Thứ Năm, 24 tháng 6, 2021

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG KỶ LUẬT, KỶ CƯƠNG VỚI THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG

Thực hành dân chủ tức là phải làm một cách thuần thục, thường xuyên, trở thành chế độ, nền nếp trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng - dân chủ sẽ hướng đến sự tập trung thống nhất, hướng đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng đã xác định. Để thực hành dân chủ trong Đảng gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:
Một là, nâng cao nhận thức trách nhiệm của các chủ thể, trước hết là cấp ủy viên, người đứng đầu, đảng viên. Cần nhận thức rằng thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương là nhằm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh trên cả 5 lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao tính đảng, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, gương mẫu nói đi đôi với làm, có ý thức tổ chức kỷ luật, tận tụy phục vụ nhân dân. Thực hành dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương thực chất là hai mặt của một vấn đề, tác động biện chứng lẫn nhau. Không có dân chủ thuần túy mà dân chủ luôn gắn với tập trung, kỷ luật, kỷ cương, nhận thức được tính tất yếu phải làm. C. Mác đã đúc kết tự do chính là nhận thức được tính tất yếu. Chấp hành kỷ luật, kỷ cương trên cơ sở tính tự giác, nhận thức được tính tất yếu để ghép mình trong tổ chức, tự giác chấp hành đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Dân chủ quá trớn, tự do tùy tiện đều trái với bản chất dân chủ của Đảng; trái với nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Không chỉ dừng lại ở nhận thức mà trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng phải quán triệt, bám sát các quy chế, quy định để thực hiện làm sao vừa phát huy được dân chủ vừa gắn với kỷ luật, kỷ cương. Cần nâng tầm văn hóa dân chủ, dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng gắn với kỷ luật, kỷ cương. Phải lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ để phát huy tính tích cực của cấp ủy viên, đảng viên. Hai là, xây dựng các quy chế, quy định để thực hiện nhằm phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Quy chế, quy định thực chất là cụ thể hóa Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết của Đảng thành những điều khoản, chế tài để các tổ đảng, đảng viên trong đảng tuân thủ chấp hành. Đại hội XIII chỉ rõ “thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”. Trên cơ sở quy chế, quy định chung của Đảng, các tổ chức đảng cần bám sát quy chế hoạt động của Đảng bộ để xây dựng, lượng hóa quy chế, quy định sát hợp với thực tiễn của Đảng bộ mình sao cho dễ nhớ, dễ thực hiện. Không có những chế định bắt buộc kèm theo thì việc phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng sẽ gặp khó khăn, lúng túng bị động trong tổ chức thực hiện. Thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định thực chất là phát huy dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương trách nhiệm của cấp ủy viên, đảng viên. Trong thời gian tới Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị cần nghiên cứu ban hành các quy chế, quy định như thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng nghị quyết, trong sinh hoạt đảng và trong công tác cán bộ; quy chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám đột phá; quy chế bảo vệ người phê bình; quy chế quản lý đảng viên sử dụng không gian mạng… để quản lý, vừa phát huy dân chủ vừa gắn với kỷ luật, kỷ cương. Ba là, phát huy dân chủ của tập thể cấp ủy với người đứng đầu. Đây là mối quan hệ rường cột của tổ chức đảng. Bác Hồ yêu cầu “phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ ý kiến của mình”. Nếu không thực hiện quyền dân chủ trong Đảng sẽ làm cho “nội bộ của Đảng âm u”. Đồng thời mối quan hệ này cũng là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách. Tập thể lãnh đạo là một chế định trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng ta nhằm phát huy dân chủ để đưa ra quyết định chính xác phù hợp với thực tiễn, thuận lòng dân. Bởi theo Hồ Chí Minh “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Cá nhân phụ trách là biểu hiện của tập trung, quyền uy của tổ chức ủy thác cho cá nhân chịu trách nhiệm trước tổ chức về các hoạt động của mình. Trong xây dựng nghị quyết lãnh đạo, Hồ Chí Minh chỉ dẫn phương pháp pháp luận: “Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ bằng cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện”. Thảo luận dân chủ, phát huy đầy đủ quyền của cấp ủy viên nhưng phải gắn với tập trung - sự định hướng gợi mở của người đứng đầu. Người đứng đầu nhìn xa trông rộng, nắm được thực tiễn, hình dung được các kịch bản thì sự gợi mở của người đứng đầu cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Yêu cầu này không chỉ trong hội nghị ra nghị quyết mà còn trong công tác cán bộ, nhất là đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Tập thể cấp ủy và người đứng đầu là hai chủ thể luôn có sự tương tác, chi phối đến các hoạt động của Đảng bộ, đảng ủy. Mối quan hệ cơ bản này cần được vận hành theo theo nguyên tắc tập trung dân chủ để vừa phát huy dân chủ của tập thể cấp ủy, vừa phát huy vai trò của người đứng đầu. Cần phòng tránh ở người đứng đầu biểu hiện gia trưởng, áp đặt không lắng nghe ý kiến của cấp ủy viên, đảng viên. Mọi vấn đề được tập thể cấp ủy, ban thường vụ bàn bạc là cơ sở để người đứng đầu/ bí thư cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả, sát với thực tiễn. Đó là chỗ dựa vững chắc để bí thư cấp ủy thực hiện tốt vai trò lãnh đạo chính trị đối với đảng bộ. Ngược lại người đứng đầu có năng lực vượt trội, có tầm nhìn xa, nắm chắc thực tiễn, hiểu được nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, quần chúng thì sự định hướng, gợi mở của người đứng đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Song cần phòng tránh ở chỗ khi người đứng đầu biểu hiện gia trưởng, chủ nghĩa cá nhân đưa ra các ý tưởng không xuất phát từ cái chung thì tập thể cấp ủy, ban thường vụ phải có ý kiến, trao đổi, thể hiện sự lập luận và tính chứng kiến của mình. Đấu tranh thuyết phục bằng chân lý và lẽ phải để người đứng đầu chia sẻ, nhận ra thiếu sót của mình. Trong những năm gần đây Đảng ta nhấn mạnh đề cao vai trò của người đứng đầu - cá thể hóa cá nhân phụ trách để nâng cao trách nhiệm, dám chịu trách nhiệm để tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị có hiệu quả. Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình là một trong năm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng ta. Đồng thời là một thuộc tính nổi trội phát huy dân chủ trong Đảng. Bác Hồ đã từng nhấn mạnh “thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”. Đây là phương thức để phát huy dân chủ, kết tinh ý tưởng sáng tạo để nâng tầm trí tuệ của Đảng, xây dựng đoàn kết thống nhất, bồi dưỡng tình thương yêu đồng chí giúp đỡ lẫn nhau. Theo Hồ Chí Minh “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”; “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”. Hậu quả của buông lơi vũ khí phê bình sẽ dẫn tới “cũng như có bệnh mà giấu bệnh. Không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết “cũng la lết quả dưa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên phải nắm vững ý nghĩa, nguyên tắc, nội dung, phương pháp phê bình. Khi phê bình phải công tâm, khách quan, triệt để, không nể nang, phải nói cả ưu điểm và khuyết điểm, phê bình việc làm chứ không phải phê bình người. Chú trọng xây dựng văn hóa phê bình thể hiện động cơ trong sáng, chân thành mong muốn đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ trưởng thành. Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ”. Người cũng dạy: “Muốn dân chủ tốt, kỷ luật cao, cán bộ phải gương mẫu phê bình và tự phê bình”. Người đứng đầu “dám nói”, dám tự phê bình và phê bình không chỉ thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, đoàn kết nội bộ mà còn có sức lan tỏa đến các đảng viên trong chi bộ, đảng bộ và quần chúng. Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát đôn đốc việc thực hiện có hiệu quả. Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng. Hồ Chí Minh đã đúc kết chín phần mười khuyết điểm là do thiếu sự kiểm tra. Vai trò kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Thực hiện nhiệm vụ này sẽ giúp tổ chức đảng và người đứng đầu cấp trên nắm được tình hình hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới, biểu dương những ưu điểm, kết quả về thực hành dân chủ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức Đảng; đồng thời nhận diện chính xác những mâu thuẫn đang trầm tích như biểu hiện mất đoàn kết, bè cánh, gia trưởng, độc đoán ở người đứng đầu để chấn chỉnh, phê bình khắc phục sửa chữa. Hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với cấp dưới là khá rõ. Chính bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ - thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên buộc tổ chức đảng cấp dưới phải tuân thủ chấp hành. Ngoài việc thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ, bất thường, cấp ủy cần chỉ đạo các ban đảng theo chức trách, nhiệm vụ tăng cường kiểm tra, đôn đốc tổ chức đảng cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ thực hành dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét