Thứ Năm, 24 tháng 6, 2021

Vai trò bảo hộ của Mỹ tại Trung - Nam Á bị lung lay và dần bị cô lập

Trong những năm gần đây, Pakistan đã trở thành một trong những trụ cột của dự án Con đường Tơ lụa mới của Trung Quốc. Bắc Kinh đã đầu tư hàng tỷ đô la vào cơ sở hạ tầng của Pakistan, đặc biệt là giao thông (đường cao tốc, bên cảng).Bên lề các cuộc đàm phán tế nhị với Washington, Islamabad nhắc lại lời phản đối việc Mỹ mở căn cứ tại Pakistan sau khi rút quân đội khỏi Afghanistan. Một quan điểm được đặc biệt thúc đẩy bởi các liên kết giữa Pakistan với Trung Quốc nhưng cũng bởi mối quan hệ đặc quyền mà Pakistan duy trì với Taliban. Pakistan không muốn “xúc phạm” Trung Quốc hay Taliban... ở Afghanistan. Tổng cộng, Bắc Kinh đã cam kết đầu tư khoảng 60 tỷ USD vào Pakistan. Ngoài khía cạnh kinh tế, “quân đội lớn nhất thế giới” cũng đang “giúp một tay” cho Pakistan trong cuộc xung đột cường độ thấp với Ấn Độ ở Kashmir. Với hơn 50% quân số và khả năng quân sự hiện ở bên ngoài Afghanistan, Mỹ sẽ không còn bất kỳ căn cứ quân sự nào ở nước này vào ngày 11-9-2021. Tuy nhiên, khả năng Taliban giành quyền chi phối Afghanistan đang dần hiện ra cùng lúc với việc Mỹ rút quân. Và điều này, chính CIA đã thừa nhận. “Không có chuyện Pakistan cung cấp cho họ [Mỹ] các căn cứ, chúng tôi phải tính đến những lợi ích của chính mình”, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pakistan khẳng định vào ngày 7-6 khi trả lời một bài báo trên New York Times và tuyên bố rằng các cuộc đàm phán về việc thiết lập một hoặc nhiều căn cứ của Mỹ trên đất nước Pakistan đang được tiến hành. Thời gian không còn nhiều cho Washington. Gần đây, chính quyền Iraq bất ngờ tuyên bố không cho Mỹ mở căn cứ quân sự trên lãnh thổ. Afghanistan sẽ ra sao khi không còn quân Mỹ? Do đó, CIA và tình báo quân sự Mỹ đang ráo riết tìm kiếm một quốc gia láng giềng với Afghanistan có khả năng đặt căn cứ không quân để từ đó Washington có thể thu thập thông tin tình báo, theo dõi và tấn công Taliban nếu cần. Vấn đề là Mỹ có ít bạn bè trong khu vực và dần bị cô lập trong khu vực. Ở phía Tây của Afghanistan là Iran, vì những lý do rõ ràng, sẽ không bao giờ chấp nhận cho Mỹ đặt căn cứ trên đất của mình. Điều tương tự cũng xảy ra đối với các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ở phía Bắc Afghanistan, chẳng hạn như Tajikistan, Turkmenistan hay thậm chí là Uzbekistan. Như New York Times giải thích, những điều này sẽ gây nguy hiểm cho mối quan hệ với Moscow khi các nước trên tiếp nhận các cơ sở quân sự như vậy của Mỹ. Chắc chắn nước tiếp nhận sẽ không thu được nhiều lợi ích từ chúng. Pakistan, nơi Washington không còn căn cứ nào kể từ khi họ bị trục xuất vào năm 2011 vì tranh chấp về cách tiếp cận tương ứng của họ trong cuộc chiến chống khủng bố. Tuy nhiên, trên đất nước thứ hai mà người Mỹ muốn đặt tầm ngắm của họ, nhưng không thành công, căn cứ gần nhất sẽ là ở Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất, khoảng 1.688 km đường chim bay. Do đó, “căn cứ Mỹ muốn đặt chỉ có thể ở Pakistan. Điều này sẽ cho phép họ hỗ trợ các hoạt động trên bộ của quân đội Afghanistan bằng đường hàng không và ngăn cản Taliban lên nắm quyền”. Tướng Alain Lamballe, chuyên gia về Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu tình báo Pháp (CF2R), giải thích. Theo ông Lamballe, nỗ lực của người Mỹ sẽ bị lãng phí. Người Pakistan không còn nhìn về phương Tây nữa mà hướng về phương Đông. Một hướng địa chính trị mới quyết định các lựa chọn chiến lược của họ. “Ưu tiên của Pakistan hiện nay là mối quan hệ với Trung Quốc. Điều này cũng ảnh hưởng đến quyết định của Pakistan. Trung Quốc hoàn toàn không muốn người Mỹ có căn cứ trong khu vực và đặc biệt là không phải ở Pakistan”, vị tướng này giải thích. Khi từ chối cho Mỹ xây dựng căn cứ, chuyên gia Lamballe tin rằng người Pakistan “sẽ tự hỏi làm thế nào để không làm mất lòng người Mỹ”. Các cuộc đàm phán sẽ đi về đâu. Hai nước vẫn là đồng minh trên danh nghĩa một cách hiệu quả, đặc biệt là trong cuộc chiến chống khủng bố, ngay cả khi các mục tiêu của họ ở Afghanistan hoàn toàn bị phản đối. Hơn nữa, theo tướng Lamballe, “việc từ chối này sẽ không có hậu quả đáng kể nào” đối với quan hệ giữa Washington và Islamabad. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Pakistan Imran Khan. Pakistan không muốn “xúc phạm” Trung Quốc hay Taliban... ở Afghanistan. Do đó, không có khả năng Islamabad, vốn nhận hàng tỷ USD và viện trợ quân sự từ Trung Quốc, lại muốn quay lưng với Bắc Kinh bằng việc cung cấp một căn cứ quân sự cho Washington. Đặc biệt, thậm chí không tính đến biến số của Trung Quốc, không có gì đảm bảo rằng việc thiết lập căn cứ của Mỹ sẽ bảo toàn các lợi ích an ninh của Pakistan. “Người Pakistan vô cùng lo lắng về tình hình ở Afghanistan, bởi vì họ không biết Taliban sẽ có khả năng xuất hiện như thế nào”, tướng Lamballe cảnh báo. Islamabad cho đến nay vẫn duy trì mối quan hệ đặc quyền với Taliban Afghanistan, “lực lượng này đảm bảo cho họ một biên giới phía Tây yên tĩnh, cho phép họ tập trung lực lượng vào biên giới phía Đông với Ấn Độ”. Chẳng ai dại gì chọc tức Taliban, tổ chức có thể sớm nắm quyền ở Afghanistan...vẫn mong muốn duy trì quan hệ với Washington Liên quan đến những động thái của Trung Quốc, phát biểu tại cuộc họp 3 bên gồm các ngoại trưởng Afghanistan, Pakistan và Trung Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đã kêu gọi tăng cường hợp tác khu vực sau khi quân đội NATO do Mỹ lãnh đạo rút khỏi Afghanistan. Ông cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường hợp tác giữa 3 nước sau khi quân đội nước ngoài rút khỏi Afghanistan nhằm đảm bảo sự ổn định của đất nước. Nhà ngoại giao Trung Quốc nhắc lại sự cần thiết của việc rút quân thường xuyên và có trách nhiệm khỏi Afghanistan, kêu gọi ngăn chặn sự xấu đi của tình hình an ninh và không cho phép các nhóm khủng bố giành lại quyền kiểm soát đất nước. Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, 3 bên đã đạt được đồng thuận 8 điểm, trong đó có các thỏa thuận nhằm thúc đẩy tiến trình hòa bình và “hoan nghênh Taliban gia nhập nhóm điều hành đất nước”; củng cố lòng tin và quan hệ chính trị, với việc Trung Quốc đóng “vai trò tích cực trong việc cải thiện và phát triển quan hệ giữa Afghanistan và Pakistan”; làm sâu sắc hơn hợp tác Vành đai và Con đường, mở rộng quan hệ kinh tế và thương mại; tăng cường nỗ lực chống khủng bố.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC CHIẾN PHÒNG, CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID-19 TẠI VIỆT NAM

 Thời gian qua, khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tập trung mọi nguồn lực, đẩy mạnh cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19 với tinh thần “chống dịch như chống giặc” thì các thế lực thù địch nhân cơ hội này “đục nước béo cò”, tung ra nhiều chiêu trò, thủ đoạn thâm độc, tinh vi, hòng xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Rất dễ nhận ra, từ sau ngày 30-4-2021 đến nay, một số tổ chức phản động lưu vong, như: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các đài phát thanh VOA, RFA, Chân trời mới media... cấu kết với nhiều phần tử hiềm khích, bất mãn trong nước, tổ chức đăng tải hàng trăm bài viết có nội dung phản động trên mạng xã hội và tung ra vô số thông tin sai lệch, bịa đặt về tình hình dịch Covid-19 ở Việt Nam.

Thực chất, đây là một chiêu trò mới, khá tinh vi; ví như một mũi tên tẩm độc, được bắn đi với tham vọng trúng cùng lúc nhiều đích. Có nghĩa là, ngoài việc cố tình gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự ức chế và tâm lý tiêu cực trong cộng đồng, các thế lực thù địch còn hướng mưu toan vào việc hạ bệ uy tín của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam; đồng thời chủ ý bôi nhọ, chế giễu quyết tâm chính trị của dân tộc ta là vừa bảo vệ an toàn tuyệt đối tính mạng của nhân dân, vừa tập trung phát triển kinh tế đất nước.

Các luận điệu trên ngụy biện rằng: Chính phủ Việt Nam chỉ giỏi tung hô, tuyên truyền sáo rỗng, dẻo miệng “đổi trắng thay đen”, cố tình giấu giếm bức tranh đen tối về tình hình dịch Covid-19. Chúng còn tự đúc rút và đả kích: Quan chức Việt Nam, nhất là các lãnh đạo ở Trung ương chỉ ngồi trong phòng lạnh, chỉ đạo chống dịch từ xa, chứ không buồn xuống cơ sở, không dành thời gian về với dân. Chúng nêu ra các “ví dụ cụ thể” về việc một số đồng chí Trung ương đang khoanh tay đứng nhìn, khoán trắng công tác phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền cơ sở và LLVT, mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực tế này là do tâm lý sợ bị “vướng dịch” của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, trong 4 đợt bùng phát dịch Covid-19 ở Việt Nam, nhất là đợt gần đây nhất, người dân Việt Nam đều có điều kiện quan sát, theo dõi và bày tỏ sự cảm phục, tự hào về quyết tâm chính trị và hành động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, cũng như đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị. Bất chấp mọi gian nguy, vất vả, các nhà lãnh đạo Việt Nam, cán bộ các cấp luôn có mặt ở các vùng dịch diễn biến phức tạp để trực tiếp chỉ đạo; vào nơi tâm dịch để hướng dẫn cơ sở, động viên quần chúng đồng lòng khắc phục khó khăn, chống dịch thắng lợi. Sẽ thật không quá lời khi khẳng định: Đã có hàng triệu tin, bài, hình ảnh được người dân Việt Nam sáng tác, lưu chụp, đăng tải trên tài khoản xã hội để ngợi ca và bày tỏ niềm tự hào về những nhà lãnh đạo của đất nước. Đó không chỉ là những cán bộ mẫn cán, gần dân, trở thành nguồn sáng tác thơ ca, tranh ảnh cho quần chúng mà còn là “điểm tựa niềm tin”, kết chặt tình cảm của người dân với Đảng, Chính phủ và bộ máy cầm quyền. Những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ... còn được ghi nhận là hình mẫu sinh động về bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần quả cảm, đức hy sinh, lòng nhiệt thành, nhiệt huyết cống hiến cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng và hệ thống chính trị học tập, noi theo. Cũng vì vậy mà mọi công dân Việt Nam (dù ở trong nước hay học tập, lao động, công tác ở nước ngoài) đều một lòng tuân theo chủ trương, đường lối của Đảng; hành động theo mệnh lệnh và sự kêu gọi của Chính phủ, vì chính sự bình an, hạnh phúc của mỗi người và muôn người.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, dù tất cả các chiêu trò, thủ đoạn mà thế lực thù địch chống phá chủ ý tung ra đều hết sức thâm độc, tinh quái, nhưng chính ánh sáng sự thật đã mặc định hình thành nên ranh giới đúng-sai. Sự thật và thành quả trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam đã và đang chiếu rọi, xua tan, phơi trần tường tận mọi ý đồ đen tối, bẩn thỉu, hằn học của những kẻ hiềm khích, chủ mưu chống phá cách mạng Việt Nam.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ TẠI VIỆT NAM

 Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Liên hợp quốc và pháp luật của nhiều quốc gia phát triển như Pháp, Anh, Mỹ quy định cụ thể. Trong bản “Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm1789”, vấn đề tự do báo chí được trình bày như là một trong những quyền cơ bản: “Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật” (Điều 11). Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của mọi công dân và cũng như các quốc gia khác, để giữ gìn kỷ cương và bảo đảm sự ổn định để phát triển, Nhà nước Việt Nam không cho phép lợi dụng những quyền này để tuyên truyền, kích động lật đổ chính quyền, phá hoại khối đoàn kết dân tộc, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do báo chí. Trên cơ sở nội luật hóa pháp luật quốc tế về quyền tự do báo chí, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định “người dân có quyền tự do báo chí và được pháp luật bảo đảm thực hiện”. Các bản Hiến pháp sau này đều kế thừa và phát triển nội dung của Hiến pháp năm 1946 về quyền tự do báo chí.

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” và khẳng định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Quy định này cũng được thể chế trong nhiều văn bản pháp luật Việt Nam, như Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017; Luật Báo chí năm 2016...

Ở Việt Nam, báo chí thực sự trở thành cầu nối giữa “ý Đảng, lòng dân”, tạo đồng thuận xã hội, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; là phương tiện để người dân kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật và đóng góp ý kiến phản biện đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước; là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Theo số liệu tại Hội nghị báo chí toàn quốc năm 2020, đến cuối năm 2020, cả nước ta có 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động; 779 cơ quan báo chí, trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh, truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Chúng ta khuyến khích tự do báo chí vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và nhân dân. Và lẽ tất nhiên, chúng ta không thể chấp nhận việc lợi dụng tự do báo chí, tự do Internet, tự do ngôn luận để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, xâm phạm lợi ích của công dân.

ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM, ĐÁNH LẬN Ý NGHĨA QUỸ VACCINE PHÒNG COVID-19

 Giữa tình hình dịch bệnh Covid-19 đang căng thẳng, trong khi mọi tầng lớp nhân dân đã và đang tham gia ủng hộ Quỹ vaccine phòng COVID-19 thì một số cá nhân, tổ chức không có thiện chí đã đăng tải những thông tin xuyên tạc về việc thành lập Quỹ, thậm chí xúc phạm đến danh dự, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cá nhân, tổ chức đã tham gia ủng hộ Quỹ.

          Việc thành lập Quỹ là xuất phát từ thực tiễn khách quan. Việt Nam cần có hơn 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 để tiêm phòng cho khoảng hơn 75 triệu người dân với tổng kinh phí ước tính khoảng 25,2 nghìn tỷ đồng. Con số này là rất lớn, đất nước ta đang còn nhiều khó khăn, ngân sách hạn hẹp, rất cần sự tự nguyện ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Việc Chính phủ thông qua chủ trương thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 và thành lập Quỹ vaccine phòng COVID -19 là phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đó là truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái “lá lành đùm lá rách”.

          Trong bối cảnh đó, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, chống phá đất nước đã tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về việc thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19, thậm chí còn xúc phạm đến những nghĩa cử cao đẹp, hành động đúng đắn, nhân văn của các cá nhân, tổ chức trong cuộc chiến chống dịch COVID-19 của toàn thể nhân dân ta.

          Ngăn chặn đại dịch COVID -19, đó là trách nhiệm của toàn xã hội. Do vậy, việc một số luận điệu quy trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch là “của riêng Đảng, Nhà nước” là hoàn toàn vô lý. Không có quốc gia nào tự chống chọi với đại dịch chỉ bằng sự quyết tâm của Chính phủ. Những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các tổ chức, cá nhân, đài báo trên về Quỹ vaccine phòng COVID-19 của Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng như xúc phạm đến danh dự, hình ảnh của các cá nhân, tổ chức tham gia ủng hộ là việc làm của những kẻ lạc điệu, lạc lõng trong cuộc chiến chống dịch COVID-19.

          Thực tế, trước khi Quỹ được thành lập, đã có rất nhiều địa phương, doanh nghiệp, người dân rất muốn đóng góp vào công cuộc tìm mua vaccine, để mọi người dân được tiêm vaccine, xã hội trở lại ổn định, vượt qua dịch bệnh và cuộc sống người dân trở lại như bình thường. Sau khi Quỹ thành lập, những ngày qua, số tiền quyên góp ủng hộ Quỹ không ngừng tăng lên, là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần đoàn kết chống lại đại dịch COVID-19 của nhân dân Việt Nam. Thực tiễn sinh động đó phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc.

THỦ ĐOẠN PHAO TIN VẢI THIỀU DÍNH CORONA ĐỂ PHÁ HOẠI XUẤT KHẨU

 Mùa hè nóng nực đã đến, nhưng với những người nông dân thì đây là mùa để xuất khẩu đi những quả vải ngon, thu về những đồng ngoại tệ quý giá. Vậy mà có nhửng kẻ táng tận lương tâm, lợi dụng không gian mạng để phao tin vải của Việt Nam bị dính vi-rus co-ro-na, nhằm làm cho việc xuất khẩu vải gặp khó khăn.

            Đúng là mùa vải chín cũng là thời điểm dịch Covid-19, tuy nhiên, thông tin nêu trên là hoàn toàn vô căn cứ.

            Thứ nhất, chưa có cơ sở khoa học để cho rằng virus gây ra Covid-19 có trên vỏ bao bì hàng hóa, trên nông sản có thể lây sang người. Ngay cả, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới cũng chưa hề có công bố chính thức nào về việc SARS-CoV-2 lây từ bao bì, mặt hàng nông sản sang người, đây là căn cứ để chúng ta yên tâm vận chuyển và tiêu thụ nông sản. Và thực tế cũng chưa hề có trường hợp nào mắc bệnh do tiếp xúc với nông sản từ vùng dịch.

            Thứ hai, chính quyền địa phương các cấp đã phối hợp với bà con thực hiện nghiêm ngặt các giải pháp phòng dịch trong khâu thu hoạch, vẩn chuyển, xuất nông sản. Nhiều quy định được đặt ra trong việc mua bán vải thiều như người mua – bán vải, lái xe phải là người không thuộc trường hợp cách ly y tế, âm tính với Covid-19 và được cấp giấy xác nhận có dấu đỏ. Nhiều chốt chặn kiểm tra phòng chống dịch tại các vườn vải đã kiểm soát tốt người ra vào vùng vải thiều. Chính quyền tập trung cao bảo đảm cho các vùng vải thiều “Sạch – không bị tác động của dịch bệnh Covid-19”. Với quy trình từ chăm sóc, thu hoạch cho tới đóng gói nghiêm ngặt, tuân thủ phòng chống dịch, Việt Nam đã kiểm soát tốt vùng vải thiều an toàn, không có dịch Covid-19, được tiêu thụ đi mọi nơi và xuất khẩu nước ngoài.

            Thứ ba, nếu như nông sản nói chung và vải thiều nói riêng làm lây lan dịch Covid-19 thì liệu những trái vải chín đỏ, căng mọng có thâm nhập vào được các thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ, Úc, EU,…? Được biết, quy trình chế biến vải thiều xuất khẩu đối với thị trường khó tính trên cũng được các cơ sở đảm bảo một cách nghiêm túc từ thu mua, đóng gói cho tới vận chuyển. Ngoài những yêu cầu của đối tác như mọi năm, công tác khử khuẩn là điều không thể thiếu. Ngày 15/6 vừa qua, lô vải thiều Lục Ngạn đầu tiên đã chính thức được xuất khẩu chính ngạch đi 27 quốc gia EU. Cùng với đó vải thiều còn được bày bán tại hàng trăm siêu thị Nhật Bản, Thái Lan, Singapore với mức giá khá tốt.

            Vải thiều của nước ta đang đến mùa thu hoạch, chất lượng vải thiều của ta vượt trội, an toàn, không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, đẹp về màu sắc, ngon về hương vị và đang được người dân trong và ngoài nước háo hức tiêu thụ. Việc một số đối tượng tung thông tin sai sự thật sẽ gây ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý tiêu thụ, từ đó tác động trực tiếp đến túi tiền của bà con nông dân và theo sau đó là ảnh hưởng đến cả con đường hợp tác kinh tế, xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Thử hỏi lương tâm của những kẻ đang đá đi chén cơm của người dân, đánh đổ lợi ích của đất nước trong hoàn cảnh dịch bệnh đầy khó khăn thế này ở đâu? Đi ngược lại lợi ích của đất nước và người dân thì có khác gì tội đồ đâu? Suy cho cùng, họ chỉ trông chờ đời sống người dân nghèo khó, kinh tế chậm phát triển để đổ vấy trách nhiệm lên chính quyền và lãnh đạo mà thôi.

Thủ tướng khen 21 tập thể, cá nhân thuộc Bộ Quốc phòng và thành phố Hà Nội có thành tích trong phòng, chống dịch Covid-19

 

Thủ tướng khen 21 tập thể, cá nhân thuộc Bộ Quốc phòng và thành phố Hà Nội có thành tích trong phòng, chống dịch Covid-19

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định tặng Bằng khen cho 21 tập thể, cá nhân thuộc Bộ Quốc phòng và thành phố Hà Nội đã có thành tích trong công tác phòng, chống dịch Covid-19.

7 tập thể, 6 cá nhân thuộc Bộ Quốc phòng đã có thành tích trong tham gia thực hiện nhiệm vụ tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Dã chiến truyền nhiễm số 1, số 2 điều trị bệnh nhân Covid-19.

7 tập thể được tặng Bằng khen gồm:

Bệnh viện Quân y 354, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng;

Bệnh viện Quân y 105, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng;

Trung đoàn 831, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Giang, Quân khu 1, Bộ Quốc phòng;

Viện Y học Phòng không - Không quân, Cục Hậu cần, Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng;

Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng;

Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng;

Viện Y học Cổ truyền Quân đội, Bộ Quốc phòng.

6 cá nhân được tặng Bằng khen gồm:

Thiếu tướng Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Lương, Phó Giám đốc Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng;

Thiếu tướng Kim Ngọc Đại, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng;

Đại tá Nguyễn Quốc Khánh, Phó Giám đốc Ngoại khoa Bệnh viện Quân y 354, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng (Giám đốc Bệnh viện Dã chiến truyền nhiễm số 1);

Đại tá Diêm Đăng Thanh, Giám đốc Bệnh viện Quân y 110, Cục Hậu cần, Quân khu 1, Bộ Quốc phòng;

Thượng tá Giáo sư, Tiến sĩ Lương Công Thức, Phó Giám đốc Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng (Giám đốc Bệnh viện Dã chiến truyền nhiễm số 2);

Đại úy Hồ Vinh Hiển, bác sĩ Khoa Nội truyền nhiễm Da liễu, Bệnh viện Quân y 105, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng (Chủ nhiệm Khoa Điều trị bệnh nhân nặng, Bệnh viện Dã chiến truyền nhiễm số 1).

3 tập thể và 5 cá nhân thuộc thành phố Hà Nội, đã có thành tích trong công tác phòng, chống dịch Covid-19, góp phần ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh ở Hà Nội.

3 tập thể được tặng Bằng khen gồm:

Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Bắc Thăng Long, thành phố Hà Nội;

Khoa Vi sinh, Bệnh viện Thanh Nhàn, thành phố Hà Nội;

Khoa Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội;

5 cá nhân được tặng Bằng khen gồm:

Ông Khổng Minh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội;

Ông Khuất Văn Sơn, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm Y tế quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội;

Bà Trần Hồng Hà, Giám đốc Trung tâm Y tế quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội;

Ông Đào Thiện Tiến, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, thành phố Hà Nội.

 

CẢNH GIÁC CÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Thời gian qua, khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tập trung mọi nguồn lực, đẩy mạnh cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19 với tinh thần “chống dịch như chống giặc” thì các thế lực thù địch nhân cơ hội này “đục nước béo cò”, tung ra nhiều chiêu trò, thủ đoạn thâm độc, tinh vi, hòng xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Các luận điệu trên ngụy biện rằng: Chính phủ Việt Nam chỉ giỏi tung hô, tuyên truyền sáo rỗng, dẻo miệng “đổi trắng thay đen”, cố tình giấu giếm bức tranh đen tối về tình hình dịch Covid-19. Chúng còn tự đúc rút và đả kích: Quan chức Việt Nam, nhất là các lãnh đạo ở Trung ương chỉ ngồi trong phòng lạnh, chỉ đạo chống dịch từ xa, chứ không buồn xuống cơ sở, không dành thời gian về với dân. Chúng nêu ra các “ví dụ cụ thể” về việc một số đồng chí Trung ương đang khoanh tay đứng nhìn, khoán trắng công tác phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền cơ sở và lực lượng vũ trang, mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực tế này là do tâm lý sợ bị “vướng dịch” của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, trong 4 đợt bùng phát dịch Covid-19 ở Việt Nam, nhất là đợt gần đây nhất, người dân Việt Nam đều có điều kiện quan sát, theo dõi và bày tỏ sự cảm phục, tự hào về quyết tâm chính trị và hành động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, cũng như đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị. Bất chấp mọi gian nguy, vất vả, các nhà lãnh đạo Việt Nam, cán bộ các cấp luôn có mặt ở các vùng dịch diễn biến phức tạp để trực tiếp chỉ đạo; vào nơi tâm dịch để hướng dẫn cơ sở, động viên quần chúng đồng lòng khắc phục khó khăn, chống dịch thắng lợi. Sẽ thật không quá lời khi khẳng định: Đã có hàng triệu tin, bài, hình ảnh được người dân Việt Nam sáng tác, lưu chụp, đăng tải trên tài khoản xã hội để ngợi ca và bày tỏ niềm tự hào về những nhà lãnh đạo của đất nước. Đó không chỉ là những cán bộ mẫn cán, gần dân, trở thành nguồn sáng tác thơ ca, tranh ảnh cho quần chúng mà còn là “điểm tựa niềm tin”, kết chặt tình cảm của người dân với Đảng, Chính phủ và bộ máy cầm quyền. Những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ... còn được ghi nhận là hình mẫu sinh động về bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần quả cảm, đức hy sinh, lòng nhiệt thành, nhiệt huyết cống hiến cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng và hệ thống chính trị học tập, noi theo.

Thực tế đó càng giúp chúng ta thêm thấm thía và vững tin rằng: Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam dù trong bất luận mọi thời kỳ, giai đoạn lịch sử và tình huống cách mạng nào cũng luôn thật sự hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đặt lên cao nhất tính mạng và sức khỏe nhân dân; trăn trở đề ra các giải pháp thượng tôn sức dân, quy tụ lòng dân; đồng thời lăn xả vào cuộc chiến đầy rủi ro, nguy hại... Bởi thế, mọi luận điệu ngụy tạo, bịa đặt dẫu có tinh vi, xảo quyệt cũng đều bị thải loại, không có căn cứ bám víu vào tư duy, nhận thức hay chỉ đơn thuần thoáng qua ý nghĩ của những người dân Việt Nam chân chính, vốn đã được vũ trang bằng niềm tin vững chắc vào Đảng và sự nghiệp cách mạng./.

 

Nhận thức đúng - hành động đúng

Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ hơn CNXH là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường XHCN? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng CNXH ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì? Đặc biệt, Tổng Bí thư khẳng định: "Chủ nghĩa tư bản (CNTB) vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó". Đây là sự khẳng định khoa học cả trên bình diện lý luận và thực tiễn, có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định xu thế vận động, phát triển của xã hội loài người, khẳng định đi lên CNXH ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn; đồng thời phê phán những quan điểm, tư tưởng “tán dương, ca ngợi” CNTB, hoài nghi về con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Nhìn lại dòng chảy lịch sử thế giới đã cho thấy, thay thế chế độ phong kiến, CNTB ra đời, phát triển là bước tiến lớn của nhân loại. Điều đó là không thể phủ nhận. K.Marx và F.Engels đánh giá cao công lao của CNTB đối với sự phát triển lực lượng sản xuất. CNTB với nền kinh tế thị trường, cơ chế cạnh tranh, mục tiêu lợi nhuận đã tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và nền kinh tế, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, thu hút tất cả các nước trên thế giới vào một thị trường chung, tham gia vào sự phân công lao động và hợp tác, liên kết kinh tế trên quy mô toàn cầu. Thực tế này làm cho nhiều người lầm tưởng và cho rằng CNTB là chế độ tốt đẹp nhất, “là thiên đường, vĩnh hằng và vô hạn”. Nhất là sau khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, không ít người đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin và cho rằng chế độ XHCN là “quái thai” của lịch sử, cần phải đào sâu, chôn chặt để cho loài người thừa hưởng và sống trong một trật tự xã hội vĩnh hằng, công bằng, bình đẳng mà con người hướng tới. Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở góc độ nào, nhìn nhận ở bình diện nào thì CNTB chưa khi nào và không bao giờ là xã hội công bằng, bình đẳng mà con người hướng tới. Mặc dù CNTB ngày nay đã có điều chỉnh nhất định trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối, phần nào làm giảm bớt tính gay gắt của những mâu thuẫn cơ bản trong xã bội tư bản chủ nghĩa (TBCN). Tuy nhiên, những điều chỉnh ấy vẫn chưa vượt ra khỏi khuôn khổ của quan hệ sản xuất TBCN. Đảng ta khi bàn về CNTB ngày nay đã khẳng định: “Hiện tại, CNTB còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của CNTB, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra”. Mặc dù có sự điều chỉnh, thích nghi nhưng “CNTB vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”. Đúng như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội TBCN: Đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu-nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc”. Và sự thật, dù có biến đổi như thế nào thì bản chất của CNTB không hề thay đổi. Dù có điều chỉnh, thích nghi đến đâu thì TBCN vẫn là xã hội mà trong đó sự phát triển không thực sự vì con người. Xã hội đó luôn vì lợi nhuận kinh tế mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người". Dù có che đậy tinh vi ở mức độ nào thì trong xã hội TBCN, quyền lực của hệ thống chính trị thực sự không thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân-yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át... Như vậy, chúng ta cần nhận thức rằng: CNTB hiện vẫn tiếp tục điều chỉnh để thích ứng trước những biến động, mâu thuẫn bên trong và ngoài nước. Hiện tại, CNTB vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, như K.Marx và V.I.Lenin đã nhận định: Phương thức sản xuất TBCN không tự diệt vong và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa cũng không tự phát hình thành mà phải được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội, trong đó, giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội này chính là giai cấp công nhân. Điều đó có nghĩa rằng, xu thế phát triển của nhân loại tất yếu sẽ thay thế CNTB bằng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn nó. Dù còn nhiều quanh co, phức tạp nhưng nhất định loài người sẽ tiến lên CNXH. Điều này một lần nữa khẳng định: Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Tư duy mới về An ninh quốc gia trong tình hình mới

Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần phải có quan niệm mới, tư duy mới về an ninh quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, khi đề cập tới các nhiệm vụ tăng cường quốc phòng an ninh đã nhấn mạnh: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(1) Nghị quyết Đại hội XIII cũng nêu rõ “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”(2); “sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống”(3). Trong 6 nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII có nhiệm vụ “thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”(4). Bảo vệ an ninh quốc gia có vai trò đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Luật An ninh quốc gia định nghĩa: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...(5). Chiến lược An ninh quốc gia đầu tiên của Việt Nam được xây dựng và ban hành năm 1998. Ngày 5/9/2019 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ An ninh quốc gia. Trước đó, Bộ Chính trị cũng đã ban hành một số nghị quyết, kết luận như: Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng; Kết luận số 31-KL/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược quân sự Việt Nam; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia... Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến Chiến lược An ninh quốc gia cũng như Luật An ninh quốc gia còn chủ yếu nhấn mạnh vào an ninh chính trị, an ninh quân sự; chưa tương đồng với quan niệm và tư duy An ninh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và của quốc tế hiện nay; chưa đề cập sâu tới các yếu tố đặc biệt quan trọng là an ninh phi truyền thống nói chung, an ninh xã hội và an ninh con người nói riêng. Thực tế cho thấy, Bộ Công an hiện nay chỉ đảm nhận các công tác Công an chủ yếu trong nội địa. Công tác chủ trì bảo vệ an ninh, trật tự tại địa bàn biên giới, trên biển do Bộ Quốc phòng đảm nhận. Nhiều chức năng Công an như điều tra hình sự, an ninh hàng không, cơ yếu, phòng chống buôn lậu, bảo vệ rừng... do các bộ, ngành khác đảm nhận. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia chưa tập trung, thống nhất. Công tác an ninh đối ngoại còn nhiều “chồng chéo”. Bố trí lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia chưa hợp lý, chủ yếu ở cấp Bộ Công an và cấp tỉnh, cấp huyện và cấp phường còn mỏng. Việt Nam là một trong số rất ít các nước lớn trên thế giới chậm bố trí Công an chính quy ở nông thôn. Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cần phải có quan niệm mới, tư duy mới về an ninh quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII với các giải pháp sau: Thứ nhất, hình thành tư duy và quan niệm mới về An ninh quốc gia và triển khai tư duy này trong thực tiễn. Đảng, Nhà nước cần bổ sung, sửa đổi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Về lâu dài cần thống nhất các Chiến lược an ninh, quốc phòng Việt Nam thành một Chiến lược An ninh quốc gia mới của Việt Nam đến 2030 và tầm nhìn đến 2045. An ninh quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới là an ninh toàn diện, bao gồm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. An ninh truyền thống được hiểu là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam có liên quan đến các yếu tố quân sự đe dọa quốc gia, dân tộc. An ninh truyền thống có cốt lõi là an ninh chính trị, an ninh quân sự, lấy Nhà nước làm trung tâm của an ninh. An ninh phi truyền thống - đã được nêu ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, XII và XIII - là một loại hình an ninh mới do những yếu tố phi chính trị và phi quân sự gây ra, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển và an ninh của Việt Nam, cả khu vực và cả toàn cầu. An ninh phi truyền thống có các đặc điểm chủ yếu: 1) Các vấn đề an ninh phi truyền thống diễn ra ảnh hưởng trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu, mang tính xuyên quốc gia. Nó có thể phát sinh từ một quốc gia này nhưng có khả năng lan tỏa với tốc độ nhanh, phạm vi rộng đến quốc gia khác (biến đổi khí hậu, tội phạm mạng, dịch bệnh,...). 2) Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống thường do các tác nhân tự nhiên hoặc do các tổ chức ngoài nhà nước, nhóm người hoặc cá nhân tiến hành, uy hiếp trực tiếp đến cá nhân con người hoặc cộng đồng, quốc gia - dân tộc; bao gồm cả những vấn đề mang tính phi bạo lực (kinh tế, văn hóa, môi trường, an ninh mạng, dịch bệnh...) và những vấn đề mang tính bạo lực, nhưng đó là bạo lực phi quân đội (khủng bố, tội phạm có tổ chức...). 3) Giải quyết an ninh phi truyền thống nhấn mạnh đến hợp tác ứng phó, sử dụng biện pháp ngoại giao, kể cả ngoại giao giữa quân đội, công an các nước. 4) Về mặt thời gian, mặc dù an ninh phi truyền thống xuất hiện từ rất sớm nhưng về mặt khoa học vấn đề an ninh phi truyền thống được quan tâm, chú trọng “muộn hơn” an ninh truyền thống. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử (dịch bệnh, khan hiếm lương thực, khủng bố, ô nhiễm môi trường, thảm họa cháy nổ,...) nhưng do diễn ra ở phạm vi nhỏ hẹp, quy mô chưa lớn, truyền thông chưa phát triển hoặc vấn đề quyền con người chưa được quan tâm, nên ít hoặc không được quan tâm. 5) Các nguy cơ, thách thức, mối đe dọa an ninh phi truyền thống hủy hoại an ninh quốc gia dần dần và lâu dài, vì nó tác động đến các yếu tố mang tính hạt nhân hoặc bệ đỡ cho ổn định và phát triển (cá nhân con người, cộng đồng xã hội, hệ thống thể chế, hạ tầng kỹ thuật chiến lược và môi trường sống). Dưới góc độ khoa học Xã hội học thì cốt lõi của An ninh phi truyền thống gồm 2 nhóm: An ninh xã hội và An ninh con người; lấy xã hội, doanh nghiệp, con người làm trung tâm của an ninh. Dưới góc độ khoa học Tội phạm học, An ninh phi truyền thống gồm nhóm an ninh phi truyền thống có yếu tố bạo lực cao (tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, các mối đe dọa dẫn tới tình trạng khẩn cấp và nhóm an ninh phi truyền thống có yếu tố bạo lực thấp (an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh môi trường, an ninh y tế, an ninh du lịch, an ninh giao thông...). Ngày nay, do tác động của toàn cầu hóa, mặt trái của sử dụng thành tựu cách mạng khoa học - công nghệ... những vấn đề an ninh phi truyền thống(điển hình là dịch bệnh COVID-19) là một nguy cơ, thách thức, mối đe dọa điển hình, lan tỏa nhanh, rộng, ảnh hưởng lớn, trở thành mối quan tâm của toàn nhân loại. An ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện; cùng tác động đến xây dựng chiến lược an ninh quốc gia. Theo đó, tư duy mới về An ninh quốc gia là tổng hòa của an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Mục tiêu của an ninh truyền thống là ổn định và phát triển bền vững của Nhà nước, chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Còn mục tiêu của an ninh phi truyền thống là ổn định và phát triển bền vững xã hội (cộng đồng), doanh nghiệp, con người. Nếu như chủ thể đảm bảo an ninh truyền thống chủ yếu là Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thì chủ thể bảo đảm an ninh phi truyền thống là các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Công cụ đảm bảo an ninh phi truyền thống chủ yếu dựa vào sức mạnh Quân đội, Công an, lực lượng bán vũ trang và nhân dân. Còn công cụ đảm bảo an ninh phi truyền thống chủ yếu dựa vào nguồn lực Nhà nước, doanh nghiệp. con người, quốc tế. An ninh quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bao gồm 3 bộ phận cấu thành chủ yếu: an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh con người. Theo nghĩa rộng, an ninh xã hội được hiểu là sự ổn định, sự bình yên, của một chế độ, một quốc gia, là trạng thái trật tự, kỷ cương, thịnh vượng, phát triển của mỗi công dân và cộng đồng xã hội trong lãnh thổ quốc gia dân tộc. Khái niệm rộng về an ninh xã hội còn được sử dụng trong khi so sánh, đánh giá mối quan hệ của vấn đề an ninh trong một đất nước với an ninh trong khu vực và toàn cầu. Theo nghĩa hẹp, việc đảm bảo an ninh xã hội có các nội dung: đồng thuận xã hội, ít xung đột xã hội; an ninh, an toàn xã hội (ít tội phạm, ít tệ nạn xã hội, trật tự an toàn giao thông đảm bảo); an ninh môi trường sống (an ninh môi trường, an toàn thực phẩm); an sinh xã hội (giảm nghèo đói, có việc làm, chăm sóc sức khỏe tốt). An ninh xã hội là mục tiêu quan trọng trong định hướng phát triển của mỗi Nhà nước. An ninh xã hội là bộ mặt của mỗi quốc gia, là biểu hiện bên ngoài phản ánh sự vững mạnh về chế độ chính trị, về tiềm lực kinh tế, cũng như trình độ dân trí và mức độ văn minh của quốc gia. An ninh xã hội mang tính lịch sử, có xu hướng vận động theo những tiêu chí văn minh, tiến bộ của nhân loại Điểm trung tâm của an ninh xã hội là an ninh con người. Khái niệm “an ninh con người” lầu đầu tiên được nêu lên trong Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 1994. “Báo cáo phát triển con người” năm 1994 của Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về an ninh con người là “sự an toàn của con người trước những mối đe doạ kinh niên như nghèo đói, bệnh tật và đàn áp, và những sự cố bất ngờ, bất lợi trong đời sống hàng ngày”. Ngày nay, những mối đe doạ đối với con người (thất nghiệp, ma tuý, tội phạm, ô nhiễm môi trường, vi phạm nhân quyền, xung đột vũ trang, khủng bố, tai nạn giao thông,...) không còn mang tính chất riêng lẻ đối với một quốc gia, một dân tộc nhất định mà đã trở thành vấn đề phổ biến đòi hỏi phải có sự phối hợp giải quyết của nhiều quốc gia, thậm chí là tất cả các quốc gia. An ninh xã hội, an ninh con người vì vậy đã trở thành tâm điểm của sự hợp tác quốc tế, trong đó, yếu tố con người được coi là nền tảng, là mục đích hướng tới để bảo vệ, là cấu thành quan trọng của an ninh quốc gia. An ninh xã hội, an ninh con người cũng bao hàm mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển bền vững và vấn đề bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Có thể nói chính sự ra đời của khái niệm an ninh con người đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nhận thức của nhiều quốc gia về khái niệm an ninh và an ninh quốc gia. Nếu như theo cách hiểu truyền thống, an ninh đồng nghĩa với an ninh quốc gia, trong đó quốc gia là chủ thể cần được bảo vệ về mặt an ninh, thì theo cách hiểu mới, con người và xã hội nổi lên trở thành chủ thể chính của an ninh quốc gia và cần được ưu tiên bảo vệ. Bên cạnh đó, nếu như an ninh truyền thống (hay an ninh quốc gia truyền thống) đề cao mối đe dọa đến từ ngoại xâm đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia thì an ninh con người, an ninh xã hội (hay thường được gọi là an ninh phi truyền thống) tập trung vào các mối đe dọa thuộc “chính trị cấp thấp”, như nghèo đói, kém phát triển, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch, tội phạm, khủng bố...(6). Hiện nay, những vấn đề an ninh xã hội, an ninh con người đã vượt qua khỏi phạm vi lợi ích an ninh quốc gia của một nước, trở thành những thách thức mang tính toàn cầu, bởi hoạt động của tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế nhất là khủng bố bằng vũ khí sinh, hóa học, bệnh dịch, thảm họa thiên nhiên là "không biên giới". Chính vì vậy, việc giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học - kỹ thuật và các mặt khác. An ninh quốc gia Việt Nam là tổng hòa của an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh con người. Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Luật An ninh quốc gia. Xây dựng quan niệm mới về an ninh quốc gia. Bổ sung Điều 3 khoản 1 Luật An ninh quốc gia: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự bình yên của xã hội, sự an toàn của con người trong xã hội. Bổ sung Điều 3 khoản 2 Luật An ninh quốc gia: Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo đảm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Bổ sung Điều 5 Luật An ninh quốc gia (Nguyên tắc bảo vệ An ninh quốc gia): Thiết lập thế trận bảo vệ an ninh quốc gia thống nhất, xuyên suốt từ bên ngoài biên giới quốc gia, tại biên giới quốc gia và bên trong nội địa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng”(7); “chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”(8) . Bổ sung Điều 14 Luật An ninh quốc gia (Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia): Bảo vệ an ninh xã hội, an ninh con người. Thứ ba, Tiếp tục đổi mới tổ chức lực lượng Công an nhân dân trong tình hình mới. Quán triệt nguyên tắc: Quản lý Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội là lĩnh vực quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực nhưng do Bộ Công an đảm nhiệm là chính. Tiếp tục thực hiện có chất lượng, hiệu quả Nghị quyết 22-NQ-TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bố trí lực lượng Công an nhân dân theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”. Về lâu dài, chuyển các chức năng Công an do các Bộ, ngành khác đang đảm nhiệm về Bộ Công an để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII “thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng”(9). Tăng cường năng lực Bộ Công an theo tinh thần “...phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, hiện đại”(10). Trước những nguy cơ, thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong tình hình mới, đòi hỏi phải có quan điểm và cách tiếp cận mới; hợp tác đa phương và sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế; những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa hợp tác quốc phòng - an ninh với kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học - kỹ thuật. Hợp tác quốc tế phải được xác định là một trong những lĩnh vực ưu tiên giữa các nước trong khu vực và trên thế giới./.

Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ trong Đảng

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII đó là: Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Mắt xích trọng yếu của Đảng Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém". Thực tiễn cách mạng đã minh chứng, trong bất cứ thời kỳ nào, ở bất kỳ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ cũng đóng vai trò quyết định. Cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng nước ta. Trong tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng cán bộ và công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử. Qua các kỳ đại hội và hội nghị Trung ương, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ luôn được Đảng ta đề cập. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyết định, quy định, kết luận, báo cáo... liên quan đến vấn đề cán bộ nói chung và vấn đề cán bộ của một số ngành, cơ quan, lĩnh vực cụ thể nói riêng. Có thể khẳng định: Chính nhờ sự đóng góp của đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực mà chúng ta đã đạt được thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới trong 35 năm qua... Đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức tự chủ, tự lực tự cường, năng động và sáng tạo; có kiến thức, trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn, trưởng thành trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, thích nghi dần với cơ chế Trong những năm gần đây, trước những biến chuyển nhanh chóng của thời cuộc, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ được Đảng ta tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XII: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được Đảng ta tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ các cấp, gắn với tiêu chuẩn chức danh và quy hoạch cán bộ được quan tâm, chú trọng và đầu tư tương xứng. Công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” về xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ thời gian qua còn những hạn chế, báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa đủ uy tín. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp. Nhiều nơi còn tình trạng nể nang, chưa chỉ rõ những cán bộ có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực. Hiện thực hóa khát vọng hùng cường của dân tộc Mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Thực hiện mục tiêu trên, Đảng ta đề ra những chủ trương, giải pháp mang tính toàn diện, đồng bộ nhưng mắt xích quan trọng là phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Liên quan đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cố gắng xem xét một cách tổng thể, sắp xếp hợp lý nhất trong điều kiện có thể; căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ; cần chú trọng năng lực, sở trường, chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm công tác và chiều hướng phát triển; kết hợp yêu cầu trước mắt với bước chuẩn bị cho các khóa tiếp theo, bảo đảm tính kế thừa và phát triển”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nêu rõ: “Công tác nhân sự cần được tiến hành theo đúng các quy định của Đảng, quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, đúng với nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; đồng thời phù hợp với các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước”. Trước đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, hơn lúc nào hết, Đảng ta cần: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp. Coi trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả, sản phẩm thực tế theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đề cao trách nhiệm người đứng đầu... Có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung; kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chống chạy chức, chạy quyền. Không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài... Để những giải pháp trên phát huy hiệu quả, sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, Đảng ta cần làm thật tốt công tác kiểm tra, giám sát cán bộ ở bất kể vị trí nào. Nếu mỗi cấp ủy các cấp mà buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát thì cán bộ có chức, có quyền dễ rơi vào phóng túng, tự tung tự tác, lạm dụng quyền lực, làm những điều có hại cho Đảng. Thực tiễn thời gian qua, số vụ việc tham nhũng do nội bộ các cơ quan công quyền tự phát hiện thông qua tự kiểm tra, tự phê bình và phê bình hầu như không có. Hầu hết các vụ tham nhũng là do người dân và báo chí phản ánh, tố giác. Do vậy, chúng ta cần sớm khắc phục tình trạng này, nếu để kéo dài và phát triển thì sẽ dẫn tới nguy cơ không lường hết được. Mặt khác, phải thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nếu không rèn giũa, không chú ý bảo vệ chính trị nội bộ thì sẽ là cơ hội để những phần tử phản động, cơ hội chính trị leo cao, luồn sâu vào tổ chức Đảng. Điều quan trọng là mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu cần nêu cao tính trung thực; thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện, có trách nhiệm nêu gương trước Đảng, trước dân. Như đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ trong buổi làm việc với lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải mới đây đã khẳng định: Cán bộ phải quán triệt tốt nguyên tắc “3 không”: Không nói không, không nói khó và không nói có nhưng không làm và tinh thần “nghĩ phải chín, phải kỹ; tư tưởng phải thông; quyết tâm phải cao; nỗ lực phải lớn; hành động phải quyết liệt, hiệu quả; làm có trọng tâm, trọng điểm; làm việc nào thì dứt điểm việc đó”.

 

Nội dung, biện pháp đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch

                                                   

Để thu hút sự quan tâm của xã hội, các phần tử phản động trong nước và nước ngoài cùng những người cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất đã và đang triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội đăng tải những thông tin sai trái, bịa đặt. Họ lập ra các website, blog, sử dụng nhiều tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn, trộn lẫn thông tin thật-giả, cắt ghép hình ảnh, tán phát, nhằm thu hút sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh, thiếu niên. Chủ ý của họ nhằm bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ thanh danh của Đảng, Nhà nước; đặc biệt nhằm vào các đồng chí lãnh đạo cấp cao có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng; chọn thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, của đất nước và LLVT để tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ; đồng thời tổ chức lực lượng chia sẻ bình luận với mục đích hạ uy tín, làm hoen ố hình ảnh cao đẹp của Đảng, Nhà nước ta và các đồng chí lãnh đạo cấp cao trong hệ thống chính trị.

Những thông tin sai trái, bịa đặt như luồng gió độc là tác nhân gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Nếu không nhận rõ sẽ gây nên sự hoài nghi trong dư luận xã hội, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tổn hại đến hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.Vì vậy, Đảng, Nhà nước cần có những biện pháp hữu hiệu để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng internet và mạng xã hội để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta của các thế lực thù địch.

Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong đường lối đổi mới của Đảng. Các cơ quan ban nghành từ trung ương đến địa phương luôn tích cực chủ động làm tốt công tác thông tin tuyên truyền. Cung cấp thông tin chính thống đến mọi người dân trong xã hội qua nhiều kênh thông tin của Đảng và trên mạng xã hội.

Hai là, chúng ta phải tỉnh táo, kịp thời và chủ động vạch trần âm mưu thâm độc và những thông tin bịa đặt, xuyên tạc thì mới góp phần vào sự ổn định tình hình, làm lành mạnh dư luận xã hội. Luôn nắm quyền chủ động ngăn chặn những thông tin xấu độc liên quan đến an ninh chính trị, an ninh quốc gia.

Ba là, hiện nay các ứng dụng khoa học công nghệ đang đi vào tất cả các ngành, các lĩnh vực, sự phát triển như vậy luôn có mặt trái của nó, luôn đi kèm cả những ứng dụng trái quy định pháp luật, gây ảnh hưởng tới an ninh chính trị, an toàn xã hội. Chính vì vậy cần làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người khi sử dụng mạng xã hội, làm cho mọi người luôn có trách nhiệm khi tham gia sử dụng mạng xã hội. Từ trách nhiệm chia sẻ thông tin của mình hoặc của người khác đến trách nhiệm phản bác thông tin xuyên tạc, bịa đặt...

Bốn là, quan tâm nhiều hơn nữa chiến lược về đào tạo đội ngũ để đánh bại cuộc chiến tranh mạng, tấn công mạng. Chúng ta phải có đội quân công nghệ cao, an ninh mạng. Ngoài ra, phải phát triển hạ tầng cơ sở Internet. Bên cạnh đó các cơ quan ban nghành, tổ chức xã hội, đoàn thể không ngừng tích cực tuyên truyền, cung cấp thông tin, viết bài đấu tranh trên các trang mạng xã hội. Định hướng dư luận một cách đúng đắn, chính thống trên mạng xã hội.

Năm là, thực tế những mạng xã hội ở nước ngoài vào Việt Nam mà người Việt Nam đang truy cập nhiều như Facebook, Youtube... lại không có văn phòng đại diện tại Việt Nam.Chính vì vậy cơ quan quản lý nhà nước phải xây dựng chính sách, chuẩn an toàn thông tin mạng quốc gia. Xây dựng quy định cụ thể để doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tham gia trên lãnh thổ Việt Nam hạn chế, ngăn chặn các thông tin xấu độc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

 

 

“KHÓ KHĂN GÌ, BẤT KỲ CÔNG VIỆC TO MẤY TA ĐOÀN KẾT ĐỀU LÀM ĐƯỢC CẢ”                                                           

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện với đại biểu nhân dân tỉnh Thanh Hóa, ngày 13 tháng 6 năm 1957. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Lời dạy của Bác đã chỉ rõ ý nghĩa, vai trò quan trọng của sự đoàn kết. Đoàn kết là sức mạnh, là khâu then chốt của mọi thành công; đồng thời, Bác căn dặn đồng bào và nhân dân ta phải luôn nêu cao tinh thần vượt khó, đồng tâm hợp lực thì việc to mấy cũng làm được, cũng thành công. Đoàn kết còn chính là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Nhờ có tinh thần đoàn kết, đồng tâm, hợp lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân mà dân tộc ta đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, hung bạo, giành độc lập, thống nhất đất nước, trở thành dân tộc tiêu biểu cho lương tri của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX và đạt được những thành tự to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, song lời dạy “Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được cả” vẫn còn nguyên giá trị, không những là tư tưởng, phương châm chỉ đạo mà còn là nguồn sức mạnh, động viên, thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy truyền thống đoàn kết, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân; từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đòi hỏi quân đội và mỗi cán bộ chiến sĩ phải luôn quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác, nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng trên tình thương yêu giai cấp, lúc thường cũng như lúc ra trận; giữ vững và không ngừng củng cố tình đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý; xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.