Thứ Năm, 24 tháng 6, 2021

 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

                                                              

          Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch đã xây dựng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, chúng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, với hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, trên 400 báo, tạp chí... sản xuất hàng chục nghìn tin, bài có nội dung sai sự thật để phát tán vào trong nước, gây nhiễu loạn thông tin nhằm phê phán chế độ, kích động chống Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, các tổ chức phản động lưu vong, hoạt động chống phá Việt Nam ngày càng quyết liệt.

          Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

          Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, nhất là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra các thông tin, ghép các hình ảnh giả để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

          Mục tiêu mà chúng hướng đến là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tức là, phủ định hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội Việt Nam, ca ngợi, cổ súy hệ tư tưởng tư sản; tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vệt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; gây mất ổn định về chính trị; làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, áp đặt về kinh tế; chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây; “phi chính trị hóa” quân đội để vô hiệu hóa lực lượng vũ trang.

          Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động.

          Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch:

          Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Trên cơ sở, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, thúc đẩy phát triển cái tốt, cái đẹp, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cơ sở quan trọng nhất để tạo nên tư tưởng xã hội tốt chính là người dân được tiếp nhận thông tin nhanh nhất, phản ánh chân thực, khách quan nhất. Đặc biệt là khả năng nhận diện, sàng lọc các thông tin đúng, sai, thật, giả và những thông tin tuyên truyền xấu độc của các thế lực thù địch.

          Hai là, những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin chính thống từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề, sử dụng các thông tin chính thống vào xử lý các vấn đề đặt ra.

          Ba là, làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; không để xảy ra những thiểu sót, khuyết điểm trong quản lý kinh tế - xã hội mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá ta.

          Bốn là, xây dựng và phát huy vai trò cùa lực lượng nòng cốt trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Lực lượng nòng cốt phải có lập trường tư tưởng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, thuyết phục người nghe, người đọc, có nhiệt huyết và quyết tâm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghía Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

          Cuộc đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong giai đoạn hiện nay là vô cùng gay go, quyết liệt, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, không dao động trong mọi tình huống; đồng thời, kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, báo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội.

 

Cần tỉnh táo, có trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội

trong phòng chống dịch covid-19

                                                      Với sự phát triển mạnh mẽ của internet, với một “rừng” các thông tin trên mạng xã hội, youtube… mỗi người dân cần tỉnh táo, thận trọng trong tiếp nhận thông tin, chia sẻ thông tin. Mỗi quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đều được phổ biến nhanh chóng, kịp thời trên báo chí chính thống trong nước cũng như trên Cổng Thông tin điện tử các cơ quan chức năng.

Thứ nhất: cảnh giác trước các thông tin tuyên truyền sai sự thật về tình hình COVID-19. Ngoài ý thức chấp hành các quy định của Chính phủ về công tác phòng, chống dịch, sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn về việc: Tránh tụ tập nơi đông người; hạn chế tối đa ra ngoài; luôn luôn đeo khẩu trang và giữ khoảng cách tiếp xúc tốt nhất là 2m; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và dung dịch sát khuẩn; thường xuyên vệ sinh nhà cửa; thực hiện khai báo y tế, cập nhật tình hình sức khỏe theo đúng quy định của Bộ Y tế thì người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước những thông tin bịa đặt, không đúng về tình hình dịch bệnh. Kịp thời báo với lực lượng Công an khi phát hiện thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh đăng tải trên không gian mạng.

Thứ hai: Tiếp nhận thông tin một cách khoa học, có chọn lọc, việc tiếp cận nguồn thông tin ở những trang không chính thống, thiếu cơ sở khoa học có thể gây nên tình trạng “ngộ nhận”, hiểu sai lệch về tình hình dịch COVID-19. Về vấn đề này, Bộ Công an đã khuyến cáo người dân khi tiếp cận thông tin trên không gian mạng cần bình tĩnh, tỉnh táo sàng lọc thông tin, tự trang bị kiến thức về pháp luật, xã hội và nhận diện rõ các thông tin xuyên tạc, giả mạo.

Cụ thể: (1) Kiểm chứng cơ sở nguồn tin, xem thông tin đó đến từ nguồn nào, nếu đến từ một người lạ, thông tin không rõ ràng cần cảnh giác, có thể xem mục giới thiệu để kiểm tra. (2) Kiểm tra tên miền của trang mạng đăng tải thông tin, thường nguồn phát của thông tin xuyên tạc, giả mạo thường là những trang mạng có tên miền nước ngoài (.com, .org), không có đuôi tên miền Việt Nam “.vn”.Các trang mạng chính thống của cơ quan tổ chức Nhà nước có tên miền quốc gia “.vn” và có địa chỉ, thông tin đăng ký cụ thể rõ ràng trên trang. Đối với các trang mạng xã hội của các cơ quan, tổ chức chính thống, thường đã được đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ và được cung cấp dấu bản quyền (dấu tích xanh). Người dân nên quan sát và phân biệt rõ các trang mạng xã hội chính thống và các trang giả mạo. (3) Kiểm tra tác giả, đọc kỹ nội dung để suy ngẫm xác định thông tin thật hay giả; tin tức giả hay bị lỗi chính tả hoặc có bố cục lộn xộn, các hình ảnh, video trong tin giả thường bị chỉnh sửa, cắt ghép, thay đổi nội dung, ngày tháng của sự kiện thường bị thay đổi; tìm các tin, bài viết trên các trang chính thống, uy tín có nội dung tương tự để đối chiếu hoặc xin sự tham vấn của các chuyên gia trên từng lĩnh vực. (4) Lựa chọn thông tin đăng tải, chia sẻ từ những trang mạng xã hội nên tiếp cận các luồng thông tin chính thống; không tham gia đăng tải, chia sẻ, bình luận thông tin sai sự thật, hình ảnh phản cảm, trái với thuần phong mỹ tục và văn hóa của dân tộc hoặc bôi nhọ, xúc phạm danh dự của tổ chức và cá nhân; thông tin trái với quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hoạt động vi phạm pháp luật hoặc thông tin mà chưa rõ nguồn gốc, chưa xác định được tính chính xác của thông tin.

Thứ ba: Mỗi công dân cần nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, đặc biệt là Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 1-1-2019. Trường hợp phát hiện các hoạt động nghi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cần báo ngay cho các cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý. Đẩy mạnh thông tin tích cực, có ý nghĩa trong cuộc sống, đấu tranh, phê phán lên án hành vi sai trái vi phạm trên mạng xã hội.

Để chung tay chống lại dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra, bên cạnh nỗ lực của lực lượng Công an nhân dân trong công tác đấu tranh xử lý các đối tượng vi phạm, rất cần có sự chung sức, đồng lòng của nhân dân, lên án những hành vi tuyên truyền thông tin sai sự thật, góp phần loại bỏ thông tin tiêu cực, xây dựng một không gian mạng lành mạnh, hữu ích cho xã hội.

 

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH MÓC NỐI, LÔI KÉO VĂN NGHỆ SĨ

CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TRÊN LĨNH VỰC

TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA

                                             Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã ráo riết hoạt động móc nối, lôi kéo những văn nghệ sĩ, đặc biệt nhằm vào những văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, cực đoan, lệch lạc trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật để mở rộng cơ sở xã hội, tạo dựng những “con bài chính trị”, xây dựng lực lượng, tiến hành hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa.

Đối tượng văn nghệ sĩ mà các thế lực thù địch thường chú ý lôi kéo gồm: số văn nghệ sĩ do chế độ cũ đào tạo; những văn nghệ sĩ đã từng có vi phạm pháp luật, có quá khứ tham gia nhóm “Nhân văn – Giai phẩm”; nhóm văn nghệ sĩ chống Đảng cũ; những văn nghệ sĩ tuy đã tham gia kháng chiến cứu nước, nhưng hiện nay bất mãn, cực đoan, có sai phạm, lệch lạc trong sáng tác văn học nghệ thuật; những văn nghệ sĩ trẻ, lập trường không vững, chạy theo cơ chế thị trường trong hoạt động văn học, nghệ thuật.

Các thế lực thù địch thường sử dụng các phương thức, thủ đoạn móc nối, lôi kéo văn nghệ sĩ như: thông qua bưu chính viễn thông, mạng xã hội để lôi kéo; trực tiếp móc nối, lôi kéo; mời văn nghệ sĩ ra nước ngoài với nhiều hình thức, lý do để móc nối, lôi kéo.

Các thế lực thù địch đã lôi kéo một số văn nghệ sĩ tham gia các hoạt động như: phủ nhận những giá trị lịch sử của dân tộc; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; phủ nhận thành tựu của cách mạng; chia rẽ nội bộ; bôi nhọ, xúc phạm lãnh tụ; tuyên truyền quan điểm sai lầm, phản động về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, coi là cuộc nội chiến…

Một số hoạt động điển hình của văn nghệ sĩ bị lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa như:  

Lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, hạ bệ những giá trị thiêng liêng của dân tộc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, miêu tả cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc của nhân dân ta như một cuộc nội chiến.

Từ những thị hiếu của một bộ phận công chúng, tìm cách quảng bá những tác phẩm chống chế độ, xuyên tạc nhằm hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước; cố tình tôn vinh những kẻ đã và đang chống lại, đi ngược đường lối cách mạng của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”.

Sử dụng một số sáng tác xấu để tuyên truyền, thổi phồng những sai lầm của Đảng, Nhà nước, từ đó hủy hoại niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Phủ nhận quan điểm Mác - Lênin về văn hóa - văn nghệ, chỉ đề cao một chiều các lý thuyết bắt nguồn từ thực tiễn văn học, nghệ thuật phương Tây, đã gây ra sự lệch chuẩn trong sáng tác cũng như nghiên cứu lý luận, phê bình văn nghệ.

Tuyên truyền lối sống thực dụng, vị kỷ, thích hưởng lạc vào đối tượng thanh niên, sinh viên, làm cho cái xấu, cái ác, phi nhân tính có dấu hiệu tăng lên rõ rệt; môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng, dẫn tới không ít thanh niên, sinh viên khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, chuẩn mực sống và niềm tin của mình với Đảng.

Để phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động của các thế lực thù địch móc nối, lôi kéo văn nghệ sĩ tham gia hoạt động chống Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa, cần giải quyết tốt một số công tác như:

Một là, cần có sự phối hợp giữa cơ quan an ninh với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm tốt công tác quản lý nhà nước về văn hóa, đặc biệt hoạt động hợp tác, trao đổi văn hóa, nghệ thuật với nước ngoài.

Hai là, đẩy mạnh công tác quản lý đối với đội ngũ văn nghệ sĩ, nắm tâm tư, vướng mắc của văn nghệ sĩ, tuyên truyền, giáo dục họ, không để kẻ địch lợi dụng, lôi kéo.

Ba là, điều tra, nắm tình hình của các trung tâm hoạt động phá hoại tư tưởng của địch ở nước ngoài để có đối sách phòng ngừa hoạt động móc nối, lôi kéo văn nghệ sĩ vào hoạt động chống Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa.

Bốn là, các văn nghệ sĩ chân chính phải tích cực đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa để khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Năm là, các cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở cần quan tâm đặc biệt đời sống của văn nghệ sĩ; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, lôi kéo văn nghệ sĩ vào hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

 

Việt Nam là “Thành công” trong phòng chống dịch COVID-19

 Hơn một năm dịch COVID-19 hoành hành trên toàn thế giới đã khiến nhiều quốc “chao đảo.” Tại nhiều nước, kể cả những nước phát triển nhất, ngành y tế dường như rơi vào tình trạng thất thủ. Trong sự quay cuồng bởi COVID-19 gây ra cho toàn cầu, trong hơn một năm qua đã đánh dấu điểm sáng Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Truyền thông quốc tế liên tục có bài viết về Việt Nam – hình mẫu chống dịch, bài học kinh nghiệm cho nhiều nước.Trong bối cảnh ấy, Việt Nam như một điểm sáng khi vững vàng chống đại dịch, từng bước khôi phục và phát triển kinh tế ở trạng thái “bình thường mới”. Có thể khẳng định, Việt Nam đã kiểm soát thành công nhiều đợt bùng phát dịch bệnh, được đánh giá cao với mô hình phòng chống dịch hiệu quả chi phí thấp. Chính phủ đã có nhiều chính sách kịp thời, từng bước hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn của đại dịch. Việt Nam trở thành điểm sáng trong thực hiện mục tiêu kép vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế-xã hội.

Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, các biện pháp phòng, chống dịch được đưa ra triển khai kịp thời, hiệu quả và đạt nhiều kết quả tích cực, được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát các đợt bùng phát của dịch bệnh góp phần làm giảm tác động của dịch đối với việc phát triển kinh tế để tiếp tục thực hiện mục tiêu kép của Chính phủ./. 

“Thông tin xấu độc” trên mạng xã hội nguy hại hơn dịch bệnh Covid-19

Trong khi cả nước đang tập trung mọi nguồn lực để kiểm soát nguồn lây lan dịch bệnh COVID-19 thì trên mạng xã hội, các đối tượng cơ hội chính trị lại không ngừng xuyên tạc, phát tán thông tin sai lệch gây hoang mang dư luận về công tác phòng, chống dịch bệnh.

Nhiều tổ chức phản động lưu vong cùng một số phần tử phản động trong nước cấu kết, lợi dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin sai sự thật về dịch Covid-19 ở trong nước, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang dư luận và khó khăn cho lực lượng chức năng trong công tác chống dịch. Tán phát bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, sai sự thật, chúng chi rất nhiều tiền để thực hiện các quảng cáo trên Facebook nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, đưa những số liệu sai lệch về tình hình dịch Covid-19 tại Việt Nam, xen lẫn là nội dung chống phá Đảng và Nhà nước. Lợi dụng mạng xã hội chúng đăng hàng loạt bài viết, rất nhiều video, hình ảnh được cắt ghép chứa đựng thông tin sai sự thật do chúng tạo như: số người mắc bệnh, sự lây lan tốc độ nhanh trong cộng đồng lớn gấp nhiều lần so với con số chính thức do Chính phủ Việt Nam công bố; Đặc biệt, họ còn dựng chuyện về số ca tử vong do dịch Covid-19 lên tới hàng chục ngàn người và không ngừng gia tăng, nhằm gây sự hoài nghi, hoang mang trong dư luận về tình hình dịch Covid-19 tại Việt Nam. Mục đích nhằm tạo ra bức tranh đen tối về dịch Covid-19 đang hoành hành tại Việt Nam, gây tâm lý hoang mang, sợ hãi cho nhân dân trong nước, làm xáo trộn mọi mặt của đời sống xã hội, gây nghi ngờ, tạo sự đối lập, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; đồng thời tạo sự hoài nghi, làm mất lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Đây là “luận cứ giả” để thực hiện âm mưu đánh phá vào vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước trong xử lý dịch bệnh Covid-19 và đánh phá vào một số quan điểm, chính sách của Việt Nam.

Để chung tay chống lại dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra, bên cạnh nỗ lực của lực lượng Công an nhân dân trong công tác đấu tranh xử lý các đối tượng vi phạm, rất cần có sự chung sức, đồng lòng của nhân dân, lên án những hành vi tuyên truyền thông tin sai sự thật, góp phần loại bỏ thông tin tiêu cực, xây dựng một không gian mạng lành mạnh, hữu ích cho xã hội./. 

 

CẢNH GIÁC VỚI “THUYẾT ÂM MƯU”

                                                            

Tre Việt - Kênh RFA tiếng Việt vừa qua đăng bài: “Trước Đại hội Đảng XIII, lãnh đạo cấp cao tăng cường chỉ trích các thế lực thù địch”. Bài viết đã trích dẫn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch và Nguyên Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương chỉ ra rằng: “thế lực phản động, thù địch đang gia tăng chống phá, công khai và quyết liệt hơn”. Đồng thời, đăng tải các ý kiến, bình luận của một số độc giả trên fanpage của RFA về phát biểu trên, như: “Hòa bình gần nửa thế kỷ rồi mà cứ còn thế lực thù địch là sao? Ai thù, ai địch?...”, “phải hỏi mình xem mình đã làm gì để người ta thù địch”, “Thế lực thù địch nào, ở đâu, họ làm cái gì mà kêu chống phá”, v.v. Nếu đọc lướt qua, suy nghĩ đơn thuần sẽ thấy rằng, những ý kiến, bình luận đánh giá trên là bình thường, là khách quan, là đúng. Vậy, thực tế có đúng như vậy và ẩn chứa đằng sau những bình luận đó là gì?

Trước hết, cần khẳng định rằng: khi xã hội loài người chưa tiến lên chủ nghĩa cộng sản, chưa “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, vẫn còn nhà nước, quân đội, thì giữa các giai cấp vẫn sẽ còn mâu thuẫn về lợi ích và tất yếu sẽ còn đấu tranh giai cấp. Giữa các quốc gia, dân tộc vẫn có mâu thuẫn về lợi ích, mà nếu không xử lý tốt thì vẫn có khả năng xảy ra xung đột, chiến tranh. Những gì đã và đang diễn ra trên thế giới chứng tỏ điều đó.

Lịch sử dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm đã chứng minh rằng “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”. Chưa bao giờ đất nước ta không là mục tiêu xâm lược của các thế lực bên ngoài. Hiện nay, Việt Nam vẫn và sẽ luôn là mục tiêu nhòm ngó của chúng, với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi. Thực tế cho thấy, khi đất nước ta hoàn toàn giành được độc lập, non sông thu về một mối, nhưng chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh bảo vệ biên giới, vượt qua sự bao vây, cấm vận của nước ngoài. Khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, thì vẫn có những thế lực đang tìm mọi cách chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực. Do đó, ý kiến phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch, Nguyên Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương là hoàn toàn xác đáng, đúng thực tế đang diễn ra, để chúng ta luôn nêu cao cảnh giác, không một phút lơ là, chủ quan trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác với những quốc gia, tổ chức tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và ngược lại kiên quyết đấu tranh với những thế lực xâm phạm chủ quyền, lợi ích của đất nước.

Nhìn rộng ra thế giới, bất kỳ quốc gia nào cũng đều xác định đối tượng, đối tác để có đối sách cho riêng mình; vẫn phải đầu tư phát triển quốc phòng, xây dựng quân đội để bảo vệ đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc. Những cuộc xung đột, chiến tranh xảy ra trên thế giới trong thời gian gần đây đều xuất phát từ lợi ích kinh tế, chính trị, chứ không có cuộc chiến tranh, xung đột nào xảy ra mà không vì mục đích, lợi ích gì.

Chính vì thế, những bình luận, đánh giá được RFA đăng tải là thiếu cơ sở, mang tính “ru ngủ”, để che giấu “thuyết âm mưu” nguy hiểm, cần phải bị vạch mặt, bóc trần./.

 

Thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng; tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ đi đôi với chống các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng

 Thực tiễn luôn vận động, phát triển và biến đổi không ngừng. Vì thế, Đảng cũng phải thường xuyên tự đổi mới, chỉnh đốn để không ngừng phát triển, xứng tầm vị thế của một đảng cầm quyền, đó là điều rất cần thiết. Trước hết, Đảng phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao tầm nhận thức về vị thế cầm quyền, lãnh đạo; đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành nghị quyết, theo đó việc ban hành nghị quyết chỉ khi thật sự cần thiết, hợp lý, thiết thực, ngắn gọn và khả thi; đổi mới về công tác cán bộ, đảm bảo cho công tác này thực sự là “then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng. Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải đổi mới từ nếp nghĩ, cách làm đến phong cách lãnh đạo, quản lý, thực sự là người của công việc, “người đầy tớ trung thành của nhân dân”, gương mẫu trong lời nói và hành động. Cùng với đó, Đảng phải tăng cường chỉnh đốn, làm trong sạch nội bộ, khắc phục mọi biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, củng cố niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân đối với Đảng. Đồng thời, phải làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đảm bảo cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; tích cực đấu tranh bác bỏ những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, cơ hội chính trị phủ nhận vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, góp phần nâng cao uy tín, vị thế và danh dự của Đảng với tư cách là một đảng cầm quyền.

Lịch sử ra đời, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là từ khi Đảng nắm vai trò cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội khẳng định rằng, nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình phát triển, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, song chúng ta vẫn có một niềm tin vững chắc vào vai trò, vị thế cầm quyền, lãnh đạo của Đảng, đất nước ta sẽ có một sức mạnh to lớn, không thế lực nào ngăn cản nổi, lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới phương thức cầm quyền của Đảng

 Với vai trò là một đảng cầm quyền không có nghĩa là Đảng làm thay công việc của Nhà nước hoặc đứng trên Nhà nước, mà thực hiện chức năng lãnh đạo, nắm giữ, tác động vào Nhà nước để thể chế hóa quyền lực chính trị của Đảng thành quyền lực nhà nước; sử dụng hiệu quả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng và thực hiện nội dung cầm quyền, lãnh đạo của Đảng. Để làm được điều đó, Đảng phải thường xuyên đổi mới phương thức cầm quyền, lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, mà trước hết phải nhận thức đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, chủ trương, đường lối, nghị quyết; các cơ quan nhà nước xây dựng kế hoạch, chương trình hành động để thực hiện, đảm bảo chủ trương, đường lối của Đảng nhanh chóng đi vào thực tiễn, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng lãnh đạo định hướng Quốc hội xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển; quyết định những vấn đề quan trọng về chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; những vấn đề trọng đại của đất nước: đối nội, đối ngoại, chương trình, kế hoạch lớn, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, v.v. Đảng xây dựng thể chế, cơ chế sử dụng các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để hiện thực hóa ý chí, quyền lực của Đảng trong thực tiễn cuộc sống; quy định rõ những việc và mức độ cấp ủy chỉ đạo chính quyền để không bao biện làm thay nhưng cũng không buông lỏng vai trò lãnh đạo. Đồng thời, quyết định công tác cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước; làm tốt việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, giới thiệu cán bộ ứng cử và nắm giữ các chức danh chủ chốt của bộ máy nhà nước; xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, đảm bảo mọi hoạt động của Nhà nước thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng, hoàn thành trọng trách cao cả đối với nhân dân.

Xây dựng đội ngũ cán bộ vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức, lối sống, tinh thông về nghiệp vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân.

 Từ khi Đảng ta trở thành một đảng cầm quyền, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nắm giữ hầu hết các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước, có quyền lực rất lớn và nguy cơ tha hóa quyền lực, quan liêu, tham nhũng, “lợi ích nhóm” cao. Vì vậy, Đảng phải thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ. Trước hết, phải hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng đi đôi với sàng lọc cán bộ, đảm bảo cho đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, không tham vọng quyền lực, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tinh thần đoàn kết, thống nhất cao; “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu trước nhân dân, nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, thực hiện tốt phương châm “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”; “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”2 như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dạy chúng ta. Cùng với đó, cần quản lý chặt chẽ cán bộ ngay từ cơ sở, phát hiện và xử lý kịp thời những hiện tượng vi phạm pháp luật và Điều lệ Đảng nhằm làm trong sạch nội bộ Đảng. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ rèn luyện, phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; kiên quyết phòng, chống các biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG KỶ LUẬT, KỶ CƯƠNG VỚI THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG

Thực hành dân chủ tức là phải làm một cách thuần thục, thường xuyên, trở thành chế độ, nền nếp trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng - dân chủ sẽ hướng đến sự tập trung thống nhất, hướng đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng đã xác định. Để thực hành dân chủ trong Đảng gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:
Một là, nâng cao nhận thức trách nhiệm của các chủ thể, trước hết là cấp ủy viên, người đứng đầu, đảng viên. Cần nhận thức rằng thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương là nhằm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh trên cả 5 lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao tính đảng, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, gương mẫu nói đi đôi với làm, có ý thức tổ chức kỷ luật, tận tụy phục vụ nhân dân. Thực hành dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương thực chất là hai mặt của một vấn đề, tác động biện chứng lẫn nhau. Không có dân chủ thuần túy mà dân chủ luôn gắn với tập trung, kỷ luật, kỷ cương, nhận thức được tính tất yếu phải làm. C. Mác đã đúc kết tự do chính là nhận thức được tính tất yếu. Chấp hành kỷ luật, kỷ cương trên cơ sở tính tự giác, nhận thức được tính tất yếu để ghép mình trong tổ chức, tự giác chấp hành đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Dân chủ quá trớn, tự do tùy tiện đều trái với bản chất dân chủ của Đảng; trái với nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Không chỉ dừng lại ở nhận thức mà trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng phải quán triệt, bám sát các quy chế, quy định để thực hiện làm sao vừa phát huy được dân chủ vừa gắn với kỷ luật, kỷ cương. Cần nâng tầm văn hóa dân chủ, dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng gắn với kỷ luật, kỷ cương. Phải lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ để phát huy tính tích cực của cấp ủy viên, đảng viên. Hai là, xây dựng các quy chế, quy định để thực hiện nhằm phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Quy chế, quy định thực chất là cụ thể hóa Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết của Đảng thành những điều khoản, chế tài để các tổ đảng, đảng viên trong đảng tuân thủ chấp hành. Đại hội XIII chỉ rõ “thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”. Trên cơ sở quy chế, quy định chung của Đảng, các tổ chức đảng cần bám sát quy chế hoạt động của Đảng bộ để xây dựng, lượng hóa quy chế, quy định sát hợp với thực tiễn của Đảng bộ mình sao cho dễ nhớ, dễ thực hiện. Không có những chế định bắt buộc kèm theo thì việc phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng sẽ gặp khó khăn, lúng túng bị động trong tổ chức thực hiện. Thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định thực chất là phát huy dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương trách nhiệm của cấp ủy viên, đảng viên. Trong thời gian tới Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị cần nghiên cứu ban hành các quy chế, quy định như thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng nghị quyết, trong sinh hoạt đảng và trong công tác cán bộ; quy chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám đột phá; quy chế bảo vệ người phê bình; quy chế quản lý đảng viên sử dụng không gian mạng… để quản lý, vừa phát huy dân chủ vừa gắn với kỷ luật, kỷ cương. Ba là, phát huy dân chủ của tập thể cấp ủy với người đứng đầu. Đây là mối quan hệ rường cột của tổ chức đảng. Bác Hồ yêu cầu “phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ ý kiến của mình”. Nếu không thực hiện quyền dân chủ trong Đảng sẽ làm cho “nội bộ của Đảng âm u”. Đồng thời mối quan hệ này cũng là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách. Tập thể lãnh đạo là một chế định trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng ta nhằm phát huy dân chủ để đưa ra quyết định chính xác phù hợp với thực tiễn, thuận lòng dân. Bởi theo Hồ Chí Minh “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Cá nhân phụ trách là biểu hiện của tập trung, quyền uy của tổ chức ủy thác cho cá nhân chịu trách nhiệm trước tổ chức về các hoạt động của mình. Trong xây dựng nghị quyết lãnh đạo, Hồ Chí Minh chỉ dẫn phương pháp pháp luận: “Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ bằng cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện”. Thảo luận dân chủ, phát huy đầy đủ quyền của cấp ủy viên nhưng phải gắn với tập trung - sự định hướng gợi mở của người đứng đầu. Người đứng đầu nhìn xa trông rộng, nắm được thực tiễn, hình dung được các kịch bản thì sự gợi mở của người đứng đầu cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Yêu cầu này không chỉ trong hội nghị ra nghị quyết mà còn trong công tác cán bộ, nhất là đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Tập thể cấp ủy và người đứng đầu là hai chủ thể luôn có sự tương tác, chi phối đến các hoạt động của Đảng bộ, đảng ủy. Mối quan hệ cơ bản này cần được vận hành theo theo nguyên tắc tập trung dân chủ để vừa phát huy dân chủ của tập thể cấp ủy, vừa phát huy vai trò của người đứng đầu. Cần phòng tránh ở người đứng đầu biểu hiện gia trưởng, áp đặt không lắng nghe ý kiến của cấp ủy viên, đảng viên. Mọi vấn đề được tập thể cấp ủy, ban thường vụ bàn bạc là cơ sở để người đứng đầu/ bí thư cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả, sát với thực tiễn. Đó là chỗ dựa vững chắc để bí thư cấp ủy thực hiện tốt vai trò lãnh đạo chính trị đối với đảng bộ. Ngược lại người đứng đầu có năng lực vượt trội, có tầm nhìn xa, nắm chắc thực tiễn, hiểu được nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, quần chúng thì sự định hướng, gợi mở của người đứng đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Song cần phòng tránh ở chỗ khi người đứng đầu biểu hiện gia trưởng, chủ nghĩa cá nhân đưa ra các ý tưởng không xuất phát từ cái chung thì tập thể cấp ủy, ban thường vụ phải có ý kiến, trao đổi, thể hiện sự lập luận và tính chứng kiến của mình. Đấu tranh thuyết phục bằng chân lý và lẽ phải để người đứng đầu chia sẻ, nhận ra thiếu sót của mình. Trong những năm gần đây Đảng ta nhấn mạnh đề cao vai trò của người đứng đầu - cá thể hóa cá nhân phụ trách để nâng cao trách nhiệm, dám chịu trách nhiệm để tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị có hiệu quả. Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình là một trong năm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng ta. Đồng thời là một thuộc tính nổi trội phát huy dân chủ trong Đảng. Bác Hồ đã từng nhấn mạnh “thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”. Đây là phương thức để phát huy dân chủ, kết tinh ý tưởng sáng tạo để nâng tầm trí tuệ của Đảng, xây dựng đoàn kết thống nhất, bồi dưỡng tình thương yêu đồng chí giúp đỡ lẫn nhau. Theo Hồ Chí Minh “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”; “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”. Hậu quả của buông lơi vũ khí phê bình sẽ dẫn tới “cũng như có bệnh mà giấu bệnh. Không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết “cũng la lết quả dưa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên phải nắm vững ý nghĩa, nguyên tắc, nội dung, phương pháp phê bình. Khi phê bình phải công tâm, khách quan, triệt để, không nể nang, phải nói cả ưu điểm và khuyết điểm, phê bình việc làm chứ không phải phê bình người. Chú trọng xây dựng văn hóa phê bình thể hiện động cơ trong sáng, chân thành mong muốn đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ trưởng thành. Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ”. Người cũng dạy: “Muốn dân chủ tốt, kỷ luật cao, cán bộ phải gương mẫu phê bình và tự phê bình”. Người đứng đầu “dám nói”, dám tự phê bình và phê bình không chỉ thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, đoàn kết nội bộ mà còn có sức lan tỏa đến các đảng viên trong chi bộ, đảng bộ và quần chúng. Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát đôn đốc việc thực hiện có hiệu quả. Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng. Hồ Chí Minh đã đúc kết chín phần mười khuyết điểm là do thiếu sự kiểm tra. Vai trò kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Thực hiện nhiệm vụ này sẽ giúp tổ chức đảng và người đứng đầu cấp trên nắm được tình hình hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới, biểu dương những ưu điểm, kết quả về thực hành dân chủ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức Đảng; đồng thời nhận diện chính xác những mâu thuẫn đang trầm tích như biểu hiện mất đoàn kết, bè cánh, gia trưởng, độc đoán ở người đứng đầu để chấn chỉnh, phê bình khắc phục sửa chữa. Hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với cấp dưới là khá rõ. Chính bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ - thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên buộc tổ chức đảng cấp dưới phải tuân thủ chấp hành. Ngoài việc thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ, bất thường, cấp ủy cần chỉ đạo các ban đảng theo chức trách, nhiệm vụ tăng cường kiểm tra, đôn đốc tổ chức đảng cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ thực hành dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương./.

Nâng cao bản lĩnh, trình độ lý luận, trí tuệ và khả năng vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng cho thấy, càng trong những lúc khó khăn, thử thách, bản lĩnh, trí tuệ và niềm tin của Đảng càng được khẳng định; năng lực cầm quyền, lãnh đạo của Đảng càng được đề cao; tình cảm của nhân dân giành cho Đảng ngày càng thể hiện rõ nét. Sở dĩ có được như vậy, bởi Đảng luôn trau dồi, rèn luyện bản lĩnh, đổi mới tư duy, làm giàu trí tuệ, xác định chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, hoàn thành các chương trình công tác lớn, làm cơ sở lý luận vững chắc để tự tin thực hiện vai trò cầm quyền, lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, đáp ứng sự kỳ vọng, mong mỏi của nhân dân về đổi mới, phát triển đất nước. Trong tình hình hiện nay, bản lĩnh, trí tuệ của Đảng cầm quyền được thể hiện ở sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phải luôn bám sát thực tiễn, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo khoa học, chất lượng công tác hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, phù hợp với xu thế thời đại và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII một cách đúng đắn gắn với đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, khái quát kinh nghiệm, khắc phục yếu kém, khuyết điểm và điều chỉnh những vấn đề không phù hợp với xu thế phát triển. Cán bộ, đảng viên của Đảng phải chủ động, tích cực nghiên cứu, học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ trí tuệ, kinh nghiệm công tác, đổi mới phong cách tư duy, lề lối làm việc, tự tin trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn; khắc phục tình trạng bảo thủ, trì trệ, ngại học tập, ngại đổi mới, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao.

 Một là, sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên phải đặt lên hàng đầu. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên”. Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, cán bộ, đảng viên phải đối mặt với những thử thách mới, mà yêu cầu tự tu dưỡng, rèn luyện không hề giảm nhẹ. Điều kiện sống về vật chất ngày càng cao và tham muốn vật chất cũng tăng lên, nhiều khi không vượt qua được sự cám dỗ. Khi có chức, quyền trong tay dễ bị chi phối bởi tham vọng quyền lực, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng, lãng phí, sa vào ăn chơi và các tệ nạn xã hội, vi phạm giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Tình trạng tham nhũng vặt hiện nay vẫn diễn ra nhức nhối. Chủ nghĩa cá nhân là thách thức nặng nề chi phối công việc lãnh đạo, quản lý và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền, độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ, quan liêu, xa rời quần chúng. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, cán bộ, đảng viên cần thấy rõ trách nhiệm, bổn phận của mình, luôn luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và “không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng”. Không ngừng “Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”.

Hai là, đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng trong toàn Đảng theo những giá trị và chuẩn mực Đảng đã xác định. Đại hội XIII chủ trương: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị”. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức những năm qua và hiện nay được thúc đẩy mạnh mẽ khi toàn Đảng đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII). Nhiều tấm gương, điển hình về học và làm theo Bác trên tất cả các lĩnh vực đã góp phần quan trọng không chỉ trong xây dựng Đảng mà còn thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.

Đạo đức Hồ Chí Minh là tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội và cuộc sống sung sướng, hạnh phúc của đồng bào, suốt đời vì nước, vì dân; luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, của cách mạng, của tập thể lên trên hết, trước hết. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tình yêu thương sâu sắc của Người đối với con người, với nhân dân, với đồng chí, đồng bào và nhân dân thế giới. Từ tấm gương đạo đức của Bác Hồ, Đảng từng bước xây dựng những chuẩn mực đạo đức trong Đảng. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày”. Chú trọng giáo dục đạo đức trong toàn Đảng: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ”. Giáo dục đạo đức cách mạng là nhiệm vụ thường xuyên và rất quan trọng của các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở và cũng là nội dung sinh hoạt Đảng, sinh hoạt cấp ủy. Đồng thời, được thể hiện trong các chương trình đào tạo của hệ thống trường Đảng, trong các nhà trường của hệ thống chính trị, giáo dục quốc dân và nhà trường của lực lượng vũ trang.

Ba là, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều nhà lãnh đạo của Đảng và chiến sĩ cộng sản đã nêu tấm gương kiên cường và anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước cũng ghi nhận những tấm gương đạo đức trong sáng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ở thời kỳ nào của cách mạng, cán bộ, đảng viên ưu tú đều nêu cao trách nhiệm nêu gương, có ảnh hưởng sâu sắc trong Đảng và được cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo. Song, thực tiễn vẫn còn có những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, thì việc đề cao trách nhiệm nêu gương càng có ý nghĩa lớn lao trong xây dựng Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”. Nêu gương là sự phản ánh tự nhiên bản chất, phẩm hạnh của cán bộ, đảng viên. Điều đó khác với những biểu hiện hình thức, cố tạo ra để “đánh bóng” tên tuổi, nâng cao vị thế cá nhân. Nêu gương xuất phát từ lương tâm, danh dự của Đảng, của người Cộng sản và nêu gương cũng là phong cách chân thực của cán bộ, đảng viên. Nêu gương là tính tiên phong, là bản chất cách mạng của cán bộ, đảng viên, “Nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng”. Để sự nêu gương là thực chất cần có sự kiểm tra, giám sát để bảo đảm thực hiện đúng và có hiệu quả những quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương và cả những điều quy định đảng viên không được làm. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định nêu gương”. Việc kiểm tra, giám sát đó hướng vào sự “tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt”.

Thủ tướng Chính phủ: Thực hiện nhanh nhất, hiệu quả nhất chiến lược vaccine

Ngày 23/6, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo 167/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp trực tuyến về công tác phòng, chống dịch COVID-19. Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc về phòng, chống dịch COVID-19. Ảnh: Dương Giang/TTXVN Thông báo nêu: Dịch COVID-19 tại nước ta đang tiếp tục được kiểm soát nhưng cục bộ tại một số địa phương như TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Bình Dương đang diễn biến phức tạp, khó dự báo và một số tỉnh có nguy cơ cao có thể bùng phát bất kỳ khi nào ở bất cứ đâu. Vì vậy, các cấp, ngành, địa phương tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Dịch bệnh lây lan thời gian qua có nguyên nhân khách quan và cả chủ quan; cần phải đánh giá nghiêm túc, làm rõ nguyên nhân chủ quan, đúc rút thành bài học kinh nghiệm, nhất là từ những địa phương đã và đang có dịch với các địa phương chưa có dịch để kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các biện pháp phòng, chống dịch cho phù hợp với tình hình thực tế. Trong đợt dịch này, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận và biểu dương toàn ngành y tế, các lực lượng tuyến đầu chống dịch như quân đội, công an..., các tỉnh, thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Nam, nhất là Bắc Giang, Bắc Ninh đã nỗ lực, cố gắng, kiềm chế, đẩy lùi được dịch bệnh, đồng thời bảo đảm điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội. TP Hồ Chí Minh hiện cũng đang rất nỗ lực phấn đấu với tinh thần cao nhất để thực hiện mục tiêu kép. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đánh giá đúng tình hình, kịp thời biểu dương khen thưởng những nơi làm tốt, phổ biến nhanh cách làm hay, kinh nghiệm quý; kiểm điểm, xử lý nghiêm minh hành vi, biểu hiện vi phạm quy định phòng, chống dịch. Ngăn chặn dịch lây lan vào các khu công nghiệp, bệnh viện Thủ tướng nhấn mạnh mục tiêu ngăn chặn, kiềm chế, đẩy lùi nhanh dịch bệnh, sớm ổn định tình hình, đưa đất nước trở lại trạng thái bình thường. Bên cạnh đó, bảo đảm mục tiêu kép: Phòng chống dịch để bảo vệ sức khỏe, tính mạng nhân dân và bảo đảm điều kiện cho phục vụ sản xuất, kinh doanh; duy trì sản xuất, kinh doanh để có nguồn lực phòng, chống dịch và phục vụ nhân dân. Ngoài ra, tập trung hỗ trợ các tỉnh có tâm dịch, trước hết là TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Bình Dương để dập dịch thành công, trong đó đặc biệt lưu ý đến mục tiêu ngăn chặn dịch lây lan vào các khu công nghiệp, bệnh viện. Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt và gần đây nhất là Kết luận số 07-KL/TW ngày 11/6/2021 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm tăng cường công tác phòng, chống dịch COVID-19 và phát triển kinh tế - xã hội, các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19. Tiếp tục kiên định tinh thần “chống dịch như chống giặc”; lấy người dân là trung tâm, chủ thể trong phòng, chống dịch và phục hồi sản xuất, kinh doanh. Cả hệ thống chính trị phải vào cuộc, nhất là hệ thống chính trị ở cơ sở với cấp ủy, tổ chức Đảng là hạt nhân phải vào cuộc mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn trong thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn và đối tượng được phân công quản lý; trong đó có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các lực lượng chức năng (nhất là lực lượng công an ở cơ sở), phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, Tổ phòng chống COVID cộng đồng, huy động sự ủng hộ, hưởng ứng, hợp tác tích cực và tự giác thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch của mọi người dân. Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác khi chưa có dịch hoặc khi dịch đã đi qua; không lo sợ, hốt hoảng, lúng túng, mất bình tĩnh, thiếu kiên trì khi dịch xảy ra. Kết hợp hài hòa, hợp lý, hiệu quả giữa phòng ngừa và tấn công, trong đó phòng ngừa là cấp bách, thường xuyên, cơ bản, chiến lược, lâu dài và là quyết định; tấn công là chủ động, tích cực, quyết liệt, hiệu quả. Ngoài ra, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, “4 tại chỗ”, tuyệt đối không trông chờ ỷ lại mà phải luôn luôn có tư tưởng tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi, địa bàn và đối tượng quản lý, căn cứ vào tình hình thực tế cụ thể để tự quyết định theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao, kịp thời báo cáo cấp trên trực tiếp đối với những khó khăn, vướng mắc, vượt quá thẩm quyền để kịp thời tháo gỡ. Trung ương, các địa phương có điều kiện sẵn sàng, kịp thời hỗ trợ các địa phương gặp phải khó khăn hoặc thiếu điều kiện, thiếu kinh nghiệm phòng, chống dịch. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải luôn nắm chắc tình hình, dự báo tốt tình hình, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn để kiểm nghiệm, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị mình, trên cơ sở đó đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp kịp thời, phù hợp, khả thi, hiệu quả trong phòng chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội, mang lại niềm tin cho nhân dân. Khẩn trương rà soát, hoàn thiện các thể chế, chính sách, không cầu toàn, nóng vội, bảo đảm rõ ràng, minh bạch, phù hợp; cái gì chưa có trong quy định hoặc có quy định nhưng đã vượt qua thực tế thì mạnh dạn thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, trong đó cần rà soát, khắc phục ngay các sơ hở, bất cập trong các quy định về phòng, chống dịch tại các khu công nghiệp, trong các cơ sở y tế, các khu cách ly, phong tỏa... Tổ chức thực hiện nhanh nhất, hiệu quả nhất chiến lược vaccine và chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để xây dựng kế hoạch và triển khai chiến dịch tiêm vaccine trên phạm vi cả nước theo lộ trình phù hợp, khoa học, hiệu quả. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả việc sản xuất vaccine trong nước, nhất là liên quan đến đầu tư, nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá, cấp phép... Việc phòng, chống dịch hiệu quả đồng thời với việc phát triển kinh tế - xã hội là một lựa chọn đúng đắn, cần thiết nhưng vô cùng khó khăn, thách thức. Các cấp ủy, chính quyền cần lấy khó khăn, thách thức này làm động lực vươn lên, khẳng định, phát triển và bổ sung kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Sử dụng hiệu quả Quỹ vaccine phòng, chống COVID-19 công khai, minh bạch, bảo toàn, phát triển và đúng quy định. Phạm vi khoanh vùng phù hợp, không máy móc theo đơn vị hành chính Về nhiệm vụ, giải pháp, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm phương châm “5K + vaccine” và tích cực nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong phòng, chống dịch; đối với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp... phải thực hiện nghiêm yêu cầu về kiểm tra và cập nhật lên hệ thống an toàn COVID-19. Phòng ngừa phải chủ động, tích cực, phát hiện phải sớm, khoanh vùng, cách ly phải nhanh, điều trị phải hiệu quả, xử lý dứt điểm nhanh chóng ổn định tình hình, bảo đảm cuộc sống, sản xuất kinh doanh cho người dân. Trong áp dụng biện pháp khoanh vùng, phong tỏa, giãn cách xã hội cần lưu ý xác định phạm vi phù hợp trên cơ sở, căn cứ dịch tễ, không máy móc áp dụng theo đơn vị hành chính; kiểm soát chặt chẽ bên trong các khu vực phong tỏa, giãn cách, cách ly, tránh lây nhiễm chéo; phát huy vai trò, hiệu quả giám sát của Tổ phòng chống COVID cộng đồng ở cấp cơ sở. Bộ Y tế tiếp tục hoàn thiện điều kiện, tiêu chuẩn và quy trình, thực hiện việc cách ly y tế tại nhà. Xét nghiệm nhanh, phát hiện sớm, cách ly, phong tỏa kịp thời là chìa khóa dập dịch thành công. Khi có dịch phải thần tốc xét nghiệm, chú ý xét nghiệm sàng lọc trên diện rộng, xét nghiệm tại các cơ sở y tế, xét nghiệm ngay đối với các trường hợp có biểu hiện ho, sốt trong cộng đồng. Bộ Y tế nghiên cứu, xây dựng cơ chế xã hội hóa xét nghiệm COVID-19, có thể thực hiện thí điểm ở một số nơi rồi rút kinh nghiệm, mở rộng dần.

THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG

Đảng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò, phương thức phát huy dân chủ - thực hành dân chủ trong Đảng. Việc thực hành dân chủ trong Đảng được thể hiện ở các nội dung, khía cạnh sau: Thứ nhất, xuất phát từ vai trò quan trọng của đường lối chính trị đối với tiến trình cách mạng nên Đảng ta đã thực hành dân chủ, tiếp thu trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, kể cả kiều bào ở nước ngoài để xây dựng cương lĩnh, đường lối, chủ trương. Vì vậy các văn kiện Đại hội của Đảng, nhất là văn kiện Đại hội XI, XII, XIII thực sự là công trình tích hợp trí tuệ của toàn dân; phản ánh khá đầy đủ, toàn diện, xác định được tầm nhìn và những vấn đề thúc bách từ thực tiễn cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân để xây dựng đất nước, kiến tạo phương hướng, mục tiêu con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của cách mạng nước ta. Thứ hai, việc thực hành dân chủ trong công tác cán bộ, lựa chọn nhân sự để bầu vào cấp ủy, Ban chấp hành Trung ương được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, đúng nguyên tắc, quy trình, phát huy dân chủ để lựa chọn đúng những cán bộ ưu tú, có tâm có tầm, có khát vọng xây dựng đất nước. Trong công tác cán bộ, nhất là khâu bổ nhiệm, đa số cấp ủy đã thực hành dân chủ, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong trao đổi, thảo luận, cân nhắc, quyết định lựa chọn... Từ nhiệm kỳ Đại hội X trở lại đây, Đảng ta đã thực hiện thí điểm đại hội bầu bí thư cấp ủy từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh, nhiều đồng chí đạt tỷ lệ số phiếu cao. Điều đó cũng thể hiện phát huy dân chủ, quyền của của các đại biểu trong đại hội.
Thứ ba, phát huy dân chủ - thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng, từ sinh hoạt của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến sinh hoạt của các chi bộ đã có những đổi mới, chuyển biến tích cực nhằm phát huy trí tuệ, ý tưởng sáng tạo của cấp ủy viên, đảng viên trong quá trình xây dựng Đảng, đưa ra những quyết sách chính trị. Bước tiến về thực hành dân chủ ở Đại hội XII là hoàn thiện cơ chế, quy chế chất vấn trong các kỳ họp của Ban chấp hành Trung ương, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp để chia sẻ, nắm được vấn đề giữa chủ thể chất vấn với đối tượng chất vấn. Cách làm này vừa thực hành dân chủ đảm bảo quyền của đảng viên, cấp ủy viên, vừa giúp cấp ủy, ban thường vụ, người đứng đầu có thêm thông tin, gợi mở ý tưởng sáng tạo, thực hiện quyết định lãnh đạo phù hợp với thực tiễn, thuận lòng dân. Thứ tư, thực tiễn của giai đoạn 1989 - 1991 cho thấy, Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng Cộng sản Đông Âu mất vai trò lãnh đạo do mắc phải những sai lầm như từ bỏ nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, sai lầm về nguyên tắc, đường lối cải tổ, sai lầm về công tác cán bộ... Trong bối cảnh đó, Nghị quyết Trung ương 6 khóa VI đã đưa ra một trong năm nguyên tắc “dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác phải lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ”. Cùng với thực hành dân chủ, Đảng ta đã tăng cường kỷ luật, kỷ cương nhằm thống nhất ý chí và hành động, giữ vững vai trò lãnh đạo, năng lực cầm quyền. Trong công tác cán bộ, Đảng đã ban hành các quy chế, quy định để thực hiện tốt công tác quản lý, đề bạt, bổ nhiệm, kiểm soát chặt chẽ quyền lực cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền, siết chặt kỷ luật, kỷ cương... như Quy định số 85-QĐ/TW ngày 23/5/2017 của Bộ Chính trị về “Kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 179-QĐ/TW ngày 25/2/2019 của Bộ Chính trị về “Chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ”; Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị về “Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”; Quy định 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc “Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hành dân chủ trong Đảng vẫn còn hiện tượng “vừa thiếu dân chủ”, “vừa thiếu tập trung”; phát huy dân chủ còn hình thức, biểu hiện gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền ở một số người đứng đầu. Hiện tượng đó đã hạn chế phát huy dân chủ, được “hợp thức hóa” bằng các quyết định duy ý chí, “lợi ích nhóm”, không hợp lòng dân. Vẫn còn một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu thực hiện dân chủ còn hình thức, thể hiện bàn bạc nhiều, tốn nhiều thời gian, nhưng thiếu trọng tâm trọng điểm, thiếu vắng sự định hướng gợi mở của người đứng đầu. Sự hiện hữu của hai khuynh hướng trên cần tập trung khắc phục trong thời gian tới. Không ít tổ chức đảng “còn xem nhẹ việc thực hành dân chủ”. Từ thực tiễn của nhiệm kỳ, Đại hội XII đánh giá “Chưa thật sự phát huy dân chủ trong Đảng”. Điều này có nguyên nhân từ nhận thức dân chủ đến thực hành dân chủ trong Đảng cũng còn độ trễ, thậm chí có sự thiếu tương thích giữa ý thức dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng./.

Tiếp cận đa dạng các nguồn vaccine

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tiếp cận đa dạng các nguồn vaccine, thúc đẩy tiến độ đàm phán để mua vaccine nhanh nhất, nhiều nhất có thể. Bộ Y tế phải chủ động làm tốt vai trò đầu mối tiếp cận các nguồn vaccine, quản lý chất lượng vaccine bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, không để cạnh tranh giữa Nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp trong việc đàm phán, mua vaccine; tuyệt đối không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong việc mua và cung cấp vaccine. Cắt giảm tối đa thủ tục hành chính trong điều kiện khẩn cấp để thúc đẩy nhanh hơn, thần tốc hơn việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, sản xuất, thử nghiệm vaccine trong nước, sớm có sản phẩm phục vụ nhân dân. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan chịu trách nhiệm chỉ đạo triển khai có hiệu quả. Bộ Y tế ban hành kế hoạch cụ thể để triển khai nhanh nhất, hiệu quả nhất, an toàn nhất chiến dịch tiêm vaccine để chỉ đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện. Thủ tướng Chính phủ lưu ý, quan tâm và làm tốt hơn công tác truyền thông để nhân dân an tâm, tin tưởng, ủng hộ và truyền cảm hứng để nhân dân tích cực thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch và khôi phục sản xuất kinh doanh. Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng và thực hiện kế hoạch thông tin trung thực, khách quan về việc tiếp cận bình đẳng tiêm các loại vaccine khác nhau cho hợp lý, tránh tình trạng, tâm lý chờ đợi, lựa chọn vaccine, có loại nào phải dùng ngay loại đó, tinh thần là kịp thời, an toàn, hiệu quả. Các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn kịp thời tháo gỡ ngay khó khăn cho các địa phương, nhất là các địa phương trọng điểm về chống dịch với phương châm “3 không”: Không nói không có cơ chế, chính sách; không nói không có kinh phí; không nói không có vật tư, sinh phẩm, trang thiết bị y tế...

Đề xuất chính sách hỗ trợ khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh

Thủ tướng giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục thúc đẩy, đề xuất chính sách hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp Bộ Y tế đề xuất khung giá chung cho việc mua sắm phục vụ phòng, chống dịch, bảo đảm giá cạnh tranh, công khai, minh bạch, khách quan, chống độc quyền, ngăn ngừa có hiệu quả tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Bộ Y tế kiểm tra, rà soát kỹ lại quy trình mua sinh phẩm, vật tư phòng, chống dịch, bảo đảm vì lợi ích chung, không được để lợi ích nhóm, không để xảy ra tiêu cực, tránh cạnh tranh không lành mạnh; kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn ngay các hiện tượng giá cao nhưng lại mua nhiều, giá thấp nhưng lại mua ít. Khẩn trương đánh giá các sản phẩm được sản xuất trong nước để có chính sách ưu tiên dùng hàng Việt Nam một cách công khai, minh bạch, khách quan, bình đẳng, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là không làm đứt gãy các chuỗi sản xuất, kinh doanh, tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ sở dịch vụ và các hoạt động liên quan đến sinh kế của người dân ở vùng đang có dịch. Các Bộ: Giao thông vận tải, Công Thương, Thông tin và Truyền thông... theo chức năng rà soát, ban hành, hoàn thiện các quy định, quy chế và giám sát, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu phòng, chống dịch bảo đảm kịp thời, hiệu quả; không để ách tắc, đình trệ các hoạt động sản xuất, giao thương, lưu thông hàng hóa, vận tải đi - đến vùng có dịch. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo việc tổ chức thi tốt nghiệp trung học phổ thông an toàn, hiệu quả, bảo đảm quyền lợi học sinh, giảm phiền hà cho phụ huynh và học sinh./.

Khẩn trương hoàn thiện thông tư cấp phép lưu hành khẩn cấp vaccine phòng COVID-19

Chiều 23/6, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo về công tác tiêm chủng vaccine phòng COVID-19; Thông tư hướng dẫn đăng ký, lưu hành trong trường hợp cấp bách đối với vaccine COVID-19. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Nguyễn Điệp/TTXVN Tại cuộc họp, lãnh đạo Bộ Y tế báo cáo việc triển khai kế hoạch tiêm vaccine phòng COVID-19; việc xây dựng Thông tư hướng dẫn đăng ký, lưu hành trong trường hợp cấp bách đối với vaccine COVID-19. Theo đó, Bộ Y tế đã thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập xây dựng thông tư; tổ chức các cuộc họp với các đơn vị liên quan, cơ sở sản xuất, đăng ký vaccine về nội dung góp ý, những vướng mắc khi đăng ký lưu hành vaccine; báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành thông tư theo hình thức rút gọn… Theo báo cáo của Bộ Y tế, với kế hoạch vaccine về trong thời gian tới (tháng 7/2021 có thể có khoảng 8 triệu liều vaccine từ các nguồn về Việt Nam); dự kiến đến quý III/2021 sẽ tiêm được cơ bản cho các đối tượng ưu tiên, trong đó đủ số lượng vaccine để tiêm cho lực lượng sản xuất. Nhấn mạnh Bộ Y tế cần hoàn thiện và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về công tác tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 trên toàn quốc, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam lưu ý 6 điểm: Đầu tiên, Bộ Y tế phải dự kiến tiến độ, số lượng, từng loại vaccine về Việt Nam để phân bổ tiêm cho các đối tượng, không chỉ đáp ứng yêu cầu chống dịch mà còn tính tới các tác động về kinh tế - xã hội, đối ngoại... Căn cứ vào tiến độ, loại vaccine dự kiến về Việt Nam, tình hình dịch bệnh và thứ tự đối tượng ưu tiên, Bộ Y tế triển khai tiêm trên tinh thần, trước mắt bảo đảm công bằng giữa các nhóm đối tượng theo nguyên tắc tiếp cận công bằng vaccine của Liên hợp quốc; tiếp đến, công bằng giữa các đối tượng, có xem xét đến sự đóng góp của các ngành kinh tế, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, đảm bảo công khai, minh bạch. Trong tình hình hiện nay, Bộ Y tế phải có kế hoạch dự kiến khoảng thời gian tiêm mũi 1 và mũi 2 cũng như phương án tiêm hết mũi 1 cho số lượng lớn người dân hoặc dự trữ vaccine để tiêm đủ 2 mũi vaccine cho số lượng người ít hơn; tiêm 2 mũi là 2 loại vaccine khác nhau hay cùng một loại. Đồng thời, Bộ Y tế nêu rõ thời điểm Việt Nam đạt được miễn dịch cộng đồng, trong đó tập trung cho những khu vực, địa phương có nguy cơ cao, các địa phương có mật độ giao lưu lớn, tập trung nhiều sản xuất công nghiệp, du lịch như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh... Sau khi tiêm hết cho đối tượng ưu tiên, đạt được miễn dịch cộng đồng, Bộ Y tế phải chuẩn bị kích hoạt cơ chế tiêm chủng mở rộng (miễn phí) và tiêm dịch vụ; định hướng mới trong triển khai tiêm vaccine. Ngoài ra, Bộ Y tế cần đề xuất việc sử dụng kinh phí phục vụ việc tiêm vaccine từ nay đến cuối năm 2021 và thời gian tiếp theo. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, trong lúc khan hiếm vaccine hiện nay trong tháng 7, đầu tháng 8 khi vaccine về chưa nhiều, người dân rất quan tâm các đối tượng được ưu tiên tiêm vaccine. Vì vậy, Bộ Y tế phải đảm bảo thực hiện tiêm cho các đối tượng ưu tiên theo đúng tinh thần Nghị quyết 21/NQ-CP của Chính phủ. Đối với lực lượng sản xuất, cần căn cứ vào địa bàn có nguy cơ, tránh tình trạng không công bằng giữa các đối tượng như Thủ tướng Chính phủ đã lưu ý. Tại cuộc họp, Thường trực Ban Chỉ đạo đã nghe, thảo luận dự thảo Thông tư hướng dẫn đăng ký, lưu hành trong trường hợp cấp bách đối với vaccine phòng COVID-19. Hiện nay, việc cấp phép lưu hành các vaccine phòng COVID-19 của nước ngoài tại Việt Nam đang thực hiện theo quy trình khẩn cấp, vì vậy Thường trực Ban Chỉ đạo nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành thông tư quy định chính thức, cụ thể việc cấp phép lưu hành các loại vaccine phòng COVID-19 cả của nước ngoài và trong nước; qua đó, Hội đồng tư vấn cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc căn cứ vào thực hiện. Đối với các vaccine phòng COVID-19 đang được nghiên cứu, phát triển trong nước, Luật Dược quy định phải trải qua 3 giai đoạn thử nghiệm lâm sàng; tuy nhiên không quy định rõ quy mô thử nghiệm. Đại diện Bộ Y tế cho biết, trong điều kiện bình thường, quy mô thử nghiệm lâm sàng các loại thuốc (bao gồm cả vaccine) theo thông lệ quốc tế. Đại diện Bộ Tư pháp cho biết, điều 89, Luật Dược quy định về “Thuốc phải thử lâm sàng, thuốc miễn thử lâm sàng hoặc miễn một số giai đoạn thử lâm sàng khi đăng ký lưu hành thuốc” thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Y tế. Trong tình hình hiện nay, Bộ Y tế sẽ nghiên cứu để thể hiện trong thông tư, do Bộ trưởng Bộ Y tế ký ban hành. Trong trường hợp cần các yêu cầu, điều kiện đặc biệt mà pháp luật hiện hành chưa quy định, Bộ Y tế sẽ trình các cơ quan thẩm quyền xem xét.

DÂN CHỦ PHẢI GẮN LIỀN VỚI KỶ LUẬT

Dân chủ về bản chất là quyền lực thuộc về nhân dân - nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Tiếp nối giá trị văn hóa của dân chủ, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ “Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”. Đây là một trong những điểm mới của Đại hội XIII, phản ánh bước phát triển về nhận thức lý luận của Đảng. Từ trong bản chất, dân chủ là một giá trị văn hóa, là động lực của sự phát triển, là năng lượng sống của Đảng. Thực hành dân chủ trong Đảng thực chất là trở về tư tưởng Hồ Chí Minh: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Bản chất sâu xa của vấn đề thực hành dân chủ sẽ góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo của cấp ủy viên, đảng viên, tạo lập củng cố quyền lực chính trị, kỷ luật kỷ cương, tạo sự đồng thuận, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thực hành dân chủ tức là phải làm một cách thuần thục, thường xuyên, trở thành chế độ, nền nếp trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng - dân chủ sẽ hướng đến sự tập trung thống nhất, hướng đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng đã xác định. Đó là logic tất yếu dẫn tới hệ quả “Khi mọi người đã phát biểu ý kiến đã tìm thấy chân lý lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”. Dân chủ càng rộng rãi, có thực chất thì tập trung càng đúng đắn, lành mạnh. Dân chủ được hiện thực hóa trong thực tế, đảm bảo quyền của đảng viên khi có sự định hướng, chỉ đạo của tập trung. Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật”. Người phân tích: “Ở trong Đảng, mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Nhưng quyết không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và trái kỷ luật. Quyết chống: không xét thời gian, địa điểm, điều kiện mà nói lung tung, tự do hành động, dân chủ quá trớn”. Người cũng lưu ý khắc phục hiện tượng dân chủ tùy tiện, quá trớn, coi thường kỷ luật ở một số cán bộ, đảng viên: “Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt lờ kỷ luật và chính sách của Đảng và của Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến cấp dưới. Xem thường chỉ thị cấp trên. Không muốn chịu kiểm tra. Không muốn nghe phê bình”./.

Việt Nam bỏ phiếu ủng hộ Nghị quyết kêu gọi Mỹ chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế Cuba

Đại hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ LHQ) ngày 23/6 đã thông qua Nghị quyết kêu gọi Mỹ chấm dứt cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính đối với Cuba với kết quả 184 phiếu thuận, 2 phiếu chống và 3 phiếu trắng. Theo phóng viên TTXVN tại New York, Việt Nam đã bỏ phiếu thuận và lên tiếng kêu gọi Chính phủ Mỹ đảo ngược xu hướng chính sách hiện nay đối với Cuba, không chỉ vì lợi ích của nhân dân hai nước mà còn vì hòa bình, ổn định và phát triển khu vực và thế giới. Nghị quyết (A/RES/75/290) được Cuba đề xuất từ năm 1992 và được ĐHĐ LHQ bỏ phiếu thông qua hàng năm với số phiếu thuận áp đảo. Tại buổi họp ngày 23/6, có hơn 20 nước, trong đó có đại diện 6 nhóm nước gồm châu Phi, Cộng đồng Caribbe, ASEAN, Nhóm G77+Trung Quốc, Phong trào Không Liên kết và Tổ chức Hợp tác Hồi giáo đã phát biểu bày tỏ ủng hộ mạnh mẽ việc thông qua Nghị quyết. Các nước bày tỏ quan ngại trước những tác động bất lợi của các biện pháp cưỡng chế đơn phương đối với Cuba, gây khó khăn và thách thức đối với sự phát triển của Cuba trên toàn bộ các lĩnh vực. Các nước nhấn mạnh Mỹ cần dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba và cam kết tiếp tục tuân thủ các nguyên tắc, mục đích và tinh thần của Hiến chương LHQ, đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Phát biểu trước ĐHĐ, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại LHQ Đặng Đình Quý nhấn mạnh lệnh cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính đối với Cuba đi ngược lại luật pháp quốc tế và các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ. Đây là hệ thống trừng phạt đơn phương bất công và kéo dài nhất từng được áp dụng đối với một quốc gia trong lịch sử thế giới hiện đại. Lệnh cấm vận đã gây ra những thiệt hại to lớn cho Cuba, khiến nhiều thế hệ người dân Cuba gặp muôn vàn khó khăn. Việt Nam cùng với cộng đồng quốc tế kêu gọi Mỹ chấm dứt lệnh cấm vận đơn phương đối với Cuba, để Cuba được tự do tham gia bình đẳng và công bằng vào các quan hệ kinh tế, thương mại, phù hợp với luật pháp quốc tế. Đại sứ cũng đánh giá cao mong muốn của Cuba tiếp tục đối thoại và hợp tác với Mỹ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm, cũng như đàm phán các vấn đề song phương còn tồn tại trên cơ sở bình đẳng, có đi có lại và tôn trọng chủ quyền quốc gia và độc lập của nhau. Nghị quyết của ĐHĐ LHQ có ý nghĩa chính trị nhưng chỉ có Quốc hội Mỹ mới có quyền bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế vốn áp đặt đối với Cuba trong hơn 50 năm qua.