Thứ Tư, 14 tháng 7, 2021

TPHCM: Người dân đổ xô mua sắm, tình hình cung ứng hàng hóa ra sao?

 Người dân đến siêu thị tại TPHCM ngày 14/7 tăng đột biến. Tuy nhiên, các siêu thị khẳng định, hàng hóa rất nhiều, đủ đáp ứng nhu cầu người dân, tránh những tin đồn thất thiệt.

Khách tăng đột biến

Ông Nguyễn Nhơn Quý, đại diện Aeon Việt Nam cho biết, sáng 14/7, cả 2 siêu thị Aeon tại TPHCM có lượng khách hàng tăng đột biến 150 - 200% so với ngày hôm trước.

TPHCM: Người dân đổ xô mua sắm, tình hình cung ứng hàng hóa ra sao? - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Người dân TPHCM đến siêu thị mua sắm tăng mạnh (Ảnh: Đại Việt).

Người dân chủ yếu mua các mặt hàng thực phẩm tươi sống như thịt, trứng, rau củ, thực phẩm khô và các sản phẩm đông lạnh.

 "Sức mua thịt và trứng tăng mạnh nên trưa 14/7 đã xảy ra tình trạng hết hàng cục bộ tại siêu thị. Tuy nhiên, đến buổi chiều, siêu thị bổ sung thêm những mặt hàng này lên các quầy kệ để cung ứng cho người dân", ông Nguyễn Nhơn Quý thông tin.

Ông Quý chia sẻ, siêu thị này đang nỗ lực làm việc với nhà cung cấp để đảm bảo đủ hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày cho người dân trong mọi cấp độ của dịch bệnh. Mặt hàng tươi sống được siêu thị bổ sung mỗi ngày nên khách hàng có thể an tâm và không cần phải mua tích trữ quá nhiều.

Theo ông Quý, trong buổi sáng cùng ngày, 2 siêu thị đã tăng cường thêm nhân sự tham gia hoạt động bán hàng và điều tiết lưu lượng khách hàng vào mua sắm. Đồng thời, siêu thị cũng bố trí thêm các thiết bị phát wifi để hỗ trợ khách hàng khai báo y tế nhanh chóng và dễ dàng hơn.

Siêu thị cũng phát loa thông báo về việc siêu thị vẫn mở cửa phục vụ cung ứng hàng hóa thiết yếu cho người dân trong mọi kịch bản phòng chống dịch để người dân được yên tâm.

TPHCM: Người dân đổ xô mua sắm, tình hình cung ứng hàng hóa ra sao? - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Hàng hóa tại các siêu thị luôn dồi dào trong những ngày giãn cách (Ảnh: Đại Việt).

Còn theo đại diện hệ thống siêu thị Big C, trước nhu cầu mua sắm thực phẩm thiết yếu của người dân tăng cao như ngày 14/7, đơn vị này luôn nỗ lực đảm bảo cung cấp đủ hàng hóa với giá cả tốt nhất.

Siêu thị sẽ giữ vững bình ổn giá, không tăng giá và làm việc chặt chẽ với các nhà cung cấp đảm bảo đầy đủ nguồn hàng, đặc biệt là hàng tươi sống.

"Chúng tôi sẽ vận chuyển hàng hóa từ nơi khác vào tăng cường cho thành phố. Ngoài ra, chúng tôi cũng tăng lượng hàng khô lên gấp 3 lần, huy động nhân viên từ điểm bán khác đến hỗ trợ cho các siêu thị đông khách. Các điểm bán cũng sẽ tăng thời gian phục vụ đến 23h mỗi ngày", đại diện Big C thông tin.

Cẩn trọng với tin đồn thiếu kiểm chứng

Theo đại diện Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TPHCM (Saigon Co.op), trong những đợt giãn cách thường xuất hiện những thông tin đồn thổi thiếu kiểm chứng khiến người dân hoang mang, từ đó tạo làn sóng tích trữ hàng hóa dồn dập và tập trung đông người. Việc này khiến cho các điểm cung ứng lương thực thực phẩm đều quá tải, tắc nghẽn cục bộ.  

Do đó, người dân cần yên tâm là lương thực thực phẩm không bao giờ thiếu, việc quan trọng là cần bình tĩnh, mua sắm vừa phải. Người dân cần phối hợp và tuân thủ hướng dẫn của các siêu thị để lương thực thực phẩm được phục vụ đều cho càng nhiều người càng tốt. 

TPHCM: Người dân đổ xô mua sắm, tình hình cung ứng hàng hóa ra sao? - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Một số người dân đến siêu thị mua sắm vì những tin đồn thất thiệt (Ảnh: Nguyễn Quang).

Cũng theo Saigon Co.op, lượng thịt tươi, trứng, rau củ quả nhập về các hệ thống siêu thị Co.opmart, Co.opXtra, Co.opFood… tại TPHCM đã tăng hơn 30% so với những ngày trước.

Các hệ thống siêu thị đã dự trữ lượng gạo, mì, thịt mát, thực phẩm khô, thực phẩm đông lạnh với số lượng lớn nhằm đảm bảo cung ứng ra thị trường ổn định từ 3 - 6 tháng tới.

"Sau khi các thủ tục vận chuyển được các cơ quan liên quan gấp rút khai thông thì lượng hàng hóa về các siêu thị đã tăng lên đáng kể, cơ bản đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của người dân TPHCM", đại diện Saigon Co.op thông tin.

Đại diện hệ thống bán lẻ chia sẻ, các siêu thị mong có sự phối hợp của người dân trong việc mua sắm có trách nhiệm, như: mua sắm vừa phải, đúng nhu cầu, tuân thủ hướng dẫn an toàn mua sắm tại siêu thị để giảm thiểu nguy cơ lây lan dịch bệnh.

"Việc tuân thủ 5K tại các nơi mua sắm nhu yếu phẩm trong giai đoạn này hết sức quan trọng, bởi đây là phòng tuyến cung cấp lương thực thực phẩm quan trọng bậc nhất hiện nay, cần tuân thủ nghiêm ngặt để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm chéo tại các điểm bán hàng. Khi các F0 tham gia mua sắm sẽ khiến siêu thị phải đóng cửa rà soát, xét nghiệm toàn bộ", đại diện Saigon Co.op cho biết.

Tại buổi gặp gỡ giữa lãnh đạo Thành ủy TPHCM và đại diện các cơ quan báo chí để thông tin về tình hình phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn, ông Phan Văn Mãi - Phó Bí thư Thành ủy TPHCM - khẳng định, thành phố sẽ đảm bảo nguồn cung ứng thực phẩm cho nhân dân.

Tuy nhiên, nếu người dân đến nơi mua sắm cùng một thời điểm và đổ xô mua cùng chủng loại mặt hàng thì sẽ gây khan hàng, thiếu hàng cục bộ. Vậy nên, người dân cần cẩn trọng trước các tin đồn thất thiệt và chỉ nên mua thức ăn đủ dùng.

Đại Việt

Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

 


 Tín ngưỡng thờ mẫu ở Việt Nam mang tính đa dạng, phong phú

 Tính đa dạng, phong phú của đối tượng thờ. Các nhân vật nữ được người dân Việt tôn vinh trong tín ngưỡng thờ Mu bao gồm cả Mu nhân thần và Mu nhiên thần (Mu thiên). Có Mu đi ra từ trong các huyền thoại, truyền thuyết, có Mu là những con người có thật trong lịch sử được tôn vinh, được thần thánh hóa. Có Mu là những công chúa, hoàng hậu thuộc tầng lớp quyền quý trongxã hội, nhưng cũng có những Mu xuất thân từ tầng lớp bình dân nghèo khổ. Có Mu lo dựng nước, giữ nước, có Mu lo mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh trưởng. Có Mu cai quản vùng trời, lại có Mầu cai quản vùng đất. Có Mầu cai quản vùng rừng, núi, lại có Mu cai quản vùng sông nước,...

 Mu Tứ phủ là loại hình tín ngưỡng khá phổ biến ở nhiều địa phương. Mu Tứ phủ là tín ngưỡng thờ các thánh Mu cai quản 4 vùng, miền bao gồm:

Mu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ (miền trời); Mu Địa cai quản Địa phủ (miền đất); mẫu Thượng ngàn cai quản Nhạc phủ (miền rừng, núi) và Mu Thoải cai quản Thoải phủ (miền sông, biển). Ở một số địa phương, dân gian cho rằng, mẫu Tứ phủ chính là hóa thân của Mẩu Liễu Hạnh. Do vậy, thờ Mu Tứ phủ ở nhiều nơi cũng chính là thờ Thánh Mẩu Liễu Hạnh[1].

 Tín ngưỡng thờ Mẩu mang tỉnh phổ biến

 Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mu tồn tại rất phổ biến trong nhiều tộc người. Cộng đồng người Hoa thờ bà Thiên Hậu, cộng đồng người Chăm thờ bà mẹ xứ sở Ponagar, cộng đồng người Kinh thờ rất nhiều Mu như Quốc Mu (Mẹ Âu Cơ), Vương Mu (mẹ Thánh Gióng), Cung Từ Quốc Mu (mẹ vua Lê Thánh Tông), Mu Tam phủ, Mu Tứ phủ,...  

 Tín ngưỡng thờ Mu có ở khắp các vùng, miền trên đất nước trải dài từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng đến miền núi trong các cộng đồng người Kinh cũng như trong những cộng đồng người dân tộc thiểu số. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay trên cả nước có đến 1.200 đền, miếu, phủ là cơ sở thờ tự của tín ngưõng thờ Mu. Trong hệ thống chùa Phật giáo có đặt ban thờ Mu ở nhiều vùng, miền trên cả nước mà phổ biến là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Sự phát triển rộng khắp của tín ngưỡng thờ Mu trong nhiều tộc người, ở nhiều vùng, miền trên đất nước đã phần nào phản ánh được vai trò của tín ngưỡng thờ Mu trong đời sống tâm linh cũng như trong đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay. Tuy có sự khác biệt nhất định trong cách thức thờ phụng giữa các tộc người, các vùng, miền, nhưng điểm chung vẫn là phong tục truyền thống thờ Mẹ của người Việt. n sau tín ngưỡng ấy là sự biết ơn công lao sinh dưỡng là khát vọng của người dân về một cuộc sống bình yên, hạnh phúc.

Tín ngưỡng thờ Mu có tính hòa đồng, hỗn dung với các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác

 Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Trong quá trình phát triển, các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo luôn đan xen lẫn nhau cùng tồn tại một cách hài hòa. Là một loại hình tín ngưỡng dân gian trong hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mu cũng mang những đặc điểm chung đó. Tín ngưỡng thờ Mu ở Việt Nam không đóng khung trong một khuôn hình mà “bung ra nhiều cung cách, dáng vẻ, nhiều khi còn mở toang cửa cho thần thánh của các tôn giáo, tín ngưỡng khác ùa vào như một liên kết vui vẻ”[2].

 Theo thống kê sơ bộ thì tín ngưỡng thờ Mu ở Việt Nam thờ phụng trên 60 vị thần khác nhau, trong đó các Mu là nhân vật trung tâm. Trong tín ngưỡng thờ Mu có vị thần của Đạo giáo như Ngọc Hoàng, có các vị thần của hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Việt như Đức Thánh Trần hoặc các Thành hoàng làng, các con vật được nhân cách hóa,...

 Bên cạnh đó, không thể không kể đến sự dung hòa giữa tín ngưỡng thờ Mu với Phật giáo, đặc biệt là Phật giáo ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.

 Thn tích của các Mu luôn gn lin vi lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình dựng nước và giữ nước. Trải suốt quá trình ấy, vai trò, vị trí của người phụ nữ đã được khẳng định, được đề cao. Chính vì vậy, thần tích các Mu đa phần đều in đậm dấu ấn lịch sử của dân tộc. Hay nói cách khác là dân gian đã “lịch sử hóa” các Mu, biến các Mu cùng hệ thống thần linh của tín ngưỡng thờ Mu thành các nhân vật lịch sử gắn với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong quan niệm của dân gian, Mu Âu Cơ là mẹ tạo dựng dòng giống Lạc Việt; Thánh Mu Liễu Hạnh chuyên lo việc khuyến thiện, trừng ác; Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Thiên Y A Na... là các Mẩu chuyên lo việc chữa bệnh, đuổi quỷ, trừ tà, giữ yên làng xóm,... Các Mầu cũng có thể là người có công trong việc giúp chồng, con đánh giặc giữ nước. Như bà Phạm Thị - người đã có công sinh thành ra vị vua khởi nghiệp của nhà Lý - Lý Công Uẩn, hay bà Ba Đề Thám - người đã có công giúp chồng dựng cờ khởi nghĩa,... Dù xuất thân là nhân vật lịch sử hay chỉ là huyền thoại và thuộc tộc người nào thỉ trong tâm thức dân gian, các Mu đều có vai trò rất lớn trong lịch sử hình thành và phát triển của đất nước.



[1]Theo thần tích, Mu Liễu Hạnh là công chủa, con gái Ngọc Hoàng, vì phạm tội đánh vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần gian. Mầu Liễu Hạnh có thể đi chu du khắp nơi trong thiên hạ, có thể trừng phạt bất cứ ai không tôn trọng bà và có khả năng cứu giúp những người hiền lành, yếu đuối, che chở cho những người gặp khó khăn, hoạn nạn... Cổ thể nói, Mẩu Liễu Hạnh là thần chù trong tín ngưỡng thờ Mẩu ở Việt Nam. Bà được coi là một trong Tứ bất từ của tín ngưỡng Việt Nam. Đây là biểu tượng tập trung nhất thể hiện vai trò, vị trí cũng như khát vọng vươn lên của người phụ nữ Việt Nam.

[2]Mai Thanh Hối,Tim hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam,Nxb.Văn hóa dân tộc, H.2005, tr. 154-155.

Giáo luật, lễ nghi, cơ cấu tổ chức của đạo Tin lành

 


- Những điều răn của Đức Chúa Trời: Chỉ thờ Đức Chúa Trời, không được thờ các thần khác; Không được dùng tên Chúa Trời một cách thiếu tôn kính; Phải nhớ ngày Sa bát[1], đây là ngày dành cho Chúa Trời; Phải hiếu kính cha mẹ; Không được giết người; Không được tà dâm; Không được trộm cắp; Không được làm chứng dối nghịch người khác; Không được tham muốn nhà cửa, bò lừa, bất cứ thứ gì của người khác; Không được tham muốn vợ, tôi trai, tớ gái của người khác.

- Trong đời sống, tín đồ đạo Tin Lành khuyên thực hiện: không uống rượu, không hút thuốc, không ngoại tình, không lười biếng, không lãng phí.

- Các lễ nghi quan trọng gồm cổ: Lễ Giáng sinh (25-12 hằng năm), Lễ Thương khó (trước lễ Phục sinh 3 ngày), Lễ Phục sinh (Chủ nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn của tháng sau xuân phân), Lễ Thăng Thiên (sau Lễ Phục sinh 40 ngày), Lễ Ngũ tuần (sau Lễ Thăng thiên 10 ngày).

- Các lễ nghi khác: Lễ Thành hôn, Lễ Dâng con, Lễ tang, Lễ Xức dầu, Lễ Tấn phong mục sư, Lễ Bổ nhiệm, Lễ Cung hiến nhà thờ, Lễ Cảm tạ...

- Hàng tuần hội thánh Tin Lành tổ chức nhóm họp cầu nguyện và thờ phụng Thiên Chúa vào chủ nhật, nội dung gồm có nghe hát Thánh ca, nghe giảng Kinh Thánh, cầu nguyện chung, sinh hoạt ban, nhóm theo lứa tuổi, giới tính và những lễ nghi khác.

- Với mong muốn cải cách quyền lực giáo hội, đạo Tin Lành chủ trương tổ chức hội thánh theo hướng đơn giản. Các hội thánh Tin Lành ở nước ta hiện nay thường được tổ chức theo hai cấp, là cấp Cơ sở (chi hội, điểm nhóm) và cấp Trung ương (Tổng Liên hội, Tổng hội). Đồng thời cũng có những hội thánh Tin Lành được tổ chức theo 3 cấp. Tương ứng với tổ chức có các bộ phận lãnh đạo, như Ban Trị sự, Hội đồng Quản trị, Ban Quản trị.

- Giáo phẩm của đạo Tin Lành, từ cao xuống thấp, gồm có mục sư, mục sư nhiệm chức và truyền đạo; một số tổ chức đạo Tin Lành có chức vụ trưởng lão, chấp sự. Các chức sắc của đạo Tin Lành không phải sống độc thân như tu sĩ Công giáo.

- Một trong những đặc trưng của Tin lành là tự do về tổ chức, dẫn đến hình thành nhiều tổ chức hệ phái khác nhau. Hiện nay trên thế giới có gần 300  hệ phái Tin lành với hàng ngàn tổ chức giáo hội độc lập, như các hệ phái: Tin lành Trưởng lão; Tin lành Bắp - tít; Tin lành cải cách; Giáo hội thống nhất; Hội liên hiệp Phúc ân và truyền giáo …



[1] Ngày Chủ nhật

Cái gạch ngang

Ông bạn thân của tôi tâm sự: Trong đợt sinh hoạt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI vừa rồi, mình là người đứng đầu cấp ủy địa phương nên phải làm trước. Mình viết bản tự kiểm điểm, tự phê bình rất kỹ theo phương châm thật thà, thẳng thắn và nghiêm túc. Điều đó có nghĩa là ưu điểm và khuyết điểm đến đâu nói đến đó; phân tích rõ nguyên nhân của những ưu điểm, khuyết điểm và đề ra phương hướng phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm rất cụ thể. Sau phần tự kiểm điểm, tự phê bình của mình là những ý kiến đóng góp của các thành viên trong Ban Thường vụ. Nhìn chung, đó đều là những ý kiến chân thành, bổ ích. Các khuynh hướng tiêu cực, như vuốt ve, ca tụng, mạt sát, xúc phạm hay “ngậm miệng ăn tiền”,... đều không thấy xuất hiện. Không vuốt ve, ca tụng, song những ý kiến đóng góp cho mình chủ yếu vẫn là khen. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi vì bản tự kiểm điểm, tự phê bình của mình rất thật thà, thẳng thắn và nghiêm túc; mình lại là Bí thư cấp ủy tới hai khóa liên tục; tuổi đời so với các đồng chí trong Ban Thường vụ cũng cao hơn do đó họ có phần vị nể. Sau đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình, mình cảm thấy hài lòng về bản thân và càng thêm quý trọng những cán bộ dưới quyền. Trong số những ý kiến đóng góp, mình đặc biệt chú ý tới ý kiến của một đồng chí ủy viên Ban Thường vụ còn rất trẻ. Anh ấy nhận xét về mình như thế này: “Đồng chí là người đứng đầu có năng lực và phẩm chất tốt. Đó là mặt mạnh rất cơ bản cần khẳng định. Song, tôi có một gợi ý nhỏ để đồng chí xem xét, suy nghĩ. Đánh giá cán bộ là vấn đề rất hệ trọng, rất nhạy cảm, tế nhị và cũng rất phức tạp. Nó là tiền đề để đi tới những quyết định đúng hay sai, chính xác hay không chính xác trong việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật,... đối với cán bộ. Khách quan, công tâm và chính xác sẽ dẫn đến những kết quả tốt. Ngược lại, sẽ dẫn đến những hậu quả xấu khôn lường. Ở đồng chí, nhìn chung không có những biểu hiện lệch lạc trong công tác cán bộ, nhưng chúng tôi mong muốn trong việc nhận xét, đánh giá cán bộ, đồng chí nên chú ý sao cho thật khách quan trong cái đã tương đối khách quan; thật chính xác trong cái đã tương đối chính xác; thật công bằng trong cái đã tương đối công bằng”. Ngừng một lát rồi anh ấy tiếp tục phân tích làm rõ thêm ý kiến của mình: “Nếu dùng một cái gạch ngang để phân định phần trên là khách quan, phần dưới là thiếu khách quan thì ở đồng chí không có cái phần dưới đó. Song ở ngay phần trên cũng có điểm cần rút kinh nghiệm. Tôi xin nêu thí dụ cụ thể. Đối với anh Nguyễn Văn A. (Giám đốc sở X), đồng chí thường nhận xét, đánh giá rất đúng với những gì anh ấy vốn có (kể cả ưu điểm và khuyết điểm). Nhưng đối với chị Đoàn Thị B. (giám đốc sở Y), đồng chí lại nhận xét, đánh giá về ưu điểm cao hơn những gì chị ấy vốn có, còn về khuyết điểm thì có phần nhẹ đi rất nhiều. Việc này nếu không nhận ra và khắc phục kịp thời rất dễ làm cho mọi người nhìn đồng chí với con mắt khác. Họ buộc lòng phải nghi ngờ về tính khách quan, chính xác, công bằng trong những nhận xét, đánh giá cán bộ của đồng chí”. Anh ấy phát biểu rất từ tốn, hoàn toàn với tinh thần xây dựng, không khen mình quá lời, cũng không phê phán mình quá gay gắt. Toàn bộ nội dung phát biểu của anh ấy toát lên sự thật thà và sâu sắc đến không ngờ. Đặc biệt mình rất thấm thía với cái từ “cái gạch ngang” mà anh ấy dùng. Bởi vì nghiêm túc nhìn lại bản thân với hai trường hợp cụ thể mà anh ấy nêu ra mình cảm thấy quả là có như thế thật. Ôi, cái gạch ngang!!

Giáo lý trong Đạo Tin Lành


Nét khác biệt của đạo Tin Lành với các tôn giáo khác thuộc Kitô giáo thể hiện ở một số nội dung thần học, đặc biệt qua 5 nguyên tắc của Phong trào cải cách đạo Tin Lành, đó là: chỉ bởi Kinh Thánh, chỉ bởi đức tin, chỉ có Chúa trời, chỉ có ân huệ, chỉ tôn vinh Chúa Trời.

Kinh Thánh của Kitô giáo bao gồm: Cựu ước 46 cuốn và Tân ước 27 cuốn. Trong đó, đạo Tin Lành thừa nhận phần Cựu ước gồm 39 cuốn, và toàn bộ sách Tân ước 27 cuốn. Theo quan điểm của đạo Tin Lành, Kinh Thánh là Lời của Thiên Chúa, nên nó hết sức thiêng liêng.

Những tín điều căn bản:

 Quan niệm về Đức Chúa Trời: chỉ có một Đức Chúa Trời hằng sống, vô hạn, toàn thiện, toàn mỹ, Ngài là Đấng tạo hóa.. Đức Chúa Trời Ba ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Ba ngôi hiệp một, bình đẳng, cùng bản thể, và hiệp lại làm một Đức Chúa Trời trọn vẹn.

Con người và sự sa ngã của con người: loài người được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa Tri, một cách tốt đẹp và hoàn thiện. Tuy nhiên, do cố ý phạm tội với Thiên Chúa nên con người không những bị chết về thể xác mà còn chết về thuộc linh, tức là bị phân cách với Chúa trời.

Công cuộc cứu chuộc: Chúa Giê-su được Chúa Trời sai xuống trần gian để cứu con người, qua sự hy sinh của Ngài trên Thập tự giá. Chúa Giêsu được thai dựng bởi Đức Thánh Linh qua trinh nữ Maria. Con người muốn được cứu rỗi phải chân thành ăn năn và hết lòng tin cậy Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu trở lại và sự phản xét cuối cùng: đến một ngày, tất cả mọi người trên thế giới này phải đứng trước sự phán xét cuối cùng của Chúa Trời, do những hành động của họ. Đến khi đó, những người công chính sẽ được hưởng sự sống và phước hạnh đời đời trong trời mới, đất mới; còn những người khước từ ơn cứu rỗi sẽ phải chịu khổ hình trong hồ lửa, đau khổ mãi mãi.

Một số điểm khác biệt của đạo Tin Lành so với Công giáo:

+ Tin vào sự hoài thai Chúa Giê-su một các mầu nhiệm của bà Maria nhưng không coi bà là mẹ của thiên chúa, chỉ đng trinh cho đến khi sinh Chúa Giê-su. Do vậy, chỉ kính trọng chứ không thờ bà Maria.

+ Tin có thiên sứ và các Thánh Tông đồ nhưng không tôn sùng và thờ lạy

+ Không thờ lạy các tranh ảnh, hình tượng của Chúa Giê-su (chỉ dùng trong những trường hợp dùng để làm tài liệu để giảng dạy, tuyên truyền).

  

“Đường dây nóng”, “đường dây nguội”

Thời đại bùng nổ thông tin, nhà nhà có báo in, người người dùng điện thoại di động, thậm chí nhiều người có đến 2 - 3 chiếc điện thoại di động. Cái dành cho công việc, làm ăn, cái giao dịch với cấp trên, cái dành cho bồ,… Người ta gọi điện thoại khắp nơi, khi đi đường, lúc ngồi họp, khi nhậu nhẹt,… Hình như cán bộ nhà nước bây giờ, ở cơ quan, không còn nhiều người dùng điện thoại bàn. Gần như tờ báo nào cũng công bố “đường dây nóng” để qua đó, người dân phản ảnh những bức xúc, tiêu cực,... về cho tòa soạn. Qua “đường dây nóng”, cán bộ giao lưu, đối thoại trực tiếp với dân, nối liền Đảng với dân, giúp sát dân, kịp thời nắm bắt được những tâm tư, nguyện vọng bức xúc của nhân dân. Phương tiện thông tin làm tăng tính dân chủ đoàn kết trong xã hội. Trong một cuộc họp của tỉnh, tôi có dịp ngồi gần đồng chí bí thư tỉnh ủy. Nhân có một đại biểu đề nghị đồng chí bí thư cho biết “đường dây nóng” của đồng chí, để khi cần tiện liên hệ. Tôi cũng được chính tay đồng chí bí thư tỉnh ủy viết số điện thoại di động của mình vào sổ tay của tôi. Một tháng sau, nhân gặp chuyện bức xúc của tỉnh muốn phản ánh, tôi gọi điện cho đồng chí bí thư. Dù trên 10 lần gọi, và gọi vào các thời điểm khác nhau, nhưng đầu dây bên kia không trả lời. Đem chuyện lạ này kể với các bạn hưu, họ bảo: Số điện thoại của ông lạ, họ không nghe máy là đúng rồi. - Lạ thì phải nghe để biết nội dung gì chứ? - Số điện thoại lạ, thì chỉ có hoặc kiện cáo, khiếu nại, hoặc là nhờ vả,… Giải quyết sao đây. Mất thì giờ, không có lợi lộc gì, tốt nhất là lờ đi. Không tin, dù trong lòng hơi buồn, tôi đành viết thư riêng gửi đường bưu điện. Nhưng, tới hơn 2 tháng sau, vẫn chẳng thấy hồi âm. Nhớ khi thành phố tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, hôm đó tôi cũng được tham dự. Khi hội nghị thảo luận, một đồng chí cán bộ hưu trí chống gậy đứng dậy phát biểu: - Tôi là một cán bộ lão thành, đã từng có nhiều thời gian tham gia công tác đảng, chính quyền. Nay về hưu, thấy có nhiều chuyện bức xúc, tiêu cực, tôi viết thư gửi tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Thế nhưng, chẳng thấy ai trả lời, dù đó là một lá thư của văn phòng báo đã nhận được hay chưa. Nói xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, thì ai phải là người có văn hóa trước? Nhận được thư không trả lời, vậy liệu có văn hóa không? Ở một thành phố nọ, trên tường nhà một biệt thự xuất hiện tấm bảng ghi dòng chữ: “Đây là nhà ông tham nhũng”. Dân xúm đến xem, chẳng thấy ai nói gì. Đêm hôm đó, tấm bảng lập tức được gỡ xuống. Nhưng ngay tối hôm sau, tấm bảng khác lại được treo lên với nội dung như vậy. Chuyện lặp đi, lặp lại, chẳng thấy ai nói gì, đúng, sai, xử lý ra sao? Vậy như thế liệu có văn hóa hay không?... Chúng tôi biết đồng chí đó từng là cán bộ cấp cao của Đảng, hỏi mà không ai trả lời. Thế thì kêu gọi “nghe dân nói, nói dân nghe” có phải là văn hóa, có phải là thật lòng không? Đảng, Nhà nước và Bác Hồ yêu cầu cán bộ phải sát dân, cùng ăn, cùng ở với dân để nắm tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Được nhân dân chủ động gặp phản ánh, được dân tin tưởng là điều hạnh phúc, sao lại lảng tránh, liệu có phải là văn hóa không, hay vô cảm với dân? Có người giải thích chuyện cán bộ không nghe máy điện thoại lạ, là vì có bọn xấu gọi đến khủng bố, nói xấu, chửi bới cán bộ. Có thể có, nhưng chúng ta có đủ biện pháp để xử lý những hành động quấy phá đó. Đường dây nối từ người dân đến cán bộ là “đường dây nóng”. Người nghe phải tiếp nhận với một “tâm hồn nóng”, lắng nghe, sẻ chia với những bức xúc, vui, buồn để tìm cách giải quyết. Nếu người nghe nghe với tinh thần nguội lạnh, vô cảm, sợ phiền phức, mất thời gian, vô trách nhiệm thì “đường dây nóng” trở thành “đường dây nguội”. Việc từ chối không nghe ý kiến bức xúc của nhân dân khi chưa biết nội dung là tự mình làm hại mình, quan liêu, sống xa dân, là vô văn hóa. Quan hệ cán bộ, Đảng với nhân dân là quan hệ cá - nước. Cắt đứt quan hệ đó, làm nguội lạnh đường dây quan hệ đó, là tách nước ra khỏi cá, liệu cá có thể sống được chăng?!

Nguồn gốc Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

 


Danh từ Mu được phiên âm từ chữ Hán - Việt có nghĩa là Mẹ. Lúc đầu, danh từ này chỉ có nghĩa hẹp là danh xưng của người phụ nữ với những đứa con do mình sinh ra. Qua quá trình phát triển, danh từ Mu được mở rộng ra thành sự tôn vinh của xã hội dành cho một người phụ nữ nào đó có công lao to lớn đối với cộng đồng.

Vậy, có thể hiểu, tín ngưỡng thờ Mu là hìnhthức tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, mà thông qua đó, vai trò của người phụ nữ được đề cao, được tôn vinh làm Thánh.

 Tín ngưỡng thờ Mu bắt nguồn từ tục thờ nữ thần đã có từ rất lâu trong lịch sử.

 Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mu xuất hiện trên nền tảng của những điều kiện kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý tình cảm nhất định.

Trong nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, người phụ nữ Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất, vì vậy từ lịch sử xa xưa, vai trò của người phụ nữ Việt Nam đã rất được đề cao.

Hơn nữa, lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước với rất nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Trải suốt quá trình lịch sử đó, người phụ nữ Việt Nam không chỉ gánh vác vai trò quan trọng là sản xuất mà còn đóng góp một phần hết sức quan trọng trong những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc.

 Trong phạm vi gia đình, người phụ nữ luôn giữ vai trò chính yếu trong việc giáo dục con cái.

 Những ảnh hưởng sâu đậm, lâu dài của chế độ mẫu hệ ở Việt Nam và cho đến hiện nay, chế độ này vẫn còn tồn tại trong đời sống của một số cộng đồng dân tộc thiểu số. Thực tế nói trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức và tâm lý tình cảm của người dân Việt Nam. Qua hàng nghìn năm lịch sử, truyền thống coi trọng người phụ nữ của dân tộc ta đã được chuyển tải vào trong đời sống tâm linh, được thể hiện một cách tôn nghiêm, đa dạng, phong phú qua hệ thống thờ phụng nữ thần/mẫu thần của người Việt.

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc, khắc phục sự chồng chéo, bất cập


Đây là giải pháp quan trọng nhằm xác lập cơ sở pháp lý, tạo sự thống nhất, tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc và nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Để thực hiện tốt giải pháp này cần thực hiện tốt các biện pháp cụ thể sau:

 Chính phủ cần chỉ đạo Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các bộ ngành rà soát lại hệ thống chính sách dân tộc đang được thực hiện, nhằm phát hiện và khắc phục sự chồng chéo, bất cập của các chính sách theo từng lĩnh vực do các bộ, ngành quản lý từ đó có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

 Với một số dân tộc thiểu số có dân số ít và một số vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, ủy ban Dân tộc tham mưu cho Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh, góp phần bảo tồn, phát triển toàn diện các dân tộc thiếu số Việt Nam.

 UBDT chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện dự án Luật Dân tộc trình Quốc hội ban hành trong nhiệm kỳ Quốc hội Khóa 15.

 Xây dựng và ban hành tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xác định cụ thể địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.

Thực hiện Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị và Quyết định 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi.

Ủy ban Dân tộc đã phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương và địa phương xây dựng tiêu chí, tổ chức phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi thành 3 khu vực, trong đó:

- Khu vực I: Là khu vực bước đầu phát triển.

- Khu vực II: Là khu vực tạm ổn định.

- Khu vực III: Là khu vực khó khăn.

Việc phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi thành 3 khu vực theo trình độ phát triển đã có tác động tích cực đến phát triển KT-XH của vùng. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, như: Chương trình 135, Chương trình giảm nghèo; Chương trình trung tâm cụm xã, chính sách trợ giá, trợ cước, chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, chính sách hỗ trợ cấp bảo hiểm y tế, chính sách thu hút cán bộ đến công tác tại vùng đặc biệt khó khăn, chính sách hỗ trợ giáo viên, học sinh, sinh viên….

Từ năm 1996 đến nay, vùng dân tộc thiểu số đã có 4 lần tổ chức phân định thành 3 khu vực theo trình độ phát triển tương ứng với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn, bao gồm các giai đoạn: 1996-2005, 2006-2010, 2011-2015 và 2016-2020.

Tuy nhiên, qua hơn 25 năm triển khai thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập cả về hệ thống các tiêu chí, tổ chức xác định xã thuộc 3 khu vực và cả trong hoạch định, xây dựng và áp dụng các chính sách trên địa bàn. Cụ thể:

 Tất cả các bộ tiêu chí từ trước đến nay không đề cập đến tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số, do đó phân định xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi bao gồm cả các xã không có hoặc có rất ít đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

 Thôn đặc biệt khó khăn là một trong các tiêu chí xác định xã thuộc 3 khu vực là chưa phù hợp giữa xã quy mô lớn, có nhiều thôn với xã quy mô nhỏ có ít thôn; dẫn đến tình trạng xã khu vực II có nhiều thôn đặc biệt khó khăn hơn xã khu vực III, gây bất cập cho phân bổ nguồn lực đầu tư, áp dụng các chính sách liên quan.

 Do tâm lý của các địa phương muốn có nhiều thôn, xã đặc biệt khó khăn để được đầu tư, thụ hưởng chính sách từ ngân sách trung ương nên một số địa phương tổ chức phân định chưa phù hợp với tiêu chí và điều kiện thực tế; để giảm bớt thủ tục hành chính, quy định hiện hành đã không đề cập đến vai trò thẩm định của Ủy ban Dân tộc nên việc phân định chưa thật sự công bằng, minh bạch giữa các địa phương, chưa thật sự tập trung nguồn lực cho những nơi khó khăn nhất.

Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả đầu tư,

Mặt khác, do thay đổi về địa kinh tế - xã hội nên mỗi địa phương có cơ hội phát triển khác nhau, như: Thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), Sa Pa (Lào Cai), Vùng Bảy Núi (Tri Tôn-An Giang) hoặc các cửa khẩu xuất, nhập khẩu hàng hóa của Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn... tuy được công nhận là vùng cao, song đã trở thành các khu du lịch, khu kinh tế phát triển.

Do vậy, việc xây dựng và ban hành tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xác định cụ thể địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, triển khai có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia và Đề án tổng thể là một việc rất cần thiết.

Hiện nay, Ủy ban Dân tộc đang trong quá trình xây dựng Đề án tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2025 để trình Chính phủ và Quốc hội.

Để đảm bảo quy định tại Nghị định 05/2011/NĐ-CP “Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam”. Ủy ban Dân tộc đề xuất, các xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi tối thiểu phải có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn mức bình quân chung của cả nước (hiện nay là 14,7%). Việc xác định địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lấy đơn vị hành chính cấp xã và thôn, bản là đơn vị cơ sở.

Như vậy: Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn các xã, thôn có tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số từ 15% số hộ trở lên. 

 

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Thời gian qua, tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ cho rằng, Việt Nam lợi dụng phòng, chống dịch Covid - 19 có những hành động vi phạm nhân quyền (quyền tự do thân thể). Là công dân Việt Nam chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật này.

Trước hết, chúng ta đặt câu hỏi: Tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ có đại diện cho tiếng nói của người Mỹ hay không? Xin trả lời: Xét về bản chất, tổ chức theo dõi nhân quyền là một tổ chức phi chính phủ, không chính thống, tổ chức hoạt động dựa trên những quyền lợi về mặt chính trị và kinh tế. Tiếng nói của nhóm người này mang quan điểm cá nhân, một chiều, không đại diện cho nước Mỹ. Chính vì vậy, cách hành xử thiếu thiện chí theo lối bôi bẩn bức tranh đẹp, vạch lá tìm sâu của tổ chức này là một điều dễ hiểu, nhằm mục đích phục vụ cho những cá nhân, những tổ chức phá hoại.

Phải nói thêm rằng, Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất bị tổ chức này xuyên tạc, bóp méo. Chính vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những luận điệu này. Họ quy chụp Việt Nam lợi dụng Covid - 19 là một điều nực cười và thể hiện tầm tư tưởng hẹp hòi, họ cố tình không hiểu rằng đại dịch Covid - 19 là một hiểm họa lớn trong lịch sử loài người, không ai muốn Covid - 19 tới, không ai mong nó tồn tại và không ai có nhu cầu lợi dụng nó làm bàn đạp cho sự ổn định của quốc gia, dân tộc.

Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, đồng lòng, chung một ý chí, quyết tâm đẩy lùi dịch Covid - 19. Để chủ động phòng, chống dịch Covid - 19, Bộ Y tế đã ra thông điệp 5K “Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo y tế”, kêu gọi mọi người cùng nhau thực hiện việc chung sống an toàn với dịch bệnh. Chính vì thực hiện tốt thông điệp này, ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến chống dịch bệnh Covid - 19, Việt Nam đã nhanh chóng khống chế, dập tắt dịch bệnh, không để lây lan trong cộng đồng, như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu: “Có thể nói, chúng ta đã thắng trong chiến dịch mở màn, giai đoạn đầu của cuộc chiến chống dịch, chúng ta chưa chiến thắng cả cuộc chiến, nhưng nhất định chúng ta phải chiến thắng”.

Dưới tác động của dịch bệnh, rất nhiều người dân Việt Nam bị ảnh hưởng, bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc hoặc nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập. Chính vì vậy, hàng triệu người dân Việt Nam đều lo lắng dõi theo bước chân truy vết những ca lây nhiễm trong cộng đồng, nhất là vào các thời điểm bùng phát của ổ dịch như ở Đà Nẵng đầu tháng 7/2020 hay ở tỉnh Hải Dương vào cuối tháng 01/2021. Tại những thời điểm đó, Đảng, Nhà nước cùng các cơ quan chức năng đều đã thực hiện các chỉ đạo quyết liệt và nhanh chóng, làm hết sức mình với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”, “Quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau” nhằm mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Các hành động mang hiệu quả tốt đẹp, là nhờ sự phối hợp của các cơ quan chức năng, cùng ý thức tự giác chi phối hành vi của người dân Việt Nam trong nghiêm túc thực hiện các quy định pháp luật đồng lòng chống dịch Covid - 19.

Kết quả phòng chống dịch Covid - 19 của Việt Nam từ khi đại dịch bùng phát cho đến nay luôn được cộng đồng quốc tế đánh giá là hình mẫu kiểm soát dịch bệnh có hiệu quả và để lại nhiều kinh nghiệm cho các quốc gia khác.

Các báo quốc tế lớn tiếp tục có cái nhìn toàn diện, cô đúc lại những kinh nghiệm quý giá nhất từ Việt Nam với tiêu đề: Việt Nam chỉ xếp thứ hai về công tác chống dịch. Một tờ báo Mỹ dành lời ca ngợi công tác chống dịch nhanh và mạnh mẽ của Việt Nam, bài báo dẫn lời ông trưởng đại diện Liên hợp quốc tại Việt Nam, theo đó ba yếu tố được coi là chìa khóa quyết định thành công của Việt Nam đó là truy vết, xét nghiệm và truyền thông đến từng người dân; ông cũng khẳng định rằng luôn có định kiến chống lại thành công của Việt Nam, nghi ngờ tính xác thực của những thông tin, dữ liệu được công bố, nhưng thực tế là tất cả các dữ liệu được ghi lại theo thời gian thực và không hề có các ép buộc nào trong các biện pháp chống dịch ở Việt Nam. Cũng đề cập cuộc chiến chống Covid - 19 ở Việt Nam tờ báo Nhân Đạo của Pháp nêu: Sự kết hợp phòng, chống Covid - 19 ở Việt Nam và tăng trưởng kinh tế, bài báo có tiêu đề: Diệt vi rút là động lực của tăng trưởng, tờ báo này cho rằng Việt Nam đang dựa vào chính thành tích chống dịch để thúc đẩy kinh tế và phát triển con người.


Thành quả chống dịch của Việt Nam được lan tỏa đến khắp nơi trên thế giới, đặc biệt có tiếng nói của đại diện Liên hợp quốc: Việt Nam đã cho thế giới thấy cách chống dịch rất hiệu quả, nhờ sự vào cuộc sớm và mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, cách chống dịch của Việt Nam rất bài bản và chia cụ thể theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn Việt Nam chứng minh phương án của mình hiệu quả bằng những con số ấn tượng. Điều đáng nói là Việt Nam bám rất sát với thực tế diễn biến dịch và linh hoạt điều chỉnh phương án chống dịch để phù hợp với hoàn cảnh biến đổi liên tục. Việc xét nghiệm trên diện rộng và truy vết nguồn gốc lây nhiễm được Việt Nam thực hiện hiệu quả, thông tin luôn thường xuyên cập nhật, xuyên suốt, nhờ vậy giữ vững được mục tiêu đề ra; thành công này không thể thiếu sự đồng thuận của người dân Việt Nam.

Tổ chức y tế thế giới đồng tình với cách làm nới lỏng từ từ của Chính phủ trên cơ sở đánh giá rủi ro, làm từ từ để lắng nghe kết quả và hành động quyết liệt khi có biến động mới, và như thế Việt Nam mới không bị vỡ trận và những người yếu thế sẽ không bị bỏ lại phía sau.

Tiếc thay, tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ đã không có được thông tin đầy đủ về Việt Nam hoặc họ cố tình không tiếp nhận những thông tin đúng về Việt Nam, thay vào đó họ căn cứ vào các bài viết của các phần tử phản động để suy diễn, bóp méo Việt Nam vi phạm quyền con người.

Theo tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 quy định rõ: Ai cũng có quyền được sống tự do và an toàn thân thể, đó là quyền được sống, quyền bảo vệ môi trường sống một cách chính đáng, bất kể cá nhân, tổ chức nào vi phạm đến quyền được sống, quyền bảo vệ môi trường sống của số đông thì đều là hành vi vi phạm quyền con người. Chính vì vậy, những người vi phạm lệnh giãn cách xã hội, trốn cách ly, tụ tập không theo quy định của Nhà nước, gây nguy hiểm đến sự an toàn cũng như tính mạng của các cá nhân khác trong cộng đồng mới là vi phạm nhân quyền. Việt Nam đang tập trung mọi nguồn lực để chống dịch Covid - 19, nhưng một số đối tượng vì thỏa mãn lợi ích cá nhân, lợi dụng tự do ngôn luận đã tung tin giả, sai sự thật, gây hoang mang dư luận, bị xử lý theo pháp luật và là hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai coi thường luật pháp. Việc này không vi phạm tự do ngôn luận, vi phạm tự do cá nhân.

Không riêng gì ở Việt Nam, tại các quốc gia đề cao nhân quyền như ở Châu Âu, Mỹ cũng áp dụng những biện pháp cần thiết để loại bỏ những thông tin không chính xác. Cụ thể như ở Châu Âu, Cảnh sát cũng phải ngăn cản hàng trăm cuộc biểu tình phản đối lệnh giới nghiêm, phong tỏa để tránh để lại hậu quả nghiêm trọng. Còn tại Hoa Kỳ, đầu năm 2021, số ca nhiễm mỗi ngày đã giảm xuống còn 1/5 chỉ trong 02 tuần khi người dân chấp hành tốt việc giãn cách và ở nhà nhiều hơn. Ở những quốc gia tự do như Mỹ hay Châu Âu đã không thể thực hiện các biện pháp mạnh khiến số người nhiễm và tử vong rất cao. Tuy nhiên, ở Việt Nam dịch bệnh đã được kiểm soát, như vậy những biện pháp đang triển khai ở Việt Nam là phù hợp. Qua 02 cuộc khảo sát ở góc độ toàn cầu về mức độ hài lòng của người dân đối với chính phủ, Việt Nam nằm trong nhóm đầu bảng vì người dân cho rằng Chính phủ đã chỉ đạo và đưa ra các giải pháp rất hiệu quả. Đây chính là câu trả lời rõ nhất Vì sao Việt Nam đang rất thành công trong công tác dập dịch, vì Chính phủ Việt Nam có sự đồng thuận và niềm tin của người dân Việt Nam.

Chống dịch Covid - 19 và đảm bảo quyền con người là hai lĩnh vực không thể tách rời nhau ở Việt Nam. Là một quốc gia còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, đồng lòng cùng ý chí xây dựng một đất nước phồn vinh, một môi trường sống hòa bình và trong lành. Do đó, nói Việt Nam vi phạm nhân quyền, quyền về tự do thân thể là xúc phạm tới quyết tâm chung của toàn cầu để phòng, chống sự lây lan của dịch bệnh./.


 Đảng viên tha hóa không phụ thuộc vào độc đảng hay đa đảng

Các thế lực thù địch rêu rao rằng: “bỏ độc quyền lãnh đạo mới có thể chấm dứt nạn đảng viên tha hóa”(!) Qua đó, tìm cách xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị nước ta. Vì vậy, cần nhận thức đúng để bác bỏ.

Bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có người trong bộ máy công quyền tha hóa quyền lực, vì nó là hiện tượng gắn liền với quyền lực chính trị. Thực trạng ở các nước có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập cũng có không ít người trong bộ máy công quyền bị tha hóa. Điển hình như: Vụ bê bối quyền lực chính trị để trục lợi (Watergate) của Tổng thống Mỹ Richard Nixon năm 1972 - 1974, buộc Ông này phải từ chức khi đang là Tổng thống nhiệm kỳ hai; vụ ông Bernard Kerit, nguyên Chỉ huy trưởng Cảnh sát New York, năm 2004 đã được Tổng thống Mỹ Geore W.Bush đề cử làm Bộ trưởng Bộ An ninh nội địa Mỹ, nhưng do phạm tội tham nhũng trốn thuế và nhận tiền hối lộ nên đã không được bổ nhiệm. Hay là ở Hàn Quốc, vào tháng 12/2016, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun - Hye bị Quốc hội phế truất chức Tổng thống do bị buộc tội tham nhũng dính líu đến vụ dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính. Còn rất nhiều chính khách của các nước có chế độ đa đảng bị tha hóa mà các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước đã đưa tin. Họ đều là những người đại diện cho một đảng chính trị nhất định của các nước đó. 

Ở Việt Nam, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Không phải ngày nào cũng kiểm tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”1. Người cho rằng, lãnh đạo đúng là cùng với việc “quyết định mọi vấn đề cho đúng”, “phải tổ chức thi hành cho đúng”, còn “Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”2. Người yêu cầu: “Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”3.  

Khái niệm “kiểm soát” lần đầu tiên được Đảng ta đưa vào Cương lĩnh năm 2011: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”4. Đảng nhấn mạnh: “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương”5. Đặc biệt, xác định được kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là gốc của kiểm soát quyền lực trong Đảng. Vì vậy, ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị (khóa XII) đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Trong đó nhấn mạnh: “Sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ”.

Trên cơ sở đó, phải có cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị vận hành một cách đồng bộ và thống nhất hệ thống các thể chế, thiết chế liên quan trong thực thi và kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước và các thành viên của hệ thống chính trị, trên nền tảng “Quốc pháp, Đảng cương” và truyền thống chính trị dân tộc phù hợp với luật pháp và các thông lệ quốc tế. Kiểm soát quyền lực chính trị nhằm bảo đảm các chủ thể kiểm soát và các đối tượng được kiểm soát hoạt động đúng vị thế, chức năng và nhiệm vụ của mình được hiến định, theo pháp luật và Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng6. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, là điều kiện hàng đầu bảo đảm cho sự kiểm soát hiệu quả quyền lực chính trị đối với Nhà nước và xã hội. Để kiểm soát quyền lực lãnh đạo, Đảng thực hiện cơ chế “tự kiểm soát” thông qua các nguyên tắc, quy chế, quy định của Đảng. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội kiểm soát quyền lực của Đảng thông qua việc thực hiện các hình thức giám sát, phản biện xã hội. Việc kiểm soát quyền lực của Đảng còn được thông qua chế độ bầu cử cấp ủy, ủy ban kiểm tra và chế độ sinh hoạt đảng; thông qua công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy và ủy ban kiểm tra đảng; qua phát huy vai trò của nhân dân, cơ chế giám sát, phản biện của nhân dân với tính chất là lực lượng giám sát và tham gia trực tiếp công tác xây dựng Đảng. Mọi hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên phải trong khuôn khổ pháp luật, chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật.

Đối với Nhà nước, việc kiểm soát quyền lực chính trị được thực hiện thông qua kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp và được quy định trong hệ thống pháp luật; thông qua thực hiện các chế định về bầu cử, bổ nhiệm, miễn nhiệm theo nhiệm kỳ hoặc không theo nhiệm kỳ; qua kiểm soát quyền lực bằng pháp luật, bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân hoạt động theo pháp luật; qua thực hiện vai trò làm chủ, giám sát trực tiếp của nhân dân hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các đại biểu do mình bầu ra và giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước của đại biểu đó. 

Với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, những năm qua, nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng trong kiểm soát quyền lực chính trị. Trong đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt; chất lượng lãnh đạo, hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được nâng lên. Việc sắp xếp bộ máy hệ thống chính trị được thực hiện theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Đến năm 2019, cả nước đã giảm được 6 đơn vị hành chính cấp huyện; 545 đơn vị hành chính cấp xã; 15.354 thôn, tổ dân phố; giảm 4 đầu mối trực thuộc Trung ương, 6 tổng cục và 2 bộ tư lệnh; 83 cục, vụ và tương đương; 119 sở, ngành và tương đương; 5.889 phòng và tương đương, 5.145 đơn vị sự nghiệp công lập; giảm 22.761 cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trưởng, cấp phó các cấp; giảm 541.890 người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng được tăng cường, có trọng tâm, trọng điểm theo đúng tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Từ năm 2016 đến 2019, thông qua công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 1.111 tổ chức đảng, 18.265 cấp ủy viên các cấp và 54.573 đảng viên. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật 8 tổ chức đảng, 45 đảng viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật 111 đảng viên (có 92 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý)7. Công tác phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, kiên trì, có hiệu quả. Từ năm 2013 đến năm 2020, các cơ quan chức năng đã khởi tố, điều tra 14.300 vụ, kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính hơn 700 nghìn tỷ đồng, hơn 20 nghìn héc-ta đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm hơn 14 nghìn tập thể, cá nhân. Vai trò của pháp luật ngày càng được đề cao; cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rành mạch. Hoạt động của Chính phủ và các bộ, ngành đổi mới theo hướng kiến tạo, tập trung điều hành vĩ mô, tháo gỡ rào cản, hỗ trợ phát triển8, v.v.

Như vậy, kiểm soát quyền lực, phòng chống sự tha hóa của cán bộ, đảng viên là công việc thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp. Để góp phần thực hiện tốt công tác rất quan trọng này, trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp sau: 

Một là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và hiệu quả công tác tuyên truyền và tư tưởng, lý luận, làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn nữa bản chất của các luận điệu xuyên tạc về sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội. Qua đó, nâng cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và sức đề kháng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những quan điểm sai trái, thù địch đối với nước ta. 

Hai là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về kiểm soát quyền lực chính trị ở nước ta để cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch về vấn đề này. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng của xã hội ta với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, làm cho hệ thống chính trị nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, đơn vị. 

Ba là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, truyền thông, internet và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm lĩnh vực này. Chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các trang mạng độc hại, các blog “đen” thường đăng tải các tin, bài, phim có nội dung xấu độc. Nghiên cứu sử dụng các giải pháp công nghệ thông tin để ngăn chặn triệt để các thông tin xấu độc trên các trang mạng và vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại”. 

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực chính trị ở nước ta theo hướng đa chiều, đa diện với nhiều kênh khác nhau; kiểm soát trong Đảng thống nhất, đồng bộ với kiểm soát của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị; kiểm soát của cơ quan chuyên trách với cơ quan không chuyên trách; kiểm soát của cơ quan quyền lực kết hợp với kiểm soát của báo chí và dư luận xã hội. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tập thể kiểm soát quyền lực cá nhân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Ðẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh tiêu cực.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, sẽ góp phần thiết thực vào việc ngăn chặn, đẩy lùi sự tha hóa của cán bộ, đảng viên. Điều đó, hoàn toàn không phụ thuộc vào chế độ độc đảng hay đa đảng.