Khái niệm “dân thụ hưởng” thể hiện sự quan tâm thiết thực đến đời sống của người dân, nghĩa là người dân có quyền được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển. Đồng thời, khi người dân được thụ hưởng, được thỏa mãn các lợi ích chính đáng, sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi người hăng hái cống hiến, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của xã hội. Mối quan hệ biện chứng giữa thụ hưởng và cống hiến nếu được thực hiện được đúng sẽ tạo ra một xung lực mới trong quá trình phát triển đất nước. Từ đó, hoàn thiện và hiện thực hóa thêm một bước tư tưởng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân
Khi nói
dân thụ hưởng nghĩa là đang nhấn mạnh việc thực hiện hóa nội dung “có làm có hưởng”.
Đồng thời, nhấn mạnh đến sự bao trùm, đến đa số nhân dân, mọi giai cấp, mọi tầng
lớp đều có cơ hội bình đẳng về mặt thụ hưởng thành quả của sự phát triển; chứ
không chỉ là một số nhóm xã hội hay những tầng lớp có ưu thế hơn. Hơn thế, khi
nói dân thụ hưởng không phải chỉ đơn thuần là Đảng muốn hướng đến ý nghĩa sâu
xa, bao quát, mà đó chính là việc thỏa mãn các lợi ích chính đáng, đa dạng
trong xã hội của người dân, để biến lợi ích trở thành động lực cho sự phát triển.
Đây là sự phát triển trong nhận thức của Đảng, là động lực hoàn thiện các chủ
trương, đường lối của Đảng trong tiến trình phát triển, lãnh đạo đất nước.
Chúng ta
thường nói nhiều đến quyền làm chủ của người dân, nhưng việc cụ thể hóa quyền
đó với các quy định rõ ràng và cơ chế thực hiện hiệu quả thì vẫn còn có những hạn
chế, bất cập. Điều này trải qua một quá trình phát triển nhận thức và hành động
khá dài qua nhiều giai đoạn.
Đảng ta từ
khi thành lập đến nay, trong tất cả các cương lĩnh đều lấy mục tiêu giải phóng
dân tộc, giải phóng nhân dân, giải phóng giai cấp. Từ cương lĩnh lần thứ nhất,
thứ hai, thứ ba rồi các văn kiện đại hội đều đặt nhân dân là mục tiêu để phấn đấu.
Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (3/2/1930 – 3/2/1960), Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của
nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Trong Di chúc, Người
căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo,
là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đây chính là quan điểm chỉ đạo
xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta.
Tại Đại hội
VI (tháng 12/1986), Đảng ta nêu quan điểm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, đó là nền nếp hằng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động
tự quản lý Nhà nước của mình”(5). Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ cần
phải xây dựng cơ chế cụ thể trong thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước;
thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử, làm chủ
trực tiếp bằng hình thức tự quản, bảo đảm dân chủ trong quá trình ra quyết định
và thực hiện các quyết định.
Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011) tiếp tục nhấn mạnh: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân”, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh:
“Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân
dân, được nhân dân tham gia ý kiến”. Văn kiện Đại hội XII cũng khẳng định:
“vai trò của nhân dân đã được phát huy trong việc bảo đảm việc thực thi thực chất,
đầy đủ và rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm: “Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”.
Có thể thấy,
việc bảo đảm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta không chỉ được khẳng định
trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện
thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Ngay ở Điều 1 Hiến pháp
năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp
chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “... Tất cả quyền bính trong nước là của toàn
thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp,
tôn giáo”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức” (Ðiều 2), “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công
dân” ./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét