Thứ Tư, 23 tháng 6, 2021

TẠI SAO TRẢ TỰ DO CHO NGUYỄN THÚY HẠNH?

 

          Ngày 18/6/2021, Đài Á Châu Tự Do (RFA) đã đăng tải bài viết “Ân xá Quốc tế mở chiến dịch viết thư kêu gọi nhà nước Việt Nam trả tự do cho bà Nguyễn Thúy Hạnh” và sau đó được Huỳnh Ngọc Chênh (chồng Nguyễn Thúy Hạnh) cùng một số đối tượng như Nguyễn Đình Thục, Nguyễn Lân Thắng... chia sẻ trên mạng facebook. Theo đó, ngày 17/6/2021 vừa qua, Tổ chức nhân quyền Ân xá Quốc tế đã thực hiện cái gọi là“công bố lời kêu gọi hành động khẩn cấp đến với 10 triệu thành viên của tổ chức này trên toàn cầu, phát động chiến dịch viết thư nhằm yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho nhà hoạt động Nguyễn Thúy Hạnh”.

          Trong bài viết được RFA chia sẻ còn cho rằng bà Ming Yu Hah, Phó Giám đốc Khu vực phụ trách chiến dịch đã phát biểu xuyên tạc về việc Nguyễn Thúy Hạnh bị bắt khi cho rằng:“Vụ bắt giữ bà Nguyễn Thúy Hạnh có tính chất trơ trẽn và mang động cơ chính trị nhằm bịt miệng một trong những nhà hoạt động nhân quyền tiêu biểu nhất ở Việt Nam.” Thậm chí, họ còn xuyên tạc, vu cáo tội danh của Nguyễn Thúy Hạnh “làm, tàng trữ, phát tát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 của Bộ Luật Hình sự năm 2015  đã bị nhiều tổ chức nhân quyền trên thế giới chỉ trích là công cụ để Nhà nước trấn áp và trừng phạt những người bất đồng chính kiến và nhà hoạt động trong nước.

          Là những tổ chức nhân danh quốc tế như “Ân xá quốc tế”, “Theo dõi nhân quyền”, “Phóng viên không biên giới”, “Ngôi nhà tự do”... nhưng thực chất là công cụ của Bộ Ngoại giao Mỹ để âm mưu tiến hành xuyên tạc sự thật về thực trạng dân chủ, nhân quyền ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam cũng như khuyến khích các hoạt động chống phá chế độ, chống phá Nhà nước để từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của họ. Ân xá quốc tế (Amnesty Intenational - AI) là một tổ chức mang danh nghĩa là “ân xá quốc tế”, bảo vệ nhân quyền nhưng những báo cáo mà họ đưa ra lâu nay luôn thể hiện cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan, vô căn cứ. Và lần này đối với Nguyễn Thúy Hạnh thì tổ chức Ân xá quốc tế cũng không ngoại lệ khi chức này đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc, vu cáo liên quan đến việc Nguyễn Thúy Hạnh bị bắt.

          Đầu tiên, việc Ân xá Quốc tế gọi Nguyễn Thuý Hạnh là một “tù nhân lương tâm” hay cho rằng Nguyễn Thúy Hạnh bị cầm tù chỉ vì “thực hành các quyền con người của mình một cách ôn hoà và làm các công việc thiện nguyện, và cần phải được trả tự do ngày lập tức và vô điều kiện” là những luận điệu hoàn toàn xuyên tạc, vô căn cứ. Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” như những gì mà tổ chức Ân xá quốc tế đã đưa ra mà chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng pháp luật. Thực tế “Tù nhân lương tâm” là cách mà những kẻ chống phá đất nước gọi những kẻ đã có những hành vi phạm pháp luật Việt Nam, chống phá đất nước đang phải trả giá trong các trại giam.

          Và việc Nguyễn Thúy Hạnh bị Cơ quan An ninh điều tra – Công an TP Hà Nội thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam ngày 07/4 vì tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng là điều đã được dự báo từ trước với những hành động vi phạm của mình. Bởi lẽ, Nguyễn Thúy Hạnh được giới “dân chủ” trong và ngoài nước biết đến với biệt danh “nhà kinh doanh dân chủ” khi là thủ lĩnh của cái gọi là “Quỹ 50k” hay đứng ra để gây quỹ, tài trợ tiền cho cái gọi là các “tù nhân lương tâm”, “dân oan”, “thương phế binh VNCH” hay gần đây là các đối tượng chống đối gây ra vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra ở Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội) do “Tổ Đồng thuận” gây ra. Nguyễn Thúy Hạnh cũng là người tích cực trong các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc vụ việc xảy ra ở Đồng Tâm, đồng thời viết bài đăng tải trên facebook cá nhân để kêu gọi ủng hộ quỹ cho gia đình Lê Đình Kình thông qua tài khoản ngân hàng Vietcombank của y.

          Do đó, việc Ân xá quốc tế cho rằng Nguyễn Thúy Hạnh bị bắt là do “thực hành các quyền con người của mình một cách ôn hoà và việc  “kêu gọi hành động khẩn cấp đến với 10 triệu thành viên của tổ chức này trên toàn cầu, phát động chiến dịch viết thư nhằm yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho nhà hoạt động Nguyễn Thuý Hạnh” cũng chỉ là chiêu trò để cho Ân xá quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. “Gieo nhân nào gặt quả ấy”, Nguyễn Thúy Hạnh sẽ phải chịu những hình phạt nghiêm khắc của pháp luật và sẽ không có tổ chức hay cá nhân nào có quyền “trả tự do do” cho Hạnh như những gì Huỳnh Ngọc Chênh và đồng bọn “dân chủ” đang ảo tưởng.

LỢI DỤNG DỊCH BỆNH COVID-19 ĐỂ CHỐNG PHÁ

 

          Việt Nam đang trong đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 lần thứ 4, là đợt bùng phát phức tạp nhất, diễn ra trong bối cảnh cả đất nước tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Việc tổ chức thành công bầu cử và đang từng bước kiểm soát được dịch bệnh là thành công rất lớn của Đảng, Nhà nước ta. Trong khi cả hệ thống chính trị vào cuộc với quyết tâm cao nhất để thực hiện những mục tiêu đó thì trên nhiều diễn đàn mạng xã hội, các tổ chức phản động ở nước ngoài, đối tượng cơ hội chính trị lưu vong lại ra sức xuyên tạc về thành quả và nỗ lực của Việt Nam trong phòng chống dịch và tổ chức bầu cử.

          Dù những thông tin về Covid-19 luôn được cập nhật liên tục, công khai trên các phương tiện truyền thông báo chí, truyền thông chính thống của Việt Nam, thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân, cộng đồng quốc tế, nhưng với các tổ chức phản động, chúng luôn tìm cách bóp méo sự thật, gây bất ổn, hoang mang dư luận.

          Nhiều bài viết mang tính xuyên tạc trắng trợn bầu cử trong bối cảnh dịch bệnh xuất hiện trên các trạng mạng của tổ chức khủng bố Việt Tân, Việt Nam thời báo, Tiếng dân… hay một số đối tượng phản động lưu vong, tổ chức truyền thông chống Cộng ở nước ngoài, phủ nhận hoàn toàn quan điểm của Đảng trong công tác chống dịch.

          Một số đối tượng lấy hình ảnh từ cơ quan truyền thông chính thống đưa lên mạng xã hội với những phân tích vô căn cứ, bóp méo sự việc để thu hút người xem, lèo lái dư luận theo hướng tiêu cực. Mục đích vẫn là làm rối loạn trật tự xã hội, chia rẽ chính quyền với nhân dân. Đó là các đối tượng mong “thừa nước đục thả câu”, mục đích cuối cùng là phá hoại đất nước.

          Trên các trang mạng phản động, những dòng trạng thái lố bịch nhằm làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang dư luận liên tục xuất hiện. Ở đâu đó nơi xứ người, những nhà “dân chủ tự xưng” bỗng “lo lắng”, quan tâm đến chuyện phòng chống dịch ở Việt Nam, sự hằn học với chế độ được bộc lộ qua những ngôn từ mỉa mai, dường như thích thú với sự hoành hành của dịch bệnh để có cớ chỉ trích, xuyên tạc nỗ lực chống dịch của chính quyền Việt Nam.

          Điển hình, đối tượng Nguyễn Văn Đài – từng bị tuyên án 15 năm tù về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đang lưu vong tại Đức, lên mạng công khai âm mưu lợi dụng dịch bệnh để lật đổ chế độ tại Việt Nam.

          Việc tiếp tục lợi dụng dịch bệnh để bóp méo xuyên tạc nhằm chống phá đất nước càng cho thấy các tổ chức phản động, các đối tượng cơ hội chính trị luôn mang tư tưởng dân tộc cực đoan, thù hận.

          Trên thực tế, chúng ta đã làm rất tốt các khâu phòng chống dịch trong quá trình bầu cử, minh chứng là không có bất cư ca lây nhiễm nào do bầu cử. Chính phủ, Bộ Y tế đang nỗ lực cao nhất để đàm phán mua thêm vacxin phòng Covid 19 sớm nhất, đảm bảo độ bao phủ tiêm chủng rộng nhất, dù chi phí không hề rẻ, nhưng người dân được tiêm miễn phí, và có cơ chế ưu tiên phù hợp cho từng đối tượng, đó chính là sự nhân văn mà mỗi người dân đều thấy được từ chế độ chính trị tại Việt Nam.

          Làm tốt 5k, mỗi người dân nâng cao ý thức chấp hành các khẩu hiệu hành động của Chính phủ, Bộ Y tế, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các đối tượng phản động, chỉ tiếp thu thông tin qua các kênh truyền thông chính thống, có như vậy đợt dịch thứ 4 chắc chắn sẽ sớm được kiểm soát.

HÀNH TRÌNH CỦA NHỮNG CON RẮN ĐỘC MANG TÊN "VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN IDS"


I.HOÀN CẢNH RA ĐỜI.

Ngày 27/9/ 2007 một nhóm các nhà nghiên cứu độc lập tổ chức họp và quyết định thành lập một tổ chức gọi là "Viện Nghiên cứu Phát triển IDS". Hồ sơ được đăng ký tại Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ngày 18/10/2007 Sở Khoa học Công nghệ Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ cho Viện IDS.


II.NHỮNG NHÀ SÁNG LẬP VIỆN PHÁT TRIỂN IDS.

1- Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội.

2- Chu Hảo.

3- Phan huy Lê.

4- Phan Hồng Giang, TSKH, nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội

5- Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM, TP HCM.

6- Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội.

7- Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM.

8- Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng chính phủ, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội.

9- Hồ Uy Liêm, nguyên Phó chủ tịch LH các Hội KH&KT Việt Nam, Hà Nội.

10- Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội.

11- Huỳnh Tấn Mẫm, BS, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước năm 1975, TP HCM

12- Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An

13- Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội.

14- Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

15- Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế.


 III.NHỮNG THÔNG TIN GÂY NGỘ ĐỘC CHÍNH TRỊ CHO NHÂN DÂN CỦA IDS.

 Những tác hại từ các thông tin hoàn toàn sai lệch về lịch sử dân tộc, về các lãnh đạo Đảng, nhà nước, bôi nhọ, phủ định chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh, ca ngợi thái quá công lao của một số người nhằm đánh vào tâm lý mê tín, tệ sùng bái cá nhân, trực tiếp ca ngợi Mỹ, sống theo chuẩn Mỹ, phương Tây....Dưới đây là một trong những tin tức độc hại lây lan như con rắn độc trực tiếp hay gián tiếp làm suy giảm lòng tin vào Đảng và nhà nước...!


1. Phủ định XHCN của Việt Nam, ca ngợi thị trường tự do của tư bản phương Tây. Ví dụ như ca ngợi tư tưởng kinh tế của Hayek.

2. Phủ định kết quả cuộc chống Mỹ cứu nước, cho rằng là nội chiến Việt Nam, miền Bắc xâm lược Miền Nam, huynh đệ tương tàn....

3. Cho rằng chủ trương cải cách ruộng đất (CCRĐ) là của Đảng nhằm tàn sát địa chủ, chủ trương sai lầm của BCT và Bác Hồ.

4. Dựng lên vụ án oan chống Đảng năm 1967. Bảo đó là đảo chính của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

5. Ca ngợi những thành viên phản Đảng.

6. Đòi phi chính trị hóa quân đội nhân dân, CAND.

7. Đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp nước CHXHCNVN.

8. Dựng chuyện ông Lê Duẩn và ông Sáu Thọ ám sát Bác Hồ thông qua vụ phi công Trần Ngọc Bích đỗ sai đường băng.

9. Chê bai chính sách kinh tế thời cố TBT Lê Duẩn, bảo rằng ông là nguyên nhân dẫn đến Việt Nam nghèo đói.

10. Dựng chuyện Lê Đức Thọ giết 3 tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam là: Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện và Hoàng Văn Thái.

11. Công khai ủng hộ Pháp, Mỹ đô hộ Việt Nam và bảo rằng đem văn minh đến cho Việt Nam (gần đây Dương Trung quốc nói Pháp mượn đường Việt nam để đánh Trung quốc).

12. Mượn danh tiếng cụ Phan Chu Trinh để công khai phê phán Bác Hồ lựa chọn sai đường lối cho đất nước. Cho rằng con đường đấu tranh của Bác Hồ là "bạo lực cách mạng" là không cần thiết, tổn hại đến dân tộc.

13. Năm 2013 những nhà tri thức thuộc viện IDS có gửi tới nhà nước 1 bản kiến nghị thay đổi tên nước Việt nam nhân dịp QH chuẩn bị thông qua Hiến pháp 2013.

14. Mới đây nhất ra cuốn sách Gạc Ma vòng tròn bất tử (GMVTBT), bôi nhọ, cắt ghép câu nói của cố đại tướng, chủ tịch nước Lê đức Anh.

15. Ngày 27-28/02/2019 nhân dịp tổng thống Mỹ đến Hà nội gửi thư của 100 nhân sĩ, trí thức và các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) gửi Tổng thống Mỹ TumP.

16. Ra sức bài tàu thoát hán. Gần Mỹ, me tây, sống chuẩn Mỹ.


IV. KẾT LUẬN KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC IDS

Cả trên giấy tờ lẫn trước dư luận, các cựu lãnh đạo của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS luôn tự tuyên bố rằng tổ chức này là một tổ chức khoa học công nghệ, đăng ký pháp nhân trên cơ sở Luật Khoa học – Công nghệ Việt Nam, và hoạt động tư vấn dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học. Nhưng đó có phải là sự thật không? Không chắc.

Trong thực tế, viện IDS có rất ít đặc điểm của một tổ chức khoa học. Trong khi đó nó lại có thừa đặc điểm của một tổ chức chính trị mạo danh. Thực tế đó thể hiện rõ ràng qua những bằng chứng này:

-Từ khi sáng lập đến khi giải thể, viện IDS chưa từng đưa ra được một công trình nghiên cứu khoa học nào.

- Dù viện IDS tuyên bố rằng họ hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và tư vấn về phát triển cho các tổ chức có nhu cầu, hoạt động thực tế của viện lại hoàn toàn tập trung vào việc tổ chức sự kiện và trả lời phỏng vấn báo chí hay đứng hơn là hoạt động chính trị.

-Trong ba đề tài nghiên cứu mà viện IDS từng chọn, đề tài đầu tiên mang tên Cải cách Giáo dục và Y tế nhìn từ góc độ kinh tế học. Tuy vậy, trong số những thành viên viên viện tham gia “nghiên cứu” trong đề tài này, không ai có kiến thức chuyên môn về giáo dục và y tế. Như vậy, phải khẳng định rằng ngay từ đầu, các kết luận và tư vấn mà viện IDS đưa ra đã có tính phi khoa học.

- Ngay sau khi có tư cách pháp nhân, viện IDS đã làm việc với nhóm tác giả của nghiên cứu “Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam” của trường John F. Kennedy School of Government, Đại học Harvard, Mỹ. Làm sao một tổ chức dân sự mới thành lập, không danh tiếng, thậm chí chưa làm ra một sản phẩm nào cho đời lại có thể liên kết với đại học Havard, trừ phi tổ chức đó được thành lập để làm vỏ bọc cho một kế hoạch chuyển đổi chính trị chung mà các thành viên viện và giới chức Mỹ đã thống nhất với nhau từ trước?

-Trong các hội thảo và phát ngôn trước truyền thông, viện IDS chưa bao giờ cảnh báo những nguy cơ mà kinh tế, văn hóa và xã hội Việt Nam phải đối mặt khi mở cửa. Thay vào đó, họ chỉ ca ngợi những phép màu của “kinh tế tự do”, và thúc giục người Việt gia nhập trật tự Mỹ mà không cần cân nhắc. Các thành viên của viện này, đặc biệt là Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh và Phạm Nguyên Trường, giống những tay chào hàng của trật tự Mỹ hơn là những người nghiên cứu khoa học có trách nhiệm và những nhân viên tư vấn công tâm.

- Ngày 14/09/2009, hội đồng viện IDS đã quyết định giải tán Viện để phản đối quyết định số 97/2009/QĐ-TTg, theo đó các tổ chức nghiên cứu khoa học có phản biện ngược với chính sách của Chính phủ thì không được công bố công khai. Để lý giải cho cuộc quyên sinh gây sóng gió của mình, họ tuyên bố rằng quyết định nêu trên của chính quyền khiến viện “không thể hoạt động theo đúng sứ mệnh”. Tuy nhiên, chính lời lý giải bất hợp lý này đã làm lộ rõ bản chất chính trị của viện. Vì nếu IDS thật sự là một tổ chức nghiên cứu và tư vấn khoa học như tuyên bố, họ hoàn toàn có thể tiếp tục cung cấp dịch vụ nêu trên cho những khách hàng của mình, và không công khai thành quả nghiên cứu với công chúng. Nếu hội đồng viện IDS cảm thấy viện bị “bức tử” vì quyết định này, thì phải khẳng định rằng viện được lập ra không phải để nghiên cứu và tư vấn, mà là để làm chính trị bằng cách dắt mũi truyền thông.

Ngoài ra, với cách thức hoạt động của mình, viện IDS hoàn toàn có thể giữ vai trò của một trung tâm mua bán thông tin nội bộ và vỏ bọc che giấu gián điệp kinh tế. Cũng cần lưu ý rằng viện IDS chỉ là một trong những vỏ bọc mà một nhóm lợi ích sử dụng để thao túng quá trình chuyển đổi kinh tế – chính trị thông qua dư luận và cộng đồng học thuật. Ngay cả khi viện này đã tự giải thể, những quân cờ của nhóm lợi ích đó vẫn tiếp tục hoạt động dưới những vỏ bọc mới mẻ hơn, hoặc chính thống hơn. Chẳng hạn, nhìn nhân sự liên quan, có thể liên tưởng ngay đến những tổ chức như Quỹ Phan Chu Trinh, Văn đoàn Độc lập và Diễn đàn Xã hội Dân sự.

Câu hỏi đặt ra là: vì sao sau quyết định số 97/2009/QĐ-TTg, chỉ có viện IDS tuyên bố tự giải thể để ăn vạ ầm ĩ với dư luận, còn không ít NGO khác vẫn tiếp tục được thành lập, hoạt động nghiên cứu – tư vấn và làm ra sản phẩm thực cho xã hội từ đó đến nay? IDS không hề bị bức tử, nó chỉ giả chết để che giấu bản chất.

Qua những chiêu trò nhân danh, đánh bóng và ăn vạ để mua chuộc lòng người của tổ chức này, chúng ta có thể hiểu hơn về cách làm chính trị, mục đích và dự định của các cựu thành viên viện IDS.


 *LỜI KẾT:

Đừng để họ đánh lừa bạn bằng vỏ bọc đáng thương hại. Dối gian vẫn là dối gian, dù nhân danh tiến bộ hay nấp dưới vỏ bọc trí thức. Dối gian giả danh trí thức thì càng phải lật tẩy./.

Yêu nước ST.

Hàn Quốc mong muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam lên Đối tác chiến lược toàn diện

 

Hàn Quốc mong muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam lên Đối tác chiến lược toàn diện

 (Chinhphu.vn) - Từ quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược hiện nay, Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Park Byeong Seug bày tỏ Hàn Quốc mong muốn được nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam lên Đối tác chiến lược toàn diện.

Sáng 23/6, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã hội đàm trực tuyến với Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Park Byeong Seug.

Tại cuộc hội đàm, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, Việt Nam hết sức coi trọng và mong muốn phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với Hàn Quốc, luôn coi Hàn Quốc là đối tác quan trọng, lâu dài và là một trong những đối tác ưu tiên hàng đầu trong quan hệ quốc tế của Việt Nam. Việt Nam đánh giá rất cao và tin tưởng với chính sách hướng Nam mới của Hàn Quốc sẽ tạo cơ hội lớn cho việc tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc.

Trước đề nghị của Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc về việc nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác chiến lược toàn diện, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định, Việt Nam mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác sâu rộng với Hàn Quốc và sẵn sàng cùng với Hàn Quốc đưa quan hệ hợp tác đối tác chiến lược lên tầm cao mới trong thời gian tới; đề nghị Bộ Ngoại giao và các cơ quan hữu quan của hai nước tiếp tục xác định rõ những nội hàm, những mục tiêu cụ thể cần đạt được sau khi nâng cấp quan hệ để hai nước đưa ra được những cam kết cụ thể, tạo thuận lợi cho việc nâng cấp quan hệ, nhất là khi hai nước đang hướng tới các mốc rất quan trọng kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào năm 2022.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ bày tỏ vui mừng khi quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư song phương giữa hai nước vẫn rất tích cực mặc dù dịch bệnh tác động rất nặng nề. Mối quan hệ kinh tế tiếp tục là một trong những động lực dẫn dắt các mối quan hệ khác của hai nước. Trong điều kiện hiện nay, các nhà đầu tư, nhất là những doanh nghiệp hàng đầu Hàn Quốc vẫn coi Việt Nam là thị trường đầu tư hấp dẫn và đang tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam.

Hai nhà lãnh đạo Quốc hội đều nhận thấy việc cân bằng cán cân thương mại là một trong những yếu tố quan trọng của hai nước. Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc cho biết, Việt Nam là đối tác rất quan trọng của Hàn Quốc với khoảng hơn 8.000 doanh nghiệp Hàn Quốc đang hoạt động tại Việt Nam.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị, hai bên tăng cường hơn nữa trong kết nối hai nền kinh tế trên cơ sở các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết và tiếp tục thúc đẩy thương mại nhằm bổ sung thế mạnh cho nhau; mong muốn Hàn Quốc tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam, nhất là hàng nông sản vào Hàn Quốc để sớm khắc phục tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại song phương, hướng tới mục tiêu thương mại song phương đạt 100 tỷ USD; đồng thời hoan nghênh Samsung đầu tư trung tâm nghiên cứu phát triển tại Hà Nội, quan tâm chuỗi cung ứng công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam, đây là hướng tốt để thúc đẩy kim ngạch thương mại hai bên.

Một lần nữa, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đánh giá cao vai trò, vị trí của các nhà đầu tư Hàn Quốc và sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Hàn Quốc khắc phục khó khăn, vướng mắc để đầu tư lâu dài và thành công tốt đẹp tại Việt Nam.

Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội cảm ơn Hàn Quốc đã hỗ trợ Việt Nam trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, gần đây đã trao tặng 40 máy đo thân nhiệt từ xa với công nghệ hiện đại nhất. Hoan nghênh hai nước đã ký gia hạn Biên bản ghi nhớ hợp tác về cử lao động và tạo điều kiện cho người lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị hai nước cần tích cực hợp tác thông qua cơ chế COVAX, đảm bảo chiến lược vaccine của mỗi nước; đồng thời hai nước xem xét việc việc trao đổi chuyên gia, cũng như nghiên cứu để thí điểm hình thức du lịch hay các hoạt động khác trên cơ sở hộ chiếu vaccine thời gian tới.

Tại hội đàm, hai Chủ tịch Quốc hội cùng cho rằng, Việt Nam và Hàn Quốc cần tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Quốc hội hai nước; tạo điều kiện để các địa phương và người dân hai nước tăng cường hợp tác, giao lưu; tích cực tổ chức các hoạt động thiết thực kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ hợp tác song phương vào năm 2022, trong đó có các hoạt động trao đổi, đối thoại giữa các cơ quan của Quốc hội hai nước.

Hai nhà lãnh đạo Quốc hội cùng khẳng định quan điểm là hai nước cần tiếp tục tăng cường giao lưu nhân dân, trong đó, gia đình đa văn hóa là tài sản quý của hai nước, là cầu nối trong mối quan hệ Việt – Hàn.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị, hai bên tăng cường hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, giáo dục. Nhấn mạnh, Đội tuyển bóng bóng đá quốc gia Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Huấn luyện viên Park Hang-seo đã có thành tích dành được tấm vé quan trọng tham gia Vòng loại thứ 3 World Cup 2022 khu vực châu Á, Chủ tịch Quốc hội cho rằng, đây là biểu tượng, hình mẫu trong việc giao lưu văn hóa và vai trò của Huấn luyện viên Park Hang-seo rất đặc biệt trong việc đẩy giao lưu nhân dân, tăng cường mối quan hệ chính trị giữa hai nước.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định, Việt Nam luôn phát huy vai trò là thành viên có trách nhiệm và tích cực đóng góp cho các vấn đề hòa bình, ổn định phát triển toàn cầu, trong đó có nỗ lực thúc đẩy duy trì hòa bình, đối thoại trên bán đảo Triều Tiên. Đồng thời mong muốn Hàn Quốc ủng hộ Việt Nam hoàn thành tốt vai trò Ủy viên không thường trực của Liên Hợp Quốc trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

Tại hội đàm, hai bên khẳng định tiếp tục tăng cường hợp tác, chia sẻ trong công tác lập pháp, nhất là hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho thương mại và đầu tư, tích cực ủng hộ vai trò của nhau tại các hội nghị, diễn đàn đa phương và cơ chế hợp tác nghị viện quốc tế, qua đó góp phần vào giữ gìn và bảo vệ môi trường hòa bình, an ninh ở khu vực và trên toàn thế giới.

 

TƯ DUY MỚI VỀ AN NINH QUỐC GIA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

   Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần phải có quan niệm mới, tư duy mới về an ninh quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII.

   Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, khi đề cập tới các nhiệm vụ tăng cường quốc phòng an ninh đã nhấn mạnh: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.

   Nghị quyết Đại hội XIII cũng nêu rõ “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”; “sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống”. Trong 6 nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII có nhiệm vụ “thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”.

   Bảo vệ an ninh quốc gia có vai trò đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

   Luật An ninh quốc gia định nghĩa: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...

   Chiến lược An ninh quốc gia đầu tiên của Việt Nam được xây dựng và ban hành năm 1998. Ngày 5/9/2019 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ An ninh quốc gia. Trước đó, Bộ Chính trị cũng đã ban hành một số nghị quyết, kết luận như: Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an  tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng; Kết luận số  31-KL/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược quân sự Việt Nam; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia...

   Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến Chiến lược An ninh quốc gia cũng như Luật An ninh quốc gia còn chủ yếu nhấn mạnh vào an ninh chính trị, an ninh quân sự; chưa tương đồng với quan niệm và tư duy An ninh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và của quốc tế hiện nay; chưa đề cập sâu tới các yếu tố đặc biệt quan trọng là an ninh phi truyền thống nói chung, an ninh xã hội và an ninh con người nói riêng.

   Thực tế cho thấy, Bộ Công an hiện nay chỉ đảm nhận các công tác Công an chủ yếu trong nội địa. Công tác chủ trì bảo vệ an ninh, trật tự tại địa bàn biên giới, trên biển do Bộ Quốc phòng đảm nhận. Nhiều chức năng Công an như điều tra hình sự, an ninh hàng không, cơ yếu, phòng chống buôn lậu, bảo vệ rừng... do các bộ, ngành khác đảm nhận. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia chưa tập trung, thống nhất. Công tác an ninh đối ngoại còn nhiều “chồng chéo”. Bố trí lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia chưa hợp lý, chủ yếu ở cấp Bộ Công an và cấp tỉnh, cấp huyện và cấp phường còn mỏng. Việt Nam là một trong số rất ít các nước lớn trên thế giới chậm bố trí Công an chính quy ở nông thôn.

   Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần phải có quan niệm mới, tư duy mới về an ninh quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII với các giải pháp sau:

   Thứ nhất, hình thành tư duy và quan niệm mới về An ninh quốc gia và triển khai tư duy này trong thực tiễn.

   Đảng, Nhà nước cần bổ sung, sửa đổi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Về lâu dài cần thống nhất các Chiến lược an ninh, quốc phòng Việt Nam thành một Chiến lược An ninh quốc gia mới của Việt Nam đến 2030 và tầm nhìn đến 2045.

   An ninh quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới là an ninh toàn diện, bao gồm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

   An ninh truyền thống được hiểu là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam có liên quan đến các yếu tố quân sự đe dọa quốc gia, dân tộc. An ninh truyền thống có cốt lõi là an ninh chính trị, an ninh quân sự, lấy Nhà nước làm trung tâm của an ninh. An ninh phi truyền thống - đã được nêu ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, XII và XIII - là một loại hình an ninh mới do những yếu tố phi chính trị và phi quân sự gây ra, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển và an ninh của Việt Nam, cả khu vực và cả toàn cầu.

   An ninh phi truyền thống có các đặc điểm chủ yếu: 1) Các vấn đề an ninh phi truyền thống diễn ra ảnh hưởng trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu, mang tính xuyên quốc gia. Nó có thể phát sinh từ một quốc gia này nhưng có khả năng lan tỏa với tốc độ nhanh, phạm vi rộng đến quốc gia khác (biến đổi khí hậu, tội phạm mạng, dịch bệnh,...). 2) Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống thường do các tác nhân tự nhiên hoặc do các tổ chức ngoài nhà nước, nhóm người hoặc cá nhân tiến hành, uy hiếp trực tiếp đến cá nhân con người hoặc cộng đồng, quốc gia - dân tộc; bao gồm cả những vấn đề mang tính phi bạo lực (kinh tế, văn hóa, môi trường, an ninh mạng, dịch bệnh...) và những vấn đề mang tính bạo lực, nhưng đó là bạo lực phi quân đội (khủng bố, tội phạm có tổ chức...). 3) Giải quyết an ninh phi truyền thống nhấn mạnh đến hợp tác ứng phó, sử dụng biện pháp ngoại giao, kể cả ngoại giao giữa quân đội, công an các nước. 4) Về mặt thời gian, mặc dù an ninh phi truyền thống xuất hiện từ rất sớm nhưng về mặt khoa học vấn đề an ninh phi truyền thống được quan tâm, chú trọng “muộn hơn” an ninh truyền thống. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử (dịch bệnh, khan hiếm lương thực, khủng bố, ô nhiễm môi trường, thảm họa cháy nổ,...) nhưng do diễn ra ở phạm vi nhỏ hẹp, quy mô chưa lớn, truyền thông chưa phát triển hoặc vấn đề quyền con người chưa được quan tâm, nên ít hoặc không được quan tâm. 5) Các nguy cơ, thách thức, mối đe dọa an ninh phi truyền thống hủy hoại an ninh quốc gia dần dần và lâu dài, vì nó tác động đến các yếu tố mang tính hạt nhân hoặc bệ đỡ cho ổn định và phát triển (cá nhân con người, cộng đồng xã hội, hệ thống thể chế, hạ tầng kỹ thuật chiến lược và môi trường sống).

   Dưới góc độ khoa học Xã hội học thì cốt lõi của An ninh phi truyền thống gồm 2 nhóm: An ninh xã hội và An ninh con người; lấy xã hội, doanh nghiệp, con người làm trung tâm của an ninh. Dưới góc độ khoa học Tội phạm học, An ninh phi truyền thống gồm nhóm an ninh phi truyền thống có yếu tố bạo lực cao (tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, các mối đe dọa dẫn tới tình trạng khẩn cấp và nhóm an ninh phi truyền thống có yếu tố bạo lực thấp (an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh môi trường, an ninh y tế, an ninh du lịch, an ninh giao thông...).

   An ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện; cùng tác động đến xây dựng chiến lược an ninh quốc gia. Theo đó, tư duy mới về An ninh quốc gia là tổng hòa của an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

   Mục tiêu của an ninh truyền thống là ổn định và phát triển bền vững của Nhà nước, chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Còn mục tiêu của an ninh phi truyền thống là ổn định và phát triển bền vững xã hội (cộng đồng), doanh nghiệp, con người. Nếu như chủ thể đảm bảo an ninh truyền thống chủ yếu là Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thì chủ thể bảo đảm an ninh phi truyền thống là các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Công cụ đảm bảo an ninh phi truyền thống chủ yếu dựa vào sức mạnh Quân đội, Công an, lực lượng bán vũ trang và nhân dân. Còn công cụ đảm bảo an ninh phi truyền thống chủ yếu dựa vào nguồn lực Nhà nước, doanh nghiệp. con người, quốc tế.

   An ninh quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bao gồm 3 bộ phận cấu thành chủ yếu: an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh con người.

   Theo nghĩa rộng, an ninh xã hội được hiểu là sự ổn định, sự bình yên, của một chế độ, một quốc gia, là trạng thái trật tự, kỷ cương, thịnh vượng, phát triển của mỗi công dân và cộng đồng xã hội trong lãnh thổ quốc gia dân tộc. Khái niệm rộng về an ninh xã hội còn được sử dụng trong khi so sánh, đánh giá mối quan hệ của vấn đề an ninh trong một đất nước với an ninh trong khu vực và toàn cầu. Theo nghĩa hẹp, việc đảm bảo an ninh xã hội có các nội dung: đồng thuận xã hội, ít xung đột xã hội; an ninh, an toàn xã hội (ít tội phạm, ít tệ nạn xã hội, trật tự an toàn giao thông đảm bảo); an ninh môi trường sống (an ninh môi trường, an toàn thực phẩm); an sinh xã hội (giảm nghèo đói, có việc làm, chăm sóc sức khỏe tốt).

   An ninh xã hội là mục tiêu quan trọng trong định hướng phát triển của mỗi Nhà nước. An ninh xã hội là bộ mặt của mỗi quốc gia, là biểu hiện bên ngoài phản ánh sự vững mạnh về chế độ chính trị, về tiềm lực kinh tế, cũng như trình độ dân trí và mức độ văn minh của quốc gia. An ninh xã hội mang tính lịch sử, có xu hướng vận động theo những tiêu chí văn minh, tiến bộ của nhân loại

   Điểm trung tâm của an ninh xã hội là an ninh con người. Khái niệm “an ninh con người” lầu đầu tiên được nêu lên trong Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 1994.

   “Báo cáo phát triển con người” năm 1994 của Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về an ninh con người là “sự an toàn của con người trước những mối đe doạ kinh niên như nghèo đói, bệnh tật và đàn áp, và những sự cố bất ngờ, bất lợi trong đời sống hàng ngày”. Ngày nay, những mối đe doạ đối với con người (thất nghiệp, ma tuý, tội phạm, ô nhiễm môi trường, vi phạm nhân quyền, xung đột vũ trang, khủng bố, tai nạn giao thông,...) không còn mang tính chất riêng lẻ đối với một quốc gia, một dân tộc nhất định mà đã trở thành vấn đề phổ biến đòi hỏi phải có sự phối hợp giải quyết của nhiều quốc gia, thậm chí là tất cả các quốc gia. An ninh xã hội, an ninh con người vì vậy đã trở thành tâm điểm của sự hợp tác quốc tế, trong đó, yếu tố con người được coi là nền tảng, là mục đích hướng tới để bảo vệ, là cấu thành quan trọng của an ninh quốc gia. An ninh xã hội, an ninh con người cũng bao hàm mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển bền vững và vấn đề bảo vệ các quyền cơ bản của con người.

   Có thể nói chính sự ra đời của khái niệm an ninh con người đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nhận thức của nhiều quốc gia về khái niệm an ninh và an ninh quốc gia.

   Nếu như theo cách hiểu truyền thống, an ninh đồng nghĩa với an ninh quốc gia, trong đó quốc gia là chủ thể cần được bảo vệ về mặt an ninh, thì theo cách hiểu mới, con người và xã hội nổi lên trở thành chủ thể chính của an ninh quốc gia và cần được ưu tiên bảo vệ. Bên cạnh đó, nếu như an ninh truyền thống (hay an ninh quốc gia truyền thống) đề cao mối đe dọa đến từ ngoại xâm đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia thì an ninh con người, an ninh xã hội (hay thường được gọi là an ninh phi truyền thống) tập trung vào các mối đe dọa thuộc “chính trị cấp thấp”, như nghèo đói, kém phát triển, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch, tội phạm, khủng bố...

   Hiện nay, những vấn đề an ninh xã hội, an ninh con người đã vượt qua khỏi phạm vi lợi ích an ninh quốc gia của một nước, trở thành những thách thức mang tính toàn cầu, bởi hoạt động của tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế nhất là khủng bố bằng vũ khí sinh, hóa học, bệnh dịch, thảm họa thiên nhiên là "không biên giới". Chính vì vậy, việc giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học - kỹ thuật và các mặt khác. An ninh quốc gia Việt Nam là tổng hòa của an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh con người.

   Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Luật An ninh quốc gia.

   Xây dựng quan niệm mới về an ninh quốc gia. Bổ sung Điều 3 khoản 1 Luật An ninh quốc gia: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự bình yên của xã hội, sự an toàn của con người trong xã hội. Bổ sung Điều 3 khoản 2 Luật An ninh quốc gia: Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo đảm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Bổ sung Điều 5 Luật An ninh quốc gia (Nguyên tắc bảo vệ An ninh quốc gia): Thiết lập thế trận bảo vệ an ninh quốc gia thống nhất, xuyên suốt từ bên ngoài biên giới quốc gia, tại biên giới quốc gia và bên trong nội địa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng”; “chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”.

   Bổ sung Điều 14 Luật An ninh quốc gia (Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia): Bảo vệ an ninh xã hội, an ninh con người.

   Thứ ba, Tiếp tục đổi mới tổ chức lực lượng Công an nhân dân trong tình hình mới.

   Quán triệt nguyên tắc: Quản lý Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội là lĩnh vực quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực nhưng do Bộ Công an đảm nhiệm là chính.

   Tiếp tục thực hiện có chất lượng, hiệu quả Nghị quyết 22-NQ-TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bố trí lực lượng Công an nhân dân theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”.

   Về lâu dài, chuyển các chức năng Công an do các Bộ, ngành khác đang đảm nhiệm về Bộ Công an để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII “thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng”.

    Tăng cường năng lực Bộ Công an theo tinh thần “...phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, hiện đại”.

   Trước những nguy cơ, thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong tình hình mới, đòi hỏi phải có quan điểm và cách tiếp cận mới; hợp tác đa phương và sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế; những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa hợp tác quốc phòng - an ninh với kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học - kỹ thuật. Hợp tác quốc tế phải được xác định là một trong những lĩnh vực ưu tiên giữa các nước trong khu vực và trên thế giới./.

CUỘC CHIẾN TRANH VỆ QUỐC CỦA NHÂN DÂN LIÊN XÔ 80 NĂM TRƯỚC BẮT ĐẦU NHƯ THẾ NÀO?

 80 năm trước, ngày 22-6-1941, phần lớn người dân Xô viết đều tin rằng, Hồng quân Liên Xô sẽ đánh bại phát xít chỉ trong vài tháng. Tuy nhiên, 1.418 ngày sau họ mới giành chiến thắng cuối cùng.

Tổng tham mưu trưởng Lục quân Đức Quốc xã Franz Halder đã viết trong nhật ký về cuộc tấn công của quân Đức vào Liên Xô sáng sớm ngày 22-6-1941: “Có lẽ, cuộc tấn công của quân đội chúng ta là sự bất ngờ về chiến thuật với đối phương trên toàn mặt trận. Những cây cầu ở biên giới bắc qua sông Bug và những con sông khác khắp mọi nơi đều bị quân chúng ta đánh chiếm mà không cần giao tranh và vẫn giữ được nguyên vẹn. Sự bất ngờ tuyệt đối của cuộc tấn công đã được chứng minh bằng việc các doanh trại đã bị đánh chiếm bất thình lình, khi máy bay đang đỗ trên phi trường và vẫn còn phủ bạt...”.

Mặc dù vấp phải sự kháng cự quyết liệt của lực lượng biên phòng Liên Xô và những đòn đáp trả của Hồng quân, nhưng quân Đức với sự hỗ trợ của các đồng minh người Romania, đã nhanh chóng thọc sâu vào lãnh thổ Liên bang Xô viết. Quân địch thực hiện đòn tấn công đầu tiên nhằm vào pháo đài Brest nằm trên biên giới. Bà Anastasia Nikitina Arshinova nhớ lại: “Tiếng gầm rú khủng khiếp đã đánh thức tôi và các con từ sáng sớm. Những quả đạn pháo và bom nổ tung, những mảnh vỡ bay tung tóe. Túm lấy bọn trẻ, tôi chạy bằng chân đất ra đường. Chúng tôi dường như chỉ kịp lấy và mang theo quần áo. Đường phố bao trùm không khí kinh hoàng. Phía trên pháo đài máy bay quần thảo và ném bom xuống chúng tôi. Xung quanh phụ nữ và trẻ em hoảng hốt chạy tán loạn. Nằm trước mặt tôi là vợ của một trung úy và con trai cô ấy, cả hai bị bom ném tử vong”.

Khi chiến tranh nổ ra tại pháo đài Brest, ông Pyotr Kotelnikov mới 12 tuổi và đang được giáo dưỡng tại đoàn nhạc thuộc Trung đoàn bộ binh số 44. Sau này ông nhớ lại: “Cuộc tấn công mạnh làm chúng tôi thức giấc vào buổi sáng. Mái nhà bị phá thủng. Tôi bị làm cho choáng váng. Tôi nhìn thấy những người bị thương và tử vong, rồi nhận ra rằng, đây không phải là cuộc tập trận, mà là chiến tranh. Đa phần binh sĩ trong doanh trại chúng tôi hy sinh ngay trong những giây phút đầu tiên. Tôi theo người lớn lao tới lấy vũ khí, nhưng người ta không đưa cho tôi. Khi đó, tôi cùng một chiến sĩ Hồng quân xông vào dập tắt đám cháy ở kho chứa đồ. Sau đó cùng với các chiến sĩ chuyển xuống tầng hầm của doanh trại của Trung đoàn bộ binh số 333 ngay bên cạnh... Chúng tôi giúp đỡ người bị thương, mang đạn dược, đồ ăn và nước uống cho họ. Ban đêm chúng tôi đi qua cánh tây để ra sông lấy nước, sau đó quay trở lại”.

Không quân Đức đã tấn công tập trung xuống hàng chục sân bay của Liên Xô, nơi đặt căn cứ của lực lượng không quân thuộc các quân khu phía Tây. Trong ngày đầu, kẻ địch đã phá hủy lên đến 1.200 máy bay Liên Xô, trong đó có 90 chiếc thậm chí còn chưa kịp cất cánh. “Ngực tôi trở nên lạnh toát. Trước mặt tôi là bốn chiếc máy bay ném bom loại hai động cơ với hình chữ thập màu đen trên cánh. Tôi cắn chặt môi mình. Đấy là những chiếc dòng Junkers, máy bay ném bom của Đức Ju-88! Phải làm gì đây?... Bỗng trong tôi xuất hiện thêm suy nghĩ rằng, hôm nay là Chủ nhật, mà thường Chủ nhật thì quân Đức không bay diễn tập. Không lẽ chiến tranh? Vâng, chiến tranh!”, Phó chỉ huy Trung đoàn không quân tiêm kích số 46 Joseph Geibo nhớ lại.

Chiến sĩ xe tăng Ivan Khokhlov, người có 4 năm phục vụ tại thành phố Kaunas (Litva), kể lại: “Chiến tranh bắt đầu như thế nào, tôi sẽ không bao giờ quên. Tôi chưa bao giờ trải qua nỗi khiếp sợ và hoảng loạn như trong ngày đầu, nói đúng hơn là trong những giờ đầu chiến tranh. Trên thực tế, vào lúc 4 giờ sáng, máy bay Đức bắt đầu dội bom chúng tôi. Chúng tôi đang ngủ, chỉ có những người lính gác làm nhiệm vụ. Tất cả chạy xổ ra, gào thét, rồi chẳng nhìn thấy gì. Máy bay cứ ném bom, xung quanh có mùi khét, một thứ gì đó đang cháy…”.

Hoàn toàn không phải tất cả người Đức đều tin vào thành công của chiến dịch quân sự chống lại Liên Xô. Họ lập tức nhận ra rằng, cuộc chiến tranh xâm lược Liên Xô đối với họ sẽ không phải là một cuộc dạo chơi dễ dàng. Trong báo cáo của Tham mưu trưởng quân đoàn số 4 ngay khi bắt đầu chiến dịch, tướng Günter Blumentritt đã nói: “Thái độ của người Nga ngay trong trận đầu tiên đã cho thấy sự khác biệt kỳ lạ so với thái độ của người Ba Lan và các đồng minh của họ bị thất bại trên mặt trận phía Tây. Ngay cả khi bị bao vây, người Nga vẫn cương quyết phòng thủ”.

Trưa ngày 22-6, trên sóng đài phát thanh vang lên lời phát biểu của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov, thông báo về việc Đức tấn công Liên Xô và tuyên bố bắt đầu cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại chống lại kẻ xâm lược. Nhiều người cứ băn khoăn, tại sao lời tuyên bố này không phải do người đứng đầu nhà nước đọc. Về sau, nguyên soái Georgy Zhukov trong hồi ký của mình có nhắc đến những việc này: “Joseph Stalin là người có chí khí... Chỉ duy nhất một lần tôi nhìn thấy ông ấy luống cuống. Đó là lúc bình minh ngày 22-6-1941, khi phát xít Đức tấn công đất nước chúng ta. Thực sự trong ngày đầu, ông ấy không thể kiểm soát được mình để chỉ đạo quyết liệt các sự vụ. Cuộc tấn công đó đã làm cho Stalin bị sốc đến nỗi, giọng nói của ông ấy bị suy giảm, còn các mệnh lệnh tổ chức chiến đấu vũ trang của ông không phải lúc nào cũng có thể theo sát diễn biến tình hình”.

Trong khi đó, nhiều người dân Liên Xô (đặc biệt là những người ở cách xa vùng chiến sự) không tỏ ra quá lo lắng với việc nổ ra chiến tranh. Ông Vitaly Chernyaev, người dân tỉnh Kalinin (nay là tỉnh Tver), tròn 11 tuổi khi bắt đầu nổ ra cuộc chiến. Ông nhớ lại: “Nhà chúng tôi ở cách xa nông thôn một chút, nên gần đến chiều hôm đó tôi mới biết về chiến tranh bắt đầu… Ban đầu nói chung là việc này không làm tôi hoảng loạn. Thậm chí, sang đến ngày thứ hai tôi còn rất vui vẻ! Tất cả chúng tôi khi đó được dạy về những bài hát và bộ phim yêu nước. Hitler ư!... Người Đức còn không uống được nước sông Volga! Chúng tôi sẽ chiến thắng tất cả bọn chúng! Đó là những suy nghĩ đầu tiên trong đầu tôi”.

Ông Anatoly Vokrosh, khi đó sống ở ngoại ô Moskva, kể lại: “Chúng tôi lao nhanh trong những lùm cây và hét lên: Chiến tranh bắt đầu rồi! Chúng ta sẽ chiến thắng tất cả! Chúng tôi hoàn toàn không hiểu tất cả những điều này có nghĩa gì. Người lớn bàn luận tin tức, nhưng tôi không nhớ trong làng xảy ra hoảng loạn hay khiếp sợ gì không. Người dân trong làng vẫn làm những công việc quen thuộc hàng ngày…”. Tuy nhiên, trong cơn ác mộng cũng chẳng ai khi đó có thể tưởng tượng được rằng, cuộc chiến tranh chống Đức Quốc xã sẽ kéo dài đến tận 1.418 ngày và cướp đi sinh mạng của hơn 27 triệu người dân Liên Xô.

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC - TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Từ khi ra đời, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tập hợp đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giành thắng lợi lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và các cuộc kháng chiến cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang tiếp tục phát huy cao độ, trở thành động lực của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Ðại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là bài học lớn của cách mạng Việt Nam. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ :“ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công ,, đang là động lực, kết nối sức mạnh vô địch của toàn dân tộc Việt Nam. Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: “ Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong công tác dân vận tiếp tục được khẳng định và nâng cao trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Mối quan hệ gắn bó giữa Mặt trận và các đoàn thể với các tầng lớp nhân dân ngày càng được củng cố, tăng cường, phát huy. Ðường lối chủ trương của Ðảng, Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được hoàn thiện và thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật. Các tầng lớp nhân dân chung sức, chung lòng cùng Ðảng, Nhà nước vượt qua khó khăn, thử thách, giữ vững sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống nhân dân và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã và đang kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, góp phần to lớn tạo nên sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong xây dựng và phát triển nhanh, bền vững đất nước. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động xã hội rộng lớn do Mặt trận và các tổ chức thành viên phát động ngày càng đi vào cuộc sống, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng tích cực. Ðặc biệt, các phong trào, cuộc vận động “ Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở’’; “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh’’; “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam’’; hoạt động bảo vệ biên giới, chủ quyền, biển đảo, phòng chống thiên tai, bão lũ và đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, lá lành đùm lá rách, các hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư... có tác dụng thiết thực, tạo nên sự gắn kết cộng đồng xây dựng quê hương, đất nước. Đặc biệt, từ đầu năm 2020 đến nay khi đại dịch Covid – 19 bùng phát, diễn biến rất phức tạp trên toàn cầu và ở Việt Nam, toàn dân ta đoàn kết, đồng lòng thực hiện “chống dịch như chống giặc” để đẩy lùi dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân và ổn định phát triển sản xuất, thực hiện mục tiêu kép được quốc tế đánh giá cao. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” được các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể tổ chức triển khai thực hiện sâu rộng, đã làm cho tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Người thấm vào các tầng lớp nhân dân, tạo động lực thúc đẩy việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết ngay tại địa phương, cơ sở và địa bàn dân cư. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, chúng ta có thể thấy rõ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Chưa đánh giá và dự báo chính xác những diễn biến, thay đổi cơ cấu xã hội, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để có chủ trương phù hợp. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân các cấp có lúc, có nơi chưa sâu sát với các tầng lớp nhân dân và cơ sở, vẫn còn có biểu hiện hành chính hóa, chưa thật thiết thưc, hiệu quả. Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được kịp thời thể chế hóa, hoặc đã thể chế hóa nhưng chưa được tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, làm gây nên bức xúc trong một bộ phận nhân dân. Trước tình hình mới, Ðảng ta tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia- dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

TIẾP TỤC PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Để thực hiện thành công, thắng lợi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”, cần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí, nghị lực và sức sáng tạo của con người Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Muốn vậy, theo chúng tôi cần tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Một là, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể cần chăm lo, phát huy và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước yêu cầu đổi mới, chỉ có mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa mới có đoàn kết thật sự và bền vững. Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp nhân dân thiết thực, hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và chủ động hội nhập quốc tế. Thực hiện và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ BĐBP Quảng Bình hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số trên biên giới trồng cây lúa nước. Hai là, Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước điều vì lợi ích của nhân dân. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy Đảng và chính quyền phải thường xuyên lắng nghe tâm tư nguyện vọng của nhân dân, trao đổi, đối thoại, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tạo nên niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân trong xã hội. Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế ,chính sách để phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân , vì nhân dân; khắc phục những hạn chế, bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội; tạo sự đồng thuận trong xã hội và góp phần tích cực vào công tác xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; xây dựng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong quá trình phát triển đất nước. Ba là, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần đầu tư, quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp của công nhân. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp. Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài của đất nước. Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối,chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chăm lo bồi dưỡng và phát huy vai trò của thế hệ trẻ, đội ngũ doanh nhân, phụ nữ, Cựu Chiến binh, người cao tuổi, các cá nhân tiêu biểu, các nhân sĩ, trí thức, người dân tộc thiểu số, các tín đồ, chức sắc tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển nhanh, bền vững đất nước và chủ động hội nhập quốc tế. Bốn là, Đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung. Cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Tăng cường kiểm tra ,giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp một cách công khai, minh bạch. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch. Vận động đồng bào các dân tộc phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền, biên giới, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh. Năm là, tiếp tục hoàn thiện và thực thi quy định về đạo đức công vụ trong công tác dân vận, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang. Đẩy mạnh cải cách hành chính, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Củng cố, kiện toàn về tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, hướng mạnh về cơ sở; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin’’; trân trọng, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của nhân dân vào công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân; tăng cường ý thức, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân Sáu là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng công tác kiểm tra, giám sát, bằng công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quy định cụ thể Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Phát huy quyền làm chủ, tinh thần đoàn kết, sức sáng tạo của nhân dân trong công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện đất nước. Đổi mới phương thức, phương pháp, lề lối làm việc, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị để thực hiện có hiệu quả những nội dung, nhiệm vụ về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Để thực hiện tốt các nội dung trên, cần quán triệt, thấm nhuần sâu sắc ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(2). Toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phát huy mạnh mẽ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, quyết tâm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Ðảng vào cuộc sống, thực hiện thắng lợi mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’’, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Kẻ cơ hội thì không từ thủ đoạn

 

          Điều lạ là một số tờ báo, trang mạng nước ngoài lại thể hiện thái độ hằn học, khó chịu. Vài bài viết đã cố tình xuyên tạc sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với đội bóng, thậm chí công kích những phát biểu của các cầu thủ trước truyền thông. Chúng cho rằng “vận mệnh của dân tộc đang đặt dưới đôi chân của cầu thủ”, "nhờ bóng đá để ru ngủ người dân"...! Có bài viết còn “mổ xẻ”, phân tích cú ngã trong vòng cấm địa của cầu thủ Văn Toàn dẫn đến bàn thắng trong trận gặp đội tuyển Malaysia là do “ăn vạ”. Từ viện dẫn đó, chúng quy chụp đây là hệ quả của cách ứng xử xấu mang màu sắc văn hóa dân tộc?!

          Sự thật cho thấy, những lời công kích, cố tình suy diễn trên chẳng có cơ sở nào, thể hiện rõ tâm địa đen tối, xấu xa của những kẻ thù địch luôn tìm cách chống phá nước ta bằng mọi giá. Bóng đá từ lâu đã được coi là môn “thể thao vua”. Những trận cầu giúp người hâm mộ có cơ hội được giao lưu, trao đổi thông tin, hình thành sự gắn kết bất kể xuất thân, nghề nghiệp, quốc tịch. Mỗi đội tuyển bóng đá quốc gia đều mang màu cờ, sắc áo của dân tộc mình và Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam cũng không ngoại lệ. Do vậy, với những thành tích đội tuyển đạt được, việc lãnh đạo đất nước chúc mừng, khen thưởng là hết sức bình thường, được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Bên cạnh đó, các pha bóng kịch tính hay tình huống va chạm trên sân cỏ cũng là chuyện thường xuyên diễn ra ở mọi trận đấu bóng đá. Qua nhiều mùa giải đã cho thấy, Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam đã và đang duy trì lối chơi hay, một tinh thần thể thao fair-play trên đấu trường quốc tế.

          Vậy là, từ xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, nhân quyền, giờ đây, các đối tượng thù địch, bất mãn lại tìm cách soi mói đến cả thể thao, lợi dụng tạo cớ suy diễn, xuyên tạc, quy chụp trong mọi việc nhằm thực hiện âm mưu xuyên suốt là chống phá cách mạng Việt Nam. Rõ ràng, những kẻ khi đã mang tâm địa cơ hội thì thường không từ bất kỳ một thủ đoạn nào.