Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
(CNXH) là tư tưởng nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ
Chí Minh.
Trong hành trình tìm đường cứu nước và trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh luôn xác định, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và là nguyên nhân dẫn đến những thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thể hiện một cách tập trung những luận điểm sáng tạo lớn về lý luận của Hồ Chí Minh.
Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, Nguyễn
Ái Quốc khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đó là con đường Cách mạng Tháng Mười Nga
(1917), bởi theo Người: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã
thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc
tự do, bình đẳng thật”. Con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng
vô sản là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để. Cuộc cách mạng đó
không chỉ giải phóng giai cấp, mà gắn liền với nó là giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội.
Sau khi tìm được đường lối cứu nước đúng đắn,
Nguyễn Ái Quốc chủ trương đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô
sản. Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn
thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng xác định đường lối chiến lược của
cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để
đi tới xã hội cộng sản". Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong
Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa
nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản, chính là làm cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân tiến lên CNXH. Giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội gắn liền mật thiết với nhau thể hiện ở mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
Trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám
(1939-1945), khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, nhân dân Việt Nam và
Đông Dương đứng trước nguy cơ tồn vong dưới sự cai trị của thực dân Pháp và
quân phiệt Nhật. Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 8 do lãnh tụ Hồ Chí
Minh chủ trì (5-1941), khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn
đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì
chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi
của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Khi thời cơ khởi
nghĩa (8-1945) đã đến, Người chỉ rõ: "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn,
cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".
Trong "Tuyên ngôn độc lập" đọc tại
Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân
lý mới có ý nghĩa thời đại: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và
sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. Với "Tuyên ngôn độc lập", Hồ
Chí Minh đã tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập dân tộc và quyền dân tộc
tự quyết của dân tộc Việt Nam. Trong đó, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia,
toàn vẹn lãnh thổ vừa là tiền đề, vừa là điều kiện tiên quyết của chế độ dân chủ,
tạo tiền đề để Việt Nam xây dựng một chế độ mới, đem lại cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc cho nhân dân.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, thù
trong, giặc ngoài âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, hòng áp đặt ách cai trị
dân tộc ta một lần nữa. Trước tình thế hiểm nghèo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh
đạo toàn Đảng, toàn dân ta cùng một lúc chống 3 thứ giặc: “Giặc đói, giặc dốt
và giặc ngoại xâm”. Khôn khéo, linh hoạt, Người đã chèo lái con thuyền cách mạng
Việt Nam vượt qua thác ghềnh hiểm nguy “ngàn cân treo sợi tóc”, tranh thủ thời
gian xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng non trẻ.
Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước
ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến". Người
khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ!”; đồng thời, chủ trương đẩy mạnh kháng chiến và kiến
quốc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thức tỉnh chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, là ánh
sáng soi đường, truyền cảm hứng cho nhân dân ta quyết tâm chiến đấu, hy sinh bảo
vệ thành quả cách mạng, làm nên chiến thắng lịch sử “lừng lẫy Điện Biên, chấn động
địa cầu”, đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công.
Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi,
miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bước vào thời kỳ cách mạng mới,
cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiếp
tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Tại miền
Bắc, trong bối cảnh quá độ lên CNXH với điểm xuất phát thấp, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa, tiến thẳng lên CNXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: Quá độ lên CNXH
trong điều kiện nước ta phải làm dần dần, từng bước, không chủ quan, nóng vội;
phải biết tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa anh em;
tìm tòi, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để tìm ra cách thức, bước đi phù hợp với
thời kỳ quá độ lên CNXH. Phải luôn xuất phát từ điều kiện thực tiễn của đất nước,
tôn trọng quy luật khách quan, tránh chủ quan, nóng vội, giáo điều, dập khuôn,
máy móc. Người cho rằng, thắng thực dân, đế quốc đã khó, nhưng thắng bần cùng
và lạc hậu còn khó hơn nhiều. Xây dựng xã hội mới là một cuộc chiến đấu khổng lồ,
để giành thắng lợi, phải dựa vào lực lượng toàn dân, động viên, tổ chức, phát
huy được sức mạnh vĩ đại của toàn dân.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng miền Nam,
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc.
Năm 1966, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân
và hải quân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm,
20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể
bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập,
tự do”. Chân lý mà Người nêu ra trở thành lẽ sống, phương châm hành động của
các thế hệ người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ. Nhờ vậy, đã khơi dậy và phát huy
tinh thần yêu nước triệu người như một sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập,
tự do của Tổ quốc, với tinh thần: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả vì sự
nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Sự đồng lòng của cả dân tộc
đã làm nên thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thu non song về một mối, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch
sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên CNXH. Nguồn cội của mọi
thắng lợi vĩ đại đó là do Đảng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
Trong quá trình lãnh đạo toàn dân tộc tiến
hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi mục tiêu đấu
tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do của đồng bào là lẽ sống của mình. Quyền độc
lập dân tộc không tách rời quyền con người và độc lập là điều kiện tiên quyết để
đem lại hạnh phúc cho mỗi người dân. Đồng thời, độc lập dân tộc còn là điều kiện
để dân tộc Việt Nam được quyền sống bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới
và các dân tộc trong nước được chung sống bên nhau một cách bình đẳng, hòa thuận
và cùng nhau đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Sau khi giành được độc lập
dân tộc phải đưa đất nước tiến lên xây dựng CNXH, nhằm giải phóng con người, giải
phóng xã hội, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc cho mọi người, mọi dân tộc.
Theo quan niệm của Người, giải quyết vấn đề
dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở cuộc đấu tranh để giành độc
lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp cách mạng đó mới chỉ đi được
một chặng đường ngắn mà thôi. Bởi theo Người: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập
rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ
biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Do thấu
hiểu cảnh sống nô lệ, lầm than, đói rét và tủi nhục của nhân dân các dân tộc Việt
Nam trong thời thực dân, phong kiến nên Người chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ
quan trọng của cách mạng là phải xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng cuộc sống
ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Đó là một chế độ xã hội
tốt đẹp mà trong đó “Xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần
ngày càng tốt".
Như vậy, độc lập dân tộc và CNXH là tư tưởng
lớn, xuyên suốt trong hành trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt
Nam của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Nhờ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập, giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, từng bước xây dựng đất nước ngày càng đàng
hoàng hơn, to đẹp hơn, xứng đáng với mong ước của Người khi sinh thời./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét