Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

Phê phán quan điểm sai trái phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”

Trong những năm qua, các thế lực thù địch luôn đẩy mạnh các hoạt động phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mũi nhọn tấn công của chúng là gây nhiễu về chính trị, tư tưởng, văn hóa; ra sức phủ nhận nền tảng tư tưởng và công tác nhân sự của Đảng; kích động tư tưởng ly khai, chống đối; lợi dụng vấn đề “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “dân chủ”, “nhân quyền” “dân tộc”, “tôn giáo”; lợi dụng những vấn đề phức tạp trên Biển Đông và tình trạng tham nhũng, dịch bệnh để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, những luận điệu xuyên tạc, công kích Quân đội nhân dân Việt Nam, hòng gây mất ổn định chính trị, xã hội và làm cho quân đội ta mất định hướng chính trị, là những luận điệu phản động, hết sức nguy hiểm và thâm độc cần kiên quyết đấu tranh, vạch trần, lật tẩy bản chất.

Những “âm mưu, thủ đoạn” thâm độc của các thế lực thù địch

Hiện nay, lợi dụng việc góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, một số người đã viết cái gọi là “tâm thư” góp ý, kiến nghị: “Quân đội phải trung lập, phải đứng ngoài chính trị”, “quân đội chỉ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia”, “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân, chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức chính trị nào”. Cùng với đó, họ đưa ra yêu sách đòi Đảng, Nhà nước phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013; theo đó, phải có điều khoản hiến định kiểu “nhập khẩu” phương Tây, rằng “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào”, phải thực hiện “dân sự hóa” quân đội theo mô hình của quân đội các nước tư bản chủ nghĩa.

Một trong những chiêu trò nổi lên gần đây không thể xem thường là chúng tìm mọi cách để phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”, bằng việc đẩy mạnh thực hiện mưu đồ “phi chính trị hoá”, “trung lập hoá” và “dân sự hóa” quân đội, làm cho quân đội phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc. Quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội là sai trái, hết sức phản động vì nó hướng đến mục đích: Tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội “bị lầm đường, lạc lối”, mất phương hướng chính trị, xa rời lý tưởng, mục tiêu chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là phương cách để chúng dễ bề thực hiện âm mưu, thủ đoạn chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa, thực hiện ý đồ của chúng. Bài học “đắt giá” về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, các nước Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX đến nay vẫn còn nguyên giá trị, luôn nhắc nhở chúng ta phải đề cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc này. Luận điệu và thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội là sai lầm về nhận thức lý luận, không phản ánh đúng thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội trong lịch sử nhân loại, cũng như thực tiễn hơn 75 năm chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hòng tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ như chúng đã thực hiện thành công ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây; trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội là chiêu thức tuy không mới, nhưng vô cùng thâm độc và được chúng đặc biệt coi trọng, triệt để tận dụng khai thác. Nhằm “góp gió thành bão”, “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn”; gần đây, chúng đã triệt để phát huy “kinh nghiệm vốn có” của “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, của “cách mạng màu” và sử dụng nó bằng mọi biện pháp để chĩa mũi tiến công vào quân đội, trực tiếp đánh vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch; xuyên tạc, bôi nhọ đời tư, thân thế, sự nghiệp của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cố tình hạ thấp uy tín, danh dự, phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”; tuyên truyền luận điệu giả dối, lừa mị nhân dân, như “quân đội đông nhưng không mạnh”, không đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo vì “sợ nước ngoài”,... Những luận điệu sai trái đó, vẫn là “tích cũ chiêu trò mới” được “tua đi tua lại”, sử dụng nhiều lần trên các phương tiện truyền thông, nhất là các trang mạng xã hội để kích động, gây hoang mang, nghi ngờ trong cán bộ, chiến sĩ và một bộ phận nhân dân do nhận thức, hiểu biết không đầy đủ, thiếu thông tin về vai trò, sức mạnh chiến đấu của quân đội; qua đó, từng bước hạ bệ thần tượng, làm lu mờ và tiến tới phủ nhận lịch sử, truyền thống vẻ vang của quân đội ta. Mục tiêu của chúng là gieo rắc sự hoài nghi, bi quan về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; đồng thời, cắt dán, lắp ghép, tung tin xấu, độc lên các trang mạng xã hội để kích động chống phá, gây rối loạn trận địa tư tưởng, lý luận, văn hóa của Đảng trong quân đội. Đây là một trong những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch, hòng phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đi kèm và hỗ trợ đắc lực cho quan điểm sai trái và hoạt động gây rối từ âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang cố tình “cải tiến” các mô thức, chiêu trò, hoạt động chống đối, xuyên tạc, hạ thấp, tiến tới xóa bỏ vai trò, hiệu lực, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong quân đội. Chúng xuyên tạc Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 20-7-2005, của Bộ Chính trị khóa IX, về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, cho rằng đội ngũ chính ủy, chính trị viên “chỉ là cái đuôi của bộ máy chỉ huy”, “thành phần ăn theo của một chính sách sai lầm”, là “vật cản trở sự sáng tạo của người chỉ huy” và là sự “phình to biên chế”, “gây lãng phí tiền của”, công sức nhân dân. Từ đó, chúng thổi vào quân đội các luồng thông tin xấu, độc, gây mâu thuẫn, chia rẽ giữa đội ngũ cán bộ lãnh đạo với đội ngũ cán bộ chỉ huy; kích động tư tưởng công thần, địa vị, sự so bì tài - đức giữa thế hệ cán bộ kháng chiến và thế hệ cán bộ trẻ ngày nay. Đặc biệt, chúng gieo rắc tư tưởng hưởng lạc, đòi hỏi chế độ đãi ngộ, chỉ ra sự thiệt thòi của những đồng chí có nhiều cống hiến trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, đặt họ bên cạnh một số ngụy quân của chế độ Sài Gòn đã tử trận khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; mưu toan gây tâm lý bất bình trong một bộ phận nhân dân, quấy rối nội bộ với dụng ý làm giảm sút niềm tin, phá hoại mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sĩ thời nay - thời xưa, chia rẽ, xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết quân  - dân, phủ nhận quan hệ  “quân với dân là một ý chí”.

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực xã hội theo Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của Hội  nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ” để xử lý một số cán bộ cấp cao trong quân đội vi phạm kỷ luật; các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc phao tin quân đội có phe phái “thanh trừng lẫn nhau”, khoét sâu những yếu kém trong quản lý đơn vị, thực hiện chức năng là đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, những khó khăn về đời sống, quản lý vũ khí, trang bị quân sự để sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chính sách hậu phương quân đội, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ bi quan, chán nản, dao động về lập trường, quan điểm mác-xít, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nảy sinh tư tưởng ghen tỵ, so bì, kèn cựa về lợi ích, sự hưởng thụ so với bạn bè cùng trang lứa, làm mất động lực phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ trẻ. Bằng những hoạt động của bộ máy “sản xuất”, “chế biến”, tung tin giả rất tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tìm mọi cách để thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào quân đội; qua đó, triệt để khai thác, lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn tiêu cực xã hội để xuyên tạc bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Cùng với đó, chúng tìm cách đưa lối sống thực dụng, đề cao vật chất, sùng bái đồng tiền và các “giá trị” văn hóa phương Tây, nhất là tư tưởng “sùng ngoại”, “hám đô-la”, kích thích tâm lý hưởng thụ, tung nó vào đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội với tham vọng tạo ra sự “nhạt Đảng, khô Đoàn”, làm mờ nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.

Thực chất của các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch chỉ nhằm mục đích duy nhất là phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; làm cho quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, bị tha hóa, biến chất, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trở nên vô dụng; không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước; không còn là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Chúng xuyên tạc rằng, ở Việt Nam chừng nào còn có Quân đội nhân dân Việt Nam thì chừng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam còn có chỗ dựa vững chắc để thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, còn lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, và do vậy, chúng phải quyết liệt chống phá quân đội, làm xói mòn công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước. Vì lẽ đó, chúng đã và đang tìm mọi cách để thủ tiêu sức mạnh chiến đấu của quân đội, lấy chiêu trò “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội gắn chặt với âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, làm đòn bẩy “đánh gục Đảng”, tước bỏ vũ khí “tuyệt đối trung thành của quân đội ta với Đảng”.

Có thể khẳng định, quan điểm “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội là một âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, vô cùng độc hại của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Xét về bản chất, nội dung quan điểm này là hoàn toàn phản động, tuy nó không mới nhưng về hành vi, thủ đoạn, cách thức tiến hành, thực thi quan điểm sai trái ấy thì có một số thay đổi, nhất là các chiêu trò, hình thức chống phá bỉ ổi; làm cho quan điểm này tinh vi, xảo quyệt hơn so với trước đây, nhất là khi chúng đánh thẳng vào bộ máy, tổ chức biên chế quân đội, chĩa mũi nhọn vào các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; đẩy mạnh tâm lý chiến, gây mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ quân đội. Cùng với đó, chúng triệt để lợi dụng in-tơ-nét, các trang mạng xã hội và đối ngoại quốc phòng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội bằng mọi hình thức, song được che đậy bởi các vỏ bọc hết sức tinh vi, rất khó nhận diện. Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội.

Một số nhiệm vụ quan trọng cần thực tiện tốt trong thời gian tới

Để tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với quân đội; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, không để bị động, bất ngờ  trong mọi tình huống, thời gian tới cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, xây dựng, phát triển thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn và tác hại của các quan điểm sai trái, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa Mác Lê-nin và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương châm xây dựng quân đội là lấy chính trị làm “gốc”, thực hiện “người trước, súng sau”. Bởi vì, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(1). Điều đó có nghĩa là, không có “quân đội trung lập”, “đứng trên giai cấp”, “đứng ngoài chính trị”, “phi đảng hóa” như một số người vẫn ra rả rêu rao, bàn đi nói lại. 

Việc một số người đòi hỏi một cách phi lý rằng Quân đội nhân dân Việt Nam phải “đứng ngoài chính trị”, chỉ phục tùng Nhà nước, không phục tùng Đảng Cộng sản (cầm quyền), về thực chất là tuyên truyền, cổ xúy cho cái gọi là “chuyển hóa lập trường chính trị”, “phi Đảng hóa”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội ta, dù họ biết rằng Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che. Vì vậy, lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của Đảng cũng chính là lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của quân đội. Quân đội không có mục tiêu, lợi ích nào khác là giành lại độc lập dân tộc, đem lại hòa bình, tự do, cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Quân đội không chỉ mang bản chất giai cấp công nhân mà còn mang tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Lịch sử hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của quân đội đã chứng minh chân lý ấy. Để nhấn mạnh những nhân tố làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(2). Đây là sự tổng kết thực tiễn và khái quát cô đọng nhất quy luật xây dựng, phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hai là, chủ động, tích cực đổi mới nội dung, hình thức giáo dục nâng cao nhận thức và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội trong bối cảnh tình hình mới.

Quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; đồng thời, là nhân tố quyết định bảo đảm cho quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, quân đội đã hoàn thành trọng trách vẻ vang là chỗ dựa vững chắc nhất của Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào, dù khó khăn, thử thách đến đâu, quân đội luôn vững vàng, kiên định, không nao núng tinh thần, không dao động ngả nghiêng trước sự chống phá điên cuồng, nham hiểm của các thế lực thù địch. Vì vậy, khâu then chốt của mọi vấn đề then chốt để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giúp họ có nhận thức, hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng; bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội. Quan tâm chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu; nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng, văn hóa văn nghệ của Đảng trong quân đội; quan tâm chăm lo xây dựng, củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân. Trên cơ sở đó, xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ; giúp họ có đủ sức đề kháng, miễn dịch trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Ba là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng, văn hóa của Đảng trong quân đội.

Đây là giải pháp rất quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Cấp ủy, đội ngũ chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp trong toàn quân cần quan tâm chăm lo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con người, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ, lọt thông tin; có biện pháp phòng ngừa “từ sớm, từ xa”, không để xảy ra tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội; đồng thời, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đơn vị, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng, văn hóa văn nghệ của Đảng trong toàn quân, toàn quốc. Trong quá trình đó, phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; chú trọng đấu tranh trực diện với các âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của kẻ thù, kiên quyết bác bỏ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động, gây tâm lý hoài nghi, bi quan, chán nản ở cán bộ, chiến sĩ, đi đôi với khẳng định bản chất, giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu của cách mạng, của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cùng với đó, cần giúp cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thấy rõ bản chất, âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội là cuộc chiến đấu trong thời bình, “thầm lặng”, “không khói súng”, nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, liên quan trực tiếp đến uy tín, vị thế và sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Bởi đây là cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận, văn hóa; là sự giành giật niềm tin, trái tim, khối óc con người; quyền quản lý địa hạt chính trị, trận địa tư tưởng, văn hóa giữa ta và địch. Cuộc chiến đấu này không có giới tuyến, đối phương không lộ diện rõ hình, ta không nhìn thấy mặt, nhưng lại diễn ra thường xuyên, quyết liệt trên các lĩnh vực đối với quân đội và nhân dân, ngay trong đời sống tinh thần của từng cán bộ, chiến sĩ. Vì lẽ đó, đội ngũ cán bộ chính trị, trước hết là chính ủy, chính trị viên các cấp cần coi trọng công tác dự báo, nắm bắt tư tưởng, tăng cường giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; từ đó, có giải pháp phòng, chống hiệu quả, bảo vệ và tự bảo vệ an toàn cho đơn vị, gia đình và bản thân.

Bốn là, tiếp tục xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh tiêu biểu, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.

Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội, trước hết thông qua hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội, từ Quân ủy Trung ương đến Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và các tổ chức cơ sở đảng. Quân ủy Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất trong Đảng bộ Quân đội, có thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định những vấn đề trọng yếu về chủ trương, đường lối, chính sách, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và lãnh đạo mọi mặt công tác, như chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật trong quân đội,... Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đội ngũ chính ủy, chính trị viên, những người chủ trì về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội chịu trách nhiệm trước Đảng về lãnh đạo mọi mặt của đơn vị theo nội dung, chức trách, nhiệm vụ, phạm vi quy định cụ thể cho từng cấp. Trong quá trình lãnh đạo quân đội, nhất là trong những năm đổi mới đất nước, Đảng ta, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, luôn dành sự quan tâm đặc biệt, chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì; giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Nhờ đó, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội được củng cố và tăng cường, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội về chính trị; đổi mới và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội sao cho phù hợp với thực tiễn xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, thích ứng với những đòi hỏi khách quan của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, là biện pháp có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề cốt lõi, có tính nguyên tắc trong giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, quyết định mọi thắng lợi của quân đội ta trong bối cảnh, điều kiện lịch sử mới./.

------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 217
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 14, tr. 435

PGS, TS, NGND. NGUYỄN BÁ DƯƠNG

Thiếu tướng, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

  

Cần ứng xử lành mạnh, chuẩn mực trên môi trường mạng

 Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, nhất là Internet đã đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích trong cuộc sống. Thông qua Internet, mạng xã hội, mỗi người ngày càng nắm bắt, khám phá nhiều thông tin trong các lĩnh vực của đời sống xã hội trong nước và trên thế giới. Đặc biệt, thông qua mạng xã hội, mọi người bày tỏ những quan điểm cá nhân, chia sẻ những nội dung trong “chợ thông tin” của thế giới mạng.

Điều đáng nói, có những người “nghiện” “thế giới ảo” trên mạng xã hội, đến mức “ăn phây” (facebook), "ngủ phây”, đi đâu cũng “phây” nên tự mình đắm chìm vào thế giới thông tin, hình ảnh trên MXH mà sao nhãng, lãng quên bao điều thực tế xảy ra xung quanh mình. Thậm chí, có người tìm mọi cách để tạo ra những thông tin trái chiều, hình ảnh dị biệt, thậm chí ngược với thuần phong, mỹ tục của dân tộc chỉ nhằm mục đích duy nhất là: thu hút được càng nhiều like, nhiều view càng tốt. Khi đắm chìm vào những ngôn từ mỹ miều và những hình ảnh đã được đánh bóng trên MXH, không ít người tự ảo tưởng mình đang “nổi đình nổi đám” trong thiên hạ, mà không hề biết rằng, đó chỉ là cái thứ nổi tiếng hão huyền, viển vông. 

Trong tình hình, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng những tiện ích của Internet, mạng xã hội để tung tin bịa đặt theo kiểu “mưa dầm thấm đất” để phá hoại công cuộc đổi mới, sự nghiệp cách mạng của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thông tin của chúng được ngụy tạo đúng-sai, thực-hư, thật-giả lẫn lộn khiến người dùng mạng bị “dắt mũi”, rồi người nọ chia sẻ thông tin cho người kia, lan truyền theo cơ chế "tam sao thất bản" khiến cho cái sai, cái giả có khi càng trở nên trầm trọng hơn. Chỉ cần một cái sai trong vòng ít phút, với tốc độ lan tỏa cực nhanh trên mạng xã hội, cái sai ban đầu có thể trở thành hàng nghìn, thậm chí hàng vạn cái sai khiến nhiều cư dân mạng nếu không tỉnh táo, vững vàng, thận trọng thì dễ rơi vào tâm trạng dao động, chênh chao tư tưởng, nghiêng ngả niềm tin vào những giá trị tích cực, tốt đẹp trong thực tế.

Thời gian qua, đã có một số người (trong đó có cả một số cán bộ, đảng viên, công chức) đã bị xử lý kỷ luật vì có hành vi cổ xúy thông tin lệch lạc, phát ngôn sai sự thật, bôi nhọ uy tín người khác và đăng tải bài viết có nội dung trái quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước... Đây là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với những cá nhân nào còn coi nhẹ ý thức chấp hành kỷ luật phát ngôn, ứng xử thiếu chuẩn mực văn hoá trên mạng xã hội. 

Để ứng xử lành mạnh, chuẩn mực khi tham gia mạng xã hội, thiết nghĩ: trước tiên mọi cá nhân cần tìm hiểu, nắm được các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp có thẩm quyền ban hành để từ đó có những nhận thức, phân biệt được đúng, sai khi tiếp cận thông tin.

Hai là, cần theo dõi, nắm bắt những thông tin thực tế xảy ra trong cuộc sống; cần nhận rõ những chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội để từ đó có thái độ phê phán rõ ràng, có lối ứng xử thông minh nhằm lan truyền những việc làm tốt, việc làm hay trong cuộc sống.

Ba là, cần tìm hiểu để biết rõ thông tin trên mạng xã hội, cần thận trọng, suy xét kỹ càng trước khi bình luận hay chia sẻ thông tin, hướng đến thông tin được chia sẻ có tác dụng cổ vũ, khích lệ, lan tỏa những điều tốt đẹp, những giá trị nhân văn, những hình ảnh tràn đầy năng lượng tích cực để góp phần làm giàu những giá trị văn hóa trên môi trường mạng. Mặt khác, khi tham gia mạng xã hội, mỗi cá nhân cần thể hiện lập trường, chính kiến chính trị rõ ràng của mình để bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, qua đó góp phần giữ vững và tăng cường sự đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; đồng thời góp phần làm cho hình ảnh văn hóa Việt Nam và những phẩm chất, giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam ngày càng tỏa sáng trong lòng bạn bè thế giới.

Tham gia mạng xã hội là nhu cầu chính đáng của mỗi cá nhân trong điều kiện thông tin “bùng nổ” ngày nay. Tuy nhiên, để những hình ảnh, những bình luận hoặc chia sẻ của mỗi cá nhân là sự phản ánh ý thức, tinh thần trách nhiệm công dân, trình độ văn hoá của họ. Vì vậy, cần ứng xử lành mạnh và chuẩn mực khi tham gia mạng xã hội để góp phần xây dựng môi trường xã hội của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn; rộng hơn là góp phần đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng./.

                                                                                                                                Ngọc Quý

ĐỪNG MÃI DỰA HƠI NHỮNG KẺ MANG DANH “TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM”

     Gần đây, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục bám vào những đối tượng được đặt cho cái tên rất kêu là “tù nhân lương tâm” để chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, nhân quyền. Song, ngẫm lại thì thấy các chiêu bài chống phá ấy cuối cùng vẫn chỉ xoay quanh việc đưa ra những luận điệu xuyên tạc, cùng với đó là những đòi hỏi đi ngược với luật pháp và thực tế nhằm đánh lừa dư luận về tình hình bảo đảm quyền con người ở nước ta.

Sự thật vẫn cố tình bị bóp méo

Trong báo cáo công bố vào giữa tháng 1 vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) cho rằng, trong năm 2020, chính quyền Việt Nam đã gia tăng trấn áp những người cổ vũ cho các quyền dân sự và chính trị cơ bản, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận và quyền lập hội...

Một quan chức của tổ chức này thậm chí còn khẳng định như đinh đóng cột rằng, năm 2020 “lại là một năm đen tối nữa” cho nhân quyền ở Việt Nam. Cũng theo báo cáo của HRW, năm qua, nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giữ hoặc truy tố hàng chục người do vi phạm các tội về an ninh quốc gia mà theo họ được định nghĩa quá rộng và mơ hồ, chẳng hạn như “tuyên truyền chống Nhà nước” hoặc “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước”...

Để chứng minh cho lập luận xuyên tạc ấy, HRW đã liệt kê một số bản án dành cho các đối tượng vi phạm pháp luật thời gian qua. Trong đó có những cái tên đã vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam như Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Chí Dũng, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Phạm Đoan Trang... Tất cả những người này đều bị cáo buộc tội danh tuyên truyền chống Nhà nước C ộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự.

Càng nực cười hơn khi HRW vô tư phán rằng, công an Việt Nam bắt giam nhiều “nhà bất đồng chính kiến” chỉ vì họ "thực hiện quyền tự do ngôn luận cơ bản". Trong khi đó, thực tế cho thấy, các đối tượng như Phạm Đoan Trang hay Phạm Chí Dũng đều nhận sự tài trợ, cổ xúy, của các tổ chức nhân quyền cực đoan và các thế lực thiếu thiện chí với Việt Nam, sử dụng chiêu trò “phản biện xã hội” để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kích động các hành vi vi phạm pháp luật, gây mất ổn định trật tự xã hội, bị dư luận trong nước lên án kịch liệt.

Gần đây, một số người thiếu thiện chí với Việt Nam lại đưa ra luận điệu cho rằng, vì sợ sứt mẻ lợi ích kinh tế, vì sự thành bại của các hiệp định thương mại mà Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và một số quốc gia khác đang phớt lờ các vụ việc vi phạm nhân quyền đối với các “tù nhân lương tâm” tại Việt Nam. Trong khi đó, ai cũng thừa biết rằng, thông qua các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên, Việt Nam đã cùng Mỹ hay EU trao đổi thẳng thắn, cởi mở và xây dựng về tình hình thực tế cũng như các thách thức của mỗi bên trong việc thúc đẩy và bảo đảm các quyền con người. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này cũng đã được cộng đồng quốc tế và các đối tác ghi nhận.

Đòi hỏi phi lý

Bằng cách rêu rao rằng, các “tù nhân lương tâm” tại Việt Nam hiện như “cá nằm trên thớt”, thời gian qua, các cá nhân, tổ chức có quan điểm thù địch với Việt Nam liên tục kêu gọi phải thả các tù nhân này ngay lập tức. Liệu đó có phải là đòi hỏi chính đáng?

Năm qua, không ít lần trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin đại loại như: Các tù nhân lương tâm trong các trại giam ở Việt Nam thường xuyên bị ngược đãi, đe dọa, thậm chí bị đánh đập, thiếu đồ ăn thức uống... Dường như chưa đủ để bẻ lái dư luận, các thế lực thù địch giở thêm “bài cùn” bằng lập luận rằng đại dịch Covid-19 đang gây nhiều tác động mạnh tới sức khỏe cộng đồng, trong đó có cả tác động và nguy cơ lây lan tới các nhà tù, trại giam, trại tạm giam ở Việt Nam và do đó, "chính quyền Việt Nam phải đặc xá, thả tất cả các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm".

Họ cố tình quên rằng, đặc xá là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện và lao động để hoàn lương. Nếu như các bản án là minh chứng cho tội danh của các phạm nhân, thì việc đặc xá, tha tù trước thời hạn là sự ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy trại giam của phạm nhân. Mỗi đợt đặc xá là dịp để các phạm nhân nhìn nhận, suy xét lại những lỗi lầm đã phạm phải, tự mỗi người đánh giá kết quả cải tạo của mình, kiên quyết dứt bỏ quá khứ và sẵn sàng phấn đấu để tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội.

Sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Đặc xá năm 2007, những năm qua, Chủ tịch nước đã quyết định nhiều đợt đặc xá, tha tù trước thời hạn cho nhiều người bị kết án phạt tù có thời hạn. Thường thì các đợt đặc xá diễn ra nhân các sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Hiệu quả của công tác đặc xá cũng được chứng minh bằng tỉ lệ tái phạm thấp, đại đa số phạm nhân được đặc xá sau khi ra tù đều nhận thấy và đi theo con đường hướng thiện, thậm chí nhiều người còn trở thành những tấm gương người tốt, việc tốt. Qua đó càng chứng minh rằng, đặc xá là chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước ta và trên thực tế đã được cộng đồng trong nước, dư luận quốc tế và những người quan tâm đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam thừa nhận, đồng tình.

Tuy nhiên, đặc xá thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, song không phải với mọi đối tượng. Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại, các phạm nhân chỉ có thể được đặc xá, trả tự do sớm nếu họ thừa nhận những sai phạm của mình và chứng minh quyết tâm hướng thiện bằng cách cải tạo tốt, chấp hành nghiêm các nội quy của trại giam. Nói cách khác, việc đặc xá phụ thuộc vào quá trình tu dưỡng, rèn luyện bản thân của các phạm nhân, chứ không thể phụ thuộc vào những lời kêu gọi hay đòi hỏi phi lý từ bất cứ cá nhân hay tổ chức nào.

Từ đó cũng dễ dàng nhận thấy rằng, các thế lực phản động, cơ hội chính trị không hề sẵn lòng thừa nhận những thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, mà trái lại chỉ nhăm nhe xỉa xói, tận dụng mọi cơ hội và mánh khóe để phủ nhận các thành tựu ấy. Với riêng những người trót bị gắn cho cái mác “tù nhân lương tâm”, họ thực chất chỉ là một công cụ nhất thời trong tay những kẻ đang âm mưu chơi ván bài nhân quyền nhằm vào Việt Nam.

 

THÊ LƯƠNG TIẾNG KÊU LẠC BẦY CỦA PHẠM TRẦN!

     Lại vẫn là Phạm Trần rả rích chống Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng khi viết: “Không phải vô cớ mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phải dằn mặt đảng viên “không cho phép ai được ngả nghiệng, dao động”, mà phải “thật sự vững vàng, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, vì đó là “vấn đề sống còn đối với chế độ” trong bài viết “Tư tưởng đảng đã lâm nguy” đăng trên Danlambao ngày 18/2/2021.

Về vấn đề này, Phạm Trần cùng một nhóm người đã/đangvà chắc chắn là sẽ còn “nhai đi nhai lại” chứ không chỉ dừng ở đây. Chuyện này vốn không lạ, chỉ là nhân Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa kết thúc thành công, Phạm Trần lại tự suy diễn khi cho rằng “Tư tưởng đảng đã lâm nguy”.

Không ngoài mục đích đòi xóa bỏ vai trò độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng, xỏa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Phạm Trần hồ đồ kết luận: Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng 2 lần nhắc tới việc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” trước và trong ngày họp chính thức của Đại hội đảng XIII (28/12/2020 và 26/1/2021) là điều “không bình thường”, là “tư tưởng của Đảng lâm nguy”, là do “tình trạng suy thoái tư tưởng trong đàng viên không còn bình thường nữa”…

Đã vốn quen với giọng điệu ủ ê này của Phạm Trần, song cũng thấy cần phải nhắc lại với Phạm Trần mấy điều cốt lõi sau:

Một là, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng là yêu cầu tất yếu, nhằm bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng; đồng thời, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch giống như Phạm Trần và nhóm người như Phạm Trần đã/đang đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời/trực tiếp lãnh đạo là minh chứng cho thấy, trên nền tảng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng đã vận dụng sáng tạo, đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời tiếp tục đạt được những thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Sau đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[1]. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[2]. Gần nhất, nội dung văn kiện tại Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Điều này cho thấy, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng hay bất cứ một đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nào; bất cứ một cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu một cơ quan, địa phương, đơn vị, hay một cán bộ, đảng viên nào có nhắc đến nội dung này trong các bài viết, bài phát biểu đăng tải trên các cơ quan truyền thông… thì cũng là bình thường, chứ không phải là “không bình thường” như Phạm Trần suy diễn.

Hai là, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đương nhiên/tất nhiên là không thể phủ nhận, càng không thể xóa bỏ. Vì thế, điều này chỉ “không bình thường” qua góc nhìn thiển cận, cố chấp, nhìn hiện tượng mà không thấy bản chất của chính Phạm Trần.

Điều “không bình thường” nữa theo Phạm Trần là: “Có nhiều lý do chồng chất, nhưng cơ bản là từ bản chất tham ô quyền lực, bảo thủ, giáo điều và lạc hậu nên tư duy đổi mới của Lãnh đạo đã tàn lụi. Đảng sợ đổi mới chính trị, không chấp nhận có đảng đối lập, không dám tổ chức tranh cử và bầu cử tự do, và cấm dân ra báo vì đảng sợ mất quyền độc tôn lãnh đạo” lại là nhận định sai, cho thấy sự thiếu hiểu biết của người viết.

Bởi rằng, không phải chỉ cơ quan ngôn luận của Ban Tuyên giáo Trung ương mà tất cả các cơ quan báo chí truyền thông của Việt Nam; tất cả cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tầng lớp nhân dân yêu nước chân chính đều cùng chung quan điểm rằng, dựa trên cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn thì Việt Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa đảng.

Vì thế, Phạm Trần không cần và càng không nên nhắc đi nhắc lại vấn đề đòi đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam; phủ nhận vai trò/đòi xóa bỏ sự độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng; đồng thời, cũng không vì thế mà suy diễn chủ quan rằng: “Chình vì sợ mất quyền và mất ăn nên Tuyên giáo đảng, Hội đồng lý luận Trung ương và hai Tạp chí Cộng sản và Tuyên giáo đã hợp đồng với báo Quân đội Nhân dân và Nhân dân để ra sức chống những chỉ trích độc tài và phi dân chủ của các mạng báo xã hội và cá nhân đấu tranh trong và ngoài: Việt Nam”.

Thực tế, không ít những người giả danh dân chủ, đòi dân chủ, tự do, và quyền được lên tiếng; mượn tiếng “yêu nước, thương dân” như Phạm Trần để tung tin xấu độc, bẻ cong sự thật, xuyên tạc và chống Đảng Cộng sản Việt Nam, chống chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó đích thị là những phấn tử bất mãn, cơ hội hoặc đã phản bội, phai nhạt lý tưởng cộng sản, hoặc đã bị các thế lực thù địch mua chuộc.

Chừng nào còn sự khác biệt giữa ý thức hệ tư tưởng vô sản với tư tưởng tư sản thì chừng đó cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn tiếp tục, để đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng lý luận, quan điểm của Đảng – đó là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; để bảo vệ những giá trị tư tưởng, lý luận đúng đắn, cũng đồng thời là bảo vệ những thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã đổ bao xương máu, hy sinh mới có được.

Ba là, không có chuyện “Báo chí mơ hồ” như Phạm Trần nhận định, mà chính là yêu cầu để phòng và chống sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phòng và chống tình trạng “nhạt Đảng, xa chính trị” đã xuất hiện…, thì các cơ quan báo chí truyền thông cần phải tập trung thực hiện tốt tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của mình. Đồng thời, phải cảnh giác với những luồng dư luận, thông tin không phù hợp tư tưởng chỉ đạo, định hướng báo chí, xa rời nhiệm vụ chính trị, hạ thấp chức năng tuyên truyền, giáo dục của báo chí cách mạng.

Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa, các cơ quan báo chí truyền thông và mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải chú trọng thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”; phải coi đó “là nội dung quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về mặt tư tưởng, vừa có vai trò nền tảng, vừa có vị trí then chốt trong tình hình hiện nay” gắn với Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 để triển khai nghiên cứu lý luận”.

Đồng thời, đội ngũ những người làm báo cần phải nâng cao bản lĩnh chính trị, nhận thức đúng và thực hiện đúng nhiệm vụ của mình, giữ gìn đạo đức người làm báo, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ để luôn “bút sắc, lòng trong”; để có những tác phẩm báo chí hấp dẫn, thuyết phục, phản ánh sinh động sự đổi thay hàng ngày, hàng giờ cuộc sống của nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam…

Thực tế là, không có phút giây nào các thế lực thù địch định dừng lại sự chống phá, dừng lại sự “chĩa mũi nhọn” bằng các thủ đoạn tinh vi/ngày càng xảo quyệt vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước để nhằm phá hoại và làm mọt ruỗng nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội như Phạm Trần đã/đang làm.

Vì thế, hơn bao giờ hết là phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không được phép sao nhãng, bỏ trống trận địa thông tin tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đi liền cùng đó là “chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các biểu hiện cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác; không để suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ” như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh./.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ BẦU CỬ

     Hiện nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá với tính chất hết sức quyết liệt.

Bằng việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những bình luận, nhận xét, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện, một chiều, quy chụp, các đối tượng xấu đang hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, kích động tư tưởng hoài nghi về công tác bầu cử, gieo rắc nhận thức sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử. Trong đó, những nội dung chống phá chính mà các đối tượng xấu đang tiến hành có thể kể đến là:

Thứ nhất, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử

Thời gian vừa qua, ngoài các website, trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Các đối tượng xấu đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v…

Căn cứ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v…

Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước.Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20-6-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v... Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Thứ hai, thực hiện chiêu trò "tự ứng cử", hô hào các hội nhóm dân chủ trên mạng xã hội ký tên ảo, tung hô, ủng hộ cho các “nhà dân chủ” để gây rối, phá hoại cuộc bầu cử

Không phải đến thời điểm hiện tại các đối tượng chống phá mới tiến hành chống đối bằng chiêu trò “tự ứng cử”. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021, chúng ta cũng đã được chứng kiến một “làn sóng” tự ứng cử của các “nhà dân chủ” và một số văn nghệ sĩ biến chất.Khi không đủ điều kiện và bị loại qua các vòng hiệp thương, các đối tượng này lên mạng xã hội rêu rao những luận điệu hết sức sai trái như: chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải trải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội v.v…

Có thể thấy mục đích cơ bản nhất của chiêu trò “tự ứng cử” mà các “nhà dân chủ” đang thực hiện là nhằm phá hoại bầu cử. Đồng thời, thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội, các đối tượng đánh bóng tên tuổi của bản thân trong giới “dân chủ”.

Ngoài ra, những thông tin được các đối tượng xấu đưa ra đã trở thành cái cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài xuyên tạc, biến tướng, vu khống, công kích công tác bầu cử của Việt Nam. Pháp luật nước ta quy định công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp. Quyền bầu cử và ứng cử là của công dân, là quyền được hiến định. Không ai có quyền cản trở việc công dân thực hiện những quyền này.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.

Chính vì vậy, những người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Trong đó, các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm…

Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

Thứ ba, xuyên tạc công tác tổ chức bầu cử, tung ra các kiến nghị vô căn cứ

Trên nhiều trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đang lan truyền những bài viết“xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Các đối tượng rêu rao những luận điệu vô cùng độc hại, tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Những luận điệu này đã tiếp cận đến không ít người dùng mạng xã hội. Ngoài ra, trước vấn đề về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đặc biệt là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng, các đối tượng cơ hội chính trị cũng tích cực chọc ngoáy, xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

Tại Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/1/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các đối tượng xấu đã biến tướng, xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu hướng lái, cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng… Thậm chí, có đối tượng còn đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản.

Nhìn lại lịch sử, có thể thấy chiêu trò “đòi ghế” trong Quốc hội không phải là điều mới. Ngay trong lần tổng tuyển cử đầu tiên khi đất nước mới giành được độc lập, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến vô cùng phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt quốc, Việt cách) đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

Hiện nay, các thế lực phản động, chống đối cũng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong.

Giá trị lý luận và thực tiễn từ Đại hội lần thứ II của Đảng

 Đại hội II là bài học sâu sắc về quan điểm kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Cách đây 70 năm, tại căn cứ địa Việt Bắc (Chiêm Hóa, Tuyên Quang), Ðảng Cộng sản Ðông Dương đã tổ chức Ðại hội đại biểu lần thứ II - một sự kiện chính trị to lớn, là dấu ấn đặc biệt nổi bật trong pho sử vàng của Đảng ta, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam với những quyết sách hệ trọng, sáng suốt: Đảng từ bí mật đã chuyển ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam.

Đại hội có nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, hoàn thiện lý luận về đường lối cách mạng Việt Nam, đã xác định đó là đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Với chủ trương đúng đắn và sáng tạo, Đại hội đã phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng giành độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm thực hiện Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, xây dựng tổ chức Đảng Lao động Việt Nam vững mạnh, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Đại hội đã thông qua Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, xác định những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam; nêu rõ hai nhiệm vụ chính trong những nhiệm vụ mới của Đảng là đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam.

Để hoàn thành nhiệm vụ đó, Chính cương đã đề ra những chính sách và biện pháp hệ trọng, cấp thiết như: đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang về mọi mặt; củng cố và phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy tinh thần yêu nước và đẩy mạnh thi đua ái quốc; triệt để giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân và việt gian chia cho dân cày nghèo...

Đại hội II in đậm dấu ấn rất đặc biệt trong pho sử vàng của Đảng ta, là đại hội của tinh thần yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc, của lòng quả cảm sắt son: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, với một khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do cho dân tộc: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ."

Đại hội II là bài học sâu sắc về quan điểm kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; kiên định giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội; nắm chắc quan điểm bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia-dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, mở rộng hợp tác quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhìn lại chặng đường 70 năm qua, chúng ta càng thấu hiểu và nhận thức rõ, đây là những bài học vô cùng quý báu về sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, càng có tầm quan trọng và ý nghĩa sâu sắc hơn đối với việc đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới hiện nay, nhất là việc đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đồng bộ, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mai Năm Mới (ST)





TÍNH HAI MẶT CỦA TRUYỀN THÔNG MẠNG XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI QUẢN LÝ MẠNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

     Việt Nam được xem là quốc gia có tốc độ phát triển rất nhanh về Internet và mạng xã hội, đến nay đã có tới hơn 60 triệu người sử dụng Facebook và các mạng xã hội khác. Truyền thông mạng xã hội, tự bản thân nó là không xấu, nó là thành quả của sự phát triển khoa học - công nghệ. Tốt hay xấu của truyền thông mạng xã hội phụ thuộc vào cách thức mà mỗi người sử dụng phục vụ cho mục đích tốt hay xấu của mình. Từ thực trạng hiệu ứng của mạng xã hội cho thấy, bên cạnh mặt tích cực, thì truyền thông mạng xã hội cũng đã bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập, tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của các quốc gia. Bước đầu có thể chỉ ra tính hai mặt của truyền thông mạng xã hội gồm hai mặt tích cực và tiêu cực sau:

Mặt tích cực, nếu truyền thông mạng xã hội được sử dụng đúng mục đích vì lợi ích chung của xã hội thì nó mang lại rất nhiều hiệu ứng tích cực. Có thể chỉ ra những hiệu ứng tích cực của truyền thông mạng xã hội như: giúp chúng ta nắm bắt thông tin nhanh nhạy hơn, kết nối được mọi người trong cộng đồng. Đó cũng là một kênh Marketing, kinh doanh cực kỳ hiệu quả. Mạng xã hội còn là một kênh giải trí hữu ích giúp mỗi người thư giãn sau thời gian làm việc căng thẳng. Ở một phương diện nào đó, mạng xã hội đã tạo nên một lớp “nhà báo công dân”, mỗi người dân sử dụng máy điện thoại tự đăng tải thông tin, viết bình luận, loan tải, chia sẻ, trở thành một “tờ báo mạng” nhỏ, qua đó nâng cao nhận thức, kỹ năng, phát triển trí tuệ…

Mặt tiêu cực, bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng gây ra không ít hậu quả cho người dùng. Với thông tin, hình ảnh đăng tải trên mạng xã hội, mặt trái dễ thấy là thiếu tính chính thống, chính xác, trách nhiệm, khó kiểm chứng; nhiều thông tin mang tính cá nhân, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ tổ chức, cá nhân; không ít thông tin lừa đảo, vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, làm phương hại an ninh quốc gia… Chỉ xem xét riêng mặt chính trị xã hội, thời gian vừa qua, mạng xã hội đã gây phức tạp, tai họa cho nhiều nước. Còn ở nước ta, các thế lực thù địch đã lợi dụng truyền thông mạng xã hội để chia sẻ các nội dung kêu gọi biểu tình phản đối Formosa, phản đối Quốc hội ban hành Luật đặc khu, Luật an ninh mạng, gây bạo động ở Bình Thuận…làm cho tình hình chính trị xã hội rất phức tạp.

Điều đáng quan tâm ở nước ta là một phần của mạng xã hội đã trở thành truyền thông “lề trái”, được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng mưu đồ biến thành truyền thông độc lập, tách khỏi sự quản lý của Nhà nước; thực hiện các thủ đoạn tuyên truyền, cổ súy cho các luận điệu dân chủ, nhân quyền tư sản, đòi tự do biểu tình, tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội, tự do báo chí, tự do tôn giáo theo quan điểm phương Tây tư bản chủ nghĩa, nhằm phục vụ cho “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đối với nước ta. Từ thực trạng và dự báo tình hình phát triển truyền thông mạng xã hội, chúng ta cần thực hiện tốt những vấn đề về quản lý truyền thông mạng xã hội trên những định hướng cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp nhằm quản lý chặt chẽ Internet nói chung và truyền thông mạng xã hội nói riêng. Việt Nam đã có Luật An ninh mạng, có hiệu lực từ 01/01/2019, đó là hành lang pháp lý để quản lý Internet và mạng xã hội. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của Internet, trong đó nhất là mạng xã hội sẽ làm cho một số quy định pháp luật quản lý, điều chỉnh hoạt động của nó rất dễ trở nên lạc hậu, bất cập. Vì vậy, đòi hỏi Nhà nước, phải kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm quản lý hiệu quả hơn

Thứ hai, hoạch định các giải pháp kỹ thuật bảo đảm chủ động, kịp thời, hiệu quả trong quản lý truyền thông mạng xã hội. Đây là giải pháp trực tiếp, hữu hiệu, bởi kỹ thuật chỉ có thể kiểm soát, chế định bằng kỹ thuật. Mặt khác còn do yếu tố khách quan nước ta phụ thuộc vào các nhà mạng cung cấp dịch vụ từ nước ngoài đang thu hút được một lượng lớn người sử dụng trong nước như hiện nay, Nhà nước cần tiến hành hoạch định các giải pháp kỹ thuật hữu hiệu như: Giải pháp về công cụ quản lý, thu thập, phòng ngừa và cảnh báo; công cụ đánh giá định lượng truy cập mạng xã hội làm căn cứ đề ra và thực hiện các chính sách quản lý nhà nước. Giải pháp về công cụ lọc và phát hiện tin giả, tin sai sự thật… để chủ động ngăn chặn sự lan truyền và cảnh báo sớm tin giả ngay khi nó xuất hiện trên mạng xã hội. Giải pháp về cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý và doanh nghiệp trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc trên mạng xã hội.

Thứ ba, tuyên truyền, giáo dục nâng cao trách nhiệm và ý thức tuân thủ pháp luật cho mỗi người dân sử dụng mạng xã hội. Yêu cầu đặt ra cần chủ động, tích cực tuyên truyền, giáo dục làm cho mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội thấy rõ tính hai mặt của mạng xã hội, nhất là mặt tiêu cực, tác động do âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá, tránh tình trạng vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa trên mạng xã hội. Đồng thời tăng cường sự giám sát, phát hiện thông tin sai phạm từ cộng đồng, đổi mới phương thức tuyên truyền của các cơ quan truyền thông; kịp thời cung cấp, cập nhật thường xuyên hệ thống văn bản pháp luật, quan điểm chính thống của Đảng, Nhà nước trên các phương tiện truyền thông đại chúng để định hướng người sử dụng mạng xã hội trước những vấn đề nhạy cảm; xây dựng ý thức và phong cách văn hóa khi tham gia mạng xã hội.

Thứ tư, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, phương thức phối hợp quản lý hiệu quả giữa các bộ, ngành trong nước và giữa các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Công tác quản lý mạng xã hội liên quan đến lĩnh vực quản lý của nhiều bộ, ngành tại Việt Nam: Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý về nội dung thông tin; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý hoạt động quảng cáo xuyên biên giới; Bộ Tài chính quản lý những vấn đề liên quan đến thuế; Bộ Công an quản lý hoạt động kinh doanh trái phép, Ngân hàng Nhà nước quản lý hoạt động thanh toán; Tổng cục Thuế quản lý thu thuế kinh doanh dịch vụ…

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

CUỘC SỐNG NƠI "THIÊN ĐƯỜNG"!

 

Trên trang Zing.vn mới đây đã có một bài viết đáng chú ý, phỏng vấn nhiều nghệ sỹ Việt Nam sang Mỹ định cư. Một sự thật nghiệt ngã rằng, phần lớn nghệ sĩ Việt chuyển sang Mỹ định cư đều có cuộc sống vất vả, phải làm nhiều việc như bưng bê quán ăn, livestream bán hàng... Ngọc Quyên khi ở Việt Nam là ngôi sao hạng A, sang Mỹ định cư theo chồng. Nhưng cuộc đời không ai biết trước được chữ ngờ, sau li hôn chồng, Ngọc Quyên phải làm thuê tại cửa hàng quần áo giá rẻ của một bà chủ người gốc Hoa để kiếm tiền nuôi con. Cựu người mẫu thừa nhận nghệ sĩ Việt đều gặp khó khăn khi mới sang Mỹ, tình hình kinh tế chỉ được cải thiện nếu chăm chỉ làm việc. Để tiết kiệm tiền nuôi con, lập nghiệp, Ngọc Quyên cho biết cô ăn bánh mỳ các bữa trong ngày. Trong khi ở Việt Nam, cuộc sống của cô sẽ là mơ ước của nhiều người.

"Bé" Xuân Mai, ca sỹ thần tượng của cả một thế hệ 9X, theo mẹ sang Mỹ từ năm 9 tuổi và không tham gia hoạt động nghệ thuật từ khi lên cấp 2. Cô kết hôn vào năm 2015 và sinh con đầu lòng không lâu sau đó. Giọng ca Con cò bé bé sinh liền 3 con trong thời gian ngắn. Để mưu sinh trên xứ sở cờ hoa, Xuân Mai phải phụ bán quán phở, sau đó xin bán hàng ở cửa hàng điện thoại di động.

Thế mới thấy, đừng tưởng cuộc sống ở nước ngoài, dù là nước giàu, phát triển sẽ là như mơ, rồi quay sang chê bai, dè bỉu cuộc sống ở trong nước. Nghệ sỹ có tài năng lẫn nhan sắc còn như thế, thử hỏi, những người bình thường sang Mỹ sẽ như thế nào. Nhiều kẻ, để được sang nước ngoài tị nạn, không ngại chửi bới chính quyền, sẵn sàng vào tù, đến khi sang Mỹ, mới vỡ mộng. Thất nghiệp, bị phân biệt đối xử, gia đình ly tán, rồi chết vất vưởng nơi gầm cầu hay đường phố. Bùi Tín, từng đánh đổ tất cả để được tị nạn ở Mỹ, rồi chết già, đơn độc bên đó, đến khi muốn về nước thì quá muộn rồi. Nhiều kẻ khác, đến khi chết vẫn mong được chôn ở quê nhà, nhưng nào có chỗ dung thân cho kẻ phản quốc.

Link bài viết trên Zing để các bạn tiện tìm đọc:

https://zingnews.vn/nhung-lan-nghe-si-viet-ke-chuyen-muu-sinh-vat-va-tai-my-post1188236.html


QUÂN ĐỘI - TRƯỜNG HỌC LỚN CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM

 

“Quân đội là trường học lớn của thanh niên Việt Nam” là một luận điểm được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhiều nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng khẳng định nhiều lần.

Quân đội là trường học để bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ trở thành những con người mới xã hội chủ nghĩa; giáo dục cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng lúc ở trong Quân đội thì luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng, hoàn thành tốt nhiệm vụ của người quân nhân, khi phục viên, chuyển ngành thì tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ mới, tích cực xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trải qua hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta đã luôn đồng hành cùng dân tộc để làm nên những chiến công như huyền thoại. Quân đội đã hoàn thành xuất sắc vai trò nòng cốt trong cuộc chiến tranh nhân dân, đánh bại hai đội quân viễn chinh xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới. Cũng trong suốt 76 năm qua, cùng với sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội, hàng triệu thanh niên Việt Nam cũng không ngừng trưởng thành về mọi mặt, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, trải nghiệm trong môi trường quân ngũ, hàng triệu thanh niên Việt Nam đã được tôi luyện, thấm nhuần bản chất quân nhân cách mạng, khẳng định vững chắc luận điểm Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là “trường học lớn” của lớp lớp thanh niên Việt Nam.

Trong thời bình, sống trong môi trường quân ngũ là cơ hội để thanh niên học tập, rèn luyện và trưởng thành. Sức khỏe cường tráng, phong cách chững chạc, nhận thức trưởng thành, nếp sống kỷ luật nghiêm minh, nghiệp vụ quân sự vững vàng, giao tiếp, ứng xử có văn hóa… Đó là những phẩm chất mà mỗi quân nhân được hình thành sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Điều này lý giải tại sao trong thanh niên quân đội thường xuyên có một bộ phận ưu tú phấn đấu trở thành đảng viên, thành sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, nhân viên chuyên môn kỹ thuật phục vụ lâu dài trong Quân đội. Với các chiến sĩ nghĩa vụ xuất ngũ, những phẩm chất cơ bản mà họ có được trong thời gian tại ngũ là tiền đề quan trọng để thanh niên lập thân lập nghiệp trên con đường dài của sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước.

Đặc biệt, trong sự trưởng thành về nhận thức, có thể xem sự trưởng thành trong nhận thức chính trị của thanh niên sau khi trải qua môi trường quân đội là yếu tố quan trọng nhất. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội đất nước, quân đội cũng đã được quan tâm đầu tư phát triển về mọi mặt. Việc được giáo dục chính trị một cách bài bản, phù hợp với trình độ của từng đối tượng đã giúp thanh niên có thế giới quan, phương pháp luận rõ ràng, khoa học để nhận diện những vấn đề chính trị phức tạp đang diễn ra trong nước cũng như quốc tế hiện nay. Trước những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch-phản động, thanh niên quân đội còn được trang bị những kiến thức toàn diện để có sự “đề kháng về chính trị”, “miễn nhiễm” trước mọi luận điệu chống phá, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Để Quân đội luôn xứng đáng là “trường học lớn”, trước hết, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp trong quân đội cần thường xuyên quan tâm nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, chiến sĩ. Cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong quân đội cần tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, giáo dục truyền thống dân tộc, quân đội và đơn vị…

Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động trong đơn vị để bồi dưỡng kỹ năng sống, văn hóa ứng xử, thị hiếu, thẩm mỹ cho đoàn viên, thanh niên. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa cho quân nhân học tập nâng cao trình độ mọi mặt, trong đó có điều kiện học tập nâng cao kiến thức văn hóa. Tiếp tục tăng cường các hoạt động quân sự, nâng cao chất lượng huấn luyện, rèn luyện sức khỏe, tăng cường sức chịu đựng, sự dẻo dai cho thanh niên trong các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, rèn luyện ý chí, nghị lực cho thanh niên. Đặc biệt cần nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật trong các đơn vị quân đội. Thông qua các hoạt động đó để giáo dục bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp tác phong, ý thức tổ chức kỷ luật cho thanh niên. Bên cạnh đó, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần coi trọng đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, chú trọng bồi dưỡng những quân nhân ưu tú, tạo điều kiện rèn luyện, thử thách để trở thành đảng viên.

Cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong các đơn vị quân đội cũng cần quan tâm chăm lo hơn nữa đến đời sống vật chất, tinh thần cho thanh niên trong Quân đội. Chú trọng đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị quân đội, để thanh niên cảm nhận rõ ràng “đơn vị là nhà, cán bộ, chiến sĩ đều là anh em”, giúp thanh niên yên tâm học tập, công tác, huấn luyện. Đồng thời, qua đó cũng khuyến khích và động viên thanh niên ngoài Quân đội yên tâm nhập ngũ.

Công tác đoàn và phong trào thanh niên trong Quân đội có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, rèn luyện bộ đội. Để tổ chức Đoàn hoàn thành vai trò của mình, điều quyết định là cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp phải có sự quan tâm xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh. Các tổ chức đoàn trong quân đội cũng cần đổi mới nội dung, hình thức hoạt động để thu hút đông đảo đoàn viên thanh niên tham gia như các hoạt động diễn đàn thanh niên, tọa đàm… gắn với việc đẩy mạnh các phong trào thi đua trong Quân đội. Đồng thời, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác dân vận, tạo điều kiện hơn nữa cho tổ chức đoàn ở các đơn vị giao lưu, kết nghĩa với các tổ chức đoàn nơi đơn vị đóng quân.

Thông qua các hoạt động giao lưu, phối hợp, kết nghĩa giữa các tổ chức Đoàn ở các địa phương để quân nhân hiểu hơn về cuộc sống, có tình cảm gắn bó mật thiết với nhân dân, kính trọng nhân dân, tham gia vào những phong trào như “Thanh niên quân đội chung tay xây dựng nông thôn mới”, làm được nhiều việc có ý nghĩa cho xã hội; để thanh niên quân đội thực sự “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phấn đấu, trưởng thành” ./.

                                                                                                            Theo Lam Thach (Đồng Đội)

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Mối quan tâm lớn nhất, sâu sắc nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh.


Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tổ chức, sáng lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam là vô cùng to lớn. Song vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là Người đã xây dựng và rèn luyện Đảng ta thành một đảng kiên cường, trong sạch vững mạnh, giàu bản lĩnh và kinh nghiệm trong lãnh đạo cách mạng. Xứng đáng là Người lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ vinh quang và hạnh phúc.

GIẤC MƠ CAO CẢ

 ĐÁNH CHO CHÚNG BIẾT THẾ NÀO LÀ KHÍ PHÁCH VIỆT NAM 

“Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí!”.

"Năm 1978, bầu trời sáng lóa, chớp giật bởi hàng loạt tiếng nổ rền vang, mặt đất rung chuyển dữ dội bởi hàng vạn quả cối 82, 60 & pháo 105, 130mm cùng hàng ngàn khẩu AK, B40, B41, M79, thủ pháo, lựu đạn... Đồn biên phòng Hoa Lư (đồn 717) nằm trên Quốc Lộ 13 giáp ranh Bình Phước – Krochie bị tấn công.

Gần 2.000 tên lính Polpot thiện chiến dồn dập đột kích vào đồn biên phòng bé nhỏ heo hút chỉ có 90 tay súng trấn giữ. Trận đánh dai dẳng từ 4 giờ sáng đến tối mịt, cách chục cây số mà vẫn nghe văng vẳng tiếng hô xung phong của bọn Polpot, tiếng súng chống cự yếu ớt dần, thưa dần cho tới khuya hôm sau.

Trên đoạn biên giới Lộc Ninh khi đó có các trung đoàn 88, 205, 174, Q16.. cùng 3 đơn vị pháo binh & 1 lữ đoàn tăng thiết giáp. Hơn 20.000 người lính ko ăn ko ngủ suốt 2 ngày đó. Tất cả nai nịt gọn gàng, súng ống lăm lăm trong tay, mắt quắc lên rực lửa. Tất cả các nòng pháo của pháo binh, xe tăng đều lấy sẵn tọa độ bắn, các pháo thủ ôm đạn đứng chờ mệnh lệnh. Tất cả chỉ chờ đợi mệnh lệnh xuất kích, các máy bộ đàm đều mở kênh liên lạc với đồn 717, từ trong đó vang lên tiếng gọi thống thiết của vị đồn trưởng:

“Các đồng chí hãy tập trung hỏa lực pháo bắn vào mục tiêu là chỉ huy sở của đồn. Chúng tôi sắp hết đạn, địch đang tràn vào sân đồn, anh em đang đánh giáp lá cà, tình thế nguy ngập rồi, làm ơn bắn đi!…”

 Mười phút sau, cũng tiếng nói ấy:

“Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng, chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Hãy trả thù cho chúng tôi. Vĩnh biệt các đồng chí!”.

Tất cả chúng tôi mắt nhòe lệ, những người lính già nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, mắt trừng trừng như muốn nổ con ngươi. Nhưng là người lính, chúng tôi phải phục tùng mệnh lệnh cấp trên.  Có lẽ chỉ có những người có hiểu biết và có trách nhiệm trước Tổ Quốc cao hơn chúng tôi mới hiểu và tin rằng họ cũng đau lòng như chúng tôi. Từ hôm đó những người lính trẻ ko còn bông đùa nghịch ngợm nữa, tất cả như già đi dăm tuổi. Chúng tôi ngồi lặng lẽ lau súng, chuốt lại lưỡi lê, thủ thỉ trò chuyện với những viên đạn. Ko ai bảo ai, trên vành mũ cối xuất hiện những khẩu hiệu:

“Ôi Tổ Quốc mà ta yêu quý nhất

Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi, Việt Nam ơi!”

Hoặc: “Hãy yên nghỉ, hỡi những người anh hùng. Chúng tôi sẽ trả thù!”..

Ngày tấn công được mòn mỏi trông chờ rồi cũng tới. Chúng tôi ào ạt xông lên tấn công vỗ mặt tiền duyên, thọc sâu – dùi xuyên hông, xẻ sườn phòng tuyến địch, vu hồi chặn đường chi viện/tháo chạy của chúng. Thê đội 1 tổn thất nặng thì thê đội 2 tràn lên như thác lũ, chúng tôi như dòng thép nung chảy tưới vào kẻ thù.

Tiếng chính trị viên sang sảng: “Đánh cho chúng biết thế nào là khí phách Việt Nam!”.

Chưa đầy 3 giờ, 2.000 tên đồ tể khát máu Polpot bị đẩy xuống địa ngục. Trận đánh đó ko hề có tù binh! Gần 1/3 trung đoàn tôi hy sinh trong trận đánh mở màn, có nghĩa hơn 800 chàng trai ưu tú của nước Việt nằm xuống ở tuổi đôi mươi..."

Trung Kiên ST. 

Cải cách dưới Triều Hồ

          Bắt đầu là đổi mới triều đại, giải quyết khủng hoảng cung đình. Năm 1393, thấy họ Trần bất lực, Nghệ Tông đã nói với Quý Ly: “Bình Chương (tức Quý Ly) là họ thân thích nhà vua, mọi việc nước nhà đều trao cho khanh cả. Nay thế nước suy yếu, trẫm thì già nua. Sau khi trẫm chết, quan gia nếu giúp được thì giúp”. Thực tế đó đã như một di chúc truyền ngôi. Vì vậy cuộc lên ngôi của Hồ Quý Ly năm 1400 như một sự chín muồi trong yêu cầu giải quyết khủng hoảng cung đình: Hồ lên thay Trần.

      Tiếp theo là cải cách thiết chế chính trị xã hội và hệ tư tưởng phong kiến với các biện pháp cụ thể: 

     Phát triển đội ngũ quan lại phong kiến quan liêu thay thế dần phong kiến quý tộc. Năm 1375, Nghệ Tông “xuống chiếu chọn các quan viên biết luyên tập võ nghệ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là người tôn thất, đều cho làm tướng coi quân”. 

      Đề cao Khổng giáo, mở nhiều khoa thi tuyển chọn nhân tài từ bình dân thay thế quý tộc. Hạn chế Phật giáo, không ưu đãi tăng ni và phát triển chùa chiền như thời Trần mà còn có những biện pháp giảm thiểu. Không theo nếp Tiền Lê, Lý, Trần phong tặng quan tước cho quý tộc tôn thất. Không đưa nhiều tôn thất họ Hồ vào bộ máy nhà nước. Hồ Hán Thương “cấm người tông thất, cung nhân không được xưng quý hiệu, người vi phạm bị trị tội”. 

Trong giữ nước, nếu nhà Trần triệu tập Hội nghị Bình Than chỉ có vương hầu quý tộc đến bàn việc chống giặc, thì nhà Hồ trong chuẩn bị chống Minh lại chỉ triệu tập quan lại trong triều và quan lại đứng đầu các lộ tham dự Hội nghị Tây Đô, nhằm đề cao tác dụng và trách nhiệm của hệ phong kiến quan liêu, lấy Nguyễn Phi Khanh – ông thân sinh ra Nguyễn Trãi (không phải người tôn thất) làm Hàn lâm học sĩ. Đạo quân – thần đã thay thế quan hệ tông tộc.  (còn nữa)

MLN