Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Mô hình kinh tế thị trường thể hiện rõ sự kế thừa, bổ sung, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam


Nội hàm, bản chất nền kinh tế thị trường của nước ta đã được làm sáng tỏ, có điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm hướng tới mục tiêu chung - cao nhất là xây dựng nước Việt Nam: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", mang lại hạnh phúc, ấm no cho toàn thể nhân dân. Mục tiêu này là phản ánh nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại.

Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII diễn ra vào thời điểm toàn Đảng và toàn dân ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ đã được đề ra trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đạt được nhiều thành quả rất quan trọng và tạo nhiều dấu ấn nổi bật, tô đậm thêm những thành tựu sau 35 đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, quán triệt quan điểm chỉ đạo xuyên suốt: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sẽ đưa nước ta trở thành nước phát triển với thu nhập cao. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đó, Báo cáo chính trị và báo cáo chuyên đề đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021 - 2030. Trong đó, một trong những định hướng nổi bật hàng đầu là: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững đất nước; hoàn thiện toàn diện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa….

Trải qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội, nội dung, mô hình "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Đảng ngày càng được định hình rõ nét. Tại Đại hội IX, Đảng ta lần đầu tiên nêu khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Đến Đại hội X và XI, tiếp tục được điều chỉnh, làm rõ hơn nội hàm "được sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội". Đại hội XII bổ sung, điều chỉnh thêm cho phù hợp yêu cầu của thực tiễn: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Sự thay đổi ở đây là nhấn mạnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được "vận hành đầy đủ, đồng bộ" theo các quy luật của kinh tế thị trường, hạn chế, đi đến xóa bỏ sự can thiệp hành chính, mang tính chất chủ quan của các cơ quan quản lý nhà nước, tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy luật kinh tế; coi kinh tế thị trường là cơ chế vận hành của toàn bộ nền kinh tế, quyết định việc phân bổ mọi nguồn lực đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, để đáp ứng và phù hợp với thực tiễn, Đại hội xác định "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" nhưng phải "đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước".

 

Đến Đại hội XIII, mô hình kinh tế thị trường thể hiện rõ sự kế thừa, bổ sung, phát triển của Đảng. Lần này, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước". Đảng ta bổ sung đặc điểm "nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế" là phù hợp với thực tiễn quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và yêu cầu hiện đại hóa nền kinh tế hiện nay.

Như vậy, nội hàm, bản chất nền kinh tế thị trường của nước ta đã được làm sáng tỏ, có điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm hướng tới mục tiêu chung - cao nhất là xây dựng nước Việt Nam: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", mang lại hạnh phúc, ấm no cho toàn thể nhân dân. Mục tiêu này là phản ánh nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại.

Với mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục xuyên tạc, hướng đến bác bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Họ cho rằng: kinh tế thị trường mang tính tự phát do đó sẽ phát triển không ổn định. Tính chất tư nhân của sản xuất do các chủ thể hoạt động cạnh tranh quyết liệt, không lành mạnh, nên thường xuyên tạo ra sự mất cân đối, bất hợp lý ở tầm vĩ mô, làm giảm hiệu quả trên quy mô nền kinh tế quốc dân. Họ cho rằng, phát triển kinh tế thị trường thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cụ thể là ở Việt Nam, chủ trương gắn kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa là không có cơ sở khoa học, bởi chúng đối lập nhau như nước với lửa, không thể dung hòa, không thể "ghép đôi". Thậm chí, theo họ, sự kết hợp một cách "khiên cưỡng" đó đã dẫn đến tình trạng tụt hậu xa về kinh tế và càng làm càng thất bại. Cùng với đường lối sai lầm đó, họ thổi phồng rằng, những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, thất thoát tài sản, kiểu làm ăn kém hiệu quả sẽ đưa nước ta tới tình trạng "khủng hoảng toàn diện".

Gần đây, trước và sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trên một số diễn đàn, tiếp tục xuất hiện những luận điệu phủ nhận sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoặc cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một "khái niệm mơ hồ", thực hiện nó thì nền kinh tế không phát triển… và "kiến nghị không nên để cụm từ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong văn kiện Đại hội XIII". Sự thật là, họ đã cố tình xuyên tạc, làm ngơ với những nỗ lực, những kết quả mà nền kinh tế thị trường dưới sự định hướng, can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã mang lại. Chúng ta hoàn toàn có thể bác bỏ những luận điệu sai trái này bằng những luận cứ khoa học.
Trước hết, cần khẳng định rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm của nhân loại, được hình thành, phát triển gắn liền với quá trình xã hội hóa sản xuất. Với những đặc trưng riêng, kinh tế thị trường có những ưu thế hơn hẳn so với kinh tế tự nhiên và cơ chế quản lí hành chính, bao cấp. Cơ chế thị trường rất năng động, đáp ứng nhanh nhất, tốt nhất các nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao chất lượng sống của con người. Kinh tế thị trường sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả; duy trì động lực mạnh mẽ cải tiến kĩ thuật, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm. Đây là ưu điểm nổi bật của kinh tế thị trường. Mặt khác, do tính cạnh tranh cao nên kinh tế thị trường đã loại bỏ được nhanh chóng những nhân tố lạc hậu, không hiệu quả, khuyến khích các nhân tố tích cực, mở rộng quy mô hoạt động, sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế phát triển. 

Như vậy, kinh tế thị trường là một thành quả - sản phẩm của nhân loại góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Bởi vậy, bất kỳ nước nào, nhất là một nước đi sau, đang trong quá trình phát triển như Việt Nam, thì việc tận dụng những thành tựu của nhân loại để đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước là một tất yếu. Tuy nhiên, là một thực thể, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật, mặt trái, có tính tiêu cực.. , làm nảy sinh các vấn đề xã hội như: phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội, tình trạng cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường; nảy sinh những vấn đề mang tính toàn cầu: khủng hoảng tài chính, tiền tệ, khủng hoảng lương thực, khủng bố quốc tế,… gây ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam.

Những khuyết tật này là điều không mong muốn trong quá trình phát triển của các quốc gia; đặc biệt với Việt Nam, nó đối lập hoàn toàn với mục tiêu cụ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, sự can thiệp, định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước vào nền kinh tế nhằm khắc phục những tác động tiêu cực, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra là điều không cần bàn cãi. Những năm gần đây, căn cứ vào những nét tương đồng và khác biệt, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và đặc điểm của mỗi nước, sự vận hành kinh tế thị trường trên thế giới cũng được chia làm nhiều loại: mô hình kinh tế thị trường tự do (điển hình là Anh, Mỹ), mô hình kinh tế thị trường xã hội (Đức, Pháp, Thụy Điển), mô hình kinh tế thị trường nhà nước phát triển ở châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc…). Vận dụng phù hợp với định hướng chính trị của mình, Việt Nam lựa chọn "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".

Thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công  bằng, văn minh. Thực tế đã chứng minh, quá trình phát triển của kinh tế thị trường tự do đã làm cho những khuyết tật của nó ngày càng phức tạp, trầm trọng, trở thành nhân tố cản trở sự phát triển của nền sản xuất, cản trở việc thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, việc "can thiệp" của nhà nước đối với nền kinh tế là cần thiết, tất yếu nhằm khắc phục các khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, định hướng nền kinh tế. Mặt khác, xu hướng toàn cầu hóa, phát triển dựa vào tri thức, sự xuất hiện của doanh nghiệp qui mô lớn, sự hình thành khu vực kinh tế nhà nước và sự "can thiệp" của nhà nước vào nền kinh tế với vai trò điều tiết, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đồng bộ, ổn định, các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh, phát triển trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trở thành đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường hiện đại. Như vậy, việc "can thiệp" của nhà nước nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế thị trường là một tất yếu.

Từ năm 1986, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Sau 35 năm thực hiện cơ chế kinh tế mới, nền kinh tế - xã hội nước ta đã phát triển năng động, năng suất lao động tăng trưởng nhanh hơn, lợi ích của các chủ thể được đáp ứng, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Cụ thể là, Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Giai đoạn 2002-2019, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6%. Số hộ nghèo hiện nay chủ yếu tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Một bằng chứng sinh động và thuyết phục là, năm 2020 là năm "bóng tối" bao phủ nền kinh tế thế giới, kể cả những nền kinh tế lớn, song nền kinh tế Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng đáng tự hào. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và thiên tai gây hậu quả nặng nề, nền kinh tế nước ta không những không bị suy thoái, mà tổng sản phẩm (GDP) trong nước vẫn tăng 2,91%, đưa Việt Nam vào nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Sự thành công đáng ghi nhận này, theo nhiều chuyên gia kinh tế là nhờ vào mô hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình này thể hiện rõ tính chủ động, khả năng tự chủ, phản ứng chính sách và phản ứng thị trường có hiệu quả. Cùng với sự điều chỉnh chính sách kinh tế, sự thích ứng kịp thời, chúng ta đã rất thành công trong việc kiểm soát sự lây lan của dịch Covid-19. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyền lực Nhà nước tập trung, thống nhất đã giúp cho chính quyền Trung ương có đủ sức mạnh và thẩm quyền để ban hành các quyết định quan trọng, vừa đảm bảo phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế trong điều kiện cho phép. Mặt khác, với mục tiêu hết sức nhân văn, đặt sức khỏe và tính mạng của người dân lên trên lợi ích kinh tế, sẵn sàng chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Chính phủ Việt Nam. Nguyên tắc này phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của đông đảo nhân dân, từ đó tạo được sự tin tưởng, đồng hành, ủng hộ tối đa của các tầng lớp nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. 

Như vậy, việc can thiệp, định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường những năm qua đã mang lại những lợi ích rất thiết thực, cụ thể, hiệu quả, giúp cho nền kinh tế tránh được những rủi ro và tăng trưởng trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức. Những con số biết nói, sự tiến bộ trên mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục, y tế… chính là những minh chứng bác bỏ một cách thuyết phục sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất đã thể hiện rõ tính ưu việt, tạo môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế. Đó là một hiện thực không thể phủ nhận.

Ghi nhận thành công của Việt Nam trong công cuộc phát triển kinh tế và phòng chống đại dịch covid, hãng thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (BBC) đã khẳng định: Việt Nam đã xử lý kiên quyết, chặt chẽ và ngay từ đầu với đại dịch Covid-19, nhờ đó hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Như là một thắng lợi kép, Việt Nam đã phát triển kinh tế trở lại trong khi thế giới còn đầy rẫy khó khăn. Kết quả là, Việt Nam vượt qua Singapore và Malaysia để vào tốp 4 nền kinh tế hàng đầu Đông Nam Á, thậm chí Quỹ Tiền tệ quốc tế còn cho rằng Việt Nam đã ở trong tốp 3, vượt qua Philippines về mức độ thịnh vượng, và cả về tổng sản phẩm quốc nội thu nhập tính theo đầu người... Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản (JCER) còn dự báo với khả năng hồi phục và bật dậy nhanh chóng sau dịch Covid-19, Việt Nam sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2023 và là nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á sau Indonesia vào năm 2035. Cũng là thời điểm Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan, theo JCER. Đấy không phải là sự so sánh quá lạc quan. Điều mà chúng tôi thấy được là Việt Nam đã không bị hụt hơi do hoàn cảnh và đó là tin tốt đối với một nền kinh tế vốn và vẫn còn đang ở trình độ thấp.

Ngoài ra, vấn đề tạo việc làm cho người lao động, không phân biệt tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, trình độ học vấn, giới tính…; xóa đói giảm nghèo; phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm phát triển toàn diện con người, tạo động lực cho sự phát triển; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường, tạo tiền đề để tăng trưởng bền vững. Tất cả những mục tiêu trên thể hiện bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa, không đối đầu với kinh tế thị trường mà trái lại, tạo động lực vì sự phát triển bền vững, phát triển vì con người.

Có thể nói, những thành quả sau 35 năm đổi mới, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã khẳng định đó là một quá trình tất yếu kinh tế, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước. Thành quả đó đã được thế giới ghi nhận.

Những kết quả đạt được thông qua các con số thống kê nói trên, cùng với những nhận định đánh giá khách quan của các tổ chức quốc tế, cơ quan thông tấn quốc tế đã minh chứng cho hiệu quả của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và khẳng định "lời khuyên", những luận điệu muốn Việt Nam từ bỏ bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế thị trường là hoàn toàn không có cơ sở, cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục thành công, hiện nay, Đảng ta vẫn tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo với những định hướng, nhiệm vụ cụ thể như: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, điều chỉnh, bổ sung hệ thống hành lang pháp lý…; đặc biệt luôn bám sát thực tiễn để đổi mới, sáng tạo. Kiên trì theo đuổi mục tiêu, đặt lợi ích của nhân dân là tối thượng, với mục tiêu xuyên suốt mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ ra: Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế và Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển sẽ là những nguyên tắc bất di bất dịch đảm bảo thực hiện thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước phát triển, "sánh vai với các cường quốc năm châu" như Bác Hồ hằng mong ước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và khát vọng vì một Việt Nam hùng cường của dân tộc Việt Nam, chúng ta tin tưởng rằng Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển thu nhập cao vào năm 2045.

 


Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo

 


Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.

Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?

Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.

Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.

Bóp méo, xuyên tạc lịch sử là có tội với dân tộc


Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vừa kỷ niệm 46 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2021). Trong dịp này, trên BBC tiếng Việt và một vài mạng xã hội xuất hiện luận điệu trắng trợn bóp méo, xuyên tạc vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng.

Chúng ta chẳng lạ gì chiêu trò ấy, bởi đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận công lao của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và các bậc tiền bối đã thành bản chất của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Nhưng dù giở chiêu trò gì đi chăng nữa thì những kẻ mang tâm địa xấu xa, dã tâm đen tối cũng không bao giờ phủ nhận được tài thao lược, cùng với bản lĩnh cầm quân kiệt xuất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng lịch sử trở lại ngày 7-5-1954 quân và dân ta kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Nhắc đến cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung và chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, không chỉ Việt Nam mà cả thế giới phải ngưỡng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lợi dụng thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược miền Nam Việt Nam. Đất nước ta sau ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (4-1954) tạm bị chia thành hai miền Nam - Bắc. Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược đó là cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Một lần nữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng cả dân tộc bước vào cuộc chiến đấu mới chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Năm 1959, cách mạng miền Nam có những diễn biến mới, đặc biệt là phong trào đồng khởi phát triển mạnh, lan rộng khắc các tỉnh, thành phố. Để đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ, thực hiện Nghị quyết của Trung ương và Tổng Quân ủy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thành lập Đoàn 559 mở “đường Hồ Chí Minh” trên bộ chạy dọc dãy Trường Sơn, rồi sau đó là “đường Hồ Chí Minh” trên biển với sự ra đời của Đoàn 759 (tiền thân của Lữ đoàn 125). Tuyến đường mòn chiến lược Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển đã trở thành “huyết mạch” cực kỳ quan trọng cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Tổng tư lệnh đã lãnh đạo, chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam lập nhiều chiến công vang dội trên khắp hai miền Nam – Bắc, đánh bại các cuộc leo thang đánh phá miền Bắc bằng hải quân và không quân của đế quốc Mỹ; đập tan các kiểu chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam... Những kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari (ngày 27-1-1973) về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Sau Hiệp định Paris, đế quốc Mỹ rút quân về nước, tình hình chiến trường miền Nam đã có những diễn biến thuận lợi cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhận thấy thời cơ đến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất với Bộ Chính trị và ra quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng miền Nam, trước hết là giải phóng Tây Nguyên, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 – Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tư lệnh đã xây dựng nên một thế trận giải phóng miền Nam với mưu kế kỳ diệu: Căng địch ra ở hai đầu chiến tuyến, kìm địch ở Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn... khiến cho chúng bộc lộ sơ hở ở Tây Nguyên và rơi vào thế trận đã sắp đặt của ta. Để phá vỡ phòng thủ của địch ở Tây Nguyên nhanh chóng, chuyển hóa cả thế và lực cho toàn chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sáng suốt quyết định điều thêm 2 sư đoàn cho mặt trận Tây Nguyên. Từ chỗ chỉ có 2 sư đoàn, đến mùa Xuân 1975, mặt trận Tây Nguyên đã có tới 4 sư đoàn và thực sự trở thành quả đấm chủ lực đánh mạnh vào đối phương. Đúng như dự kiến, các sư đoàn đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ Chính trị và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tin tưởng giao cho. 

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tư lệnh, quân ta thừa thắng xông lên đánh bại sự phản kích của địch, tiêu diệt Sư đoàn 23 dẫn đến sự bùng nổ về chiến thuật và tạo ra phản ứng dây chuyền, làm cho địch ở Pleiku và Kon Tum chưa bị đánh đã tháo chạy. Sự đột biến về chiến dịch cũng được tạo ra sau phản ứng dây chuyền này. Một cục diện chiến tranh mới mở ra, đẩy quân địch ở Tây Nguyên vào thế hỗn loạn về chiến lược và suy sụp nhanh chóng về tinh thần.

Ngay từ khi chuẩn bị giải phóng Tây Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tính toán đến khả năng: Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên, chúng có thể sẽ rút chạy về co cụm ở đồng bằng. Thực tế chiến trường đã diễn ra đúng như vậy. Nắm bắt thời cơ đó, chúng ta đã chủ động mở tiếp Chiến dịch Huế, Chiến dịch Đà Nẵng và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; thống nhất đất nước!” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là mệnh lệnh chỉ huy các cánh quân mà đó còn là tiếng kèn xung trận, sự kết tinh của một tư duy quân sự thiên tài, qua đó góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Công lao và đóng góp của thiên tài quân sự Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975 nói riêng là không thể phủ nhận. Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ta không bao giờ lãng quên công lao to lớn của các bậc tiền bối và những người có công với cách mạng, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong thời kỳ hội nhập, những thành quả mà ông cha ta đã lập nên, đã đúc kết, truyền dạy và mong muốn lớp cháu con giữ gìn, phát huy càng được khẳng định và không gì có thể thay thế được. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không muốn nhắc nhiều về những đau thương, hy sinh, mất mát trong thời kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc. Quan điểm nhất quá của chúng ta là "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai". Nhưng "khép lại quá khứ" không có nghĩa là "quên quá khứ" và càng không phải là bóp méo, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận công lao của lớp người đi trước. Quên công lao của tổ tiên, của các bập tiền nhân, của thế hệ đi trước, không biết đến những năm tháng bi tráng, hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, điều đó là vô cùng nguy hại. 

Trong phạm vi hẹp với mỗi gia đình, nếu lớp cháu con không biết kính trọng tổ tiên, ông bà, cha mẹ; không biết giữ gìn, phát huy những gì mà những người đi trước đã đổ mồ hôi, công sức và cả xương máu để xây dựng, vun đắp thì nền móng đạo lý của gia đình ấy sớm muộn cũng lung lay và đổ vỡ... Suy rộng đối với mỗi quốc gia cũng vậy. Sẽ là thảm họa, bi kịch đối với tiền đồ, tương lai đất nước nếu thế hệ đi sau thờ ơ, thậm chí bóp méo, xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận công lao của thế hệ trước, đi quay lưng với lịch sử dân tộc. Trong thâm tâm mỗi chúng ta không ai mong đất nước xảy ra chiến tranh, nhưng giặc xâm lăng đã buộc chúng ta phải đứng lên cầm súng chiến đấu để giải phóng dân tộc, bảo vệ giang sơn, bờ cõi...Và lịch sử dân tộc ta thời nào cũng vậy đều xuất hiện những anh hùng hào kiệt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những con người như vậy. Thử hỏi nếu thế hệ ông cha, lớp người đi trước không đổ máu hy sinh, đóng góp công sức giữ gìn và dựng xây đất nước thì làm sao chúng ta có được cuộc sống hòa bình, ấm nó, tự do, hạnh phúc như ngày hôm nay? 

“Ôn cố tri tân” vừa là nét đẹp văn hóa, vừa là giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta. Tương lai của đất nước chỉ có thể tươi sáng, cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do và hạnh phúc của nhân dân chỉ vững bền và phát triển nếu chúng ta biết trân trọng công lao của những anh hùng hào kiệt như Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngôi nhà lớn Việt Nam không có chỗ cho những giọng điệu lạc lõng của những kẻ lạc loài như những con rắn độc đang cố tình len lỏi với những âm mưu thủ đoạn chống phá, nhằm phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận công lao của ông cha và thế hệ đi trước.


Sao còn rắp tâm phá hoại

 


Cùng với toàn Đảng, toàn dân, đồng bào có đạo trên khắp mọi miền Tổ quốc đang tích cực, khẩn trương đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 và đến nay đã thành công tốt đẹp. Thế nhưng ở một vài nơi, kẻ xấu và một số vị linh mục chẳng những không đồng hành với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương mà còn rắp tâm phá hoại.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là sự kiện quan trọng, là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý dân chủ sâu rộng trong toàn xã hội, là dịp để nhân dân cả nước phát huy quyền làm chủ, sáng suốt lựa chọn và bầu ra những người đủ tâm, đủ tầm, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Kết quả chung ấy được tạo bởi sự nỗ lực, cố gắng chung tay của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó sự đóng góp của đồng bào các tôn giáo là rất quan trọng. Thực hiện phương châm gắn đạo với đời, các tổ chức, chức sắc tôn giáo trên địa bàn cả nước đã tích cực tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, nhắc nhở các tín đồ thực hiện nghiêm pháp luật và các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Lồng ghép trong các hoạt động tôn giáo, đồng bào có đạo được tuyên truyền về quyền bầu cử, ứng cử và ý nghĩa, trách nhiệm công dân với ngày hội bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Cử tri cũng như đồng bào có đạo bày tỏ sự tin tưởng cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các ứng cử viên là chức sắc, đồng bào có đạo nếu trúng cử vào đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp sẽ phát huy tốt vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.

Nhưng thật đáng buồn, giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực, cố gắng để ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân thì một số linh mục lại cố tình tìm cách tuyên truyền xuyên tạc, kích động giáo dân tẩy chay cuộc bầu cử với luận điệu “không biết, không bầu”; kêu gọi ủng hộ người ngoài Đảng ứng cử tự do, tẩy chay người do Đảng giới thiệu...

Tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp. Cả hệ thống chính trị, ngành y tế, các lực lượng Quân đội, Công an và toàn thể nhân dân đã và đang vào cuộc một cách quyết liệt, đồng bộ với phương châm “chống dịch như chống giặc” nhằm phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Nhưng đi ngược với tinh thần ấy, một số linh mục phớt lờ, bất chấp các chỉ thị, quy định của Thủ tướng Chính phủ, của chính quyền địa phương và khuyến cáo của cơ quan chuyên môn vẫn tổ chức cầu nguyện đông người, không chấp hành nghiêm các quy trình về phòng, chống dịch của Bộ Y tế và Chính phủ... Không chỉ cầu nguyện, giảng đạo, một số linh mục còn lồng ghép tuyên truyền xuyên tạc, kích động, kêu gọi giáo dân không tham gia bầu cử, nếu có đi bầu cử thì gạch tên các ứng cử viên là cán bộ, đảng viên do Đảng giới thiệu, ủng hộ người ngoài Đảng và những người tự ứng cử. Thậm chí có nơi linh mục quản xứ còn lợi dụng thời điểm cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử và phòng, chống dịch bệnh Covid-19 để kích động giáo dân tụ tập khiếu kiện đông người đưa ra những đòi hỏi vô lý, không chính đáng, trái pháp luật hòng gây khó khăn cho công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng và sự an toàn của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân. Điều 27 Hiến pháp 2013 nêu rõ: "Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định". Điều 95, Chương X, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định: "Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử... thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự". Việc xử lý các hành vi vi phạm nói trên, Điều 160, Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định: “1. Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử hoặc quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 02 năm: a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Dẫn đến hoãn ngày bầu cử, bầu cử lại hoặc hoãn việc trưng cầu ý dân. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Tương tự hành vi phớt lờ các chỉ thị, quy định của Thủ tướng Chính phủ, chính quyền địa phương và khuyến cáo của cơ quan chuyên môn, chấp hành không nghiêm quy trình về phòng, chống dịch Covid-19 cũng là vi phạm pháp luật. Điều 8 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 đã quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm. Theo đó nghiêm cấm các hành vi như sau: “Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm làm các công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật; Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật; Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm; Phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm; Không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật này; Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.” Rõ ràng những hành vi như đã nêu của một số linh mục là vi phạm pháp luật.

Không chỉ trái pháp lý, hành vi của một số linh mục còn trái cả đạo lý. Đường hướng phát triển của Giáo hội là “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”, theo tinh thần “Kính Chúa yêu nước”. Với tư cách là công dân và trọng trách quản xứ, đáng lẽ ra các linh mục phải thể hiện rõ trách nhiệm của mình, thực sự là người gương mẫu đi đầu trong tuyên truyền, vận động bà con giáo dân tuân thủ các quy định của pháp luật, tích cực tham gia công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đằng này họ lại cố tình đi ngược với đường hướng Giáo hội và lời răn của Chúa.

Giữa lúc dịch Covid-19 hoành hành khắp thế giới và trong nước, một số linh mục bất chấp các quy định vẫn tổ chức hành lễ, cầu nguyện... thì đó là hành vi coi thường tính mạng, sức khỏe của giáo dân. Điều này không chỉ gây nên những băn khoăn, lo lắng trong nhân dân ở các địa phương mà ngay chính bà con giáo dân cũng không yên tâm bởi trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp thì nguy cơ lây lan từ những buổi tập trung hành lễ, cầu nguyện là rất lớn. Rõ ràng hành vi thờ ơ, vô trách nhiệm với bà con giáo dân của một số linh mục là không thể chấp nhận. Đức ái là cốt lõi của lề luật và đời sống linh mục. Theo đường hướng của Giáo hội, lời răn của Chúa và Đức ái thì những hành vi của một số linh mục như đã nêu là không thể tồn tại.

Âm mưu thúc đẩy đa nguyên, đối lập

 


Thời gian qua, một số cá nhân hoặc đại diện cho những tổ chức bất hợp pháp đã viết bài trên mạng xã hội và thực hiện một số hoạt động nhằm tuyên truyền phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, xuyên tạc rằng công đoàn đã "bắt tay với giới chủ, đã từ bỏ đấu tranh giai cấp, không còn bảo vệ cho quyền lợi của công nhân, người lao động". Từ đó, họ kêu gọi thành lập các nghiệp đoàn độc lập, tự do tách ra khỏi công đoàn, với lý do là "để bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi của công nhân, người lao động". Đáng chú ý là các nghiệp đoàn độc lập này được xúi bẩy để nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng, đối lập với Nhà nước và mưu đồ thành lập một lực lượng chính trị đối lập ở Việt Nam.

Điều 10 Hiến pháp 2013 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như thế có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của công đoàn trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong đó, nhiệm vụ “đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động” được đặt lên hàng đầu đối với tổ chức công đoàn.

Thế nhưng, trong thời gian qua, một số tổ chức nước ngoài, một số cá nhân có quan điểm chống đối Đảng, Nhà nước ta đã phủ nhận hoàn toàn vai trò và những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Công đoàn Việt Nam gần 92 năm qua. Đặc biệt, là sau khi Bộ luật Lao động 2019 được thông qua, không ít tổ chức từ nước ngoài đã tài trợ tiền bạc, tán phát nhiều thông tin xuyên tạc để thúc đẩy việc thành lập cái gọi là các "công đoàn độc lập", hay "nghiệp đoàn độc lập", "nghiệp đoàn tự do", dưới chiêu bài là để bảo vệ quyền lợi cho công nhân, người lao động. Có tổ chức phản động đã lên kế hoạch các bước để thành lập "nghiệp đoàn độc lập". Mới đây, một trang tin nước ngoài đưa bài viết của “nhà quan sát hiện sống tại Đức” tuyên bố rất sai trái rằng: “Nghiệp đoàn” tự thân nó là phi chính trị, là đồng hành với người lao động”. Nghiệp đoàn phải độc lập với đảng chính trị cầm quyền, phải độc lập với nhà nước thì mới bảo vệ được quyền lợi cho người lao động. 

“Nhà quan sát” này cố ý quên rằng, Công đoàn Việt Nam vẫn là pháp nhân đang tồn tại độc lập với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tư cách là một đoàn thể chính trị và là tổ chức đại diện người lao động. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công đoàn, vì Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại Điều 4 đã quy định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo công đoàn, nhưng không làm thay hay can thiệp công đoàn mà luôn tôn trọng công đoàn, tạo điều kiện để công đoàn hoàn thành sứ mệnh. Độc lập với Nhà nước nhưng Công đoàn Việt Nam phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, phối hợp với Nhà nước để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động với tư cách là một bên trong quan hệ lao động ba bên (Nhà nước, giới sử dụng lao động, đại diện người lao động). Chính phủ cũng không làm thay hay can thiệp công đoàn, mà chỉ phối hợp để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động tốt hơn. Phải chăng “nhà quan sát” có dụng ý đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập” nhằm hình thành một lực lượng chính trị đối lập nhân danh dân chủ, nhân quyền và vì quyền lợi người lao động để không tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, chống phá cách mạng Việt Nam?

Có thể thấy rằng, mưu đồ muốn thành lập “nghiệp đoàn độc lập”, “công đoàn độc lập” nói trên, đặt chúng ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chống lại cách mạng Việt Nam là hết sức nguy hiểm. Không một quốc gia nào chấp nhận một tổ chức hoạt động trên lãnh thổ nước mình mà lại không tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó!

Trong giai đoạn 2018-2020 của nhiệm kỳ Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, các cấp công đoàn đã ký mới được 6.113 bản TƯLĐTT doanh nghiệp, gấp 4,6 lần so với cả nhiệm kỳ Đại hội XI, nâng tổng số TƯLĐTT đã ký kết lên 34.989 bản. Nội dung của các bản thỏa ước tập trung vào những cam kết thiết thực, có lợi hơn cho người lao động như vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, bảo đảm việc làm, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, thực hiện chính sách bình đẳng giới... 

Cùng với đó, theo Tổng LĐLĐ Việt Nam, trong giai đoạn 2018-2020, các cấp công đoàn đã chủ động, tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và tổ chức công đoàn. Tổng Liên đoàn đã có hơn 300 văn bản tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật về quyền lợi của người lao động.

Nếu công đoàn không đấu tranh cho người lao động thì làm sao có Bộ luật Lao động 2019 với nhiều điểm rất có lợi cho người lao động, mà để đạt được điều đó đại diện công đoàn đã nhiều lần phát biểu rất mạnh mẽ, thấu tình, đạt lý để góp ý cho dự thảo Bộ luật. Theo đó, trong Bộ luật Lao động 2019, khung giờ làm thêm được giữ nguyên như quy định hiện hành là 300 giờ/năm, để bảo đảm sức khỏe và đời sống của người lao động, mặc dù trước đó ý kiến của các doanh nghiệp muốn tăng giờ làm thêm lên tối đa tới 400 giờ/năm, thậm chí có hiệp hội đề nghị tăng lên 600 giờ/năm. Đồng thời, cũng trong bộ luật này, người lao động sẽ có thêm một ngày nghỉ lễ nữa trong dịp Quốc khách 2-9 hằng năm. Cuộc đấu tranh của công đoàn nhằm giảm giờ làm chính thức cho người lao động tuy chưa được chính thức hóa thành quy định của bộ luật nhưng với kiến nghị quyết liệt, mạnh mẽ từ phía Tổng Liên đoàn, Quốc hội đã đưa vào Nghị quyết kỳ họp, yêu cầu “Căn cứ tình hình phát triển kinh tế-xã hội, nghiên cứu đề xuất giảm giờ làm việc bình thường đối với người lao động thấp hơn 48 giờ/tuần và báo cáo Quốc hội vào thời điểm thích hợp”.

Nếu công đoàn không đấu tranh, bảo vệ quyền lợi cho người lao động thì liệu lương tối thiểu vùng có được tăng đều đặn các năm, để trong giai đoạn 2015-2020 đã tăng 51,4%. Trong các phiên họp của Hội đồng tiền lương quốc gia, các thành viên từ Công đoàn Việt Nam đã rất quyết liệt, kiên trì, đưa ra nhiều lập luận mang tính thuyết phục cao, đôi khi là những tranh luận gay gắt với giới sử dụng lao động, khi mà nhiều thành viên khăng khăng với việc không tăng lương, để rồi sau đó hằng năm lương tối thiểu đều tăng từ 5,3% đến 14%, góp phần cải thiện đời sống công đoàn viên, người lao động, thu hẹp khoảng cách giữa tiền lương tối thiểu và mức sống tối thiểu.

Tổ chức công đoàn đã tham gia phát triển các hoạt động phong trào nhằm nâng cao hiệu quả năng suất lao động đến chăm lo xây dựng phong phú đời sống tinh thần của người lao động trong và ngoài giờ làm việc. Sự ghi nhận và tin tưởng của chính người lao động. Công đoàn đã thực hiện rất tốt vai trò phối hợp và trực tiếp tham gia vào các hoạt động của công ty. Cũng nhờ sự phối hợp, đề xuất của công đoàn mà có những phúc lợi rất tốt cho công nhân như: Hệ thống xe buýt chất lượng cao làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, công nhân viên đi làm hằng ngày; ký túc xá dành cho nhân viên, có trạm y tế đạt chuẩn khám bệnh, đồng thời xây dựng mô hình trung tâm khám sức khỏe liên kết với bệnh viện quốc tế thực hiện thăm khám và tư vấn sức khỏe định kỳ cho toàn thể nhân viên; xây dựng nhiều câu lạc bộ tại mỗi nhà máy, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn nghệ, thể thao, nghệ thuật cho toàn thể nhân viên, có chính sách đặc biệt chăm sóc cho nhân viên nữ, nhất là đối tượng nhân viên nữ mang thai và nuôi con nhỏ... Đặc biệt, trong thời gian diễn ra dịch Covid-19, các doanh nghiệp vẫn luôn bảo đảm để không một nhân viên nào bị mất việc làm và nghỉ không lương.

Phòng và chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Không thể phủ nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn đã được UNESCO vinh danh và giá trị tư tưởng của Người, song thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình”, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội đã dùng danh nghĩa "phi chính phủ", “từ thiện” để lập một số quỹ hỗ trợ cho các tổ chức phản động chống phá, xuyên tạc về Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh như Quỹ Đầu tư phát triển Mỹ (USAID), Quỹ Hỗ trợ dân chủ nhân quyền (NDI), Quỹ Quốc gia hỗ trợ dân chủ (NED), Việt Tân... Cùng với đó là việc bảo trợ cho các "loa truyền thông" như Trung tâm Asia, Chantroimoi media, Danlambao, Tiếng Dân News… thường xuyên đăng tải các thông tin, bài viết, phỏng vấn để bôi đen sự thật, trắng trợn xuyên tạc, vu cáo tiểu sử, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thông qua các trang mạng xã hội trên, những kẻ tự xưng là yêu nước, dân chủ và cả những người “có tiếng nói phản biện" ở trong và ngoài nước đã không chỉ bịa đặt, bôi đen một số thông tin về đời tư, về ngày sinh, về những người thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguồn gốc của Người nhằm hạ bệ thần tượng mà còn xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam; Hồ Chí Minh là nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là người cộng sản; Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều, sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, đã bị xóa bỏ nên không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay…

Thâm độc hơn, là họ đã không từ một thủ đoạn nào để bôi xấu và tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, để khi thì đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, khi thì lại cho rằng Hồ Chí Minh không có tư tưởng vì đó là một nhà hoạt động thực tiễn.

Thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả lịch sử và lôgíc từ sự kết hợp tự nhiên truyền thống yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam và cả các nước thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không chỉ trung thành với những nguyên lý của học thuyết cách mạng, khoa học và hiện đại này; không giáo điều mà chính là nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học, cách mạng của nó để bổ sung, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới bằng thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Sự bổ sung và phát triển sáng tạo ấy thể hiện rõ trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh; về xây dựng, tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi; về xây dựng nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa; về rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên… trong tiến trình cách mạng Việt Nam hơn 9 thập niên qua.

Hơn thế nữa, không phải tự nhiên Hồ Chí Minh lại nói chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường cho nhân dân các dân tộc bị áp bức, bóc lột tàn bạo dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; trong đó, có nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Bởi, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đăng trên báo L’Humanité, ngày 16 và 17/7/1920 và Người nhận thấy: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Bởi, chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một trong 3 nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh (chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây; chủ nghĩa Mác - Lênin) và là thành tố quan trọng nhất. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà còn là hòn đá tảng, là cơ sở để Người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đề ra con đường cách mạng Việt Nam phù hợp với yêu cầu của dân tộc và xu thế của thời đại.

Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ cội nguồn chính yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin và “trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc" như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định. Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại.

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tiến trình cách mạng Việt Nam là không thể phủ nhận, bởi đó là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua: Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ tính chặt chẽ, liên tục, nhất quán, bao quát và toàn diện đúng như Đại hội IX (4/2001) của Đảng khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

Trong Văn kiện Đại hội IX, tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định gồm 9 nội dung cơ bản: 1) Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2) Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 3) Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. 4) Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. 5) Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. 6) Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. 7) Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. 8) Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 9) Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Điều này tiếp tục được nhấn mạnh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh …

Trong tình hình hiện nay, khi các thế lực thù địch ngày càng tăng cường và đẩy mạnh hơn các chiến dịch, các thủ đoạn, các hình thức từ bên ngoài, câu kết và phối hợp với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ở trong nước để chuyển tải, truyền bá các thông tin sai lệch, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam nói chung, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, việc chủ động phòng và chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng trở nên bức thiết.

Không thế lực nào có thể ngăn cản khát vọng vươn lên của toàn dân tộc


Ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh.
Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại. Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông.

Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... 

Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!

Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại.

Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước.

Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9/4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới.

Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại.

Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”.


Cái gì cũng xuyên tạc là tại sao?

 


Trước thực trạng việc sử dụng hệ thống truyền thông, mạng xã hội để chống phá Việt Nam với vô số thủ đoạn bất lương ngày càng giảm tác dụng, các thế lực thù địch và một số tổ chức cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam càng tỏ ra cay cú và đi đến mức trơ tráo, bất chấp thực tế cố tình xuyên tạc cả những chủ trương, chính sách được Ðảng, Chính phủ Việt Nam công bố công khai, rộng rãi. Thậm chí, xuyên tạc cả các sự kiện, thông tin diễn ra vốn hằng ngày, hằng giờ trong đời sống xã hội bình thường mà bất kỳ một ai cũng sẽ hiểu.

Ngày 2-3-2021, trong một video-clip công bố trên YouTube có liên quan việc anh Nguyễn Ngọc Mạnh cứu một cháu bé rơi từ tầng 13 tại một chung cư ở Hà Nội, ông Lợi Minh - người Mỹ gốc Việt mới về Việt Nam, đã tỏ ra rất bức xúc với phát biểu đại ý: "Các thành phần chống phá đổ lỗi cho cộng sản, bảo thể chế không cho làm hàng rào. Ðó là sự khốn nạn. Cái gì cũng xuyên tạc, không rõ não họ bị làm sao? Ở nước Mỹ tình trạng trẻ bị rơi từ nhà cao tầng, chung cư xảy ra khá nhiều, đáng tiếc là đã làm thiệt hại sinh mạng của một số em. Cha mẹ vô tình không để ý con cái thì không thể đổ lỗi cho thể chế, cho cộng sản. Lẽ ra cần phải khích lệ những người như Nguyễn Ngọc Mạnh, giúp giảm bớt rủi ro thì một số người lên mạng mổ xẻ, giúp bọn chống phá đất nước xuyên tạc". Bức xúc của ông Lợi Minh là chính đáng, vì sau sự kiện có kẻ đã vội vã lên trang mạng xã hội của tổ chức khủng bố "Việt tân" viết rằng, ở Việt Nam "tính mạng con người luôn bị coi rẻ do nhà nước và sự thờ ơ trong xã hội... cơ quan nhà nước làm việc vì tư lợi mà không vì nhân dân" nên "khi dân gặp nạn toàn thấy dân tự cứu nhau", hoặc có kẻ mang danh "nhà dân chủ" thì lên mạng xưng xưng quy kết sự kiện xảy ra là do "lỗi thể chế"!

Nhìn rộng ra, câu hỏi "Không rõ não họ bị làm sao?" của Lợi Minh có thể đặt ra với rất nhiều trường hợp, như khái quát của Thái Thanh trên trang mạng canhco.net: "Không riêng gì chuyện "cái ban công", ngay cả chuyện người trẻ thất tình tự tử, khối kẻ bốc đồng cũng đổ lỗi cho chính quyền; người vi phạm pháp luật ở tù, cũng có kẻ đổ lỗi cho thể chế. Tất tần tật, bất cứ điều gì không như ý đều đổ lỗi hết cho thể chế, và không bao giờ đưa ra được biện pháp, đóng góp nào tích cực cho xã hội. Ðó là biểu hiện của những người đi thụt lùi, không có tinh thần xây dựng, ném vào xã hội thêm những rác rưởi". Hay trước hiện tượng sau khi lô vắc-xin phòng Covid-19 đầu tiên nhập về Việt Nam, trong khi mọi người phấn khởi vì Chính phủ quan tâm bảo đảm sức khỏe, tính mạng cho toàn dân, thì mấy kẻ tự nhận hoặc tự tán dương nhau là "nhà dân chủ" lập tức thể hiện thái độ tiêu cực, bỉ ổi bằng cách dè bỉu, hoài nghi, thậm chí để gây hoang mang trong dư luận. Có kẻ bịa đặt mọi vắc-xin phòng Covid-19 nhập về Việt Nam đều đang ở trong giai đoạn thử nghiệm, không có tác dụng phòng virus, khiến người được tiêm bị nhiễm bệnh, tăng nguy cơ tử vong! Câu hỏi về mục đích và thiện chí đối với Việt Nam cũng cần đặt ra với BBC tiếng Việt khi đăng bài "Tiêm vắc-xin Covid ở VN: vì sao quân đội và công an được ưu tiên?". Trước hết, phải nói rằng kiểu rút "tít" của BBC có thể khiến người đọc lầm tưởng ở Việt Nam chỉ quân đội, công an mới được ưu tiên tiêm vắc-xin phòng Covid-19, và như thế là bất lương. Chưa kể việc viện dẫn ý kiến của bác sĩ HTA (được BBC giới thiệu là "Phó Giám đốc Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và Dân số, Hà Nội", như thông tin trên trang mạng ccihp.org thì "Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và Dân số" là "doanh nghiệp xã hội làm việc như một tổ chức phi lợi nhuận", viết tắt: CCIHP) khi người này cho rằng "các nhóm yếu thế như người nghèo, người khuyết tật... gần như chưa được nói gì đến trong kế hoạch tiêm phòng của Việt Nam", và như vậy là nói bừa.

Ðáng lẽ trước khi công khai rộng rãi, BBC và bác sĩ HTA phải tìm hiểu Quyết định số 1210/QÐ-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 9-2-2021 về việc phê duyệt kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối, sử dụng vắc-xin phòng Covid-19 trong giai đoạn 2021-2022 do COVAX Facility (Giải pháp tiếp cận vắc-xin phòng Covid-19 toàn cầu) hỗ trợ. Tại thời điểm đó, Bộ Y tế xác định 11 nhóm đối tượng cần tiêm vắc-xin phòng Covid-19 sau khi vắc-xin hỗ trợ chuyển đến Việt Nam (khoảng 4,8 triệu liều), trong đó có ba nhóm là: "Người trên 65 tuổi; những người mắc các bệnh mãn tính; người tại vùng dịch theo chỉ định dịch tễ". Như vậy, phải chăng theo bác sĩ HTA, thì trong ba nhóm được ưu tiên đó lại không có người thuộc các nhóm yếu thế? Và quan trọng hơn, ngày 26-2-2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (nay là Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ký ban hành Nghị quyết 21/NQ-CP (Nghị quyết 21) về mua và sử dụng vắc-xin phòng Covid-19 giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan, địa phương liên quan thực hiện việc mua, nhập khẩu, tiếp nhận viện trợ, tài trợ, quản lý và sử dụng vắc-xin phòng Covid-19 trong năm 2021 cho người từ 18 tuổi trở lên với số lượng khoảng 150 triệu liều. Nghị quyết 21 quy định rất cụ thể về 9 nhóm được xác định là các đối tượng ưu tiên tiêm và miễn phí, trong đó có ba nhóm: "Người mắc các bệnh mãn tính, người trên 65 tuổi", "Người sinh sống tại các vùng có dịch", "Người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội". Dù có thể là thiếu cẩn trọng khi nắm bắt thông tin, thì phát ngôn của bác sĩ HTA trên BBC cũng không đúng sự thật, và đã bị BBC lợi dụng để tùy tiện công bố, khiến cho người đọc có thể hiểu sai về một chủ trương, chính sách rất nhân văn của Chính phủ Việt Nam.

Thời gian qua, các sự kiện như: smartphone (điện thoại thông minh) của VinSmart thuộc Tập đoàn Vingroup gia nhập thị trường Nga, Tây Ban Nha,... rồi VinSmart ký hợp đồng với một công ty của Mỹ sản xuất hai triệu chiếc điện thoại; tiếp đó, Phòng Quản lý phương tiện cơ giới (DMV) tại Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) cấp chứng chỉ thử nghiệm xe điện tự lái cho VinFast,... đã làm nức lòng người dân trong nước. Nhiều người gốc Việt ở nước ngoài cũng công khai thể hiện niềm tự hào, họ không chỉ đặt mua mà còn hô hào cộng đồng cùng mua để ủng hộ đất nước. Thế nhưng, ngay từ năm 2018, sau khi VinFast giới thiệu hai mẫu xe Sedan và SUV tại Paris Motor Show ở Pháp thì trên BBC tiếng Việt có người Việt trong nước lại coi đó là việc làm "đánh đúng vào tâm lý nhược tiểu thích kỷ lục của người Việt"! Chưa kể gần đây, xuất hiện luận điệu có nội dung như muốn làm tổn hại uy tín của doanh nghiệp trong nước khi đưa ảnh sản phẩm xe ô-tô được sản xuất tại Việt Nam "gãy trục phía trước" và dựa vào đó xưng xưng nói rằng chúng ta đang sống trong sự ngược đãi của chính xã hội ta đang sống. Mạng người trở nên rẻ mạt chưa từng có, và nó hoàn toàn bị thách thức một cách hết sức thản nhiên và công khai"? Ðoạn trích cho thấy bàn chất lượng xe chỉ là cái cớ, mà mục tiêu họ nhắm đến là la lối bị xã hội "ngược đãi", "mạng người rẻ mạt"! Trước luận điệu này, ngày 22-2-2021 nhà báo N.P viết trên trang Facebook cá nhân: "Nếu như họ đưa tin vào ngày này, giờ này, tại chỗ này, xe mang biển này, người lái tên họ thế này, đang lái xe bỗng "bánh trước văng ra" hoặc "trục xe gãy", cơ quan bảo hiểm đã kiểm tra, khám nghiệm, xác nhận rằng đó là lỗi do nhà sản xuất thì còn có lý... Ðằng này đưa hình ảnh mấy chiếc xe bị tai nạn do đâm vào con lươn, đâm vào vỉa hè,... rồi vu cho là "lỗi sản xuất" thì quả là độc ác và hèn hết mức... Dĩ nhiên, loại thông tin đểu này chỉ lừa được những ai không hiểu biết về xe, hoặc có trái tim "rất dễ xúc động". Còn người hiểu biết, có sự trung thực thì chẳng ai bị lừa. Nhưng rõ ràng, không phải là chuyện "vô tình", mà phải là có kẻ "xuỵt chó bụi rậm", thậm chí là phải nghĩ đến có "đơn đặt hàng" từ kẻ nào đó". H.N, một người sử dụng xe, ngày 28-2-2021 đã nói thẳng trên YouTube: "Một số người không muốn thành công nào đó ở Việt Nam, người ta không muốn có sự trỗi dậy của một nền kinh tế hay một nhà máy, xí nghiệp nào đó ở Việt Nam... Họ lợi dụng các hình ảnh để gán ghép ý đồ chính trị, ý đồ cá nhân vào... Những người đưa tin này mắc chứng bệnh "sợ Việt Nam phát triển", họ không muốn chấp nhận những điều tốt đẹp ở Việt Nam". Trong bối cảnh đó, hẳn là ngỡ đã kiếm được "miếng mồi ngon" và như một phản xạ vô tri, ngày 22-2-2021 VOA vội vã công bố một bài viết, trong đó nhắc lại nguyên văn các thông tin tùy tiện trên mạng xã hội. Thiết nghĩ, nếu là cơ quan truyền thông lương thiện, VOA sẽ không dính dáng vào, hoặc chí ít cũng quan tâm tới việc cư dân mạng coi ý kiến VOA khai thác là "độc ác, hèn hết mức"!

Đất nước đang trên đường hội nhập và phát triển. Một trong những yêu cầu quan trọng để Việt Nam vững bước trên con đường, đó là nỗ lực khẳng định uy tín và năng lực của mình trên trường quốc tế làm ra các sản phẩm mang nhãn hiệu Việt Nam có thể gia nhập thị trường thế giới, có khả năng cạnh tranh và thu hút người tiêu dùng nước ngoài. Nỗ lực đó không chỉ thể hiện năng lực, trình độ và khả năng sáng tạo của người Việt Nam, mà còn là niềm tự hào về ý chí, tinh thần Việt Nam, góp phần vào sự phát triển, nâng cao uy tín đất nước. Ðó là điều mà mọi người Việt Nam yêu nước, có tinh thần tự tôn dân tộc đều hướng tới. Vì thế, người có hành động, phát ngôn xuyên tạc, gây cản trở xu hướng này là đi ngược lợi ích và tiến trình phát triển đất nước. Cũng cần phải nói thẳng rằng, căn bệnh "sợ Việt Nam phát triển" không phải là thứ phản ứng cảm tính, tự nhiên, thiếu chín chắn mà là căn bệnh ra đời từ mưu đồ đen tối của một số người "cái gì cũng xuyên tạc", đã và đang lợi dụng mạng xã hội để gieo rắc hoang tin nhằm làm hao tổn lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam. Vì thế, nếu một mặt cần lên án, vạch trần bản chất những con người như vậy, thì mặt khác, mỗi người trong chúng ta cần tiếp tục củng cố lòng tin vào con đường đã được Ðảng và Bác Hồ lựa chọn, nâng cao nhận thức để phân biệt đúng - sai, nỗ lực lao động sáng tạo, đem lại lợi ích ngày càng nhiều hơn cho bản thân, cho gia đình, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước.