Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021
KIÊN QUYẾT CHỐNG “CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN”
Để phòng và chống “chạy chức, chạy quyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải chú trọng, thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát trong mọi mặt công tác, để ngăn ngừa, phòng và chống các biểu hiện, các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân, lợi dụng chức vụ/quyền hạn được giao để mưu cầu lợi ích cá nhân... Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh: Trong công tác cán bộ, cả người làm công tác cán bộ và việc lựa chọn cán bộ để bổ nhiệm cũng cần “phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó”[9]. Đó phải là những người thường xuyên, “thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, phải luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết lợi ích của cá nhân mình, dòng họ mình, địa phương mình…
Trong thực tế, việc “tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương”[10] theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã được triển khai thực hiện. Đi liền cùng đó, “các cấp ủy, tổ chức Đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm”[11]. Đặc biệt, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, 7 khóa XII, thì việc “xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm”[12] cho thấy vấn đề chống “chạy chức, chạy quyền” đã được chú trọng thực hiện tương đối đồng bộ và toàn diện.
Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn chưa như mong đợi. "Chạy chức, chạy quyền" vẫn âm ỉ ở nhiều nơi và hệ lụy của nó là “bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên lên chức do “chạy” đã không đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ được giao phó. Tự coi mình là những “ông vua con”, “cha mẹ dân”, những con sâu mọt đó đã luôn "nịnh trên, nạt dưới", không chỉ coi thường tổ chức, kỷ luật, pháp luật mà còn luôn lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền để cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu cấp dưới, vòi vĩnh của dân... Sự hư hỏng bởi ham hư danh, mong muốn được “vinh thân phì gia” của những kẻ “chạy” và sự tha hóa bởi những đặc quyền, đặc lợi của những cán bộ, đảng viên suy thoái “được nhờ chạy” cho thấy việc phải tìm ra vắc xin đặc hiệu để phòng và chữa “chủng bệnh” này là yêu cầu có tính cấp bách và thường xuyên.
Để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để đổi mới và nâng cao chất lượng công tác cán bộ, trong một số nghị quyết chuyên đề, Đảng cũng đề ra nhiệm vụ “hoàn thiện các quy định, quy chế; đồng thời, cương quyết đấu tranh, xử lý kịp thời, nghiêm minh những sai phạm, không có “vùng cấm””[13]. Cụ thể, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã khẳng định quyết tâm: 1) Thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; 2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên; 3) Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; 4) Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả… nhằm khắc phục hữu hiệu, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng "chạy chức, chạy quyền" và những tiêu cực trong công tác cán bộ.
LIỀU VẮC XIN ĐỦ MẠNH ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG "CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN"
Tiếp đó, để đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chống các biểu hiện tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương" và chuẩn bị và tổ chức thật tốt Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng theo tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 205-QÐ/TW ngày 23/9/2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” (Quy định 205)[14], khẳng định quyết tâm cao độ của Đảng về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ.
Quy định 205 gồm 15 điều; trong đó: 1) Quy định chung gồm (điều 1 và điều 2); 2) Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ gồm (điều 3 đến điều 9); 3) Chống chạy chức, chạy quyền gồm (điều 10 đến điều 13); 4) Điều khoản thi hành gồm (điều 14 và điều 15). Nội dung 15 điều của Quy định 205 một lần nữa cho thấy công tác cán bộ đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Ðảng gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, khẳng định chủ trương của Đảng về kiểm soát để phòng và chống sự tha hóa quyền lực là: Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế và mọi quyền hạn đều phải được ràng buộc bằng trách nhiệm.
Cụ thể, theo Quy định 205: “Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ”. Trong đó, việc đầu tiên là phải loại trừ nạn “chạy chức, chạy quyền” của những kẻ cơ hội - một ung nhọt đang được cả xã hội quan tâm và loại trừ sự cấu kết của những kẻ cơ hội đang nắm quyền lực chính trị để lũng đoạn, trục lợi - một di chứng của công tác cán bộ đang gây bức xúc trong nhân dân, nhằm không để lọt vào cấp ủy khoá mới những người có tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu, chạy cơ cấu, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm.
Quy định nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành chức năng ở Trung ương và địa phương; của các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo của địa phương, cơ quan, đơn vị trong tổ chức quán triệt và cụ thể hoá theo thẩm quyền để thực hiện nghiêm Quy định này; đồng thời, yêu cầu Ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định; xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật những tập thể, cá nhân vi phạm; thường xuyên kiểm tra, giám sát và hằng năm báo cáo cấp trên trực tiếp kết quả thực hiện Quy định 205.
Theo đó, cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ và đột xuất; cấp trên tăng cường kiểm tra cấp dưới, cấp dưới giám sát cấp trên, thực hiện giám sát dọc, giám sát ngang gắn liền với việc thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự trong từng tổ chức Đảng,v.v.. Tạo mọi điều kiện và phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ và công tác cán bộ trên tinh thần “cán bộ, đảng viên có trách nhiệm phát hiện và lắng nghe ý kiến của nhân dân để phản ánh, tố cáo, cung cấp thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền về hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền”…
Có thể nói, việc thực thi giải pháp “kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền”, chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cục bộ địa phương, họ hàng... trong công tác cán bộ theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 và Quy định 205 ngày 23/9/2019 sẽ là bước đột phá sâu sắc, là liều vắc xin đặc trị trong công tác cán bộ nói chung, phòng và chống “chạy chức, chạy quyền” nói riêng, thiết thực xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh./.
Cảnh giác với chiêu bài núp bóng “xã hội dân sự”
Vài năm gần đây, cái gọi là “xã hội dân sự” được nhiều cá nhân bất mãn chính trị và các thế lực thù địch thường xuyên đề cập trên một số diễn đàn mạng xã hội. Đằng sau việc hô hào phát triển "xã hội dân sự" theo mô hình phương Tây, các thế lực thù địch âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta.
Khái niệm “xã hội dân sự” hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đại ý chung “là không gian xã hội công cộng nằm ngoài nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các định chế xã hội độc lập tương đối với Nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội” (theo Tạp chí Cộng sản)… Về bản chất, “xã hội dân sự” có một số điểm tích cực. Đó là hoạt động trong khuôn khổ pháp lý và đạo lý vì mục tiêu khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đối với xã hội và Nhà nước…
Song, do thiếu định nghĩa chuẩn mực cũng như góc nhìn về “xã hội dân sự” khác nhau nên khái niệm này thường bị giải thích một cách chủ quan bởi ý chí của người sử dụng. Trong khi đó, thực tiễn biến động chính trị ở Ukraine, Trung Đông, Bắc Phi gần đây qua các cuộc “cách mạng màu”, “mùa xuân Arab” đã cho thấy, các thế lực bên ngoài bất chấp pháp lý và đạo lý của các quốc gia, đặc biệt chú trọng thúc đẩy, hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” nhằm từng bước tạo ra tổ chức đối lập, hình thành xã hội đa nguyên, đa đảng; áp đặt các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa theo kiểu của họ và coi đó là phương thức hoạt động chủ yếu nhằm chuyển hóa chế độ xã hội ở các quốc gia được cho là không cùng ý thức hệ.
Đối với nước ta, trong 10 năm trở lại đây, lợi dụng việc đề cao các quyền lập hội, quyền công dân, quyền tự do tôn giáo và quyền tự do báo chí, các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với các phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn chính trị bên trong đã thổi phồng và lợi dụng chiêu bài “xã hội dân sự” để chống phá quyết liệt. Chúng tìm cách lôi kéo quần chúng vào các nhóm, hội, diễn đàn tự phát với nội dung: Đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng; bảo vệ môi trường, dân chủ, nhân quyền… để tập hợp lực lượng qua các mạng xã hội, như: Diễn đàn xã hội dân sự, Hội Anh em dân chủ, Văn đoàn độc lập, Hội Nhà báo độc lập, Hội Phụ nữ nhân quyền…
Ngoài ra, thông qua dự án tài trợ, tổ chức hội thảo, tập huấn, trao đổi nghiệp vụ..., không ít tổ chức phi chính phủ (NGO) ngoài nước đã tìm cách tiếp xúc, móc nối, mua chuộc số cán bộ, đảng viên thoái hóa để tuyên truyền, kích động tâm lý bất mãn, lôi kéo họ thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước. Chúng khai thác, lợi dụng internet để phát tán thông tin thất thiệt, bịa đặt, bôi nhọ Đảng, chính quyền và các đồng chí lãnh đạo; tung hô những chức sắc tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ bất mãn, cơ hội chính trị; kích động tư tưởng vô chính phủ, tuyên truyền các giá trị ưu việt của văn hóa phương Tây... Mục đích cuối cùng là làm “đổi màu” các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, từ đó phê phán công cuộc đổi mới, tiến tới đòi đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã xác định hành vi phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi phát triển "xã hội dân sự"… là một trong những hình thức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhanh nhất. Nếu cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân không hiểu rõ bản chất, nắm vững vấn đề thì rất dễ “nhiễm độc”.
Như đã đề cập, quyền tự do lập hội, quyền công dân, quyền tự do tôn giáo và quyền tự do báo chí được Đảng, Nhà nước ta đề cao thời gian qua, phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế. Bằng chứng là hiện có gần 400 hội đang hoạt động trên phạm vi toàn quốc; trên 600 tổ chức nghiệp đoàn đang hoạt động tại các địa phương và khoảng hơn 600 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ với Việt Nam, trong đó có gần 400 tổ chức có các chương trình, dự án triển khai tại nước ta. Riêng tôn giáo (một trong những lĩnh vực được các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta), quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân thời gian qua cũng hết sức được coi trọng. Cụ thể là đến cuối năm 2018, nước ta đã có 16 tôn giáo và 43 tổ chức pháp môn tu hành được công nhận. Từ năm 2001 đến 2017, tỷ lệ tín đồ tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% dân số…
Trước tình hình trên, việc đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “xã hội dân sự” chống phá Việt Nam là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trong đó, vấn đề đầu tiên là phải phân biệt, đánh giá đúng vai trò, vị trí của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp để tập trung lãnh đạo, định hướng tuân thủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng đất nước; cảnh giác trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo vào các hành vi làm tổn hại đến đất nước. Muốn vậy, bản thân các tổ chức này cũng cần phải tự thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, gắn bó mật thiết hơn với đời sống xã hội và thành viên của tổ chức mình.
Ngoài ra, một vấn đề rất quan trọng cần được làm thường xuyên, liên tục là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức quần chúng. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cần phát huy tốt hơn chức năng phản biện xã hội, giám sát, vận động nhân dân cùng tham gia giám sát, phản biện, góp ý kiến trong việc hoạch định cơ chế, chính sách nhằm góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị từ trung ương tới cơ sở trong sạch, vững mạnh, tiếp tục phát huy tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
Cùng với đó, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các hội và tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam; kiên quyết xử lý các tổ chức hội, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động vi phạm pháp luật; kịp thời ban hành các chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức xã hội theo đúng định hướng phát triển đất nước.
Đặc biệt, đối với các tổ chức hội, cá nhân có biểu hiện hoạt động phức tạp, có dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng tự do, dân chủ chống, phá Đảng, Nhà nước, nhân dân cần phải bị xử lý nghiêm khắc; cùng với đó là tăng cường đối thoại, tiếp xúc, cảm hóa chính trị đối với quần chúng, nhân dân bị các thế lực thù địch lôi kéo nhằm thực hiện ý đồ chống đối từ bên trong, tạo ổn định chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội để đất nước phát triển.
Cảnh giác với bệnh công thần và kiêu ngạo cộng sản
Bệnh công thần, kiêu ngạo cộng sản là những thói hư tật xấu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã từng được V.I Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ lâu. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, tránh những căn bệnh ấy, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt cuộc đời, khi đương chức cũng như khi nghỉ hưu. Thế nhưng, vẫn có những người xao nhãng, để những căn bệnh ấy không chỉ làm méo mó hình ảnh, nhân cách, vinh quang của chính họ mà còn tạo ra dư luận xấu, ảnh hưởng đến niềm tin, tình cảm của nhân dân, đồng chí, đồng đội...
Chúng ta hẳn có nhớ một sự việc gần đây, từng có cựu Ủy viên Trung ương Đảng tuổi đời còn trẻ, tương lai đang rộng mở thì “dính chàm”, bị cách hết mọi chức vụ. Nguyên nhân do nhiều sai phạm, trong đó một phần do thói độc đoán, chuyên quyền, kiêu ngạo, không biết lắng nghe, không tôn trọng cả cấp trên và cấp dưới.
Lại có cán bộ cấp cao lúc nghỉ hưu vẫn không giữ được mình, có nhiều sai phạm ảnh hưởng đến thanh danh họ, như cựu quan chức mạt sát cảnh sát giao thông; cựu bộ trưởng đòi đặc quyền đặc lợi... Đáng buồn hơn, có cả cán bộ kinh qua rèn luyện, cống hiến, lập nhiều chiến công nhưng lúc nghỉ hưu lại thiếu tỉnh táo, nói và viết không đúng đường lối quan điểm của Đảng; tiếp xúc với nhiều đối tượng cơ hội chính trị, thậm chí cả đối tượng phản động, bị chúng lợi dụng, kích động, dẫn đến tán phát nhiều thông tin xấu, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận. Trước góp ý chân thành của đồng chí đồng đội, những người này lại không tiếp thu, sửa chữa, cho rằng cách nghĩ, cách làm của họ mới là cấp tiến, là “trở về với nhân dân”.
Họ còn tham gia các cuộc tọa đàm, trao đổi, tham gia xuất bản những ấn phẩm do một vài hội, nhóm tổ chức gây ra những tranh cãi, bất đồng chính kiến làm bức xúc dư luận. Rồi còn tham gia ký các đơn, tâm thư, thỉnh nguyện tập thể có nội dung trái với đường lối, quan điểm của Đảng, không có lợi cho đất nước, quân đội nhưng họ lại được kẻ xấu tung hô, ngợi ca nên ngày càng mù quáng... Ngay trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, văn hóa văn nghệ, nhiều năm qua, chúng ta không khỏi đau xót khi thấy có những nhà văn, nhà báo, nhà quản lý từng dạn dày kinh nghiệm, có tên tuổi nhưng khi nghỉ hưu đã đánh mất chính mình, đăng đàn nói, viết những điều sai trái, đi ngược với lý tưởng cả một đời theo đuổi. Có người còn tham gia thường xuyên viết bài, cộng tác cả cho những trang mạng phản động, có người bị kích động và bị lợi dụng để rồi xuất hiện trong những clip với nhiều nội dung sai sự thật, có cả thông tin xấu độc gây hoang mang dư luận. Có người để lại lời nói, việc làm thiếu trách nhiệm, tùy tiện đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, uy tín lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội...
Cuộc sống luôn cần sự phản biện đa chiều nhưng nếu sự chỉ trích đi kèm bệnh kiêu ngạo cộng sản và công thần thì hậu quả vô cùng nguy hiểm.
Năm 1921, V.I Lênin đã vạch ra một trong 3 thứ kẻ thù chính - kẻ thù “nội xâm” mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt, kẻ thù đầu tiên, chính là “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”.
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến bệnh công thần: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng. Theo Người: “… Có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng...”. Người cũng chỉ ra nhiều thứ “bệnh” của cán bộ, trong đó có bệnh kiêu ngạo với những biểu hiện: “Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo... Việc gì cũng muốn làm thày người khác”. Cùng với đó là bệnh hiếu danh, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Rồi bệnh óc lãnh tụ: “Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi. Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một chút cỏn con, đã thấm vào đâu!”.
Soi rọi những lời căn dặn trên vào các biểu hiện mắc bệnh của một số cán bộ mà chúng tôi nêu ở phần đầu bài viết, có thể thấy rất rõ những điều các bậc tiền bối cách mạng căn dặn dường như đã nói đúng, nói trúng tim đen của ai đó xa rời đạo đức, danh dự người cộng sản chân chính. Người cộng sản cần có dũng khí để đấu tranh với những điều sai trái, những thói hư tật xấu trong xã hội nhưng phê bình phải trên tinh thần xây dựng, phải có cái tâm. Cuộc sống xấu đi bởi sự im lặng nhưng cuộc sống cũng xấu đi và tồi tệ hơn bởi những tiếng nói sai sự thật, phán xét hồ đồ, tùy tiện, vô trách nhiệm, giật gân, đao to búa lớn để nâng mình lên bằng cách bôi nhọ người khác, gắp lửa bỏ tay người. Đó là thói phê bình nói lấy được của kẻ không biết mình là ai, thậm chí “Chân mình thì lấm mê mê/Lại đi cầm đuốc mà rê chân người” như cha ông ta đã dạy. Đó là thói phê bình vơi tình cạn nghĩa, không thể chấp nhận đối với những người từng chung đội ngũ, từng thuộc lời thề thứ 7 về tình đồng đội.
Đã là người cộng sản, là đồng chí, đồng đội, thì khi góp ý, phê bình phải với tinh thần người cộng sản, đồng chí, đồng đội chứ không thể bịa đặt thông tin, đổi trắng thay đen, gây hoang mang, suy giảm niềm tin của nhân dân. Càng không thể phê phán khi chính mình chưa đủ tâm, đủ tầm, đủ thông tin và nhận thức về những lĩnh vực mình còn nông cạn, chưa trải nghiệm. Không thể chấp nhận những kiểu phê bình tùy tiện như biến người từng trải nghiệm, kinh qua chiến đấu, được đào tạo bài bản, có trình độ, năng lực chỉ huy quân sự cao thành người “không hiểu quân sự, không qua chiến tranh”. Không thể phê bình kiểu thầy bói xem voi phủ nhận cả thành tích, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng ý kiến chủ quan, lệch lạc.
Đây cũng là vấn đề mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề cập, chỉ rõ để mỗi cán bộ, đảng viên không sai phạm. Nghị quyết chỉ rõ, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống có việc nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu... Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước, quân đội; Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội.
Nghị quyết cũng không cho phép “kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước...”.
Vậy thì rõ ràng, một vài hiện tượng cán bộ nghỉ hưu gần đây giao lưu, cấu kết với các thế lực phản động hoặc bị chúng lợi dụng để xuyên tạc, chống phá, tán phát thông tin sai sự thật trên mạng xã hội là điều không thể chấp nhận, chính là việc vi phạm Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng.
Nhìn ở góc độ pháp lý, những hành vi xuyên tạc, vu khống người khác thông qua cái gọi là phê bình, đấu tranh, bày tỏ chính kiến với nhiều trường hợp đã vi phạm Điều 155, Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, người vu khống, nói xấu, bôi nhọ danh dự, tuy tín của người khác còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về một trong các tội: Tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống...
Những hành vi vi phạm cả về pháp lý và đạo lý như vậy cần phải được đấu tranh, phê phán, lên án, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Tổ chức đảng, đoàn thể nơi quản lý những cán bộ đó phải tăng cường giáo dục, rèn luyện họ chấp hành đúng kỷ luật và các quy định của Đảng, đề cao lương tâm, trách nhiệm, danh dự của người đảng viên chân chính.
Đối với các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan quản lý Nhà nước, phải có thái độ và biện pháp xử lý nghiêm minh, công bằng, không để nương nhẹ, hóa mù ra mưa với những trường hợp công thần, kiêu ngạo cộng sản dẫn đến những lời nói, việc làm sai phạm. Chúng ta từng có bài học kinh nghiệm sâu sắc về một số trường hợp tướng lĩnh quân đội, công an từng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân nhưng vi phạm kỷ luật, pháp luật vẫn bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm.
Bác Hồ từng căn dặn: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, là lãnh tụ”. Nhưng nhân dân và tổ chức cũng luôn rộng mở với những người biết khắc phục sửa sai. Thực tế đã có cán bộ tướng lĩnh có biểu hiện kiêu ngạo, được Bác Hồ nhắc nhở, rèn luyện sau trở thành vị tướng tài năng, đức độ, đảm nhiệm các chức vụ cao cấp của quân đội, sau đó ông tiếp tục sống cuộc sống khiêm nhường, cống hiến theo đạo đức cách mạng cho đến lúc nghỉ hưu, qua đời. Theo Người, để phòng trị bệnh kiêu ngạo, công thần, mỗi cán bộ, đảng viên phải: Rèn luyện đức khiêm tốn; thật thà tự phê bình và tiếp thu ý kiến phê bình của người khác; kịp thời phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm...
Với cán bộ cao cấp, càng đòi hỏi khi đương chức cũng như nghỉ hưu phải có sự tỉnh táo, cẩn trọng khi nói và làm, nhất là phát ngôn trên truyền thông và mạng xã hội, đặt lợi ích của đất nước, của cộng đồng lên trên; giữ gìn bản lĩnh, danh dự và uy tín người quân nhân cách mạng. Sinh thời, Bác Hồ từng gửi cho Thiếu tướng Nguyễn Sơn 12 chữ: “Đảm dục đại” (Gan phải to); “Tâm dục lễ” (tấm lòng, tâm hồn phải trong sáng); “Trí dục viên” (Suy nghĩ trọn vẹn, toàn diện, chu đáo); “Hạnh dục phương” (Hành động đúng đắn, ngay thẳng, phân minh, đàng hoàng). Sau này, nói chuyện với các tướng lĩnh, Bác nói đến 6 đức tính cần phải có, gồm: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung nhưng phẩm chất đầu tiên phải có là Trí. Người chỉ rõ Trí là phải có đầu óc sáng suốt, nhìn mọi việc để suy xét, rồi quyết định cho đúng. Suy nghĩ thấu suốt, nhìn xa trông rộng, phát ngôn rạch ròi, có thể định hướng dư luận, thế mới xứng tầm của những người từng ở vị trí lãnh đạo, chỉ huy.
Để tán phát những thông tin xấu, tiếp tay cho những căn bệnh kiêu ngạo, công thần, những điều sai trái có “cánh tay vô hình” của kênh truyền thông mạng xã hội và thủ đoạn lôi kéo của các đối tượng xấu, cơ hội chính trị thường lợi dụng những cán bộ nghỉ hưu, có tinh thần đấu tranh cao nhưng trong nhiều trường hợp lại thiếu thông tin; không sử dụng hoặc ít cập nhật mạng xã hội, internet... Vì thế, cũng cần có biện pháp thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin, ngăn ngừa các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng.
Các cơ quan chức năng cần có biện pháp tăng cường quản lý hiệu quả mạng xã hội, để các nhà cung cấp của Google, Facebook, YouTube... chấp hành nghiêm quy định của pháp luật Việt Nam; buộc họ chủ động và có biện pháp ngăn chặn, xử lý những thông tin chưa được kiểm chứng, tránh lăng mạ, xúc phạm uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội.../.
"Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở vào giai đoạn cam go, quyết liệt nhất, với bút danh X.Y.Z, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Dân vận, đăng trên báo Sự thật, số ra ngày 15/10/1949. Ngắn gọn và súc tích, tác phẩm Dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa cô đọng tư tưởng của Người về công tác dân vận, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thấm nhuần lời dặn của V.I.Lênin: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được”[1] và nhận thức sâu sắc rằng “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”[2], Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về vận động quần chúng kiểu mới để tiến hành công tác dân vận.
Tác phẩm Dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa những giá trị căn cốt về dân vận; trong đó, Người khẳng định bản chất của “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[3].
Thấm nhuần lời của cổ nhân “chở thuyền cũng là dân”, “lật thuyền cũng là dân”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, muốn tuyên truyền, vận động và phát huy nguồn sức mạnh nội lực của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng và cả hệ thống chính trị phải gắn bó mật thiết với nhân dân; phải tốt công tác dân vận, bởi “trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước”[4]. Hơn nữa, “chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều”, cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thường xuyên “giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”[5]. Cũng theo lời Người, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước dù đúng đắn, nhưng nếu không được sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân thì rất khó đi vào hiện thực cuộc sống; nhưng muốn được nhân dân ủng hộ thì phải thực hiện tốt công tác dân vận, “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Nghĩa là, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gần dân, hết lòng yêu dân, kính dân, hiểu dân, phải: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”[6]; cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân, vì “dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”[7].
Muốn đạt được như vậy, mọi cán bộ, đảng viên đều phải làm dân vận, đều phải biết: 1) “Vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”[8], để đem tài dân, sức dân, của dân mà làm lợi cho dân. 2) Phải khắc phục kiểu suy nghĩ và làm việc từ “trên dội xuống”, chỉ thích lãnh đạo, “thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác”[9]; “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”[10] - “cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi, đến chốn”[11]. 3) Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, với bất cứ việc to, việc nhỏ, thì “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”[12].
Cụ thể, để dân vận đúng và hiệu quả, mỗi người khi tiến hành dân vận “không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị”[13] mà phải chú trọng thực hiện sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, các đoàn thể chính trị với công tác tuyên truyền vận động quần chúng trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu, lợi ích, quyền lợi của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Trên tinh thần đó, người làm dân vận phải: Một là, “tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”. Hai là, “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành”. Ba là, “trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”. Bốn là, “khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”.
CẢ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CÙNG LÀM DÂN VẬN
Một trong những nội dung quan trọng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Dân vận không phải là việc riêng của một hai người, một hai ban, ngành, không chỉ là công tác của các đoàn thể vận động quần chúng mà phải là của cả hệ thống chính trị, là “tất cả cán bộ chính quyền. Tất cả cán bộ đoàn thể. Tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh,v.v.) đều phải phụ trách dân vận”[14]. Cụ thể, theo Người, cán bộ chính quyền và các Đoàn thể địa phương là những người trước tiên phải làm/phụ trách dân vận, phải phối hợp chặt chẽ, “cùng nhau bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công rõ rệt, rồi cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, tổ chức phân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi giúp đỡ dân giải quyết những điều khó khăn…”[15]; “các cán bộ canh nông thì hợp tác mật thiết với cán bộ địa phương, đi sát với dân”; “hội viên các đoàn thể thì phải xung phong thi đua làm, để làm kiểu mẫu cho dân, giúp dân làm”. Bởi, cán bộ chính quyền là một thành tố hệ thống chính trị, nếu trong quá trình thực hiện chức năng quản lý kinh tế - xã hội của mình mà làm công tác dân vận không tốt, nhất là sa vào quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, gây phiền hà cho dân, thì công tác dân vận cũng vẫn không mang lại hiệu quả thiết thực.
Để làm dân vận đúng và tốt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”[16]. Đó phải là những người luôn tự mình làm gương thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải “học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng” và “phá tan cách lãnh đạo lờ mờ, quan liêu, chủ quan, bàn giấy”[17],v.v.. để nhân dân noi theo, vì quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức, những người luôn lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Hơn nữa, vì “cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”, cho nên, “muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói”, rồi “phải khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngăn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành”[18]... Trong bất cứ hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cũng phải chú trọng thực hiện lời Người dặn và nhất thiết phải khắc phục “khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận. Đó là sai lầm rất to, rất có hại”[19].
Giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận chính là: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[20]. Điều đó có nghĩa là, dân vận tốt sẽ góp phần vào thành công của cách mạng, còn dân vận kém sẽ gây chia rẽ mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm tổn hại phong trào cách mạng, đe dọa sự sống còn của Đảng và chế độ. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, tấm gương làm dân vận mẫu mực của Người - của “một vị lãnh tụ thực sự liên hệ sâu sắc với quần chúng, mà nói như vậy cũng không đủ, phải nói là một vị lãnh tụ kiệt xuất đã hoà sâu trong nhân dân Việt Nam, thực sự trở thành một thể thống nhất với nhân dân Việt Nam”[21], luôn hết lòng yêu thương nhân dân, vì nhân dân phục vụ đã được Đảng ta thấm nhuần và thực hiện.
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, đã có nhiều nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về tăng cường công tác dân vận được ban hành. Theo đó, cấp ủy, các cấp chính quyền, đoàn thể một mặt đã chú trọng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, làm cho quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy, tôn trọng; mặt khác, tăng cường công tác vận động quần chúng tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động về xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới, bảo vệ an ninh Tổ quốc... góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Phong trào “Dân vận khéo” và việc xây dựng mô hình “Dân vận khéo” cụ thể, thiết thực, phù hợp điều kiện thực tế ở các địa phương đã góp phần từng bước tháo gỡ, giải quyết những khó khăn, bức xúc trong nhân dân. Việc chỉ đạo đăng ký các mô hình “Dân vận khéo” gắn với đấu tranh phòng, chống lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng và thực hành tiết kiệm góp phần thiết thực vào công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong sạch, vững mạnh. Thông qua đó, phát huy cao độ tinh thần tự quản và ý thức cộng đồng của nhân dân trong xây dựng khu dân cư văn hóa, văn minh đô thị, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, giảm thiểu các tệ nạn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.
TIẾP TỤC THỰC HIỆN TƯ TƯỞNG “DÂN VẬN KHÉO” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Tuy nhiên, thực tế triển khai công tác dân vận cũng còn những hạn chế, cần phải khắc phục, đó là, việc thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận chưa kịp thời, nhất là cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận chưa hiệu quả. Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận chưa được quan tâm đúng mức, chưa trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống.
Cụ thể, một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân vẫn chưa được giải quyết kịp thời; đặc biệt, quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi bị vi phạm, tệ nạn nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân, nhất là “tham nhũng vặt” vẫn còn không ít ở địa bàn cơ sở đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong khi đó, một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của công tác dân vận; ở một số địa bàn cơ sở, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội giảm sút vai trò lãnh đạo, thiếu sự phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý còn thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Thực trạng này đã được chỉ ra trong Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương khóa XI ngày 3/6/2013 về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”.
Thấm nhuần những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương mẫu mực của Người về dân vận, nhất là để “tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân… Phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[22], trong thời gian tới, các cấp ủy và cả hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vai trò, mục đích, nội dung, phương thức tiến hành công tác dân vận trong tình hình mới. Cụ thể, gắn thực hiện công tác dân vận với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương khóa XI về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”.
Thứ hai, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, đa dạng các phương pháp, hình thức dân vận phù hợp điều kiện cụ thể của địa phương, mỗi địa bàn cơ sở theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; đồng thời, thông qua các hình thức, biện pháp sinh động, phong phú tuyền truyền, giáo dục để nâng cao giác ngộ chính trị, đạo đức cách mạng, hiểu biết pháp luật cho nhân dân, để nhân dân thực hiện tốt vai trò “là chủ”, “làm chủ” của mình. Gắn thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị.
Thứ ba, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác dân vận, để các tầng lớp nhân dân đều có thể thông qua diễn đàn Mặt trận bày tỏ chính kiến của mình. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động và kịp thời nắm bắt nhanh tình hình, tâm tư, nguyện vọng, bức xúc của người dân để tham mưu Đảng, Chính phủ điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật cũng như công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành. Thông qua đó, bảo vệ lợi ích hợp pháp cho nhân dân, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, nhân nguồn sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ tư, tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; trong đó, chú trọng nâng cao trình độ và tinh thần, trách nhiệm của người làm dân vận trên tinh thần “không để sót một người dân nào” và “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Đồng thời, quan tâm tạo điều kiện về vật chất, tinh thần và cơ chế để các tổ chức và người làm công tác dân vận hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; xây dựng phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, nâng cao trách nhiệm với dân và “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”.
Thứ năm, đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Duy trì, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mô hình, điển hình đã có và tiếp tục xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình mới. Chú trọng xác định nội dung trọng tâm phong trào thi đua “Dân vận khéo”, mô hình “Dân vận khéo” phù hợp với điều kiện từng địa bàn cơ sở, từng đối tượng gắn với các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, trọng tâm là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước./.
Ngăn chặn hiện tượng bè phái, lũng đoạn công tác cán bộ
Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta rút ra kết luận: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên thời gian qua, ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương, hiện tượng “cánh hẩu”, kéo bè cánh lũng đoạn công tác cán bộ dẫn tới lũng đoạn các hoạt động khác đã xảy ra ở mức độ nghiêm trọng. Hiện tượng này cần được khắc phục, ngăn chặn kịp thời nhằm xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”.
1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần lên án “bệnh” kéo bè, kéo cánh và gọi đây là căn bệnh “cánh hẩu” trong Đảng. Người đúc kết: Bè cánh được lôi kéo từ những người có họ hàng, là bà con, cháu, chắt, thân tín, thậm chí mở rộng ra là người cùng xóm, cùng quê; rồi “chén chú, chén anh”, tung hô nhau, ủng hộ nhau, dùng số đông, lợi dụng và bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, dồn những người tốt, có tài nhưng không cùng “cánh” xuống để “tiêu diệt”, để cát cứ, thao túng…
Tuy nhiên, thực trạng này vẫn tồn tại nhức nhối. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) ngày 30-10-2016 “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã chỉ ra các hiện tượng: Cục bộ, bè phái; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích…; và coi đây là những biểu hiện cần kiên quyết ngăn chặn.
Trên thực tế, ở nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị, thói cục bộ, bè phái dễ có cơ hội xuất hiện vào những thời điểm nhạy cảm, như: Quyết định về công tác nhân sự (lấy phiếu quy hoạch, lấy phiếu tín nhiệm…), bầu cử trong đại hội hay trong hội nghị biểu quyết đầu tư các dự án quan trọng. Khi những người nắm giữ trọng trách trong các cơ quan, đơn vị không vì lợi ích chung sẽ rất dễ để cho các “nhóm lợi ích” lèo lái, thậm chí tranh giành, “xâu xé” lẫn nhau khiến nội bộ mất đoàn kết. Đây là “mảnh đất màu mỡ” cho chủ nghĩa cá nhân phát triển, chủ nghĩa cơ hội lộng hành.
Ngoài ra, tình trạng bè phái cũng không kích thích, khuyến khích được sự tận tâm cống hiến của những cá nhân có thực tài; tạo kẽ hở để những kẻ cơ hội tìm mọi thủ đoạn, kể cả việc "mua quan, bán chức" luồn lách vào hệ thống các cơ quan nhà nước.
Thời gian qua, hiện tượng bổ nhiệm người nhà, người thân diễn ra ở nhiều địa phương, đơn vị. Điển hình như năm 2015, Bộ Giao thông - Vận tải đã vào cuộc xác minh mối quan hệ gia đình của 30 người đang làm việc tại Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam và các đơn vị thành viên với tổng giám đốc đơn vị này. Kết quả cho thấy, có 15/30 người có quan hệ gia đình với tổng giám đốc, trong đó 12 người giữ chức vụ quản lý và một người trong số này là phó tổng giám đốc... Năm 2016, Bộ Nội vụ đã chỉ ra 9 địa phương, đơn vị có hiện tượng “cả nhà làm quan”. Đáng chú ý là nhiều trường hợp bổ nhiệm người nhà, người thân không bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn, như ở các tỉnh: Quảng Nam, Gia Lai, Bình Định...
Tuy nhiên, ở nhiệm kỳ Đại hội khóa XII, Đảng ta đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý nghiêm sai phạm của cán bộ cấp cao do liên quan đến bổ nhiệm người nhà, người thân không đúng quy định.
Nổi bật trong số này là việc Ban Bí thư kỷ luật ông Lê Phước Thanh bằng hình thức cách chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam nhiệm kỳ 2010-2015 do bổ nhiệm “thần tốc” con trai là Lê Phước Hoài Bảo.
Hoặc ông Vũ Huy Hoàng (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương) đã bị cấp có thẩm quyền xóa tư cách nguyên Bộ trưởng, Bí thư Ban Cán sự đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016 vì nhiều sai phạm, trong đó có việc tiếp nhận, bổ nhiệm con trai là Vũ Quang Hải sai quy định…
2. Trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng như các tỉnh ủy, thành ủy đã đề ra nhiều giải pháp mới hướng tới khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ, trong đó coi việc ngăn chặn tình trạng bè phái, lũng đoạn công tác cán bộ là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Có thể nói, chưa bao giờ một hệ thống kiểm soát, quy trình về công tác cán bộ lại đầy đủ, công khai, minh bạch như hiện nay.
Rõ nhất là gần đây, việc Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Quy định số 205-QĐ/TƯ ngày 23-9-2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” đã nhận được sự đồng tình rất cao của dư luận.
Những nội dung rất cụ thể trong Quy định số 205-QĐ/TƯ cùng với nhiều văn bản được Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành trong 2 năm qua, như: Quy định 105-QĐ/TƯ ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 132-QĐ/TƯ ngày 8-3-2018 về “Việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị”…, sẽ góp phần hữu hiệu để phòng ngừa, kiểm soát và ngăn chặn tình trạng bè phái, lũng đoạn công tác cán bộ.
Điểm nổi bật trong các văn bản mới là quy rõ trách nhiệm cá nhân đến từng vấn đề, từng khâu trong quy trình của công tác cán bộ, tránh tình trạng “công cá nhân, tội tập thể”, “hòa cả làng” như trước đây… Như vậy, vấn đề mấu chốt là những tổ chức, cá nhân được giao trọng trách về công tác cán bộ cần phải thực hiện nghiêm hệ thống các văn bản đã có, không được “đi ngang”, “đi tắt”, phá bỏ quy trình và nếu vi phạm phải xử lý nghiêm.
Đặc biệt, phải tiếp tục nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác tổ chức, tránh tình trạng né trách nhiệm hay lợi dụng thông tin để tư lợi. Tăng cường sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với công tác cán bộ.
Cùng với đó là người đứng đầu, cá nhân thành viên cấp ủy, tổ chức Đảng, lãnh đạo tổ chức, cơ quan, đơn vị cần đề cao trách nhiệm cá nhân; coi việc thực hiện nhiệm vụ khách quan, công tâm là lương tâm, nhân phẩm, lòng tự trọng của người có thẩm quyền trong công tác cán bộ.
Ngoài ra, cần nhân rộng việc thực hiện chế độ thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý theo khung năng lực vị trí việc làm, có đề án tranh cử rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm, nhằm lựa chọn được người có phẩm chất và năng lực tham gia xây dựng cơ quan, đơn vị.
Trước mắt, thực hiện Quy định số 205-QĐ/TƯ và các văn bản khác liên quan cần được triển khai đồng thời với Chỉ thị số 35-CT/TƯ ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, nhất là trong công tác chuẩn bị nhân sự bộ máy Đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội các cấp.
Trong đó, cần thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động, bố trí, sắp xếp cán bộ chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 gắn với việc bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương…
Mục tiêu cụ thể là phải thực hiện cho bằng được chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong phiên bế mạc Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII: “Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy những cán bộ vi phạm, thoái hóa, biến chất! Bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm minh, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố niềm tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”.
Việc sớm ngăn chặn cho được tình trạng “cánh hẩu”, bè phái, lũng đoạn công tác cán bộ, tiến tới lũng đoạn cơ quan, đơn vị, địa phương cũng đồng nghĩa với việc góp phần đưa Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) vào cuộc sống.
Thêm 50 ca Covid-19
Bộ Y tế trưa 1/6 ghi nhận 50 ca dương tính trong nước, gồm tại Bắc Giang 32, Bắc Ninh 9, Lạng Sơn 8, Long An một.
Như vậy tính trong buổi sáng nay, Bộ Y tế đã công bố tổng cộng 161 ca Covid-19. Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 4407, ghi nhận ở 36 tỉnh thành, gấp 5 lần so với tổng số ca nhiễm của đợt dịch hồi tháng 1-2 liên quan Hải Dương, Quảng Ninh.
50 ca mới được ghi nhận từ số 7433-7482, nâng tổng số ca nhiễm ở Bắc Giang 2329, Bắc Ninh 866, Lạng Sơn 73, Long An 6.
Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021
Chủ tịch TP HCM: 'Dịch bệnh vẫn trong tầm kiểm soát'
Trừ ổ dịch nhóm Hội thánh Truyền giáo Phục hưng, 3 trong 4 chuỗi lây nhiễm Covid-19 và dịch bệnh tại thành phố vẫn "trong tầm kiểm soát", theo Chủ tịch TP HCM.
Thông tin được Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thành Phong nêu tại cuộc họp Ban chỉ đạo phòng chống Covid-19 sáng 1/6, với sự tham gia của Phó thủ tướng thường trực Trương Hoà Bình, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long.
Theo ông Phong, 3 chuỗi lây nhiễm liên quan ổ dịch tại Hà Nam, công ty ở quận 3 và quán bánh canh ở quận 3 cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, sắp tới thành phố vẫn ghi nhận thêm nhiều ca rải rác bởi các nguồn lây nhiễm chưa phát hiện.
TP HCM đang tập trung lấy mẫu xét nghiệm diện rộng thành phố, trong đó lấy tất cả mẫu tổ bầu cử có thành viên nhóm Hội thánh Truyền giáo Phục hưng; lấy mẫu người dân quận Gò Vấp, phường Thạnh Lộc (quận 12); công nhân các khu công nghiệp, khu chế xuất. Hôm qua 31/5, thành phố lấy hơn 70.000 mẫu đơn xét nghiệm.
Xác định khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung đông người, có nguy cơ lây nhiễm cao, người đứng đầu chính quyền thành phố cho biết sẽ giao các địa phương tổ chức các doanh nghiệp ký cam kết thực hiện đúng bộ tiêu chí phòng chống dịch áp dụng cho doanh nghiệp. Thành phố sẽ chấn chỉnh các doanh nghiệp không đảm bảo an toàn.
Về vấn đề vaccine, ông Phong cho biết thành phố có 7,2 triệu người trên 18 tuổi, nhu cầu tiêm chủng rất lớn nhưng nguồn cung không đủ. Thành phố xin Chính phủ cơ chế Bộ Y tế quyết định vấn đề nhập vaccine, thành phố sẽ chủ động nguồn và phương thức thanh toán. "Bây giờ các biện pháp 5K cũng chưa đủ mà phải cộng với vaccine mới giải quyết được tình hình", ông Phong nói.
Ngoài ra, TP HCM đang bàn triển khai gói hỗ trợ thứ hai cho người bị ảnh hưởng Covid-19. Hiện nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, khối dịch vụ bị ảnh hưởng nặng nề, nhiều người thất nghiệp. Gói hỗ trợ thứ hai này sẽ đảm phòng chống dịch tốt và vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế.
Tại cuộc họp, thứ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Minh Lương cho rằng, để đảm bảo mục tiêu kép "vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế", các khu công nghiệp có vai trò quan trọng. Ông đề nghị TP HCM nghiên cứu, triển khai các khu cách ly cho các khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong khi đó, đại diện Quân khu 7 cho biết đã bố trí 302 điểm cách ly với sức chứa hơn 82.000 người, sẵn sàng nhân sự tăng cường cho thành phố khi cần.
Ông Nguyễn Tấn Bỉnh, Giám đốc Sở Y tế TP HCM cho biết, liên quan chuỗi lây nhiễm Hội thánh Truyền giáo Phục hưng, TP HCM ghi nhận 200 ca nhiễm. Ngoài ra, thành phố khoanh vùng 15.206 người thuộc các diện liên quan khác.
Thành phố xét nghiệm mở rộng hơn 181.000 người trên toàn khu phố, các tổ bầu cử, phường có ca nhiễm nhiều. Trừ quận 11 và huyện Cần Giờ, 20 địa phương khác trong thành phố đã phát hiện ca bệnh. Riêng quận Gò Vấp ghi nhận số ca cao kỷ lục là 52 ca.
Ông Vũ Chiến Thắng, Thứ trưởng Nội vụ cho rằng, cần xác định "Hội thánh Truyền giáo Phục hưng" là một điểm nhóm hoạt động chứ không phải hội thánh. Điểm nhóm này đăng ký hoạt động tại phường, không được công nhận là tổ chức tôn giáo, người đứng đầu của hội này "không thể gọi là mục sư". Việc đăng ký, hoạt động của điểm nhóm trước đó là đúng quy định.
Ông Thắng đề xuất UBND TP HCM chỉ đạo đình chỉ hoạt động của điểm nhóm này để điều tra vụ án, tùy vào kết quả điều tra có đề xuất xử lý cao hơn, có thể rút giấy phép hoạt động.
Hiện cả nước có trên 5.500 điểm nhóm hoạt động tôn giáo tương tự "Hội thánh Truyền giáo Phục hưng", chủ yếu ở các vùng sâu xa, do chính quyền cấp xã cấp phép và quản lý. Các điểm nhóm này hoạt động không theo sự chỉ đạo chung của các tổ chức tôn giáo, năng lực quản lý ở xã cũng hạn chế nên khó khăn trong tuyên truyền, vận động các quy định chống dịch.
Phó thủ tướng Trương Hòa Bình cho rằng việc lây nhiễm từ nhóm Truyền giáo Phục hưng là một bài học sâu sắc trong công tác chống dịch. Ông yêu cầu TP HCM kêu gọi các chức sắc tôn giáo vận động tín đồ chấp hành quy định và chung tay phòng phòng chống dịch.
Phó thủ tướng cho biết, việc khởi tố vụ án liên quan đến điểm nhóm Truyền giáo Phục hưng là "khởi tố một vụ án làm lây lan bệnh dịch chứ không khởi tố một tôn giáo". Nếu có bị can thì đây là việc xử lý một cá nhân với tư cách là công dân chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Phó thủ tướng ghi nhận TP HCM thời gian qua động thái quyết liệt ngăn chặn dịch lây lan. Có thể phát hiện thêm nhiều trường hợp lây nhiễm, nhưng với các giải pháp cứng rắn hiện có, tình hình vẫn được chủ động kiểm soát. Ông yêu cầu kích hoạt mạnh hệ thống chính quyền, nhấn mạnh vai trò từ những người đứng đầu từ cấp phường, xã trở lên.
Ông Bình lưu ý, TP HCM mở rộng diện xét nghiệm toàn thành phố nhưng cần có trọng tâm, trọng điểm để đạt được hiệu quả tốt nhất. Về gói hỗ trợ thứ hai của thành phố, TP HCM lưu ý vừa hỗ trợ người lao động, vừa hỗ trợ cả doanh nghiệp để họ duy trì sản xuấ
Âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với văn hóa, văn nghệ chỉ là sự cường điệu, “báo động giả” hay thực sự đáng báo động?
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã và đang có nhiều cơ hội để phát triển, nhưng cũng phải đối mặt với không ít nguy cơ, thách thức. Một trong những thách thức, nguy cơ đã được Đảng ta chỉ ra là âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, trong đó có việc chúng triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông để tấn công mạnh mẽ hơn về tư tưởng - văn hóa và coi đây là mũi nhọn chống phá Đảng và chế độ ta. Vậy đặc điểm, những biểu hiện của âm mưu này ra sao? Cần có giải pháp ứng phó như thế nào? Đó là những câu hỏi bức thiết cần được giải đáp hiện nay.
Mặc dù các thế lực thù địch, cơ hội chính trị chống phá ngày càng ráo riết, nhưng lĩnh vực văn hóa, văn nghệ của chúng ta vẫn phát triển đúng hướng, góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của dân tộc _Ảnh Tư liệu
1- Hiện nay, trong dư luận xã hội và trong giới trí thức, văn nghệ sĩ đang có những nhận định, ý kiến khác nhau về tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với văn hóa, văn nghệ nước ta. Có ý kiến khẳng định mạnh mẽ, “báo động” về tác hại trực tiếp và thực trạng rất phức tạp của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực có nhiều đặc thù này. Cũng có ý kiến cho rằng, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chủ yếu trên lĩnh vực chính trị, tổ chức, nhân sự, ngoại giao..., còn nói “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ thì chỉ là sự cường điệu, thậm chí là “báo động giả”. Vậy cần bình tĩnh, tỉnh táo khi nhận diện những biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, đánh giá những tác động, ảnh hưởng của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ.
Có thể thấy rằng, nghiên cứu, đánh giá tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” với văn hóa, văn nghệ không đơn thuần là vấn đề chính trị mà đó vừa là vấn đề của chính trị, vừa là vấn đề của khoa học. Do vậy, không thể giản đơn, máy móc, quy chụp và cũng không thể lảng tránh, không nhận ra tác động tinh vi, phức tạp của “diễn biến hòa bình” đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu, đánh giá cần tránh hai khuynh hướng sau: Một là, mất cảnh giác hoặc phủ nhận tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Hai là, quy chụp với cách nhìn máy móc, cứng nhắc, không hiểu biết đầy đủ về bản thân văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ mới với rất nhiều vấn đề đặt ra trong thực tiễn, đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của văn hóa, văn nghệ, góp phần vào sự phát triển của con người và xã hội.
2- Có âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ không? Đây là một câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng đòi hỏi phải tìm được câu trả lời trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn.
Ngay từ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cùng với âm mưu xâm lăng nước ta bằng quân sự, các nước đế quốc còn thực hiện âm mưu xóa bỏ những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Nhận định của Bác là sáng suốt, bởi đến nay, mặc dù thế giới đã thay đổi nhanh chóng, tương quan và hình thái xã hội trên toàn cầu đã có nhiều biến đổi, nhưng có thể thấy các nghị quyết, văn kiện của Đảng và Nhà nước ta trong mấy nhiệm kỳ gần đây đều vẫn nhấn mạnh các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Thực tế, không ít các nhà nghiên cứu nước ngoài từng đưa ra những lo ngại, băn khoăn rằng, trong quá khứ Việt Nam có đủ khả năng chống trả ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài, nhưng hiện nay liệu người Việt Nam sẽ có những biện pháp gì để chống lại thông tin xấu, độc từ các nước phương Tây nhằm hạn chế tối đa những tác động xấu đối với xã hội và con người... Không phải vô cớ mà Tổng thống Mỹ R. Nich-xơn, khi thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô (trước đây) đã lớn tiếng tuyên bố khâu quyết định có ý nghĩa chiến lược là bằng mọi cách “tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương” và coi tư tưởng, văn hóa, văn nghệ như là “cửa mở” của “cuộc chiến tranh không có khói súng”, các “cuộc cách mạng sắc màu”, “cách mạng nhung”... để đi đến “chiến thắng không cần chiến tranh”...
Hiện nay, nhiều thông tin toàn diện, trong đó có nhiều minh chứng cụ thể đã cho chúng ta thấy rõ hơn các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với Việt Nam. Thông qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, các blogger đã tấn công cá nhân các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam, chiến lược chung là nhằm tạo ra sự mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội. Hoạt động này đã và đang được thực hiện một cách ráo riết cùng với việc lợi dụng các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức núp dưới chiêu bài bảo vệ “nhân quyền” và không ít người đã nhận được “hỗ trợ”, “tài trợ” từ các cơ quan nước ngoài, các tổ chức văn hóa, thậm chí trực tiếp từ chính phủ một số nước phương Tây. Về văn hóa, toàn bộ vũ khí văn hóa chống lại “nền tảng tư tưởng” đã được thiết kế, “sản xuất” ở phương Tây, sau đó được “cấy ghép” vào các nước ở Trung và Nam Mỹ, khu vực Nam Phi, vào Trung Quốc, Nga và ngày càng nhiều ở Việt Nam.
Như vậy, dù vẫn còn những người nghi ngờ, lảng tránh, “bỏ qua”, thậm chí cho là “báo động giả”, nhưng thực tế cho thấy, âm mưu của các thế lực thù địch hòng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam là có thật, thậm chí “sản phẩm” này còn được đề ra, được xác định thực hiện trong một thời gian dài, có lộ trình cụ thể và đã được đưa lên thành chiến lược trong thời kỳ mới từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay. Trong chiến lược đó, tư tưởng, văn hóa, văn nghệ luôn là “cửa mở”, “cửa đột phá để tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương”, từ đó nhằm đánh gục đối phương từ bên trong, từ bên trên, từ gốc “nền tảng tư tưởng”.
3- Những năm qua, cuộc “đọ sức” giữa âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật với lực lượng hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ ở nước ta (lãnh đạo, quản lý, sáng tác, biểu diễn...) diễn ra tưởng như thầm lặng nhưng thực ra rất quyết liệt, phức tạp, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp.
Mặc dù các thế lực thù địch, cơ hội chính trị hoạt động chống phá ngày càng ráo riết, nhưng cần phải khẳng định rằng, văn hóa, văn nghệ của chúng ta vẫn phát triển đúng hướng, góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của dân tộc. Lực lượng sáng tạo và hoạt động trên lĩnh vực này, theo nhận định sáng suốt của Đảng và nhân dân, là những người tin cậy, trung thành, có nhiều đóng góp, có tình yêu đất nước, dân tộc, nhân dân, tâm huyết với sự nghiệp đổi mới và với nghề nghiệp. Nhận định đó là khách quan, trung thực và đã được minh chứng trong thực tiễn.
Tuy nhiên, cũng không thể lảng tránh một thực tế là tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ đã thể hiện ngày càng rõ hơn, tinh vi hơn, cả trực tiếp lẫn gián tiếp trong các khâu của quá trình sáng tạo, quản lý, quảng bá, truyền bá lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Đã xuất hiện những “tác phẩm” có dụng ý chính trị rõ rệt phủ định con đường và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, thông qua việc bôi đen hiện thực lịch sử hoặc dùng những “hình tượng” mang tính ẩn dụ đen tối nhằm giễu nhại con đường cách mạng của dân tộc mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Vũ Thư Hiên, Bùi Tín những năm trước đây, nhóm “mở miệng” trong những năm cuối thế kỷ XX và cả truyện ngắn của một số cây bút trẻ gần đây đã bộc lộ rõ khuynh hướng này. Hùa theo khuynh hướng đó là những người làm phê bình, giới thiệu đã tìm cách đề cao các loại “tác phẩm” như vậy, coi đó là “trung thực”, là “sức mạnh” của bên lề, của ngoại vi đang tấn công để “giải” (hóa giải) trung tâm, là sự “sáng tạo” và “phát hiện” độc đáo. Thực chất, họ đã dùng những thủ pháp nghệ thuật để vu cáo, xuyên tạc, bôi bẩn các giá trị văn hóa dân tộc, các thành tựu cách mạng cả trong quá khứ và hiện tại.
Thực tế cho thấy, để đi tới thắng lợi hoàn toàn, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, trong suốt 30 năm (từ năm 1945 đến năm 1975), dân tộc ta đã phải trải qua muôn vàn hy sinh, gian khổ tận cùng. Đó là sự thật lịch sử, và sự hy sinh đó không phải vô ích, vô nghĩa. Chúng ta không hề muốn chiến tranh nhưng kẻ thù đem gươm, súng đến đất nước này thì “giặc dùng đạn bom ta giáng trả bằng đạn bom”, vì sự mất còn của cả dân tộc, vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Chân lý lịch sử đó là rõ ràng nhưng các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị và một số người trẻ “ngây thơ” đã tìm cách xuyên tạc chân lý đó. Một số tác phẩm văn học, nghệ thuật đã miêu tả cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta toàn một màu đen tối, chết chóc, bi kịch, vô nghĩa; phủ định sạch trơn những sáng tạo văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ chiến tranh, coi đó là “minh họa”, là tô hồng, là cao hơn, là đứng trên hiện thực. Chúng ta không phủ nhận những hạn chế lịch sử của mảng văn học, nghệ thuật trong chiến tranh nhưng không thể nhân danh “đổi mới” để bôi nhọ cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc bằng việc chỉ miêu tả mặt đen tối, sự chết chóc và tha hóa con người trong chiến tranh. Khuynh hướng này chỉ là phiến diện, chưa trung thực với lịch sử.
Đã từ lâu, ở phương Tây và ở Mỹ lan truyền một thông tin rằng, cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do bị “giật dây” hoặc đó là một cuộc “nội chiến”. Những năm gần đây, luận điệu đó được “sản xuất” bởi một số chính trị gia phương Tây và đã nhanh chóng được “nhập khẩu” vào Việt Nam, tác động đến suy nghĩ, nhận định của một số trí thức, văn nghệ sĩ. Luận điệu đó đã đi vào một vài “sản phẩm” nghiên cứu, một số sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật. Ở một vài tác phẩm, các tác giả đã cố tình cài cắm luận điệu “nhập khẩu” đó như là một sự “phát hiện mới” của mình. Có lẽ, do phần lớn trong số họ đều là những người đứng ngoài cuộc chiến đấu nên không hiểu được khát vọng sâu thẳm của hàng triệu người Việt Nam đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, hoặc có người chạy theo “mốt thời thượng” về chính trị mà không am hiểu, thậm chí “không muốn hiểu” sự thật lịch sử đã được thừa nhận từ lâu. Thực tế đã chứng minh luận điệu của ai đó cho rằng cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là “chiến tranh ủy nhiệm” hoàn toàn là sự “ngây thơ” hoặc cố tình xuyên tạc lịch sử.
Năm 1965, đế quốc Mỹ đem quân ồ ạt vào miền Nam nước ta, bắt đầu chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Nhưng chỉ vài năm sau, chiến lược đó thất bại thảm hại. Tổng thống Mỹ công khai tuyên bố chuyển sang chiến lược mới “Việt Nam hóa chiến tranh”, nghĩa là Mỹ vẫn chủ mưu, vẫn viện trợ, trang bị “tận răng” cho quân đội và chính quyền Sài Gòn. Âm mưu này thâm độc hơn nhưng ngay từ đầu đã mang dấu hiệu thất bại. Đầu năm 1975, khi chúng ta mở chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã kêu gào Mỹ viện trợ tiền và vũ khí và khi không đạt được sự cầu cứu thảm hại đó, chính họ đã “đổ lỗi” cho Mỹ về sự sụp đổ của mình. Mặc dù vậy, tại sao lại vẫn có người cố tình miêu tả, bình luận cuộc chiến này là “nội chiến”.Phải chăng họ đã “ăn phải bả” của một số chính trị gia phương Tây?
Những năm gần đây, rải rác xuất hiện một số sáng tác tập trung miêu tả, khắc họa những con người bi quan, bế tắc, tâm trạng trống rỗng, không tin và không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Nhân vật trong các tác phẩm đó thường là thanh niên hay những người ở độ tuổi mới lớn. Chúng ta không phủ nhận trong xã hội hiện nay có một bộ phận nhỏ rơi vào tâm trạng đó. Song cường điệu điều đó để đi tới sự phủ định những điều tốt đẹp của cuộc sống, tạo ra bức tranh thê thảm của xã hội, reo giắc trong thế hệ trẻ sự bế tắc là trái với bản chất nhân văn của văn học, nghệ thuật. Ví dụ như lời một số ca khúc trong đĩa “Cái nường 8X” của nhạc sĩ Ngọc Đại với 9 bài hát mà hầu hết lời lẽ đều toát lên một tâm trạng uất ức, tức tối, căm giận với những ca từ, như “Thôi chào nhé. Chào vĩnh biệt những mùa xuân thật là thê thảm. Những mùa xuân thật là dã man. Những mùa xuân tối tăm, bệnh hoạn. Những mùa xuân đã chết rồi trong trái tim của anh và em và cũng có thể của cả một dân tộc. Chết dần, chết mòn, chết thật rồi....”(bài Vĩnh biệt). “ Mùa xuân thật là ngu ngốc, chán ngắt, buồn nôn”, “phí hoài, chán ngắt, bước chân mộng du...” (bài Thông điệp hoa hồng)... Đây là những bài hát đi ngược lại thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam, tuyên truyền chống Tổ quốc, chống nhân dân, bôi xấu, xuyên tạc chế độ. Có thể thấy, đó là quan niệm lệch lạc của cá nhân nghệ sĩ, vậy “diễn biến hòa bình” ở đâu? Phải chăng đó chính là việc truyền bá chủ nghĩa hư vô, bi quan, trầm cảm và hoài nghi. Mục tiêu chính của nó là làm nảy sinh sự bất mãn, làm sai lệch tư tưởng, làm suy yếu chủ nghĩa yêu nước trong thế hệ trẻ. Tác động tai hại, thâm độc của âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật chính là như vậy.
4- Sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Song trong tiến trình đó, có lúc chúng ta có khuyết điểm, hạn chế. Nhiều năm nay, đặc biệt là thời gian gần đây, chúng ta đang kiên quyết chỉnh đốn, làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu... Chưa bao giờ chúng ta yêu cầu văn hóa, văn nghệ phải “tô hồng” cuộc sống. Trong lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (tháng 7-2018), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, văn học, nghệ thuật trực tiếp tham gia sự nghiệp đổi mới đất nước, miêu tả cho hay, cho chân thật, sinh động và có sức thuyết phục sự nảy sinh và phát triển cái mới, cái tốt đẹp, cao cả trong đời sống, dũng cảm, nghiêm khắc lên án, phê phán những cái xấu xa, thấp hèn, sự thoái hóa, biến chất, tham nhũng, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội, qua đó góp phần tích cực vào thắng lợi của sự nghiệp phát triển con người, phát triển đất nước. Đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của văn học, nghệ thuật Việt Nam hôm nay và nhiều năm tới. Qua đó cũng thể hiện quan điểm và tư duy biện chứng, xuất phát từ thực tiễn của Đảng ta trên cơ sở thấu hiểu sâu sắc sứ mệnh, chức năng của văn học, nghệ thuật.
Thế nhưng, chịu sự tác động của âm mưu “diễn biến hòa bình” và bản thân “tự diễn biến” theo chiều hướng xấu, một số văn nghệ sĩ đã chỉ chú trọng “phanh phui” mặt tiêu cực, góc tối, cái xấu của xã hội và con người với một giọng điệu giễu nhại đầy ác ý và vô cảm. Số lượng “tác phẩm” loại này không nhiều nhưng tác hại lại rất lớn, vì nó đánh phá vào niềm tin của con người, nó dẫn dụ một bộ phận cán bộ, quần chúng tự tách mình ra khỏi cuộc sống, tự coi mình là vô can để có quyền phủ định, giễu nhại, phán xét. Đó chính là những kẻ cơ hội chính trị trong hoạt động văn hóa, văn nghệ.
Thực tiễn cho thấy, từ khi chúng ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, đã xuất hiện những phần tử cơ hội. Họ tự tách ra khỏi đội ngũ, tỏ ra lo lắng nhưng huênh hoang coi mình là sáng suốt rồi khoái trá đầy ác ý chờ đợi sự thất bại mới của những người không quản nguy hiểm, dũng cảm khai phá con đường mới.
Những năm trước đây, do hoàn cảnh chiến tranh và do hạn chế chủ quan, chúng ta chưa có sự đánh giá khách quan, toàn diện về mảng văn hóa, văn nghệ ở miền Nam vùng Mỹ - ngụy chiếm đóng. Đó là một tổng thể phức tạp bao gồm nhiều khuynh hướng khác nhau, tiến bộ và lạc hậu, cách mạng, yêu nước và phản động, dân tộc và ngoại lai... Những năm gần đây, chúng ta bắt đầu có cách nhìn mới, tạo dựng sự hòa hợp để tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ mục tiêu trong sáng đó, chúng ta đã và đang nhìn nhận lại và có những đánh giá mới, tìm ra những giá trị tốt đẹp, tiến bộ, yêu nước, tinh thần dân tộc, nhân văn trong một số tác phẩm của mảng văn hóa, văn nghệ trên. Công việc đó chưa thể hoàn kết. Song lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và cả những người thiếu sự tỉnh táo đã tái bản và đề cao thiếu chọn lọc cả những tác phẩm có ý đồ chính trị và tư tưởng sai lầm, phản dân tộc, chống chế độ. Người ta tưởng rằng, nhân dịp này có thể đánh tráo trắng - đen, phải - trái, để truyền bá trong công chúng những tác phẩm như vậy nhằm “chiêu tuyết” một số tác phẩm, tác giả đã bị lịch sử, nhân dân phê phán. Đây là một loại hoạt động tinh vi trong âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Ở một vài trường đại học, việc xuất hiện khuynh hướng chọn các tác phẩm trên làm đề tài nghiên cứu luận văn, luận án cho thấy chúng ta còn lơ là, chủ quan với xu hướng có tác hại lâu dài này. Để làm rõ ý đồ xấu của những kẻ lợi dụng trên, xin trích một đoạn trong bài viết của Thu Tứ - con trai của Võ Phiến, một nhà văn đã có những biểu hiện, quan điểm chính trị sai lầm trong một số sáng tác của mình ở miền Nam thời chống Mỹ: “Chẳng ai muốn chỉ ra cái sai của người đẻ ra mình! Chúng tôi làm việc này vì vừa được biết một tổ chức phi chính quyền trong nước đang có kế hoạch tích cực phổ biến những tác phẩm của nhà văn Võ Phiến chứa đựng nội dung chính trị sai lầm. E rằng việc làm của họ có thể khiến một số người đọc hoang mang, ảnh hưởng tới đoàn kết dân tộc, chúng tôi quyết định tự mình phản bác nội dung này... Sẽ hết nhóm nọ đến phe kia những lúc nào đó đem vận dụng văn nghiệp Võ Phiến một cách có hại cho đất nước. Phải làm cho thật rõ về cái phần nội dung chính trị sai lầm trong văn nghiệp ấy ngay từ bây giờ”(1).
5- Hiện nay, nước ta đang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, là bạn và đối tác tin cậy, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đó là một đòi hỏi và cũng là nhu cầu khách quan. Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, in-tơ-nét,... đang tác động hằng ngày vào nước ta, đem lại những tri thức mới, hiện đại, cập nhật, đồng thời cũng du nhập vào nước ta những sản phẩm độc hại, phản văn hóa, phản thẩm mỹ và phản động về mặt tư tưởng. Đây là con đường mà các thế lực thù địch trong và ngoài nước, những phần tử cơ hội tìm cách “nhập khẩu” những quan điểm thù địch, sai trái vào nước ta, trong đó có không ít những sản phẩm văn hóa, văn nghệ. Một bộ phận quần chúng, nhất là thanh niên đang bị chi phối bởi các sản phẩm loại đó, nhất là trên các trang điện tử, mạng xã hội và trong hoạt động xuất bản. Không ít bản thảo không được xuất bản bằng các bản in chính thống đã được đưa lên mạng, gây nhiễu loạn trong nhận thức chính trị và cảm thụ thẩm mỹ của một bộ phận “cư dân” mạng. Nếu không có sự tỉnh táo và biện pháp cương quyết thì sẽ có nhiều loại sản phẩm kiểu đó tiếp tục xuất hiện.
Mỗi người hãy là một tuyên truyền viên phòng chống Covid-19 ngay trên Facebook của mình
Facebook của bạn hôm nay có rảnh lúc nào để lên tiếng cùng Chính Phủ và Bộ Y Tế không? Hãy bắt đầu từ chính bạn bè FB của mình.
1. Hãy kêu gọi mọi người không tụ tập đông người, không ra đường nếu không thực sự cần thiết. Hãy thả phẫn nộ vào những status kêu gọi tụ tập ăn chơi hay những hình ảnh họp nhóm đông người để bày tỏ thái độ của bạn!
2. Hãy nhắc nhở bạn bè của bạn ra đường bắt buộc phải đeo khẩu trang. Ở Ấn Độ người ta phạt roi những ai không đeo khẩu trang. Ở Việt Nam, nghị định xử phạt hành chính từ 1.000.000 đến 3.000.000 với các trường hợp không đeo khẩu trang khi ra nơi công cộng.
3. Đừng kỳ thị những người đang tự cách ly. Họ là những người tuân thủ tự giác rồi. Với gần 50.000 người đang tự cách ly, họ có thể là bạn bè người thân của bạn. Hãy động viên họ. Hãy lên án những kẻ trốn cách ly.
4. Hãy nhắc bạn bè rửa tay thường xuyên và giữ khoảng cách tối thiểu 1 mét đến 2 mét khi đi chợ, xếp hàng.
5. Khai báo y tế, kêu gọi bạn bè khai báo y tế với các trường hợp nhập cảnh từ 8/3 đến nay.
6. Đừng đi đâu cả. Hãy ở yên trong nhà tránh làm xáo trộn nỗ lực chống dịch của chính phủ và bộ y tế.
7. Hãy kêu gọi đóng góp tài chính cho cuộc chiến này. Hiện tại nguồn tài chính quyên góp được đã lên tới 500 tỷ. Hãy cảm ơn những mạnh thường quân bằng việc sử dụng các sản phẩm của họ.
8. Đừng share những tin tức gây hoang mang dư luận khiến chính những người thân của bạn cũng âu lo theo.
9. Đừng nghi ngờ bất kể sự tử tế nào hay những người đóng góp cho cuộc chiến. Bất kể thế nào họ cũng đang HÀNH ĐỘNG chứ không phải chỉ nói suông.
10. Giữ cho chính bản thân bạn sự BÌNH TĨNH vì bạn bình tĩnh bạn sẽ mạnh mẽ để người thân của bạn yên tâm hơn."
Copy cũng được. Share cũng được. Xin hãy dành ít nhất 1 status lan truyền đi tinh thần chống dịch của bạn. Mỗi Facebook sẽ là một chiến binh ra trận góp sức cùng Chính phủ và Bộ Y tế
MINH TIẾN
Nắng nóng đặc biệt gay gắt, tới 40 độ C, có thể kéo dài đến cuối tuần
Khu vực Sơn La, Hòa Bình, trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, khu vực từ Thanh Hóa-Phú Yên có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, với nhiệt độ cao nhất phổ biến 37-40 độ C.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, do ảnh hưởng của rìa phía Nam rãnh áp thấp có trục ở khoảng 23-25 độ vĩ Bắc nối với vùng áp thấp nóng phía Tây kết hợp với hiệu ứng phơn nên ngày 1/6, ở khu vực Sơn La, Hòa Bình, trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, khu vực từ Thanh Hóa-Phú Yên có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 37-40 độ C.
Có nơi trên 40 độ C như Hòa Bình, Lạc Sơn (Hòa Bình), Láng (Hà Nội), Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Tây Hiếu (Nghệ An), Đô Lương (Nghệ An), Đông Hà (Quảng Trị), Ba Tơ (Quảng Ngãi)...
Các nơi khác ở Bắc Bộ có nắng nóng với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35-37 độ C, có nơi trên 40 độ C.
Độ ẩm tương đối thấp nhất trong đợt nắng nóng này phổ biến 40-60%. Thời gian có nhiệt độ trên 35 độ C từ 10-19 giờ.
Cảnh báo, đợt nắng nóng này có khả năng kéo dài đến khoảng ngày 4-5/6.
Do ảnh hưởng của nắng nóng kết hợp với độ ẩm trong không khí giảm thấp và gió Tây Nam gây hiệu ứng phơn thổi mạnh nên có nhiều nguy cơ xảy ra cháy nổ và hỏa hoạn ở khu vực dân cư do nhu cầu sử dụng điện tăng cao và nguy cơ cao cháy rừng ở các tỉnh Trung Bộ.
Ngoài ra, nắng nóng còn có thể gây tình trạng mất nước, kiệt sức, đột quỵ do sốc nhiệt đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nền nhiệt độ cao. Cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng cấp 1.
Thời tiết các khu vực ngày và đêm 1/6: Phía Tây Bắc Bộ ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi, gió nhẹ, trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét và gió giật mạnh. Nhiệt độ thấp nhất 26-29 độ C, riêng Điện Biên-Lai Châu 22-25 độ C; cao nhất 36-39 độ C, có nơi trên 40 độ C; riêng Lai Châu, Điện Biên 33-36 độ C.
Phía Đông Bắc Bộ ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt, riêng trung du, đồng bằng có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt; chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi, trong mưa dông có khả năng xảy ra , sét và gió giật mạnh. Gió Nam cấp 2-3. Nhiệt độ thấp nhất 27-30 độ C, có nơi trên 30 độ C; cao nhất 36-39 độ C, có nơi trên 40 độ C.
Hà Nội ngày nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt; chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi, trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét và gió giật mạnh. Gió Nam cấp 2-3. Nhiệt độ thấp nhất 29-31 độ C, cao nhất 38-40 độ C.
Các tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên-Huế ngày nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi, trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét và gió giật mạnh. Gió Tây Nam cấp 2-3. Nhiệt độ thấp nhất 27-30 độ C, có nơi trên 30 độ C; cao nhất 37-40 độ C, có nơi trên 40 độ C.
Các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng-Bình Thuận ngày nắng, riêng phía Bắc có nắng nóng và nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt; chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi, trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét và gió giật mạnh. Gió Tây Nam đến Nam cấp 2-3. Nhiệt độ thấp nhất 26-29 độ C, cao nhất phía Bắc 36-39 độ C, có nơi trên 40 độ C; phía Nam 32-35 độ C.
Khu vực Tây Nguyên ngày nắng, riêng phía Bắc có nắng nóng và nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi, trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét và gió giật mạnh. Gió Tây Nam đến Nam cấp 2-3. Nhiệt độ thấp nhất 22-25 độ C, cao nhất 31-34 độ C, có nơi trên 35 độ C.
Khu vực Nam Bộ ngày nắng, có nơi có nắng nóng, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi, trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét và gió giật mạnh. Gió Tây Nam cấp 2-3. Nhiệt độ thấp nhất 25-28 độ C, cao nhất 32-35 độ C, có nơi trên 35 độ C.
A dua - căn bệnh cần chữa trị, không để bị lợi dụng chống phá
Ngạn ngữ có câu: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” để nhắc nhau phải thận trọng trong phát ngôn. Nhưng trong thời đại bùng nổ thông tin, nhất là trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tình trạng phát ngôn bừa bãi diễn ra khá phức tạp
Không chỉ đơn giản là nói cho sướng miệng, đáng ngại nhất là tình trạng phát ngôn bừa bãi, tung tin thất thiệt, bóp méo sự thật, vu khống, đặt điều nhằm ý đồ xấu, hoặc xuất phát bởi động cơ cá nhân, sự ích kỷ trong lối sống... Tình trạng trên càng trở nên nguy hiểm khi không ít người mắc bệnh a dua, hùa theo những phát ngôn bừa bãi ấy. Căn bệnh này sẽ càng trở nên nguy hiểm khi các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động, mua chuộc, lôi kéo tập hợp lực lượng chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, thói a dua được hiểu là hùa theo, bắt chước... (tất nhiên chỉ hùa theo cái xấu, cái tiêu cực, sai trái thì mới được gọi là a dua). Ở đây chúng ta cần phân định cho rõ việc ủng hộ, giúp đỡ cái mới, cái tốt, cái tích cực với a dua hùa theo những cái xấu, cái tiêu cực. Bệnh a dua đã có từ rất lâu. Trong xã hội hiện đại, trước sự nhiễu loạn của truyền thông, nhất là mạng xã hội (MXH) thì căn bệnh a dua ngày càng trở nên trầm trọng. Rõ nhất là tình trạng trong khi đại đa số người dân luôn tích cực lao động, học tập, tìm tòi, sáng tạo để vượt khó vươn lên trong cuộc sống thì có một bộ phận không chịu động não mà a dua, học đòi, chạy theo những lối suy nghĩ, mốt làm ăn, phong cách sống mà họ cho đó là “thời thượng”. Đặc biệt trong giới trẻ hiện nay, thói a dua là thói bắt chước, đua đòi theo những giọng điệu, những trào lưu, những phong cách sống lai căng, quái dị, ngày càng rõ nét.
Người mắc bệnh a dua là những người không nói ra, không viết ra từ nhận thức, quan điểm, chính kiến của cá nhân mình mà theo đuôi, phụ họa theo cách nhìn nhận, quan điểm của người khác. Mặc dù quan điểm, nhận thức của mỗi người có đúng, có sai, nhưng nhiều người a dua mà không cần suy xét đến tính đúng sai, đạo lý và pháp lý mà nhìn nhận mọi chuyện cho ngọn ngành, thấu đáo và nhân văn. Những người như thế chẳng khác nào họ đang nhắm mắt chạy theo, hùa theo kẻ xấu một cách mù quáng. Cụ thể là hùa theo, phụ họa theo những suy nghĩ, phát ngôn, hành động của đám đông. Bởi thế, người mắc bệnh a dua sẽ đánh mất mình một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất. Hay nói cách khác, khi đã mắc bệnh a dua, con người tức khắc đánh mất lòng tự trọng, ý thức tự tôn của mình. Thực chất a dua xét cho cùng là bệnh của kẻ yếu hèn, của kẻ xu nịnh "gió chiều nào che chiều ấy". Dễ nhận thấy bệnh a dua chỉ xuất hiện ở những kẻ yếu cả về phẩm chất và trình độ, năng lực. Chính sự hèn yếu đã đẩy kẻ mắc bệnh a dua đến chỗ thiếu tự tin, thiếu bản lĩnh và lệ thuộc vào người khác, bị người khác thao túng, nhưng không tự biết mà cứ lao vào tung hô xem những người đó nói gì cũng là lẽ phải. Cứ như thế, từng bước kẻ mắc bệnh a dua sẽ mất khả năng nhìn nhận, suy xét các vấn đề, nhất nhất "ăn theo nói leo" , bất luận lời nói, hành động của họ đúng-sai.
Trong cuộc sống, bệnh a dua xuất hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi ngõ ngách từ cách ăn mặc, đi đứng, phát ngôn. Những người mắc bệnh a dua không phân biệt được đúng-sai, hay-dở, cứ thấy người ta sao thì mình theo vậy. Chính sự theo đuôi mù quáng của những kẻ mắc bệnh a dua đã làm cho cái xấu, cái sai nhỏ bị loang rộng, đẩy lên và hậu quả thật khôn lường. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi thói a dua được lợi dụng một cách tinh vi, rất có thể sẽ trở thành phương pháp tập hợp, lôi kéo lực lượng rất nguy hiểm.
Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra, đó là căn bệnh a dua với biểu hiện cụ thể là: “Phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”. Đúng như nhận định của Ban Chấp hành Trung ương, những năm qua, trên MXH xuất hiện nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo, thổi phồng mà không ít đảng viên và một bộ phận nhân dân đã đọc, đã nghe nhưng không phân biệt được đúng-sai, hay-dở mà nhiều người đã có biểu hiện dao động, mất lòng tin, dẫn tới hùa theo và xa hơn là “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa", suy thoái về tư tưởng chính trị.
Nhận thấy rõ khả năng có thể lợi dụng thói a dua để khai thác, tổng hợp thông tin từ đó xuyên tạc, bóp méo, thổi phồng nhằm đánh lừa dư luận; kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng, nên những phần tử phản động, thù địch triệt để lợi dụng căn bệnh này để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Những thông tin chưa được kiểm chứng, những thông tin sai trái từ phát biểu bừa bãi của một số nhân vật và những người a dua, hùa theo trên MXH được các thế lực thù địch tổng hợp, nhào nặn nhằm tạo ra thông tin mà nghe qua người ta dễ lầm tưởng là có cơ sở khách quan, sau đó họ từng bước cài vào những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thổi phồng, bóp méo nhằm đánh lừa dư luận, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Họ triệt để khai thác thế mạnh của internet và MXH để lan truyền những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc sự thật thu lượm từ những người phát ngôn bừa bãi, từ những kẻ a dua, “ăn theo nói leo” làm cho đúng sai, thật giả lẫn lộn, khiến dư luận hoang mang. Những người hay phát biểu bừa bãi, những kẻ hay a dua hùa theo những phát ngôn bừa bãi trở thành đối tượng để các thế lực thù địch dụ dỗ, mua chuộc, kích động, lôi kéo và khống chế, nhằm phục vụ mưu đồ thâm độc của chúng.
Âm mưu lợi dụng những người phát ngôn bừa bãi, những kẻ a dua “ăn theo nói leo” để chống phá cách mạng Việt Nam của các phần tử phản động, thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp. Chúng tranh thủ hà hơi tiếp sức, kích động và sử dụng những đối tượng có tư tưởng xét lại chống Đảng, những phần tử cơ hội chính trị ngay trong nội bộ ta để chống phá. Trong đó, chúng tập trung vào lôi kéo, tập hợp số cán bộ đã nghỉ hưu vào các câu lạc bộ, diễn đàn, hội đoàn. Đặc biệt, chúng tranh thủ lôi kéo, kích động một bộ phận cán bộ, đảng viên mất phương hướng, cơ hội chính trị, yếu kém bản lĩnh để móc nối câu kết giữa bọn phản động ở nước ngoài với những phần tử bất mãn trong nước. Chẳng hạn trong vụ gây rối ở Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Trung, từ những phát ngôn sai trái của linh mục Nguyễn Đình Thục, tổ chức phản động Việt Tân, mà điển hình là tên phản động Hoàng Đức Bình (một đối tượng nguy hiểm mang nặng dã tâm cùng mưu đồ chống phá, gây bạo loạn hòng lật đồ Nhà nước Việt Nam) đã kích động căn bệnh a dua trong giáo dân để hô hào, hùa theo, xuyên tạc, bóp méo về diễn biến vụ việc, kích động giáo dân gây sức ép với chính quyền và cơ quan chức năng địa phương. Tất nhiên Hoàng Đức Bình đã bị bắt và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành động của mình. Nhưng qua vụ việc này, phần nào cho thấy tính chất nguy hiểm của căn bệnh a dua, đặc biệt là khi căn bệnh này bị những phần tử phản động, thù địch lợi dụng.
Không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng căn bệnh a dua để chống phá, trước hết chúng ta cần tìm cách chữa trị căn bệnh này. Công việc cần thiết trước nhất cần nói đến đó là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, giúp mọi người tham gia vào không gian mạng nhận diện đúng bản chất và tính phức tạp, nhiễu loạn của các thông tin trên MXH. Mặt khác, cần tuyên truyền để mọi người dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng căn bệnh a dua để truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch, phản động. Thông qua tuyên truyền, giáo dục nâng cao sức đề kháng và khả năng “miễn dịch” cho mỗi người vẫn là giải pháp quan trọng, căn cơ để chúng ta từng bước khắc phục căn bệnh a dua và âm mưu lợi dụng căn bệnh này để chống phá của các thế lực thù địch.
Truyền thông xã hội nói chung, MXH nói riêng giống như “cái chợ” và khi tham gia vào “cái chợ” ấy ta phải chấp nhận ở đó tất thảy mọi thông tin: Tốt có, xấu có; đúng có, sai có; thuận chiều có và trái chiều có... Để không biến mình thành kẻ a dua, theo đuôi, không đánh mất mình khi vào “chợ thông tin” này, điều quan trọng hơn là chúng ta phải luôn giữ thế chủ động thông tin. Trước mỗi sự kiện, vấn đề, nhất là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, thông qua các phương tiện truyền thông chính thống, các cơ quan chức năng cần cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết đến người dân. Thực tiễn cho thấy chủ động dẫn dắt, định hướng thông tin trên không gian mạng là phương cách hữu hiệu để phòng ngừa những phát biểu bừa bãi và thói a dua vào hùa nhằm mục đích xấu. Đi cùng với đó, mỗi chúng ta phải tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai, đâu là thông tin không có cơ sở; đâu là thông tin hữu ích, thông tin xấu độc...
Trong thế giới phẳng, mỗi người chúng ta cần hết sức cẩn trọng trong mỗi phát ngôn, mỗi bài viết khi tung lên các phương tiện truyền thông xã hội. Trước mỗi phát ngôn, mỗi hành vi, sự việc nghe được, bắt gặp trong đời sống, mỗi người chúng ta trước khi bày tỏ thái độ, quan điểm cần có sự suy xét, nhìn nhận và lý giải cho thấu đáo, để ứng xử nhân văn và không đánh mất mình. Mặt khác, mỗi người bằng các công cụ có sẵn hoàn toàn có thể điều tiết được các mối quan hệ của mình trên MXH để sàng lọc, chia sẻ, bình luận trong chừng mực nhất định. Khi mọi người tỉnh táo, sáng suốt trong sàng lọc thông tin, nhận diện và ứng xử phù hợp trước những thông tin xấu độc thì các thế lực thù địch không dễ bề lợi dụng để chống phá. Đây cũng chính là phương cách để mỗi người chúng ta góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái trên không gian mạng./.
A DUA - CĂN BỆNH TRẦM KHA TRONG CỘNG ĐỒNG
Theo Đại từ điển tiếng Việt, thói a dua được hiểu là hùa theo, bắt chước... (tất nhiên chỉ hùa theo cái xấu, cái tiêu cực, sai trái thì mới được gọi là a dua). Ở đây chúng ta cần phân định cho rõ việc ủng hộ, giúp đỡ cái mới, cái tốt, cái tích cực với a dua hùa theo những cái xấu, cái tiêu cực. Bệnh a dua đã có từ rất lâu. Trong xã hội hiện đại, trước sự nhiễu loạn của truyền thông, nhất là mạng xã hội (MXH) thì căn bệnh a dua ngày càng trở nên trầm trọng. Rõ nhất là tình trạng trong khi đại đa số người dân luôn tích cực lao động, học tập, tìm tòi, sáng tạo để vượt khó vươn lên trong cuộc sống thì có một bộ phận không chịu động não mà a dua, học đòi, chạy theo những lối suy nghĩ, mốt làm ăn, phong cách sống mà họ cho đó là “thời thượng”. Đặc biệt trong giới trẻ hiện nay, thói a dua là thói bắt chước, đua đòi theo những giọng điệu, những trào lưu, những phong cách sống lai căng, quái dị, ngày càng rõ nét.
Người mắc bệnh a dua là những người không nói ra, không viết ra từ nhận thức, quan điểm, chính kiến của cá nhân mình mà theo đuôi, phụ họa theo cách nhìn nhận, quan điểm của người khác. Mặc dù quan điểm, nhận thức của mỗi người có đúng, có sai, nhưng nhiều người a dua mà không cần suy xét đến tính đúng sai, đạo lý và pháp lý mà nhìn nhận mọi chuyện cho ngọn ngành, thấu đáo và nhân văn. Những người như thế chẳng khác nào họ đang nhắm mắt chạy theo, hùa theo kẻ xấu một cách mù quáng. Cụ thể là hùa theo, phụ họa theo những suy nghĩ, phát ngôn, hành động của đám đông. Bởi thế, người mắc bệnh a dua sẽ đánh mất mình một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất. Hay nói cách khác, khi đã mắc bệnh a dua, con người tức khắc đánh mất lòng tự trọng, ý thức tự tôn của mình. Thực chất a dua xét cho cùng là bệnh của kẻ yếu hèn, của kẻ xu nịnh "gió chiều nào che chiều ấy". Dễ nhận thấy bệnh a dua chỉ xuất hiện ở những kẻ yếu cả về phẩm chất và trình độ, năng lực. Chính sự hèn yếu đã đẩy kẻ mắc bệnh a dua đến chỗ thiếu tự tin, thiếu bản lĩnh và lệ thuộc vào người khác, bị người khác thao túng, nhưng không tự biết mà cứ lao vào tung hô xem những người đó nói gì cũng là lẽ phải. Cứ như thế, từng bước kẻ mắc bệnh a dua sẽ mất khả năng nhìn nhận, suy xét các vấn đề, nhất nhất "ăn theo nói leo" , bất luận lời nói, hành động của họ đúng-sai.
Trong cuộc sống, bệnh a dua xuất hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi ngõ ngách từ cách ăn mặc, đi đứng, phát ngôn. Những người mắc bệnh a dua không phân biệt được đúng-sai, hay-dở, cứ thấy người ta sao thì mình theo vậy. Chính sự theo đuôi mù quáng của những kẻ mắc bệnh a dua đã làm cho cái xấu, cái sai nhỏ bị loang rộng, đẩy lên và hậu quả thật khôn lường. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi thói a dua được lợi dụng một cách tinh vi, rất có thể sẽ trở thành phương pháp tập hợp, lôi kéo lực lượng rất nguy hiểm.
LỢI DỤNG CĂN BỆNH A DUA ĐỂ CHỐNG PHÁ
Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra, đó là căn bệnh a dua với biểu hiện cụ thể là: “Phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”. Đúng như nhận định của Ban Chấp hành Trung ương, những năm qua, trên MXH xuất hiện nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo, thổi phồng mà không ít đảng viên và một bộ phận nhân dân đã đọc, đã nghe nhưng không phân biệt được đúng-sai, hay-dở mà nhiều người đã có biểu hiện dao động, mất lòng tin, dẫn tới hùa theo và xa hơn là “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa", suy thoái về tư tưởng chính trị.
Nhận thấy rõ khả năng có thể lợi dụng thói a dua để khai thác, tổng hợp thông tin từ đó xuyên tạc, bóp méo, thổi phồng nhằm đánh lừa dư luận; kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng, nên những phần tử phản động, thù địch triệt để lợi dụng căn bệnh này để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Những thông tin chưa được kiểm chứng, những thông tin sai trái từ phát biểu bừa bãi của một số nhân vật và những người a dua, hùa theo trên MXH được các thế lực thù địch tổng hợp, nhào nặn nhằm tạo ra thông tin mà nghe qua người ta dễ lầm tưởng là có cơ sở khách quan, sau đó họ từng bước cài vào những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thổi phồng, bóp méo nhằm đánh lừa dư luận, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Họ triệt để khai thác thế mạnh của internet và MXH để lan truyền những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc sự thật thu lượm từ những người phát ngôn bừa bãi, từ những kẻ a dua, “ăn theo nói leo” làm cho đúng sai, thật giả lẫn lộn, khiến dư luận hoang mang. Những người hay phát biểu bừa bãi, những kẻ hay a dua hùa theo những phát ngôn bừa bãi trở thành đối tượng để các thế lực thù địch dụ dỗ, mua chuộc, kích động, lôi kéo và khống chế, nhằm phục vụ mưu đồ thâm độc của chúng.
Âm mưu lợi dụng những người phát ngôn bừa bãi, những kẻ a dua “ăn theo nói leo” để chống phá cách mạng Việt Nam của các phần tử phản động, thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp. Chúng tranh thủ hà hơi tiếp sức, kích động và sử dụng những đối tượng có tư tưởng xét lại chống Đảng, những phần tử cơ hội chính trị ngay trong nội bộ ta để chống phá. Trong đó, chúng tập trung vào lôi kéo, tập hợp số cán bộ đã nghỉ hưu vào các câu lạc bộ, diễn đàn, hội đoàn. Đặc biệt, chúng tranh thủ lôi kéo, kích động một bộ phận cán bộ, đảng viên mất phương hướng, cơ hội chính trị, yếu kém bản lĩnh để móc nối câu kết giữa bọn phản động ở nước ngoài với những phần tử bất mãn trong nước. Chẳng hạn trong vụ gây rối ở Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Trung, từ những phát ngôn sai trái của linh mục Nguyễn Đình Thục, tổ chức phản động Việt Tân, mà điển hình là tên phản động Hoàng Đức Bình (một đối tượng nguy hiểm mang nặng dã tâm cùng mưu đồ chống phá, gây bạo loạn hòng lật đồ Nhà nước Việt Nam) đã kích động căn bệnh a dua trong giáo dân để hô hào, hùa theo, xuyên tạc, bóp méo về diễn biến vụ việc, kích động giáo dân gây sức ép với chính quyền và cơ quan chức năng địa phương. Tất nhiên Hoàng Đức Bình đã bị bắt và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành động của mình. Nhưng qua vụ việc này, phần nào cho thấy tính chất nguy hiểm của căn bệnh a dua, đặc biệt là khi căn bệnh này bị những phần tử phản động, thù địch lợi dụng.
Đề xuất bỏ yêu cầu bắt buộc về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học
Theo Bộ Nội vụ, sẽ bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ ngoại ngữ của 74 ngạch công chức và 155 chức danh nghề nghiệp viên chức khi tuyển dụng và bổ nhiệm, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức.
Bộ Nội vụ vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong công tác tuyển dụng và bổ nhiệm, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức.
Theo báo cáo trên sẽ bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ ngoại ngữ của 74 ngạch công chức và 155 chức danh nghề nghiệp viên chức; bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ tin học của 74 ngạch công chức và 142 chức danh nghề nghiệp viên chức.
Việc quy định yêu cầu chứng chỉ ngoại ngữ, tin học không còn phù hợp
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã tổ chức họp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan và có công văn đề nghị các bộ quản lý ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành rà soát, báo cáo về chứng chỉ bồi dưỡng đối với công chức, viên chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý; phân loại chứng chỉ bắt buộc và không bắt buộc trong quản lý, hoạt động công vụ, hoạt động nghề nghiệp; xác định sự cần thiết có hay không có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp được giao quản lý.
Qua tổng hợp báo cáo của 15/18 bộ, ngành (còn các Bộ Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường, Lao động-Thương binh và Xã hội chưa báo cáo) cho thấy theo quy định của Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức, quy định của Chính phủ và các bộ, ngành, việc đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức được thực hiện đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý, tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức và bồi dưỡng nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên ngành. Trong đó, có 3 loại chứng chỉ bồi dưỡng yêu cầu bắt buộc đối với công chức, viên chức.
Loại thứ nhất là chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn lãnh đạo, quản lý được thực hiện trước khi bổ nhiệm. Theo yêu cầu tại Chỉ thị số 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức, đến hết năm 2021, 100% cán bộ, công chức, viên chức phải bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý trước khi được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại.
Loại thứ hai là chứng chỉ bồi dưỡng theo yêu cầu của tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức (đây là điều kiện bắt buộc khi thực hiện việc bổ nhiệm hoặc đăng ký dự thi nâng ngạch, chức danh nghề nghiệp), bao gồm: chứng chỉ bồi dưỡng về lý luận chính trị, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, chứng chỉ ngoại ngữ và tin học. Trong đó, chứng chỉ bồi dưỡng về lý luận chính trị chỉ yêu cầu đối với công chức ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương.
Chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước theo ngạch công chức có 66 loại chứng chỉ/79 ngạch công chức, chứng chỉ bồi dưỡng theo chức danh nghề nghiệp viên chức có 145 loại chứng chỉ/189 chức danh nghề nghiệp viên chức. 74/79 ngạch công chức và 155/189 chức danh nghề nghiệp viên chức yêu cầu chứng chỉ ngoại ngữ; 74/79 ngạch công chức và 142/189 chức danh nghề nghiệp viên chức yêu cầu chứng chỉ ngoại ngữ.
Loại thứ ba là chứng chỉ bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm. Theo quy định, chứng chỉ này không yêu cầu bắt buộc phải có khi bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý hoặc bổ nhiệm ngạch, chức danh nghề nghiệp, nhưng là một trong những căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ trong năm của công chức, viên chức.
Qua rà soát các quy định và tổng hợp ý kiến của các bộ, ngành, Bộ Nội vụ nhận thấy, việc bồi dưỡng và cấp chứng chỉ đối với công chức, viên chức được thực hiện từ năm 2003 và đi vào nề nếp. Các chương trình bồi dưỡng đã cung cấp một nền kiến thức chung về quản lý hành chính nhà nước, quản lý chuyên ngành, các kỹ năng làm việc, thực hiện nhiệm vụ, góp phần chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức.
Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng và cấp chứng chỉ đối với công chức, viên chức còn một số hạn chế, tồn tại. Đó là nội dung một số chương trình bồi dưỡng còn nhiều lý thuyết, chưa thật sự bám sát với yêu cầu của vị trí việc làm; còn trùng lặp nội dung giữa các chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp trong cùng một chuyên ngành hoặc trùng với kiến thức đào tạo trong trường đại học.
Việc quy định yêu cầu chứng chỉ ngoại ngữ, tin học không còn phù hợp vì hiện nay các cơ sở đào tạo đã có quy định về việc chuẩn đầu ra phải đạt được trình độ ngoại ngữ, tin học theo các cấp độ tương ứng. Bên cạnh đó, có sự chồng chéo, trùng lắp về nội dung, chương trình bồi dưỡng đối với đội ngũ giáo viên do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
Cắt giảm các quy định về chứng chỉ bồi dưỡng
Bộ Nội vụ cho rằng công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức là cần thiết và phải tăng cường nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Bộ đề nghị bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong công tác tuyển dụng và bổ nhiệm, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức. Đề xuất này nhằm thực hiện chủ trương chung của Đảng, Nhà nước trong đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức, bảo đảm giữa các chương trình đào tạo, bồi dưỡng không trùng lắp về nội dung và phải phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, lấy đối tượng đào tạo, bồi dưỡng làm trung tâm; đẩy mạnh phân cấp trong quản lý nội dung, chương trình, hình thức, thời gian bồi dưỡng; hạn chế yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức.
Theo đề nghị này, sẽ bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ ngoại ngữ của 74 ngạch công chức và 155 chức danh nghề nghiệp viên chức; chứng chỉ tin học của 74 ngạch công chức và 142 chức danh nghề nghiệp viên chức.
Cùng với đó là cắt giảm các quy định về chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức theo hướng tích hợp các chương trình bồi dưỡng có nội dung tương đồng trong cùng một nhóm ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành để tăng cường bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm. Theo đó, Bộ Nội vụ đề xuất giảm 17 chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức và 87 chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức.
Bộ Nội vụ kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo hướng, không quy định cụ thể các chương trình bồi dưỡng theo các ngạch công chức hoặc hạng viên chức; thời hạn mỗi chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp không quá 8 tuần; nội dung, chương trình, hình thức, thời gian bồi dưỡng do Bộ quản lý chuyên ngành quy định cụ thể. Quy định việc bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý được thực hiện trước hoặc sau khi bổ nhiệm (thực hiện tương tự như bồi dưỡng về kiến thức quốc phòng và an ninh).
Chính phủ sửa quy định về bồi dưỡng theo vị trí việc làm, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm là căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức, viên chức. Sửa đổi quy định về việc sử dụng chứng chỉ bồi dưỡng, chỉ quy định về việc thay thế giữa các loại chứng chỉ, còn việc sử dụng chứng chỉ bồi dưỡng trong công tác tuyển dụng, nâng ngạch, thăng hạng hoặc bổ nhiệm sẽ được quy định tại các văn bản khác của Chính phủ có liên quan đến công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức.
Bộ Nội vụ cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ quản lý ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung các thông tư quy định về tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức được giao quản lý theo hướng không yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học; nghiên cứu quy định về chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước theo ngạch công chức, chứng chỉ bồi dưỡng theo chức danh nghề nghiệp cho phù hợp với yêu cầu, tính chất hoạt động nghề nghiệp của công chức, viên chức; xem xét lồng ghép các chương trình bồi dưỡng do bộ quản lý chuyên ngành quy định.
Đồng thời, rà soát, sửa đổi các chương trình bồi dưỡng đối với công chức, viên chức chuyên ngành được giao quản lý để tránh trùng lắp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng theo quy định mới tại Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 101/2017/NĐ-CP./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)