng kết thúc cuộc chiến. Có một lệnh ngầm được thực hiện bởi các uỷ ban cách mạng rằng không ngăn cản hay dùng bạo lực nếu có những đoàn người muốn ra đi.

Pháo binh từ các quân đoàn đã bao vây Sài Gòn và sẵn sàng nã thẳng vào thành phố này. Nhưng thay vì chọn cách công kích như thế này, QGP chấp nhận hành quân theo đường bộ và tác chiến đô thị, chấp nhận thiệt hại để có thể không gây ra thiệt hại lớn cho dân thường, công trình. 

Theo ghi chép của nhà báo Stephen Tanner trong cuốn Epic Retreats: From 1776 to the Evacuation of Saigon, nhiều chiến sĩ QGP đã dùng AK-47 bắn lên những chiếc UH-1 nhưng chẳng có viên đạn nào đi trúng mà chỉ mang tính chất “cho có”, đe doạ những chiếc UH-1 không bén bảng đến các khu vực mà QGP đang hành quân.

Với khí thế, sức mạnh, tiềm lực của QGP thời điểm đó, không khó để biến những chuyến di tản ra biển trở thành thảm họa đầy chết chóc. Nhưng dù sao thì cũng vẫn là người Việt Nam, khi đã gần đến khoảnh khắc chiến thắng và thống nhất, đổ máu thêm cũng không cần thiết, đây là những hành động nhân đạo cuối cùng kết thúc cuộc kháng chiến vĩ đại của cả dân tộc.

----


THỦ TƯỚNG: CHÚNG TA PHẢI VƯƠN LÊN MẠNH MẼ, KHÔNG ĐƯỢC PHÉP YẾU ĐI

Ngày 7/4, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì hội nghị Thủ tướng Chính phủ với các bộ, ngành, hiệp hội, doanh nghiệp và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để chủ động thích ứng với tình hình mới về thương mại quốc tế.

Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại đầu cầu Trụ sở Chính phủ, trực tuyến với đầu cầu các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Dự hội nghị có Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn; bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; lãnh đạo hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng và lãnh đạo 94 cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Khai mạc hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh hiện nay tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi, đồng thời cho rằng, điều này cũng là bình thường như từ đầu nhiệm kỳ đến nay, từ những khó khăn do đại dịch COVID-19 đến xung đột tại các khu vực gây đứt gãy chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, thiên tai, bão lũ.

Hiện nay, việc Hoa Kỳ áp dụng chính sách thuế quan mới, ảnh hưởng tới kinh tế thế giới nói chung, trong đó có nước ta. Tình hình có thể có khó khăn, song không khó khăn bằng những năm đầu đổi mới và càng không khó khăn bằng thời kỳ Việt Nam phải kháng chiến giành độc lập dân tộc, bị bao vây, cấm vận.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định mỗi khi có khó khăn, dân tộc ta, đất nước ta lại càng có bản lĩnh, kinh nghiệm để trỗi dậy, ứng phó hiệu quả hơn với tình hình thực tiễn.

Hiện nay, đất nước ta đã trưởng thành hơn, lớn mạnh, đủ bản lĩnh để thích ứng linh hoạt, hiệu quả với bất cứ sự kiện, biến động gì xảy ra trên thế giới và khu vực; “biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành có thể” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/Quyết chí ắt làm nên” và như câu ca của ông cha ta “Non cao cũng có đường trèo/Đường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi.”

Thông báo tới các đại biểu về tình hình phát triển kinh tế-xã hội, Thủ tướng cho biết, mặc dù có khó khăn, song tình hình kinh tế-xã hội nước ta trong quý 1/2025 tiếp tục đà phát triển tích cực, tháng sau cao hơn tháng trước, quý sau cao hơn quý trước.

Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. GDP quý 1/2025 tăng 6,93%.

Thu ngân sách nhà nước quý 1 đạt 36,7% dự toán năm, tăng 29,3% so với cùng kỳ. Nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia được kiểm soát tốt. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 13,7%, xuất siêu ước đạt 3,16 tỷ USD.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký đạt gần 11 tỷ USD, tăng 34,7% so với cùng kỳ.

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, có nhiều tiến bộ. An sinh xã hội được đảm bảo, trong đó cả nước nỗ lực để cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025. An ninh, chính trị ổn định. Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Đối ngoại được tăng cường, với nhiều hoạt động cấp cao sôi động giữa Việt Nam và các nước.

Thủ tướng cho biết Việt Nam là nước đang phát triển, nền kinh tế đang chuyển đổi, quy mô kinh tế còn khiêm tốn, xuất phát điểm thấp, độ mở cao, do đó, những biến động trên thế giới đều có thể ảnh hưởng đến nước ta.

Việc Hoa Kỳ áp dụng chính sách thuế quan mới có thể có khó khăn, thách thức cho kinh tế Việt Nam, song đây cũng là cơ hội để chúng ta tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ rõ chúng ta phải vươn lên mạnh mẽ, không được phép yếu đi, lưu ý, càng khó khăn, càng phải đoàn kết, càng phải chung sức, đồng lòng; khẳng định Đảng ta không có mục tiêu nào khác là mang lại độc lập, tự do cho dân tộc, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hạnh phúc, ấm no cho nhân dân.

Thủ tướng yêu cầu các đại biểu đánh giá tình hình, phân tích khó khăn, thách thức phải đối mặt, đồng thời chỉ ra cơ hội và kiến nghị giải pháp để tiếp tục phát triển nhanh, bền vững; trước mắt đạt mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm 2025.

Từ đó tạo đà, tạo lực, tạo thế để đạt mức tăng trưởng 2 con số trong thời gian tới để đạt 2 mục tiêu 100 năm, đưa nước ta bước vào thời kỳ vươn mình giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045./.


ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ LÃNH ĐẠO BỘ QUỐC PHÒNG

Thực hiện tiếp thu các nội dung kết luận của Quân ủy Trung ương và ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương về “Đề án về tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu các nhiệm vụ trong tình hình mới” tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ mười ba, sáng 8-4, tại Hà Nội, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị lãnh đạo Bộ Quốc phòng về tổ chức quân sự địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện.

Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Thượng tướng Vũ Hải Sản.

Cùng dự hội nghị có: Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Trung tướng Đỗ Xuân Tụng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam.

Hội nghị đã tập trung thảo luận, cho ý kiến để điều chỉnh, hoàn thiện Đề án trên cơ sở tiếp thu các nội dung kết luận của Quân ủy Trung ương và ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương. Trong đó, quá trình điều chỉnh mang tính tổng thể, đồng bộ, phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia. Bảo đảm được sự chỉ huy, thống nhất trong xây dựng khu vực phòng thủ liên hoàn, vững chắc, giữ được sự ổn định. Sau điều chỉnh bảo đảm hoàn thành tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao.

Phát biểu kết luận hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh việc nghiên cứu, đề xuất phương án tổ chức quân sự địa phương phải xuất phát từ thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay; các chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự, truyền thống lịch sử xây dựng lực lượng quân sự, đánh giặc giữ nước của dân tộc.

Trong đó, Đề án tổ chức sắp xếp tổ chức quân sự địa phương, Bộ đội Biên phòng phù hợp với hệ thống; với quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân. Xây dựng tổ chức quân sự địa phương, Bộ đội Biên phòng thực sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có cơ cấu tổ chức hợp lý, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Là lực lượng nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng tiềm lực khu vực phòng thủ liên hoàn, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Chiến thắng Huế - Đà Nẵng: Đánh nhanh, thắng lớn

 

Sau chiến dịch Tây Nguyên, nhằm phá tan tuyến phòng thủ then chốt của địch ở miền Trung, tạo hành lang chiến lược thuận lợi cho đòn đánh cuối cùng vào Sài Gòn, Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định tiến hành chiến dịch Huế - Đà Nẵng.

Đây là một trong ba đòn tiến công chiến lược quan trọng nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tạo thế và lực để tiến công vào Sài Gòn, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thần tốc tiến công

Ngay sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột và thắng lớn trên chiến trường Tây Nguyên, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị khẳng định: Thời cơ chiến lược đã đến, hạ quyết tâm chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc tổng tiến công chiến lược, chuyển phương án cơ bản sang phương án thời cơ, hoàn thành kế hoạch trong hai năm 1975-1976 ngay trong năm 1975, với hướng tiến công chiến lược chủ yếu là Sài Gòn. Nhưng trước mắt nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ quân địch trong Vùng chiến thuật 1, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, giải phóng Huế, Đà Nẵng.

Ngày 5-3-1975, chiến dịch Trị - Thiên bắt đầu. Chủ lực ta tiến hành nghi binh ở Bắc Quảng Trị, đồng thời, lực lượng địa phương đánh nhỏ trên các trục đường giao thông, bao vây uy hiếp địch ở tuyến giáp ranh, kết hợp với các hoạt động vũ trang tuyên truyền.

Trên chiến trường Quảng Nam - Quảng Ngãi, rạng sáng ngày 10-3, phần lớn lực lượng chủ lực Quân khu 5 tiến công vào Tiên Phước - Phước Lâm - cụm cứ điểm tiền tiêu của địch phòng ngự Tam Kỳ. Đây là đòn đánh vào nơi hiểm yếu trong tuyến phòng ngự của địch. Chiến thắng Tiên Phước - Phước Lâm mở đầu cho chuỗi phản ứng dây chuyền chia cắt thế trận Nam Quân khu 1 Quân đội Sài Gòn, cô lập địch ở Đà Nẵng từ hướng Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân ta giải phóng khu liên hiệp quân sự lớn nhất miền Trung.

Từ bàn đạp Tiên Phước - Phước Lâm, Sư đoàn 2 Quân khu 5 đẩy mạnh tiến công chọc thủng tuyến ngăn chặn của địch ở Tây Nam Kỳ vào ngày 21-3.

Cùng lúc đó, Quân đoàn 2 bắt đầu tiến công giải phóng thành phố Huế từ hướng Tây Nam. Ở Quân khu 5, lực lượng vũ trang địa phương của 3 tỉnh Quảng Đà - Quảng Nam - Quảng Ngãi tập trung thành từng quả đấm tương đối mạnh, tổ chức thành thế trận liên hoàn giữa các đòn tiến công của bộ đội chủ lực với sự nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng tiến hành căng kéo, chia cắt lực lượng cơ động của quân ngụy, tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn địch, giải phóng thị xã Tam Kỳ ngày 24-3, thị xã Quảng Ngãi ngày 25-3. Cùng ngày 25-3, thành phố Huế cũng được giải phóng.

Tam Kỳ, Huế, Quảng Ngãi được giải phóng, thành phố Đà Nẵng - căn cứ liên hiệp quân sự của Mỹ - ngụy lớn nhất miền Trung trở thành “ốc đảo”, chỉ có thể liên lạc với các vùng còn lại bằng đường biển và đường không. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố “tử thủ” Đà Nẵng. Lúc này Bộ Chính trị nhận định: “Sau khi mất Huế và Tam Kỳ dù địch có muốn giữ Đà Nẵng cũng không thể giữ được”.

Lực lượng địch ở Đà Nẵng khoảng 75.000 tên, gồm: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1, Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Sư đoàn bộ binh 3, Liên đoàn biệt động quân 15, hai thiết đoàn, 7 tiểu đoàn pháo binh, Sư đoàn không quân 1 (gồm 279 máy bay các loại, 96 máy bay chiến đấu), 3.000 tân binh ở Trại huấn luyện Hòa Cầm, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ, 24.000 phòng vệ dân sự có vũ trang, 5.000 cảnh sát, tàn quân từ Huế chạy vào và từ Quảng Nam chạy ra. Ngoài ra, tàu chiến Mỹ còn kéo đến biển Đà Nẵng làm lực lượng “ngăn đe”.

Ngày 25-3, Bộ Tư lệnh chiến dịch Đà Nẵng được thành lập. Chiến dịch Đà Nẵng diễn ra làm hai đợt. Đợt 1, từ ngày 26 đến ngày 28-3, ta đánh chiếm các vị trí vòng ngoài, triển khai lực lượng áp sát Đà Nẵng. Ở hướng Bắc, Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) đánh căn cứ Lữ đoàn thủy quân lục chiến của địch ở đèo Phước Tượng, Ga Thừa Lưu và Đồn Thổ Sơn, đèo Phú Gia, đánh địch phản kích ở Lăng Cô. Đến 20h ngày 28-3, ta hoàn toàn làm chủ khu vực này, tạo bàn đạp đánh lên đèo Hải Vân. Hướng Nam, Sư đoàn 2 (Quân khu 5) đánh chiếm Thăng Bình, Duy Xuyên và Nam Phước... Các hướng khác cùng đưa được lực lượng vào vị trí xuất phát tiến công, áp sát Đà Nẵng.

Đợt 2 diễn ra vào ngày 29-3, pháo binh Quân đoàn 2 và Quân khu 5 bắn phá sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà... ở hướng Nam. Sư đoàn 2, sau khi tổ chức vượt sông vào đêm 28-3, đến 5h ngày 29-3, sử dụng Trung đoàn 38 chiếm Vĩnh Điện và phát triển về Non Nước, sân bay Nước Mặn, rồi tiến ra hướng Sơn Trà; Trung đoàn 1 tiến vào Đà Nẵng, đánh tan cụm quân địch ở bến đò Xu, sau đó phối hợp với một bộ phận của Trung đoàn 96, Tiểu đoàn 941 và Đội biệt động Lê Độ đánh vào các mục tiêu trong thành phố.

12h ngày 29-3, Trung đoàn 1 chiếm Sở Chỉ huy Quân khu 1 - Quân đoàn 1 (Quân đội Sài Gòn) và sân bay Đà Nẵng. Lúc 8h ngày 29-3, Trung đoàn 97 của Quân khu 5 đánh chiếm Hội An, sau đó đánh địch ở An Đông, Mỹ Khê và phát triển về Sơn Trà. Hướng Bắc, Sư đoàn 325 đánh địch ở đèo Hải Vân, chiếm kho xăng Liên Chiểu và tiến vào trung tâm thành phố lúc 12h. Hướng Tây Bắc, Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) đánh Sở Chỉ huy Sư đoàn 3 của địch ở Phước Tượng, sau đó phát triển đánh chiếm Tòa thị chính. Hướng Tây Nam, Trung đoàn 24 đánh chiếm các điểm cao 1005, 1078, 918 ở núi Đồng Lâm; Trung đoàn 66 đánh Phú Hưng, Ái Nghĩa và căn cứ Hòa Cầm, sân bay Đà Nẵng. 15h ngày 29-3, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng.

Như vậy, sau hơn 3 ngày tiến công thần tốc, chiến dịch tiến công giải phóng Đà Nẵng của các lực lượng Quân khu 5 và Quân đoàn 2 đã giành thắng lợi, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại của Quân khu 1 - Quân đoàn 1 địch, giải phóng toàn tỉnh Quảng Đà.

Thắng lợi của sự đoàn kết

Đòn tiến công giải phóng Huế - Đà Nẵng là chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, diễn ra trong thời gian ngắn, công tác chuẩn bị gấp. Thắng lợi to lớn của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng. Trên chiến trường có sự kết hợp giữa hai lực lượng quân sự và chính trị, giữa tiến công quân sự với sự nổi dậy của quần chúng được tiến hành có kế hoạch, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, tất yếu giành thắng lợi hoàn toàn.

Thắng lợi của đòn tiến công chiến lược giải phóng Huế - Đà Nẵng làm thay đổi cục diện thế chiến trường miền Nam theo hướng ngày càng có lợi cho ta; tạo ra một vùng giải phóng rộng lớn, liên hoàn từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung Trung Bộ, hình thành vùng hậu phương chiến lược hoàn chỉnh để bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho những cụm lực lượng tiến công với quy mô lớn, trên cả đường bộ, đường không và đường biển, tập trung lực lượng áp đảo quân thù trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng vào sào huyệt địch.

Nền tảng, nguồn gốc của những thắng lợi đó là sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Cả nước ra trận với khát vọng độc lập tự do, với quyết tâm “đánh cho ngụy nhào”, cùng khí thế thần tốc chưa từng có trong lịch sử.

Nền tảng đó xuất phát từ đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xuất phát từ truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm của dân tộc, từ tình cảm giai cấp, dân tộc - tình đồng chí, đồng đội, tình nghĩa đồng bào, Bắc - Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; miền Bắc hướng về miền Nam ruột thịt, miền Nam hướng về miền Bắc cội nguồn cách mạng.

Thắng lợi của đòn tiến công chiến lược Huế - Đà Nẵng năm 1975 còn thể hiện rõ sự lãnh đạo, chỉ huy tài tình của Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tư lệnh các chiến dịch; thể hiện nghệ thuật quân sự Việt Nam về đánh giá đúng tình hình so sánh lực lượng địch - ta, về chọn đúng hướng, đúng đối tượng và mục tiêu tiến công chủ yếu, về nhạy bén phát hiện thời cơ, kịp thời tận dụng thời cơ, tạo thêm thời cơ, kiên quyết nâng cao tốc độ tiến công, về vận dụng cách đánh sáng tạo trong chiến dịch và những trận đánh lớn then chốt có ý nghĩa quyết định làm thay đổi cục diện chiến trường. Chiến tranh đã lùi xa 50 năm, những giá trị của Đại thắng mùa Xuân 1975 mãi mãi ngời sáng.

 

Những dấu mốc lịch sử của Đại thắng mùa Xuân năm 1975

 

Cánh quân miền Đông Nam Bộ - cực Nam Trung Bộ thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn

Đồng thời, cánh quân này hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho lực lượng chủ lực của Miền và của Bộ, tổng tiến công vào sào huyệt cuối cùng của chế độ Sài Gòn.

Tiến công đều khắp

Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục về mở đợt tiến công đều khắp nhằm làm chuyển biến cục diện trên toàn chiến trường, lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ xác định một trong những đòi hỏi cấp bách trước tiên là xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang.

Bên cạnh việc tổ chức tiếp nhận, chuẩn bị vị trí cho các đơn vị của Bộ đứng chân trên địa bàn, các quân khu ở miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ khẩn trương phát triển lực lượng vũ trang, hình thành các sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn mũi nhọn, các đơn vị binh chủng và bộ đội địa phương, dân quân du kích. Từ tháng 12-1974 đến cuối tháng 2-1975, phong trào cách mạng ở miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ phát triển mạnh mẽ chưa từng có.

Trước ngày diễn ra chiến dịch Tây Nguyên, vùng Hoài Đức - Tánh Linh được giải phóng, tạo bàn đạp trực tiếp tiến công Xuân Lộc, Biên Hòa và Sài Gòn từ hướng Đông. Lực lượng vũ trang địa phương làm chủ khu vực tuyến Vàm Cỏ Tây, sẵn sàng cắt đứt đường số 4 để cô lập Sài Gòn với Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, ta cũng chiếm lĩnh cả 2 trung tâm viễn thám, truyền tin của địch ở Bà Đen, Bà Rá và khống chế có hiệu quả sân bay quân sự ở Biên Hòa.

Ngày 23-3-1975, bộ đội địa phương tỉnh Bình Long phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công giải phóng thị xã An Lộc, phát triển thế tiến công truy quét địch. Ngày 2-4-1975, ta giải phóng huyện Chơn Thành. Dưới sự giúp sức của lực lượng vũ trang địa phương, Sư đoàn 6, Quân khu 7 phối hợp với Quân đoàn 4 tiến công tuyến phòng thủ được mệnh danh là "cánh cửa thép" Xuân Lộc, giải phóng hoàn toàn tỉnh Long Khánh vào đêm 20, rạng ngày 21-4-1975, mở toang cánh cửa vào Biên Hòa và Sài Gòn từ hướng Đông.

Từ ngày 4 đến 24-4-1975, tỉnh Tây Ninh đã vận động thanh niên tham gia lực lượng vũ trang bổ sung cho quân chủ lực tỉnh; tuyên truyền, vận động đồng bào có đạo tham gia các tổ chức cách mạng. Nhờ vậy, khi ta tiến công vào trung tâm tỉnh lỵ, đồng bào có đạo cùng nhân dân nổi dậy uy hiếp địch. Đúng 16h ngày 29-4-1975, ta cắm cờ trên nóc dinh quận Trảng Bàng giải phóng toàn huyện.

Ở tỉnh Long An, hai tiểu đoàn của Long An và 2 trung đoàn của Quân khu 8 đánh thẳng vào quận 8, chiếm Tổng nha cảnh sát, Bộ Tư lệnh Hải quân Quân đội Sài Gòn; chiếm kho xăng Nhà Bè vào ngày 30-4-1975. Du kích và nhân dân đã đồng loạt nổi dậy chiếm tất cả thị trấn, đồn bốt và căn cứ quân sự của địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh.

Tại thị xã Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai), 6h ngày 30-4-1975 toàn khu kỹ nghệ Biên Hòa được giải phóng. Cơ sở cách mạng ấp Bình Đa hướng dẫn bộ đội tiếp quản Trại lính Trần Quốc Toản, Ban An ninh, chiếm quận lỵ Đức Tu và giải phóng xã Tam Hiệp.

Sau khi giải phóng hoàn toàn địa bàn Bà Rịa, trưa 28-4-1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh quyết định sử dụng lực lượng Sư đoàn Sao Vàng và Tiểu đoàn 445 thực hiện giai đoạn 2 với phương án giải phóng thành phố Vũng Tàu bằng cả hai hướng đường bộ và đường biển. Địch đã đánh sập cầu Cỏ May, tử thủ Vũng Tàu. Bộ Tư lệnh đoàn quyết định vượt sông bằng cả 2 phương pháp: Bí mật và dùng hỏa lực mạnh chi viện. Chiều 28-4-1975, ngư dân các xã: Long Hương, Phước Lễ, Phước Tĩnh huy động toàn bộ số ghe hiện có đưa bộ đội qua sông, giải phóng Vũng Tàu.

Ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức mở màn. Cùng với các quân đoàn chủ lực của trên và nhân dân Sài Gòn - Gia Định, trên các hướng, lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ đồng loạt tiến công các mục tiêu. Sư đoàn 6 (trong đội hình Quân đoàn 4) đánh chiếm các mục tiêu trên trục quốc lộ 1, thị xã Biên Hòa. Sư đoàn 5 (trong đội hình Đoàn 232) tiến công xuống Tân An, Thủ Thừa, chặn cắt đường số 4. Trung đoàn Gia Định phối hợp đánh chiếm các mục tiêu Tân Sơn Nhất, Bà Quẹo, Quán Tre, xa lộ Sài Gòn và cửa sông Nhà Bè. Các đơn vị đặc công biệt động đánh chiếm và chốt giữ các cây cầu Bông, cầu Sáng, cầu Rạch Chiếc…, các trục đường giao thông chính, tạo bàn đạp và dẫn đường cho các binh đoàn tiến vào nội đô Sài Gòn. Lực lượng vũ trang các quận hỗ trợ quần chúng nhân dân nổi dậy, tiêu diệt lực lượng chống cự. Đến ngày 1-5-1975, Côn Đảo - địa phương cuối cùng của miền Đông Nam Bộ được hoàn toàn giải phóng.

Bài học quý về đại đoàn kết

Tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thắng lợi này được ghi vào lịch sử như một chiến công oanh liệt và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý.

Đó là, các cấp ủy Đảng và chỉ huy các cấp ở miền Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ luôn nắm vững, quán triệt và thực hiện sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân, quan điểm về bạo lực cách mạng và đấu tranh vũ trang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, sát với yêu cầu thực tế của chiến trường. Ra sức xây dựng, củng cố căn cứ địa, vùng giải phóng, gắn xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh với xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân trên cơ sở kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang ở địa phương, cơ sở, trên cả ba vùng chiến lược. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và củng cố thế trận chiến tranh nhân dân địa phương là một yêu cầu mang tính nguyên tắc trong đấu tranh cách mạng và trong xây dựng hòa bình.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân miền Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ dựa trên nền tảng thế trận chiến tranh nhân dân địa phương được củng cố vững chắc đã tạo nên sức mạnh tổng hợp làm tiêu hao, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực đánh những đòn tiêu diệt lớn và giành thắng lợi hoàn toàn. Sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân địa phương theo quan điểm của Đảng ta là phải được xây dựng, củng cố từ cơ sở. Không có cơ sở vững mạnh thì không thể có sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.

Vì vậy, trong xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc, chúng ta cũng lấy việc xây dựng, củng cố cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng xã, phường an toàn, làm chủ, sẵn sàng chiến đấu là khâu then chốt để tạo ra sức mạnh tổng hợp, đủ sức đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; ngăn ngừa và dập tắt các “điểm nóng”, giữ vững ổn định chính trị ngay từ địa phương, cơ sở. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm về phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

 

Chiến dịch Hồ Chí Minh - Trận quyết chiến chiến lược toàn thắng

 

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mở màn ngày 26-4-1975 và toàn thắng vào trưa 30-4-1975, là trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thống nhất đất nước.

Chiến thắng ấy là biểu tượng sáng ngời của khát vọng độc lập, hòa bình và tinh thần yêu nước bất diệt của dân tộc Việt Nam.

Tấn công như vũ bão

17 giờ ngày 26-4-1975, cuộc tiến công Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Ta tập trung đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, cắt đứt giao thông đường bộ, đường thủy xuống Đồng bằng sông Cửu Long và ra biển; khống chế các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Trà Nóc; chế áp các trận địa pháo quan trọng; chia cắt không cho các sư đoàn chủ lực địch co cụm về vùng ven và nội đô; siết chặt vòng vây quanh Sài Gòn, tạo điều kiện cho cuộc tổng tiến công đồng loạt vào các cơ quan đầu não địch.

Trên hướng Đông và Đông Nam, Quân đoàn 4 đánh chiếm chi khu quân sự Trảng Bom; Quân đoàn 2 đánh chiếm chi khu quân sự Long Thành, Trường sĩ quan Thiết giáp tại căn cứ Nước Trong của địch ở Đồng Nai..., phát triển về hướng Biên Hòa - Nhơn Trạch...

Trên hướng Tây Nam, ta cắt đường số 4 từ cầu Bến Lức đến ngã ba Trung Lương về phía Bắc phà Mỹ Thuận và đoạn từ Cai Lậy đến An Hữu, ngăn chặn, thu hút các sư đoàn 7, 9, 22 của địch, tạo điều kiện cho các hướng khác hoạt động. Đoàn 232 sử dụng một sư đoàn mở cửa đánh chiếm đầu cầu An Ninh, Lộc Giang trên sông Vàm Cỏ, đưa lực lượng đột kích chủ yếu là Sư đoàn 9 và các đơn vị binh khí kỹ thuật qua sông.

Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 tiêu diệt 11/18 trận địa pháo binh địch, cắt đường 22 và đường 1; chặn các đơn vị thuộc Sư đoàn 25 Quân đội Sài Gòn từ Tây Ninh co về Đồng Dù và bức hàng một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 50 của địch. Lực lượng đặc công và Trung đoàn Gia Định làm chủ tuyến vành đai Sài Gòn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre, tạo cửa mở qua các vật cản phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất, chuẩn bị cho binh đoàn chủ lực tiến công.

Kết quả đợt 1, các đơn vị hoàn thành cơ bản kế hoạch tác chiến, đập tan hệ thống phòng thủ và ngăn chặn chủ lực địch ở vòng ngoài, triệt để bao vây cô lập địch ở nội đô, tạo thế tiến công đồng loạt vào trung tâm đầu não chính quyền và Quân đội Sài Gòn.

Lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương trên địa bàn chiến dịch kịp thời nổi dậy giành quyền làm chủ, khiến cho nội bộ chính quyền Sài Gòn lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Chiều 28-4, Mỹ gây sức ép buộc Tổng thống Trần Văn Hương phải từ chức, đưa Dương Văn Minh lên thay, với hy vọng kéo dài sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn. Vào lúc 16 giờ 25 phút cùng ngày, một biên đội không quân ta, sử dụng 5 máy bay chiến đấu A37 thu được của địch, do biên đội trưởng Nguyễn Thành Trung chỉ huy, cất cánh từ sân bay Thành Sơn, ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy nhiều máy bay... Trận đánh diễn ra bất ngờ, làm tê liệt cầu hàng không di tản của Mỹ, khiến cho tình hình Sài Gòn càng thêm rối loạn và góp phần làm suy sụp tinh thần địch, đẩy nhanh quá trình tan rã của chế độ Sài Gòn.

5 giờ ngày 29-4, các cánh quân của ta được lệnh tổng công kích đồng loạt trên toàn mặt trận, ngăn chặn và tiêu diệt các lực lượng chủ lực chủ yếu của địch ở vòng ngoài; phát triển thọc sâu, phối hợp với các lực lượng tại chỗ đánh chiếm những địa bàn quan trọng ở vùng ven, chuẩn bị tiến công vào nội đô.

Hướng Đông Nam, từ 4 giờ 30 phút, pháo binh Quân đoàn 2 pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất; Sư đoàn 304 tiến công căn cứ Nước Trong; phát triển theo đường 15, đánh chiếm căn cứ Long Bình; phối hợp với lực lượng đặc công chuẩn bị đột phá vào nội đô. Sau khi giải quyết các mục tiêu còn lại ở Nhơn Trạch, Sư đoàn 325 diệt địch ở Thành Tuy Hạ, đánh chiếm căn cứ hải quân Cát Lái, phát triển tiến công vào quận 9 và Bộ Tư lệnh Hải quân địch.

Hướng Đông, Quân đoàn 4 đập tan các ổ đề kháng của địch ở Hố Nai, đánh chiếm căn cứ không quân ở sân bay Biên Hòa, chiếm căn cứ pháo binh ở Hốc Bà Thức và căn cứ Long Bình. Hướng Tây Bắc, Trung đoàn đặc công 198 Quân đoàn 3, đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng. Sư đoàn 320 tiến công căn cứ Đồng Dù, diệt Sở chỉ huy Sư đoàn 25 của địch. Sư đoàn 316 đánh chiếm Trảng Bàng. Sư đoàn 10 theo quốc lộ 1 tiến vào nội đô, đánh tan các cụm quân địch ở Hậu Nghĩa, Củ Chi, khu huấn luyện Quang Trung, phát triển đến khu vực Bà Quẹo.

Hướng Bắc, Quân đoàn 1 áp sát căn cứ Phú Lợi, triển khai trận địa chốt chặn trên đường 13, diệt và bắt Sở chỉ huy Sư đoàn 5 của địch; thực hiện luồn sâu, mở đường tiến về Lái Thiêu. Hướng Tây và Tây Nam, Đoàn 232, Sư đoàn 3 tiến công làm chủ thị xã Hậu Nghĩa; đánh chiếm các chi khu Đức Hòa, Đức Huệ và căn cứ Trà Cú. Sư đoàn 9 thọc sâu về hướng Bà Quẹo. Các sư đoàn 5 và 8 phối hợp cắt đứt đường 4, đánh lui các đợt phản kích của địch, phát triển tiến công về hướng Bắc Cần Giuộc.

Trước tình hình nguy cấp, Tổng thống Mỹ Gerald Ford buộc phải thực hiện chiến dịch di tản gấp bằng máy bay trực thăng (mang tên chiến dịch Gió Lớn). Từ trưa 29 đến sáng 30-4, địch sử dụng 81 chiếc máy bay trực thăng liên tục di chuyển gần 7.000 người (trong đó có hơn 1.000 người Mỹ, kể cả Đại sứ Martin) ở Sài Gòn ra các tàu sân bay Mỹ đang đậu ở ngoài khơi.

Thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất

Sáng 30-4, các cánh quân lớn của ta đồng loạt tổng công kích vào nội đô Sài Gòn, bỏ qua các vị trí không quan trọng, sử dụng sức mạnh pháo binh, xe tăng đập tan các cụm phòng ngự của địch trên đường tiến quân; phối hợp với các lực lượng biệt động nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu then chốt như: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Biệt khu Thủ đô, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài Phát thanh Sài Gòn...

Trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, lúc 9 giờ 30 phút, Tổng thống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố trên Đài Phát thanh Sài Gòn, kêu gọi đơn phương ngừng bắn để bàn giao chính quyền... Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, các cánh quân ta tiếp tục tiến công theo kế hoạch, nhằm giải tán chính quyền và đập tan triệt để mọi sự chống cự của địch.

Đội hình thọc sâu Quân đoàn 2 có nhiệm vụ đánh chiếm Dinh Độc lập. Sau khi đè bẹp một số mục tiêu quan trọng ở quận Thủ Đức, đơn vị đã tiến sát cầu Sài Gòn. Tại đây quân ta gặp sự phản kích dữ dội của địch. Nhưng trước sự phối hợp hỏa lực hiệu quả và các mũi tiến công của quân ta, địch phải bỏ vũ khí tháo chạy. Lúc 9 giờ, lực lượng đi đầu binh đoàn đột kích thọc sâu của quân đoàn vượt cầu Sài Gòn, tiến về phía Dinh Độc Lập. Vượt qua sự chống trả quyết liệt của địch ở cầu Thị Nghè, lực lượng thọc sâu cơ động dọc theo tường rào Thảo Cầm Viên. Tiểu đoàn 1 xe tăng do Đại đội 4 dẫn đầu tiếp cận cổng chính Dinh Độc Lập. Xe tăng đi đầu mang số hiệu 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc vào cánh cổng bên trái (từ ngoài vào). Do đột ngột gặp sức cản lớn nên xe chết máy. Xe tăng mang số hiệu 390 do Chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy đi sau vượt lên, lao vào húc đổ cánh cổng chính của Dinh Độc Lập.

Đại đội trưởng Bùi Quang Thận nhanh chóng dời xe mang lá cờ Giải phóng cắm trên nóc Dinh Độc lập. Đó là lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4, báo hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng.

Đồng thời lúc này, một số cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 do Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chỉ huy tiến vào Dinh Độc Lập, nhanh chóng tiếp cận phòng Khánh tiết cùng các lực lượng khác. Tổng thống Dương Văn Minh và các thành viên nội các chính quyền Sài Gòn đầu hàng không điều kiện. Các đồng chí Trung đoàn 66 đưa Dương Văn Minh sang Đài Phát thanh Sài Gòn đọc lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực và địa phương của địch tại Vùng 3 chiến thuật cùng các đơn vị dự bị chiến lược còn lại và tàn quân của Vùng 1, Vùng 2 chạy về; đập tan hệ thống chính quyền địch từ trung ương đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh: Tây Ninh, Long An, Bình Dương, Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu...

Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh mang ý nghĩa to lớn. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng thời kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh cách mạng lâu dài và gian khổ của dân tộc ta chống lại chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới; góp phần hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Cùng với các chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ..., chiến dịch Hồ Chí Minh đã ghi mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.