Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội"


   Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH) là tư tưởng nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh.

   Trong hành trình tìm đường cứu nước và trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh luôn xác định, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và là nguyên nhân dẫn đến những thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thể hiện một cách tập trung những luận điểm sáng tạo lớn về lý luận của Hồ Chí Minh.


   Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đó là con đường Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), bởi theo Người: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”. Con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để. Cuộc cách mạng đó không chỉ giải phóng giai cấp, mà gắn liền với nó là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.

   Sau khi tìm được đường lối cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc chủ trương đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản. Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản, chính là làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên CNXH. Giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội gắn liền mật thiết với nhau thể hiện ở mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

   Trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám (1939-1945), khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, nhân dân Việt Nam và Đông Dương đứng trước nguy cơ tồn vong dưới sự cai trị của thực dân Pháp và quân phiệt Nhật. Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 8 do lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì (5-1941), khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Khi thời cơ khởi nghĩa (8-1945) đã đến, Người chỉ rõ: "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".

   Trong "Tuyên ngôn độc lập" đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý mới có ý nghĩa thời đại: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. Với "Tuyên ngôn độc lập", Hồ Chí Minh đã tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập dân tộc và quyền dân tộc tự quyết của dân tộc Việt Nam. Trong đó, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ vừa là tiền đề, vừa là điều kiện tiên quyết của chế độ dân chủ, tạo tiền đề để Việt Nam xây dựng một chế độ mới, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

   Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, thù trong, giặc ngoài âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, hòng áp đặt ách cai trị dân tộc ta một lần nữa. Trước tình thế hiểm nghèo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta cùng một lúc chống 3 thứ giặc: “Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Khôn khéo, linh hoạt, Người đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh hiểm nguy “ngàn cân treo sợi tóc”, tranh thủ thời gian xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng non trẻ.

   Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến". Người khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”; đồng thời, chủ trương đẩy mạnh kháng chiến và kiến quốc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thức tỉnh chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, là ánh sáng soi đường, truyền cảm hứng cho nhân dân ta quyết tâm chiến đấu, hy sinh bảo vệ thành quả cách mạng, làm nên chiến thắng lịch sử “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công.

   Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bước vào thời kỳ cách mạng mới, cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Tại miền Bắc, trong bối cảnh quá độ lên CNXH với điểm xuất phát thấp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên CNXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: Quá độ lên CNXH trong điều kiện nước ta phải làm dần dần, từng bước, không chủ quan, nóng vội; phải biết tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa anh em; tìm tòi, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để tìm ra cách thức, bước đi phù hợp với thời kỳ quá độ lên CNXH. Phải luôn xuất phát từ điều kiện thực tiễn của đất nước, tôn trọng quy luật khách quan, tránh chủ quan, nóng vội, giáo điều, dập khuôn, máy móc. Người cho rằng, thắng thực dân, đế quốc đã khó, nhưng thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều. Xây dựng xã hội mới là một cuộc chiến đấu khổng lồ, để giành thắng lợi, phải dựa vào lực lượng toàn dân, động viên, tổ chức, phát huy được sức mạnh vĩ đại của toàn dân.

   Trong quá trình lãnh đạo cách mạng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc. Năm 1966, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Chân lý mà Người nêu ra trở thành lẽ sống, phương châm hành động của các thế hệ người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ. Nhờ vậy, đã khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước triệu người như một sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, với tinh thần: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Sự đồng lòng của cả dân tộc đã làm nên thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non song về một mối, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên CNXH. Nguồn cội của mọi thắng lợi vĩ đại đó là do Đảng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

   Trong quá trình lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi mục tiêu đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do của đồng bào là lẽ sống của mình. Quyền độc lập dân tộc không tách rời quyền con người và độc lập là điều kiện tiên quyết để đem lại hạnh phúc cho mỗi người dân. Đồng thời, độc lập dân tộc còn là điều kiện để dân tộc Việt Nam được quyền sống bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới và các dân tộc trong nước được chung sống bên nhau một cách bình đẳng, hòa thuận và cùng nhau đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Sau khi giành được độc lập dân tộc phải đưa đất nước tiến lên xây dựng CNXH, nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người, mọi dân tộc.

   Theo quan niệm của Người, giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở cuộc đấu tranh để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp cách mạng đó mới chỉ đi được một chặng đường ngắn mà thôi. Bởi theo Người: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Do thấu hiểu cảnh sống nô lệ, lầm than, đói rét và tủi nhục của nhân dân các dân tộc Việt Nam trong thời thực dân, phong kiến nên Người chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng là phải xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Đó là một chế độ xã hội tốt đẹp mà trong đó “Xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt".

   Như vậy, độc lập dân tộc và CNXH là tư tưởng lớn, xuyên suốt trong hành trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Nhờ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, từng bước xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, xứng đáng với mong ước của Người khi sinh thời./.

Không gì có thể phủ nhận tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Tất Thành

 

    Gần đây, có một số người chỉ dựa vào thư của Nguyễn Tất Thành viết ngày 15-9-1911 gửi Tổng thống Pháp xin vào học Trường Thuộc địa (École Coloniale) ở Paris và sự từ chối của giám đốc trường này để rồi quy chụp rằng “Nguyễn Tất Thành, bỏ nước ra đi chỉ với mục đích tìm đường làm quan, để giải quyết chuyện cơm ăn áo mặc của riêng mình, chứ không hề có ý định cứu nước giúp dân…”.

     Đó là lập luận với ý đồ xấu nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Là một nhà nghiên cứu lịch sử, PGS, TS Vũ Quang Hiển (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có bài viết gửi Báo Quân đội nhân dân Điện tử phản bác quan điểm sai trái trên. 


     Do thiếu phương pháp luận khoa học, nhất là quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm toàn diện, họ đã lấy cái cá biệt thay cho cái toàn thể, lấy một hiện tượng thay cho bản chất. Đó là thuật ngụy biện, dẫn đến những kết luận sai lầm và mang nặng tính chủ quan. Nhưng điều tệ hại hơn, những kết luận đó được không ít những người khác lợi dụng để tuyên truyền xuyên tạc, gây hoài nghi về tấm lòng giúp dân, cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, nhằm “hạ bệ thần  tượng Hồ Chí Minh”, làm lung lạc niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.

     Đã có nhiều bài viết phản bác luận điểm trên, thiết nghĩ không cần phải bàn thêm. Nhưng khảo cứu lại điều kiện lịch sử lúc đó, tôi muốn làm sáng tỏ thêm một vấn đề căn cơ hơn: Vì sao Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước? Xin tóm tắt như sau:

    Trước hết, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

  Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục và anh dũng, với tinh thần “người trước ngã, người sau đứng dậy”. Nhiều phong trào yêu nước và con đường cứu nước theo các khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra liên tiếp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nhưng đều không thành công. Sự nghiệp cứu nước lâm vào một “tình hình đen tối tưởng như không có đường ra”, đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải tìm một con đường cứu nước mới.

          Đất nước mất độc lập, nhân dân mất tự do. Độc lập tự do là khát vọng cháy bỏng của mọi người Việt Nam yêu nước, thôi thúc nhiều người ra đi tìm đường cứu nước, trong đó có Nguyễn Tất Thành.

          Thứ hai, do sự hấp dẫn của văn minh nhân loại, nhất là khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” của cách mạng Pháp.

          Sinh ra và lớn lên trong một nhà Nho giàu lòng yêu nước, Nguyễn Tất Thành sớm chịu ảnh hưởng của gia đình và truyền thống văn hoá của quê hương xứ Nghệ, có sự am hiểu về Nho giáo. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá phương Đông, nhưng ở Nguyễn Tất Thành không có sự chối bỏ, hay mâu thuẫn với văn hoá phương Tây. Với tư duy văn hoá mở, Nguyễn Tất Thành cảm nhận được sự phong phú của các nền văn hóa, hướng tới một thế giới năng động và sáng tạo, nhất là nơi có khoa học, kỹ thuật phát triển và những tư tưởng mới.

          Tháng 9-1905, vào tuổi 13, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được thân phụ Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở Vinh. Tại đây, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO – BÌNH ĐẲNG – BÁC ÁI và “muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”. Trong thời gian làm thầy giáo ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết (1910), Nguyễn Tất Thành được đọc Tân thư trong gia đình cụ Nguyễn Thông, tiếp cận với các thuyết nhân quyền, dân quyền, tự do, bình đẳng, bác ái do những triết gia và văn hào Pháp khởi xướng như J.J. Rousseau, Ch. De Montesquieu, Fr. Voltaire… Nguyễn Tất Thành được đọc một số tờ báo phát hành sang Việt Nam, nên “nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao”.

          Ý tưởng đi sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại từng bước lớn lên trong tâm trí Nguyễn Tất Thành, thể hiện sự mong muốn tiếp thu giá trị văn hoá nhân loại, là bước khởi động để đưa Việt Nam hội nhập vào các trào lưu tiến bộ của thời đại.

          Thứ ba, nhờ trí tuệ và sự nhạy cảm về chính trị chính trị, Nguyễn Tất Thành nhận thấy sự cần thiết phải tìm một con đường mới.

          Nguyễn Tất Thành nhận thấy hạn chế trong phong trào cứu nước của các vị tiền bối. Phong trào Đông Du tan rã, chứng tỏ không thể dựa vào Nhật để đánh Pháp, điều đó chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Thất bại của phong trào Duy tân cũng cho thấy việc trông chờ vào thiện chí cuả người Pháp để được trao trả nền độc lập cũng chẳng khác gì “xin giặc rủ lòng thương”. Khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn, “nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến". Chính vì thế, mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của các vị tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không theo con đường của họ.

          Được theo phụ thân đi nhiều nơi gặp những người cùng chí hướng để bàn luận về thời cuộc, Nguyễn Tất Thành có điều kiện mở rộng tầm nhìn, tầm suy nghĩ, thấy rõ sự thống khổ của nhân dân, nên “sớm có  chí đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào” và không khỏi băn khoăn khi thấy nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân không thành công. Làm thế nào để cứu nước là câu hỏi sớm được đặt ra trong tâm trí người thiếu niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.

          Năm học 1908-1909, Nguyễn Tất Thành vào học Trường Quốc học Huế, tận mắt chứng kiến cảnh thực dân Pháp khinh rẻ, bóc lột, hành hạ người Việt Nam, được nghe kể về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận của những sĩ phu yêu nước về con đường cứu nước.

          Ngày 4-12-1908, Nguyễn Tất Thành tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên. Họ đi tay không, chỉ đòi giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”.  Vì những hoạt động yêu nước, Nguyễn Tất Thành bị người Pháp để ý theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Sắc cũng bị chính quyền thuộc địa khiển trách vì để con trai có những hoạt động bài Pháp. Nguyễn Tất Thành được chứng kiến thực dân Pháp khinh rẻ, bóc lột, hành hạ người Việt Nam, nhà trường ca ngợi chế độ thực dân phong kiến; được nghe kể về hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước…  

          Một lần trả lời nhà văn Mỹ Anna Luyxơtơrông, Nguyễn Ái Quốc nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

          Thứ tư, một quyết định lịch sử của cá nhân Nguyễn Tất Thành

          Được chứng kiến thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp, từ lòng yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, năm 1911 Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

          Trước khi đi, Tất Thành bàn với một người bạn thân: “Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”. Khi người bạn hỏi “lấy đâu ra tiền mà đi?”, Nguyễn Tất Thành vừa nói, vừa giơ hai bàn tay một cách tự tin và kiên quyết: “Đây, tiền đây… chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.

          Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba được một thuỷ thủ dẫn lên tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville), một con tàu lớn của hãng Sácgiơ Rêuyni (Charge Réuni), vừa chở khách, vừa chở hàng, gặp thuyền trưởng Maixen (Maisen) và được nhận làm phụ bếp trên tàu. Chuyến đi được xác định.

          Ngày 5-6-1911, con tàu Amiral Latouche Tréville nhổ neo, rời bến cảng Sài Gòn đi Marseille. Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước, cuộc hành trình đi tìm chân lý của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu. Đó là chuyến đi một mình, không theo một tổ chức nào, cũng không có nguồn tài trợ của bất cứ ai. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc vượt qua các đại dương đầy sóng gió, tự lao động để kiếm sống, đến với nhân loại cần lao đang tranh đấu ở nhiều châu lục và quốc gia trên thế giới, ở cả phương Đông và phương Tây, cả các nước tư bản và thuộc địa.

          Một thời kỳ mới trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - thời kỳ khảo nghiệm và tìm kiếm chân lý cứu nước bắt đầu.

          Sự kiện Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911) không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, mà là một quyết định lịch sử, khởi đầu từ ý tưởng “làm quen với nền văn minh Pháp” xuất hiện từ thuở thiếu thời, khi được nghe các vị tiền bối luận bàn về phương thức cứu nước, cứu dân; được thôi thúc bởi thực tiễn phong trào yêu nước của nhân dân và sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Sự kiện đó thể hiện thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén của Nguyễn Ái Quốc trước những thử thách khắc nghiệt của vận nước và sự biến chuyển của thời đại. Đó là quyết định mang tính nhân văn sâu sắc, nhằm vươn tới một chân trời mới, đưa đất nước hội nhập vào trào lưu tiến hoá của nhân loại, hướng tới giải phóng triệt để con người khỏi sự áp bức về mặt dân tộc, sự bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch về mặt tinh thần.

          Bản lĩnh Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, ngay từ quá trình tìm đường cứu nước, đã khởi đầu một hướng đi mới cho dân tộc Việt Nam, mà Ô. Manđenxtam cảm nhận “như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”.

ĐẤU TRANH KHÔNG KHOAN NHƯỢNG

 


Đoàn kết là yêu nước, chia rẽ là làm hại cho đất nước. Mọi biểu hiện cục bộ, bản vị là trái với tinh thần yêu nước chân chính. Phải có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, có lương tâm nghề nghiệp trong sáng; quyết tâm phấn đấu để thành đạt và cống hiến nhiều nhất cho đất nước, cho dân tộc; quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Phải có tinh thần ham học hỏi, phát huy truyền thống hiếu học và quý trọng nhân tài của ông cha ta; biết vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học, công nghệ hiện đại, các sáng kiến trong sản xuất, công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mọi sự bảo thủ, trì trệ, lười học tập, ngại lao động, đòi hỏi hưởng thụ vượt quá khả năng và kết quả cống hiến là trái truyền thống đạo lý dân tộc và trái với tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mỗi chúng ta phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ cá nhân - gia đình - tập thể - xã hội; quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi. Theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nước là sẵn sàng phấn đấu hy sinh cho lợi ích chung, việc gì có lợi cho dân, cho nước, cho tập thể thì quyết chí làm, việc gì có hại thì quyết không làm. Làm việc gì trước hết phải vì tập thể, vì đất nước, vì nhân dân, phải nêu cao trách nhiệm của người lãnh đạo, không tham lam, vụ lợi, vun vén cá nhân;

Mỗi chúng ta phải trung với nước, hiếu với dân, phải luôn luôn có ý thức giữ gìn đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng trước mọi mưu đồ của các thế lực thù địch, cơ hội hòng chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ Đảng với nhân dân.

                                                                     CÔNG NHÂN

KHÔNG CÒN CHỖ CHO CÁC BIỂU HIỆN SAI TRÁI

 

        Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người đã để lại tài sản vô giá là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là niềm vinh dự và tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người Việt Nam.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất quan trọng và thường xuyên, qua đó để giáo dục, rèn luyện mình, xứng đáng là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Mỗi người cần nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những hy sinh to lớn của Bác; nâng cao tinh thần yêu nước, tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc là lương tâm và trách nhiệm của mỗi người Việt Nam chân chính. Chúng ta luôn học tập theo Bác để có trí tuệ, sức khỏe, có niềm tin xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền văn hóa, bảo vệ Đảng, chế độ, nhân dân và sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích của đất nước, như vậy sẽ không còn chỗ đứng cho những biểu hiện sai trái, suy thoái./.

          

                                                                     TRƯỜNG TỒN

Chủ tịch Ủy ban bầu cử xã lấy 75 phiếu tự bầu cho mình

HÀ NỘIÔng Nguyễn Xuân Hùng, Chủ tịch Ủy ban bầu cử, ứng cử viên đại biểu HĐND xã Tráng Việt, xin 75 phiếu mang về nhà gạch tên người khác, để lại tên mình. Chiều 3/6, Phó chủ tịch HĐND huyện, Phó chủ tịch Ủy ban bầu cử huyện Mê Linh Phùng Minh Chiến cho biết, Thường vụ Huyện ủy đã họp, quyết định khai trừ Đảng ông Nguyễn Xuân Hùng và Nguyễn Hữu Hoàn vì vi phạm trong kỳ bầu cử đại biểu các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 tại Tổ bầu cử số 4 (xã Tráng Việt). Theo ông Chiến, kết thúc bỏ phiếu hôm 23/5, qua kiểm đếm cho thấy riêng số phiếu bầu đại biểu HĐND xã Tráng Việt thu về là 1.303. Số này lớn hơn 75 phiếu so với số được phát ra trước đó là 1.228. Ủy ban bầu cử xã ngay lập tức niêm phong hòm phiếu của Tổ bầu cử số 4, báo cáo cấp thẩm quyền. Vào cuộc, cơ quan chức năng xác định ông Nguyễn Xuân Hùng, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã, Chủ tịch Ủy ban bầu cử xã Tráng Việt (là ứng cử viên đại biểu HĐND xã tại đơn vị bầu cử số 4 xã Tráng Việt) đã lợi dụng chức vụ, đặt vấn đề với ông Nguyễn Hữu Hoàn (Tổ trưởng Tổ bầu cử đơn vị bầu cử số 4) lấy mốt số phiếu bầu đại biểu HĐND cấp xã. Ông Hùng mang số phiếu về nhà gạch tên người khác, để lại tên mình trong phiếu bầu và nhờ người bỏ phiếu hộ vào hòm phiếu. Việc làm của ông Hùng dẫn đến thừa 75 phiếu bầu đại biểu HĐND xã Tráng Việt. Ông Lê Xuân Thành, Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Tráng Việt, Phó chủ tịch thường trực Ủy ban bầu cử xã Tráng Việt, cho rằng sai phạm của ông Nguyễn Xuân Hùng "nghiêm trọng và đã được các cơ quan kiểm tra kết luận", các cá nhân liên quan đã bị xử lý nghiêm theo quy định của Đảng. Ngay sau khi nhận được nghị quyết của Ủy ban Bầu cử quốc gia về hủy bỏ kết quả bầu đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2021-2026 tại xã Tráng Việt, huyện Mê Linh đã chuẩn bị các bước để bầu cử lại vào ngày 6/6. Đến nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử lại đã cơ bản hoàn thành, từ việc trang trí, tổ chức phát thẻ cử tri tới nhân dân và vận động người dân đi bầu cử lại. Phó chủ tịch HĐND huyện Mê Linh Phùng Minh Chiến cho biết, đợt bầu cử ngày 23/5, huyện đạt kết quả chung tốt với trên 98% cử tri đi bầu, an ninh trật tự được đảm bảo. Sai sót tại đơn vị bầu cử số 4 ở xã Tráng Việt không ảnh hưởng đến kết quả bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu HDND thành phố và đại biểu HĐND huyện. Ngoài đơn vị bầu cử số 4 ở xã Tráng Việt, đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp xã số 4 xã Hoàng Long (Phú Xuyên, Hà Nội) cũng phải bầu cử lại. Sở Nội vụ Hà Nội cho hay vi phạm tại xã Hoàng Long là in sai tên ứng cử viên (từ "bà" in thành "ông"), đến lúc kiểm phiếu mới phát hiện ra. Trước đó ngày 29/5, Ủy ban Bầu cử quốc gia quyết định hủy bỏ kết quả bầu đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2021-2026 tại đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp xã số 4, xã Hoàng Long và đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp xã số 4, xã Tráng Việt "vì có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong công tác bầu cử". Hai đơn vị này sẽ phải tổ chức bầu cử lại vào ngày 6/6 tới.

Một số giải pháp thực hiện quan điểm “dân thụ hưởng” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII

“Dân thụ hưởng” là một trong những điểm mới quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII trong tổng thể phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. 



                                                     

Lấy dân làm gốc là bài học truyền thống trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Kế thừa và phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh luôn chú trọng tầm quan trọng của việc lấy dân làm gốc trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Người từng nhấn mạnh: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”(1). Người cũng đã đặt nền tảng tư tưởng cho phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà Đảng ta luôn quán triệt, vận dụng, phát triển ngày càng sâu sắc.

Đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn 35 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung một nội dung mới quan trọng và vô cùng ý nghĩa, đó là “Dân thụ hưởng”, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(2). Điều này cho thấy, Đảng ta luôn chú trọng đặt quyền lợi của người dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối của mình với mục đích cuối cùng là người dân được thụ hưởng thành quả.

Để “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(3), đảm bảo người dân được thụ hưởng, cần chú trọng những yếu tố và điều kiện sau đây:

Một là, để quan điểm, chủ trương “dân giám sát và dân thụ hưởng” của Đảng được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn cần quyết tâm rất lớn từ nhận thức đến hành động của cả hệ thống chính trị. Nhận thức phải thống nhất từ trên xuống dưới, nhất là đối với cơ sở.

Phương châm “dân thụ hưởng” chỉ trở thành hiện thực khi mối quan hệ giữa người dân và chính quyền trở thành dịch vụ công ích minh mạch, chứ không phải “xin - cho” hay “ban phát”. Theo đó, cần có hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho cấp ủy, tổ chính quyền các cấp; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, các hội hợp pháp phối hợp chặt chẽ, hoạt động thuận lợi. Ban Dân vận cấp cơ sở tham mưu cho cấp ủy đảng các bộ ngành quan tâm rà soát, quán triệt và thực hiện nghiêm túc những nội dung liên quan đến phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện quy chế dân chủ, đẩy mạnh phương châm “dân thụ hưởng”.

Hai là, “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(10). Thực hiện công bằng xã hội phải gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, bảo đảm nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, tạo hành lang pháp lý để kiến tạo mô hình hệ thống an sinh xã hội với các trụ cột cơ bản (phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro).

Ba là, phải có chế tài cụ thể để đảm bảo điều kiện thực thi “dân giám sát, dân thụ hưởng”. Theo đó, nếu không làm hoặc làm sai thì phải chịu trách nhiệm. Thậm chí, nếu gây khó dễ cho vai trò giám sát, lợi ích của dân, gây ảnh hưởng đến lợi ích, quyền lợi chính đáng của dân thì phải bị xử lý trách nhiệm và đền bù thỏa đáng. Chỉ có như vậy mới khắc phục được tình trạng chế tài chưa đủ mạnh, chưa đủ tính răn đe; dẫn đến đường lối đúng, chủ trương hay nhưng lại bị “méo mó, biến dạng” khi đưa vào thực tiễn cuộc sống.

Cần phát huy quyền làm chủ của người dân gắn quyền lợi với trách nhiệm. Khuyến khích, nâng cao nhận thức cho người dân, tạo điều kiện thúc đẩy việc lắng nghe, trao đổi, đối thoại. Củng cố cơ chế khiếu nại, tố cáo cho hiệu quả. Cần có hình thức trọng tài bảo vệ quyền của người dân khi bị ảnh hưởng.

Bốn là, bồi dưỡng, giáo dục, củng cố, phát huy năng lực, tư duy hiện đại và thái độ vì dân phục vụ, tận tụy và cống hiến của đội ngũ công chức, viên chức trong bộ máy công quyền. Cán bộ, công chức phải thực sự cầu thị, coi trọng ý kiến, phản ánh của người dân cũng như gần gũi, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và bức xúc của người dân để đối thoại, tiếp thu, phản hồi, xử lý nhanh nhạy, kịp thời và hiệu quả. “Dân thụ hưởng” phải được bắt đầu từ việc “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”(11) của đội ngũ công chức, viên chức. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị phải luôn thấm nhuần bài học: Đảng ta lấy lợi ích của nhân dân để định hướng mục tiêu lãnh đạo, lấy sự ủng hộ của nhân dân làm chỗ dựa cho hành động; lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo kết quả.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh có chất lượng việc sắp xếp tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả bộ máy hành chính, công quyền, trong đó tập trung: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”(12). Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, tăng cường phân công, phân cấp; mạnh dạn trao quyền tự chủ cho địa phương, cơ sở, nhấn mạnh trách nhiệm và phát huy sáng tạo của người đứng đầu. Bảo đảm sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trên cơ sở “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước, và của cán bộ, công chức, viên chức”(13) để mọi người dân đều được thụ hưởng công bằng, bình đẳng./.

 (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.13, tr.164.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.2, tr.249, 248.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.

Quỹ vaccine Covid-19 nhận hơn 100 tỷ đóng góp sau vài ngày

Người dân và doanh nghiệp đã chuyển khoản trực tiếp tới Quỹ vaccine Covid-19 hơn 103 tỷ đồng chỉ sau vài ngày. Thông tin trên được Ban quản lý Quỹ vaccine phòng Covid-19 cho biết vào chiều 3/6 - chưa đầy một tuần sau khi tài khoản của quỹ tại ngân hàng và Kho bạc Nhà nước được công bố. Tại sự kiện ra mắt quỹ vaccine phòng Covid-19 được tổ chức vào 5/6 tới, Thủ tướng cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành, doanh nghiệp sẽ tham gia cùng kêu gọi người dân và doanh nghiệp tham gia đóng góp. Bộ Tài chính sẽ công khai việc đóng góp của người dân, doanh nghiệp, có thể dưới hình thức công bố trên trang mạng của Kho bạc Nhà nước hoặc Bộ Tài chính. Quỹ vaccine Covid-19 chỉ phục vụ hai mục tiêu là mua vaccine Covid-19 hoặc hỗ trợ sản xuất vaccine trong nước. Dự kiến, Việt Nam cần mua 150 triệu liều vaccine để tiêm phòng cho 75 triệu người dân, với tổng nhu cầu kinh phí 25.200 tỷ đồng. Ngân sách trung ương dự kiến bố trí khoảng 16.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương chi và huy động đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức khoảng 9.200 tỷ đồng. Chia sẻ với VnExpress, lãnh đạo Vụ Ngân sách Nhà nước (Bộ Tài chính) cho biết, bằng mọi cách Bộ Tài chính phải sắp xếp đủ nguồn lực để mua vaccine tiêm cho toàn dân. Nguồn tiền mua vaccine chủ đạo vẫn đến từ ngân sách, tuy nhiên, mọi sự đóng góp của doanh nghiệp và người dân sẽ giúp giảm bớt gánh nặng ngân sách và được trân trọng. Bên cạnh khoản tiền chuyển trực tiếp vào tài khoản của quỹ vaccine, nhiều doanh nghiệp lớn đã cam kết đóng góp cho các quỹ vaccine số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Trong đó, các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp đã ủng hộ hơn 2.300 tỷ đồng. Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN (400 tỷ), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PVN (400 tỷ), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VNPT (400 tỷ), Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) 200 tỷ, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) 200 tỷ, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) 200 tỷ, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) 200 tỷ, Tập đoàn Công nghiệp Than -Khoáng sản Việt Nam (TKV) 200 tỷ, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba) 100 tỷ Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam (VIMC) 50 tỷ đồng. Bộ Y tế cũng đã tiếp nhận hàng trăm tỷ đồng từ các doanh nghiệp ủng hộ vào Quỹ mua vaccine. 4 ngân hàng Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank hỗ trợ 100 tỷ đồng; Tập đoàn Hoà Phát (50 tỷ đồng), Tập đoàn DOJI và Ngân hàng TPBank 20 tỷ đồng. Tập đoàn Vingroup cũng tặng số tiền tương đương 4 triệu liều vaccine, Tập đoàn Sovico Group và HDBank ủng hộ 60 tỷ đồng (tương đương 1 triệu liều vaccine)...

Việt Nam sẵn sàng đón các đội 'xạ thủ bắn tỉa' thi Army Games

Việt Nam cơ bản hoàn thiện công tác chuẩn bị, sẵn sàng đón các đội tuyển đến thi “Xạ thủ bắn tỉa” và “Vùng tai nạn” trong khuôn khổ Army Games 2021. Chiều 3/6, hội nghị trực tuyến quốc tế lần thứ ba chuẩn bị cho Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games) năm 2021 được tổ chức với sự tham gia của đại diện 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thượng tướng I. A. Buvaltsev, Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn, Bộ tổng Tham mưu Các lực lượng vũ trang Liên bang Nga - nước tổ chức các kỳ Army Games, chủ trì hội nghị. Trao đổi về việc Việt Nam đăng cai hai nội dung thi đấu "Xạ thủ bắn tỉa" và "Vùng tai nạn" trong khuôn khổ Army Games 2021, thiếu tướng Thái Văn Minh, Cục trưởng Quân huấn (Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam) cho biết, trên cơ sở kết quả các lần trao đổi song phương và đa phương, đến nay Việt Nam đã cơ bản hoàn thiện công tác chuẩn bị, sẵn sàng đón đội tuyển các nước đến tham gia hội thao. Nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao dự kiến được tổ chức bên lề hội thao như: Trưng bày triển lãm văn hóa tại Nhà hữu nghị, biểu diễn nghệ thuật, tổ chức một số trò chơi dân gian, giao lưu thể dục thể thao... "Tham gia Hội thao Army Games 2021 và chuẩn bị, đăng cai thành công hai nội dung trong khuôn khổ Hội thao 2021 sẽ khẳng định quyết tâm, uy tín, và thành công của Việt Nam nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng về thực hiện mục tiêu kép trong tình hình Covid-19", tướng Minh nói. Hồi đầu tháng 2, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Nga trao đổi trực tuyến về các môn thi Việt Nam tổ chức trong khuôn khổ Army Games 2021. Theo đó, Việt Nam sẽ tổ chức hai môn thi Cứu hộ cứu nạn và bảng 2 môn Bắn tỉa dành cho các nước thuộc châu Á - Thái Bình Dương. Theo thông tin từ phía Bộ Quốc phòng Nga, Army Games 2021 dự kiến diễn ra từ ngày 22/8 đến 4/9, với 277 đội tuyển đến từ 41 quốc gia và vùng lãnh thổ tranh tài tại 34 nội dung. Các nội dung đua tài diễn ra tại thao trường thuộc nhiều quốc gia. Năm 2020, Quân đội Nhân dân Việt Nam cử quân tham gia 11 trên 31 nội dung thi đấu trong khuôn khổ hội thao quân sự Army Games 2020 và Liên hoan văn hóa các dân tộc "Tình bạn không biên giới" do Nga tổ chức. Chung cuộc, các quân nhân vô địch bảng 2 đua xe tăng (Tank Biathlon) và ba huy chương đồng. Trong đó, đội tuyển Cứu hộ cứu nạn giành huy chương đồng trong lần thứ hai tham gia Army Games. Đội tuyển Bắn tỉa xếp thứ 4 chung cuộc, được trao hai giải phụ nhờ thành tích hạng nhì trong giai đoạn 3 và hạng ba trong giai đoạn 4.

Việc nhà trong giãn cách

Năm người cùng ở nhà, bên nhau toàn thời gian hóa ra không lãng mạn như tôi tưởng. Ngày thứ ba của tuần đầu tiên giãn cách xã hội, tôi bảo chồng: "Hay nhà mình chỉ ăn hai bữa mỗi ngày thôi? Em mệt quá!". Sáng ra, chỉ nghĩ đến việc hôm nay cả nhà sẽ ăn gì và lại ăn gì trong ba bữa đã khiến tôi chán ngán. Vòng quay mỗi ngày là: ăn - làm việc, học - ăn - làm việc, học - ăn - con ngủ, bố mẹ tiếp tục làm việc. Có gia đình còn chế thêm mục "mắng nhau" trong thời gian biểu mùa dịch khiến tôi bật cười. Nhưng thực sự, chúng tôi mau chóng cảm thấy nản. Chưa kể, giữa vòng quay đó là những lần các con léo nhéo khóc đòi ba mẹ làm quan toà; đang họp online thì phải đứng dậy nấu cơm vì con kêu đói; chưa hết giờ làm bị vợ giục đi siêu thị nếu không nó đóng cửa. Trước đây, khi Covid chưa gõ cửa, chúng tôi vẫn than phiền về việc vợ chồng con cái chỉ gặp nhau vài tiếng mỗi ngày. Sau giờ tan trường, bọn trẻ ăn uống tắm rửa rồi đi ngủ sớm. Buổi sáng, đứa lớn ra khỏi nhà khi chúng tôi chưa tỉnh giấc. Tôi cảm thấy thời gian dành cho gia đình không bao giờ đủ. Khi tổng thống Pháp ban hành lệnh phong tỏa vào tháng tư năm ngoái, tôi có chút phấn khích. Đây sẽ là khoảng thời gian lịch sử, cả gia đình tôi sẽ ở bên nhau 24/7, đúng như ao ước. Tôi hào hứng lên kế hoạch chi tiết cho hoạt động của cả nhà, tin tưởng rằng mọi việc sẽ chạy êm ru như con tàu TGV đặc trưng của nước Pháp. Nhưng đời không như là mơ. Mặc dù được ở nhà nhưng vợ chồng tôi vẫn phải làm việc đủ ngày 7 tiếng. Đôi khi sếp cũng thông cảm, cho phép làm bù vào buổi tối nếu việc không quá gấp. Tương tự, ba con tôi dù ở nhà vẫn học trực tuyến, phải lên mạng đúng giờ như ở trường, hàng ngày phải trả bài đầy đủ cho thầy cô. Không chỉ đơn giản là "có mặt" trên mạng, các cháu còn cần người lớn bên cạnh để hỗ trợ các vấn đề kỹ thuật. Vậy là, mang tiếng "được ở nhà", nhưng chúng tôi quay cuồng với những nhiệm vụ cộng dồn: trợ giảng, trông trẻ, chợ búa cơm nước, vệ sinh, lau dọn nhà cửa trong khi vẫn làm việc như đang ở công sở. Vẫn từng đấy công việc nhưng giờ đây khối lượng gấp 3, 4 lần, vì ở nhà cả 24/7, mọi nhu cầu đều tăng lên. Mọi kế hoạch hoạt động thể chất lẫn tinh thần ban đầu tôi hào hứng vạch ra đều đổ bể. "Trò của mẹ chán quá", các con kêu, còn tôi thì quá mệt khi phải chạy theo chúng. Lúc này tôi mới hiểu vì sao người ta ví "trốn như chó mẹ trốn con". Nhiều khi tôi chỉ muốn nhốt mình trong phòng riêng, đóng chặt cửa để có được đôi phút yên tĩnh một mình. Tôi bàn với chồng về việc cắt giảm bữa ăn, đỡ tốn thời gian nấu nướng và ăn uống, dọn rửa, "không hoạt động nhiều thì cần nhiều năng lượng làm gì". Và chúng tôi giảm bữa ăn thật. Một bữa ăn đầu ngày đầy đủ, bữa tối ăn rất ít và chủ yếu là rau. Đại dịch Covid-19 đã khiến không ít gia đình tan vỡ. Những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19 như Anh, Mỹ và Trung Quốc đều có tỷ lệ ly hôn tăng cao không lâu sau các kỳ phong toả. Có lẽ, Covid-19 không tạo ra những lý do mới để các cặp đôi đệ đơn ly hôn mà chính khoảng thời gian ở cạnh nhau quá nhiều khiến họ nhận ra rõ hơn, rằng họ không thực sự thuộc về nhau, hay có thể bền bỉ cùng nhau vượt qua những trở ngại và khác biệt. Tuy vậy, Kinch - luật sư của văn phòng luật Stewarts, Anh - nhận thấy, đến 76% đơn ly hôn năm ngoái đến từ các bà vợ, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính do phần lớn công việc không được trả lương như chăm sóc con cái, nhà cửa đều dồn lên vai phụ nữ. Nhiều người vợ, khi kỳ phong toả bắt đầu, đều phấn khích nghĩ rằng "a, giờ đây chồng mình sẽ có thêm thời gian để chia sẻ việc nhà, thật tuyệt". Tuy nhiên, thực tế lại không diễn ra như vậy. Và mâu thuẫn sớm muộn đã đến. Bạn tôi, mẹ của ba đứa con trai từ hai đến 13 tuổi tâm sự, dù không có công việc riêng, chỉ đảm nhiệm chăm sóc chồng con mà ngày nào chị cũng quay cuồng. Trước dịch, chồng đi làm, con đi lớp, chị còn có chút thời gian cho riêng mình, "giờ thì không lúc nào ngơi tay, có lúc chị tưởng mình phát điên". Ta vẫn thường bào chữa cho các ông chồng rằng, ai giỏi việc gì phải tập trung cho việc đấy. Chồng lo kinh tế cho gia đình, vợ đảm nhận việc nhà là tất lẽ dĩ ngẫu còn tranh cãi nỗi gì. Các nhà nghiên cứu thuộc Oxford, Cambridge và Zurich đã thực hiện cuộc khảo sát vào tháng ba và tháng tư năm ngoái tại Anh, Đức và Mỹ. Dữ kiện cho thấy, phụ nữ ở ba quốc gia này dành thời gian chăm sóc và giáo dục con cái trong thời gian phong toả nhiều hơn nam giới, mặc dù hai vợ chồng thu nhập bằng nhau. Khi tính về đóng góp kinh tế trong gia đình, chúng ta dường như quên việc tính giờ và cả "lương" trả cho mỗi bà vợ vì họ đã chăm sóc con cái, nấu nướng hay dọn dẹp. Nhưng chúng ta sẵn sàng trả lương cao cho người giúp việc. Nếu các ông chồng phải trả lương cho vợ mình, có ai thử tính mỗi tháng sẽ là bao nhiêu? Chia sẻ việc nhà với vợ là một nhẽ, nhưng có bao nhiêu ông chồng tự giác, hay đợi vợ bảo gì làm nấy, hoặc vợ "nhờ" cũng không làm? Bên cạnh những việc bày ra trước mắt như rửa bát, lau nhà, đi chợ, nấu cơm, còn vô số những đầu việc vô hình: khi nào phải giặt quần áo, giặt thế nào, bao giờ cần đi chợ và mua những gì, mấy giờ con học, mấy giờ chúng phải tắm, có mấy hóa đơn phải thanh toán... Daminger, nhà nghiên cứu tại Đại học Harvard, nhận thấy các bà vợ chẳng những phải làm việc nhà nhiều hơn mà còn phải lo lắng cắt đặt, suy nghĩ về chúng nhiều hơn. Đây mới là nguyên nhân chính của cãi vã giữa các cặp đôi. Mặt khác, khi rơi vào tình trạng kiệt sức về thể chất, sức khoẻ tinh thần của chúng ta không còn được đảm bảo. Nhà tâm lý học Stan Tatkin cho rằng não bộ ta được cấu trúc để tồn tại trước, tình yêu là thứ đến sau. Để sinh tồn, trung tâm cảnh báo nguy cơ trong não bộ phát triển nhạy bén hơn bất kỳ bộ phận nào. Khi mâu thuẫn xảy ra, con người sẽ tập trung vào những điều đang đe doạ họ nhiều hơn mọi thứ. Việt Nam giãn cách xã hội gần như muộn nhất so với các nước. Đây là tin tốt vì ta có thể rút kinh nghiệm từ vấn đề của các cặp đôi ở các quốc gia khác đã gặp, kể cả những chuyện tưởng vụn vặt như "chia" việc nhà. Phương án tốt nhất chỉ đến khi vợ chồng, con cái cùng thẳng thắn nói ra mong muốn của mình, bàn cách hợp tác. Cứ im lặng rồi trách đối phương sao không tự hiểu là liều thuốc độc với mọi mối quan hệ. Quản trị gia đình cũng cần kiến thức. Để cùng nhau vượt qua đại dịch trong hòa bình, vợ chồng tôi quyết định thỏa hiệp và thả lỏng: không trở thành bố mẹ hoàn hảo, không cần bữa ăn nào cũng phải ngon và đẹp mắt như ảnh "nhà người ta" trên mạng. Và quan trọng hơn, cả nhà cho nhau thời gian riêng tư để nạp lại năng lượng. Có những thứ nhiều quá cũng không tốt, mà thiếu thì lại nguy.

Thông khí, tiếp nước khi đang mặc bảo hộ có thể lây nhiễm nCoV

Theo các chuyên gia, việc thông khí, tiếp nước trong khi làm việc ở môi trường nguy cơ lây nhiễm mà không đảm bảo vô trùng sẽ tăng nguy cơ mắc Covid-19 cho nhân viên y tế. Tiến sĩ Nguyễn Thu Anh, chuyên gia về dịch tễ học thuộc Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock (chuyên về phổi) thuộc Đại học Sydney, cho biết: Việc thổi không khí vào quần áo bảo hộ PPE để làm mát cho cán bộ y tế đi lấy mẫu là không nên. Vì việc tăng lưu động không khí từ bên ngoài (không khí có thể mang virus) vào sẽ làm tăng mức độ tiếp xúc của nhân viên y tế với virus. "Về lý thuyết, việc thông khí có thể an toàn khi không khí được làm sạch. Trên thực tế, kể cả khi áp dụng các biện pháp làm sạch không khí, cần đánh giá, kiểm định mức độ an toàn", tiến sĩ Thu Anh nói. Cùng quan điểm, tiến sĩ - bác sĩ Trần Thị Hoa, chuyên gia cố vấn các chương trình đào tạo y khoa, cho biết: "Xét về mặt vi sinh y khoa, các biện pháp trên không an toàn. Bởi vì không có bằng chứng đảm bảo luồng không khí đưa vào đã vô trùng nên sẽ có khả năng các loại vi sinh, kể cả nCoV, len lỏi trong đó và trở thành một nguồn lây nhiễm cho nhân viên y tế". Ngoài ra, theo tiến sĩ Thu Anh việc "tiếp nước" cho nhân viên y tế qua bình đeo có ống dẫn có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm nCoV. Để quay mặt hút nước, nhân viên y tế phải cởi khẩu trang. Quy trình cởi bỏ khẩu trang đúng là phải cởi bỏ găng tay, quần áo bảo hộ, kính và cuối cùng mới đến khẩu trang. "Chỉ cởi khẩu trang trong khi vẫn mặc đồ bảo hộ sẽ làm virus trên bề mặt đồ bảo hộ có cơ hội xâm nhập vào cơ thể", tiến sĩ Thu Anh giải thích. Nếu không cởi bỏ khẩu trang mà đặt ống hút bên trong thì khẩu trang không còn khít, không đảm bảo quy định phòng chống nhiễm khuẩn. Theo tiến sĩ Thu Anh, để giải quyết câu chuyện mất nước của cán bộ y tế, trước khi vào ca làm việc, cần uống nước bù điện giải với lượng vừa để tránh phải đi vệ sinh. Nên cắt ngắn ca làm việc, luân phiên nhau, chọn khung giờ và khu vực lấy mẫu râm mát. "Ngoài ra, nhân viên y tế có thể sử dụng áo choàng hoặc tạp dề kèm khẩu trang N95 và kính bảo hộ như khuyến cáo của CDC Mỹ và châu Âu, Australia, New Zealand, Nhật áp dụng với nhân viên y tế lấy mẫu", tiến sĩ nhấn mạnh. Trong điều kiện thời tiết nắng nóng hiện nay, tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Hữu Quân, Khoa Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai cho rằng các nhân viên y tế mặc trang phục bảo hộ kín mít với chất liệu polymer có thể dễ dẫn đến sốc nhiệt. "Do cơ thể mất hoàn toàn các cơ chế thải nhiệt chính như bức xạ, đối lưu hay bay hơi", bác sĩ Quân giải thích. Ngoài ra, theo bác sĩ Quân, một số sinh viên trẻ trước đó ít vận động nên khi tham gia lấy mẫu sẽ chưa quen với nhịp vận động này, dẫn đến dễ bị sốc nhiệt, ngất khi làm việc liên tục nhiều giờ đồng hồ. Do đó, bác sĩ đề xuất giải pháp thay đổi giờ làm việc để tránh thời gian nắng nóng, thay đổi chất liệu trang phục bảo hộ và thiết kế buồng lấy mẫu kín để giảm áp lực cho đội ngũ y tế. Theo bác sĩ Hoa, để tránh tình trạng mất nước, nhân viên y tế nên bổ sung nước có chất khoáng thay vì chỉ bổ sung nước lọc. Công thức nước gồm 8 thìa cà phê đường và một thìa cà phê muối (đường mía và muối ăn nguyên chất). Nếu không thích nước đường muối thì có thể thay bằng các dung dịch khác như: nước cháo gạo, luộc rau/đậu, gạo/đậu rang cho thêm muối (vị nhạt hơn nước canh thường ngày). Nếu có điều kiện thì dùng các nước trái cây như dừa, mía, hoặc chanh, mơ cũng cho thêm đường và muối với lượng đường muối là 8:1 thìa cà phê gạt ngang, trừ nước mía chỉ cho thêm một thìa muối/lít nước mía đã pha loãng. Theo bác sĩ Hoa, đây là những loại nước có thể thay thế dung dịch oresol mà các chuyên gia UNICEF và WHO đã nghiên cứu, ứng dụng điều trị cho người mất nước.

'Việt Nam đã đàm phán được 170 triệu liều vaccine Covid-19'

Tổng số liều vaccine phòng Covid-19 Việt Nam đã đàm phán được là 170 triệu, "từ tháng 8 sẽ nhập về tương đối nhiều", theo Thứ trưởng Y tế Trương Quốc Cường. Tại họp báo chiều 3/6, Thứ trưởng Cường nói Bộ Y tế được giao nhiệm vụ nhập 150 triệu liều vaccine phòng Covid-19, tiêm cho 70% dân số từ 18 tuổi trở lên. "Về cơ bản, Việt Nam đã tiếp cận được số lượng này. Nhưng khi đàm phán nhập khẩu chúng ta phải ký cam kết với nhà sản xuất miễn trừ trách nhiệm nếu có sự cố trong quá trình sử dụng vaccine. Tất cả công ty đều buộc Việt Nam phải chấp nhận điều khoản có thể không giao hàng đúng tiến độ", ông Cường cho hay. Trong khi đó, Việt Nam là nước kiểm soát tốt dịch bệnh, nên có một số lượng vaccine dự kiến được chuyển về Việt Nam, nhưng sau đó lại phải chuyển sang nước khác, như Lào và Campuchia, khi dịch bệnh ở hai nước này lan rộng. "Việt Nam tiếp cận vaccine sớm nhưng không được ưu tiên trong vấn đề cung ứng vì kiểm soát tốt dịch bệnh", Thứ trưởng Cường nói và khẳng định, từ tháng 8/2021 trở đi "sẽ có tương đối nhiều vaccine được nhập về". Trong đó Pfizer cung cấp hơn 15 triệu liều trong quý 3; hơn 15 triệu liều khác trong quý 4... "Ngoài các hợp đồng trước đây, chúng tôi đã đặt mua của Covax thêm 10 triệu, mua Pfizer thêm 20 triệu liều... Như vậy, tổng số liều vaccine mà Việt Nam đã đàm phán được là 170 triệu", ông Cường thông tin. VnExpress đặt câu hỏi: Vừa qua Chính phủ khuyến khích địa phương, doanh nghiệp tham gia đàm phàn, mua, nhập khẩu vaccine phòng Covid-19, vậy cơ chế để các đơn vị tham gia nhập vaccine và kiểm soát chất lượng như thế nào? Thứ trưởng Cường trả lời, các doanh nghiệp, địa phương có hai cách tham gia vào việc nhập vaccine, đóng góp tiền vào Quỹ vaccine hoặc trực tiếp nhập khẩu từ nguồn tin cậy. Tuy nhiên, hiện nay vaccine được nhập về Việt Nam đều trong tình trạng khẩn cấp, mặc dù chất lượng được nhà sản xuất đảm bảo, nhưng khi sử dụng có thể có phản ứng phụ và cần theo dõi. Một số vaccine cần bảo quản ở điều kiện, tiêu chuẩn cao. Theo ông Cường, vì được cấp phép trong tình trạng khẩn cấp, nên việc kiểm soát chất lượng vaccine phòng Covid-19 chủ yếu dựa trên hồ sơ, không thể theo tiêu chí chất lượng vaccine thông thường. Việt Nam sẽ chấp nhận các vaccine đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các nước phát triển cấp phép như Mỹ, Nga, châu Âu... "Để đảm bảo chất lượng vaccine tốt nhất, các doanh nghiệp cần mua trực tiếp từ nhà sản xuất thay vì qua trung gian, vì sẽ khó đảm bảo chất lượng, điều kiện bảo quản", ông Cường nói. Nếu doanh nghiệp mua qua đơn vị ủy quyền chính thức của nhà sản xuất thì phải có văn bản xác nhận, để Bộ Y tế kiểm tra.   Thứ trưởng Y tế Trương Quốc Cường trả lời báo chí chiều 3/5. Video: Lộc Chung Theo Thứ trưởng Tài chính Tạ Anh Tuấn, nguồn kinh phí mua vaccine cũng như chi phí tiêm rất lớn; tính toán sơ bộ nếu Việt Nam nhập khoảng 150 triệu liều vaccine thì tổng chi phí trên 25.000 tỷ đồng. Ngoài ra, người dân có thể phải tiêm lại hàng năm. Vừa qua Bộ Tài chính đã báo cáo và Thủ tướng quyết định thành lập quỹ vaccine; số dư của quỹ hiện nay gần 104 tỷ đồng; ngoài ra Bộ Y tế được một số đơn vị tài trợ khoảng 1.000 tỷ đồng và số tiền này sẽ được chuyển vào quỹ. Bộ Tài chính đang tích cực làm việc với các đơn vị liên quan như Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước. Các doanh nghiệp của Ủy ban cam kết sẽ ủng hộ cho quỹ khoảng 2.000 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cũng đang và sẽ ủng hộ quỹ vaccine. "Chúng tôi sẽ làm việc với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cũng như một số ngành liên quan, thông tin về việc ủng hộ quỹ vaccine bằng nhiều hình thức đơn giản, thuận tiện nhất, góp phần cùng ngân sách nhà nước đảm bảo nguồn kinh phí để mua vaccine phòng Covid-19", ông Tuấn nói. Trước đó Bộ Y tế thông tin Việt Nam đã đàm phán thành công và sẽ có hơn 120 triệu liều vaccine phòng Covid-19 trong năm 2021, từ các hãng AstraZeneca, Pfizer-BioNTech, Moderna, từ Nga và Cơ chế Covax. Trong đó, Covax tài trợ miễn phí 38,9 triệu liều vaccine. Việt Nam đã nhận hai lô, gồm 811.200 liều vào ngày 1/4 và 1.682.400 liều vào ngày 16/5, đều là vaccine AstraZeneca. Ngoài ra, Việt Nam đã đặt mua trực tiếp 30 triệu liều từ AstraZeneca, đã nhận hai lô tổng cộng hơn 400.000 liều. Với vaccine Sputnik V của Nga, Bộ Y tế đã thỏa thuận mua 20 triệu liều trong năm 2021, tuy nhiên chưa rõ thời gian cung ứng.

Thứ trưởng Y tế: 'Bắc Giang còn một ổ dịch phức tạp'

Bắc Giang đã kiểm soát được hai ổ dịch tại xã Phương Sơn và KCN Vân Trung, chỉ còn ổ dịch thôn Núi Hiểu phức tạp, theo Thứ trưởng Y tế Nguyễn Trường Sơn. Tối 3/6, Thứ trưởng Y tế Nguyễn Trường Sơn, Trưởng bộ phận thường trực đặc biệt của Bộ Y tế hỗ trợ chống dịch tại Bắc Giang, cho biết ba thôn Núi Hiểu, Trung Đồng, My Điền (xã Quang Châu, huyện Việt Yên) rất đông công nhân. "Đây là lõi của tâm dịch huyện Việt Yên và tỉnh Bắc Giang hiện nay, đặc biệt tại thôn Núi Hiểu", ông Sơn nói. Thực hiện yêu cầu của Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống Covid-19, những ngày qua tỉnh Bắc Giang đã giãn bớt công nhân ra khỏi khu vực này. Những người có kết quả xét nghiệm dương tính được đưa đi điều trị tại cơ sở y tế; người xét nghiệm âm tính đi cách ly tập trung; người trong diện nghi ngờ ở lại để tiếp tục theo dõi, tránh lây nhiễm ra cộng đồng. "Dù còn phức tạp, ổ dịch tại ba thôn này cơ bản được khống chế. Đến nay chỉ còn khoảng 3.000 công nhân ở đây. Số ca dương tính từ ổ dịch này vẫn còn nhưng sẽ giảm và đều trong khu cách ly, phong tỏa", Thứ trưởng Sơn phân tích. Vì vậy, những ngày tới, các lực lượng chống dịch sẽ dồn sức để dập ổ dịch nêu trên. Theo ông Sơn, vì khu vực tập trung rất đông công nhân nên Bộ Y tế và địa phương sẽ kiên trì chiến lược xét nghiệm nhiều lần để sàng lọc dần. Dự kiến cứ 2-3 ngày, công nhân ở xã Quang Châu sẽ được xét nghiệm một lần. Bắc Giang đang thí điểm cách ly công nhân ngay tại nhà trọ, coi như khu cách ly tập trung. Những người trong khu vực cách ly chỉ ở nhà, không ra ngoài. Dự kiến ngày 4/6, địa phương sẽ di chuyển 2.800 công nhân tại thôn Núi Hiểu đến các khu cách ly tập trung trên địa bàn huyện Việt Yên để tránh lây nhiễm chéo. Ngoài ra, Bắc Giang vẫn còn một số ca ngoài cộng đồng, nên Bộ Y tế khuyến cáo cần tiếp tục xét nghiệm mẫu gộp ở các khu vực ngoài huyện Việt Yên để đánh giá tình hình dịch bệnh trên toàn tỉnh một cách khoa học. "Bắc Giang đã bước đầu kiểm soát được dịch bệnh trên toàn tỉnh, số ca nhiễm được khống chế, sẽ từ từ giảm trong những ngày tới", Thứ trưởng Sơn cho hay. Trước đó, Bắc Giang có ba ổ dịch chính tại xã Phương Sơn, huyện Lục Nam; khu công nghiệp Vân Trung; khu công nghiệp Quang Châu. Như vậy đến nay hai ổ dịch đã được kiểm soát, chỉ còn ổ dịch tại khu công nghiệp Quang Châu (tập trung tại thôn Núi Hiểu) phức tạp. Ban Chỉ đạo phòng chống Covid-19 tỉnh Bắc Giang chiều 3/6 dự báo, số ca nhiễm những ngày tới "có chiều hướng giảm, tập trung trong nhóm công nhân trong khu nhà trọ tại thôn Núi Hiểu, Tam Biểu". Đến tối nay, toàn tỉnh ghi nhận 2.828 ca Covid-19; hơn 18.600 F1; hơn 82.000 F2. 5 ngày qua, Bắc Giang đã tiêm được hơn 100.000 liều vaccine, sớm hơn kế hoạch dự kiến 2 ngày (trước đó dự kiến tiêm trong một tuần). Tỉnh đã lấy hơn 237.000 mẫu xét nghiệm tầm soát cộng đồng tại các huyện an toàn; 4 người có kết quả dương tính tại huyện Sơn Động ngày 2/6. Tổng số mẫu xét nghiệm những ngày qua toàn tỉnh là gần một triệu.

THỰC TIỄN THỰC HIỆN DÂN CHỦ THỜI GIAN QUA

 

Thời gian qua, nhận thức về dân chủ và thực hành dân chủ của các cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác kiểm tra, giám sát được tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đạt được những kết quả quan trọng. Thực hiện cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính có sự nỗ lực, sáng tạo đáng ghi nhận. Công tác đối thoại, tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được quan tâm, chú trọng hơn. Tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có nhiều tiến bộ. Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, tổ hòa giải ở cơ sở nhiều nơi hoạt động khá hiệu quả, phát huy được dân chủ trực tiếp của nhân dân tại địa bàn dân cư.


Nhà nước tạo những điều kiện thuận lợi để nhân dân nắm bắt các chủ trương, chính sách; nắm được những thủ tục hành chính giải quyết các công việc liên quan; biết được quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về sử dụng đất đai, dự toán, quyết toán ngân sách... Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được cụ thể hóa trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ở cơ sở, người dân đã chủ động bàn bạc, tham gia ý kiến, thực hiện quyền làm chủ, bày tỏ chính kiến của mình.… tạo khí thế phấn khởi, khích lệ các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua, góp phần đưa đất nước vượt qua khó khăn, giành được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tạo sự đồng thuận trong xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; nâng cao vị thế đất nước ta trên trường quốc tế.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong mối tương quan so sánh với nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước, thực tiễn dân chủ ở Việt Nam vẫn còn có những hạn chế, bất cập, cả ở việc nhận thức, thực hành, phát huy dân chủ và giám sát và phản biện xã hội; chưa lý giải và làm sáng tỏ kịp thời nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp.

Công tác tuyên truyền, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa kịp thời và thực chất; nhiều nơi thực hiện còn mang tính hình thức, chậm trễ. Cơ chế công khai các nội dung liên quan ở nhiều địa phương, cơ sở còn chưa đầy đủ. Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân tham gia bàn và quyết định các vấn đề của địa phương, giám sát, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ở một số nơi còn thiếu thực chất. Việc thực hiện quy chế dân chủ trong các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước, khu vực dân doanh còn nhiều hạn chế, vướng mắc; có lúc, có nơi còn tình trạng vi phạm dân chủ, gây bức xúc, khiếu kiện đông người, vượt cấp. Việc nắm tình hình và xử lý các vi phạm quyền làm chủ của nhân dân chưa kịp thời. Số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến các cơ quan chức năng còn cao; việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo chưa được như mong muốn; chưa khắc phục được tình trạng chính quyền ở không ít nơi chưa đối thoại với công dân...

Bên cạnh những bức xúc dẫn đến khiếu kiện, xuất phát từ tình trạng tiêu cực, quan liêu của bộ máy công quyền ở một số nơi, thì vẫn còn một bộ phận người dân lợi dụng dân chủ để yêu cầu, đòi hỏi không chính đáng, không đúng pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, thậm chí bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia biểu tình, gây rối, tụ tập đông người, làm mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, vi phạm pháp luật.

Từ những hạn chế, bất cập nêu trên, có thể nói việc phát huy dân chủ ở không ít nơi vẫn còn mang tính hình thức. Theo đó, quá trình thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Khi việc thực hiện dân chủ còn những khiếm khuyết, thiếu thực chất và chưa đầy đủ, thì đó sẽ là một rào cản lớn đối với sự phát triển của đất nước. Đó còn là sự lãng phí nguồn lực nội sinh - không thể mở rộng cơ hội để huy động một cách triệt để, hiệu quả các nguồn lực, trước hết là trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân tham gia vào sự phát triển. Sự hạn chế về dân chủ còn khiến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là sức mạnh tinh thần và văn hóa khó tránh khỏi bị phân tán, lãng phí.

Nguyên nhân chính của những hạn chế, bất cập vẫn là do chưa thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương, phương châm của Đảng, chưa phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân vào mọi “ngõ ngách” của đời sống, dẫn đến việc hiểu và thực hiện chưa thống nhất.

Nghị quyết Đại hội XIII đã bổ sung, cụ thể thêm một bước tư tưởng phục vụ nhân dân trong đường lối chủ trương của Đảng. “Dân hưởng thụ” chính là sự phát triển về chủ trưởng, quan điểm của Đảng, có ý nghĩa thiết thực, quan trọng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “…trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Theo đó, xây dựng và phát huy nguồn lực con người là động lực quan trọng, yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ tới. Nói cách khác, nhân dân được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình đưa chủ trương quyết sách của Đảng vào cuộc sống. Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóa định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới là khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.

Thêm 52 ca Covid-19

Bộ y tế sáng 4/6 ghi nhận 52 ca dương tính trong nước, gồm tại Bắc Giang 35, Bắc Ninh 14, Hà Nội 2 và Thái Bình một. Như vậy sau 39 ngày bùng phát, tổng số ca Covid-19 trong nước đã vượt 5.000. Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 5.008, ghi nhận ở 37 tỉnh thành. 52 ca mới được ghi nhận từ số 8064-8115, nâng tổng số ca nhiễm tại Bắc Giang lên 2.713, Bắc Ninh 965, Hà Nội 430 ca (trong đó Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương 93 ca, 50 ca ở Bệnh viện K), Thái Bình 21. Xem thêm Bản đồ vùng dịch Lây nhiễm cộng đồng từ 27/4 Tỉnh Hôm nay Tổng Bắc Giang +35 2713 Bắc Ninh +14 965 Hà Nội +2 430 Thái Bình +1 21 TP HCM 288 Đà Nẵng 158 Vĩnh Phúc 90 Lạng Sơn 80 Điện Biên 58 Hải Dương 50 Hà Nam 45 Hưng Yên 37 Long An 10 Hòa Bình 7 Nam Định 6 Thừa Thiên Huế 5 Thanh Hóa 5 Ninh Bình 4 Đăk Lăk 4 Phú Thọ 4 Bình Dương 3 Thái Nguyên 3 Quảng Nam 3 Quảng Trị 3 Hải Phòng 3 Trà Vinh 2 Đồng Tháp 1 Tây Ninh 1 Gia Lai 1 Bạc Liêu 1 Sơn La 1 Tuyên Quang 1 Yên Bái 1 Quảng Ninh 1 Quảng Ngãi 1 Nghệ An 1 Đồng Nai 1 Tin Covid-19 hôm nay 1-5051-100101-200201-500501+ Bắc Giang Ca 8064-8066, 8083-8112, 8114-8115 ghi nhận tại tỉnh Bắc Giang trong khu cách ly và khu vực đã được phong tỏa, liên quan đến công nhân làm tại các khu công nghiệp. Bắc Ninh Ca 8067-8075, 8078-8082 gồm 6 ca liên quan ổ dịch Khu công nghiệp Khắc Niệm, 3 ca liên quan ổ dịch Khu công nghiệp Quế Võ, 2 ca liên quan ổ dịch Thuận Thành, 3 ca đang điều tra dịch tễ. Thái Bình Ca 8076, nữ, 75 tuổi, địa chỉ tại huyện Kiến Xương, liên quan đến ổ dịch cũ, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 3/6 dương tính với nCoV. Bệnh nhân đang được cách ly điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Hà Nội Ca 8077, 8113 gồm một ca có tiền sử đi về từ TP HCM, một ca là F1 của 5243. Kết quả xét nghiệm ngày 3/6 họ dương tính với nCoV.

Giám đốc rủ nhân viên cắm trại ở công ty để tránh dịch

TP HCMÔng Phạm Thanh Truyền dựng lều ở hai tầng nhà, tổ chức nấu ăn và vận động nhân viên ở lại công ty hết 15 ngày giãn cách, khi dịch bệnh hạ nhiệt mới về nhà. 5h30 chiều, các nhân viên trong công ty kiến trúc của ông Truyền ở quận 10, kết thúc ngày làm việc như thường lệ. Không một ai vội vã về nhà bởi ba hôm nay họ cùng nhau ở lại công ty để hạn chế di chuyển, tiếp xúc khi dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp ở thành phố, nhiều ca nhiễm chưa xác định được nguồn lây. "Sau lời kêu gọi người dân hạn chế ra đường khi không cần thiết của thành phố, tôi vận động mọi người ở lại công ty đến khi nào tình hình dịch được kiểm soát thì về, trước mắt là 15 ngày giãn cách. Bạn nào không ở lại thì sẽ làm việc tại nhà. Mình chủ động cách ly trước khi bị cách ly, mọi thứ đã có công ty lo", vị giám đốc 50 tuổi nói. Từ tuần trước, ông Truyền đã cho những nhân viên ở các quận như Tân Phú, Gò Vấp, nơi có nhiều ca nhiễm Covid -19 hay thuộc diện F3, F4 làm việc tại nhà. Tuy sống ở những nơi chưa xuất hiện ca nhiễm, nhưng 28 trong số 45 nhân viên khối văn phòng của công ty quyết định ở lại theo lời kêu gọi.

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN


Khái niệm “dân thụ hưởng” thể hiện sự quan tâm thiết thực đến đời sống của người dân, nghĩa là người dân có quyền được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển. Đồng thời, khi người dân được thụ hưởng, được thỏa mãn các lợi ích chính đáng, sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi người hăng hái cống hiến, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của xã hội. Mối quan hệ biện chứng giữa thụ hưởng và cống hiến nếu được thực hiện được đúng sẽ tạo ra một xung lực mới trong quá trình phát triển đất nước. Từ đó, hoàn thiện và hiện thực hóa thêm một bước tư tưởng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân


Khi nói dân thụ hưởng nghĩa là đang nhấn mạnh việc thực hiện hóa nội dung “có làm có hưởng”. Đồng thời, nhấn mạnh đến sự bao trùm, đến đa số nhân dân, mọi giai cấp, mọi tầng lớp đều có cơ hội bình đẳng về mặt thụ hưởng thành quả của sự phát triển; chứ không chỉ là một số nhóm xã hội hay những tầng lớp có ưu thế hơn. Hơn thế, khi nói dân thụ hưởng không phải chỉ đơn thuần là Đảng muốn hướng đến ý nghĩa sâu xa, bao quát, mà đó chính là việc thỏa mãn các lợi ích chính đáng, đa dạng trong xã hội của người dân, để biến lợi ích trở thành động lực cho sự phát triển. Đây là sự phát triển trong nhận thức của Đảng, là động lực hoàn thiện các chủ trương, đường lối của Đảng trong tiến trình phát triển, lãnh đạo đất nước.

Chúng ta thường nói nhiều đến quyền làm chủ của người dân, nhưng việc cụ thể hóa quyền đó với các quy định rõ ràng và cơ chế thực hiện hiệu quả thì vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Điều này trải qua một quá trình phát triển nhận thức và hành động khá dài qua nhiều giai đoạn.

Đảng ta từ khi thành lập đến nay, trong tất cả các cương lĩnh đều lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân, giải phóng giai cấp. Từ cương lĩnh lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba rồi các văn kiện đại hội đều đặt nhân dân là mục tiêu để phấn đấu. Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (3/2/1930 – 3/2/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đây chính là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta.

Tại Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta nêu quan điểm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là nền nếp hằng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý Nhà nước của mình”(5). Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ cần phải xây dựng cơ chế cụ thể trong thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử, làm chủ trực tiếp bằng hình thức tự quản, bảo đảm dân chủ trong quá trình ra quyết định và thực hiện các quyết định.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhấn mạnh: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”. Văn kiện Đại hội XII cũng khẳng định: “vai trò của nhân dân đã được phát huy trong việc bảo đảm việc thực thi thực chất, đầy đủ và rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”.

Có thể thấy, việc bảo đảm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Ngay ở Điều 1 Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “... Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Ðiều 2), “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” ./.