Đây
là giải pháp quan trọng nhằm xác lập cơ sở pháp lý, tạo sự thống nhất, tăng cường quản lý nhà nước đối với công
tác dân tộc và nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách đối với đồng bào
dân tộc thiểu số và miền núi.
Để thực hiện tốt giải pháp này cần thực hiện tốt các
biện pháp cụ thể sau:
Chính phủ cần chỉ đạo Ủy ban
Dân tộc chủ trì, phối hợp với các bộ ngành rà soát lại hệ thống chính sách dân
tộc đang được thực hiện, nhằm phát hiện và khắc phục sự chồng chéo, bất cập của
các chính sách theo từng lĩnh vực do các bộ, ngành quản lý từ đó có sự điều chỉnh,
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Với một số dân tộc thiểu số có
dân số ít và một số vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, ủy ban Dân tộc
tham mưu cho Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh,
góp phần bảo tồn, phát triển toàn diện các dân tộc thiếu số Việt Nam.
UBDT chủ trì,
phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu, xây
dựng, hoàn thiện dự án Luật Dân tộc trình Quốc hội ban hành trong nhiệm kỳ Quốc
hội Khóa 15.
Xây dựng và ban hành tiêu chí
phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xác định cụ thể địa
bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.
Thực hiện Nghị
quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị và Quyết định 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã
hội miền núi.
Ủy ban Dân tộc
đã phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương và địa phương xây dựng tiêu chí, tổ chức
phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi thành 3 khu vực, trong đó:
- Khu vực I: Là khu vực bước đầu phát triển.
- Khu vực II: Là khu vực tạm ổn định.
- Khu vực III: Là khu vực khó khăn.
Việc phân định
vùng dân tộc thiểu số và miền núi thành 3 khu vực theo trình độ phát triển đã
có tác động tích cực đến phát triển KT-XH của vùng. Đây là căn cứ pháp lý quan
trọng để các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện
các chính sách, như: Chương trình 135, Chương trình giảm nghèo; Chương trình
trung tâm cụm xã, chính sách trợ giá, trợ cước, chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở,
đất sản xuất, nước sinh hoạt, chính sách hỗ trợ cấp bảo hiểm y tế, chính sách
thu hút cán bộ đến công tác tại vùng đặc biệt khó khăn, chính sách hỗ trợ giáo
viên, học sinh, sinh viên….
Từ
năm 1996 đến nay, vùng dân tộc thiểu số đã có 4 lần tổ chức phân định thành 3
khu vực theo trình độ phát triển tương ứng với kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của từng giai đoạn, bao gồm các giai đoạn: 1996-2005, 2006-2010, 2011-2015
và 2016-2020.
Tuy nhiên, qua
hơn 25 năm triển khai thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập cả về hệ thống các tiêu
chí, tổ chức xác định xã thuộc 3 khu vực và cả trong hoạch định, xây dựng và áp
dụng các chính sách trên địa bàn. Cụ thể:
Tất cả các bộ tiêu chí từ trước đến nay không
đề cập đến tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số, do đó phân định xã vùng dân tộc thiểu số
và miền núi bao gồm cả các xã không có hoặc có rất ít đồng bào dân tộc thiểu số
sinh sống.
Thôn đặc biệt khó khăn là một trong các tiêu
chí xác định xã thuộc 3 khu vực là chưa phù hợp giữa xã quy mô lớn, có nhiều
thôn với xã quy mô nhỏ có ít thôn; dẫn đến tình trạng xã khu vực II có nhiều
thôn đặc biệt khó khăn hơn xã khu vực III, gây bất cập cho phân bổ nguồn lực đầu
tư, áp dụng các chính sách liên quan.
Do tâm lý của các địa phương muốn có nhiều
thôn, xã đặc biệt khó khăn để được đầu tư, thụ hưởng chính sách từ ngân sách
trung ương nên một số địa phương tổ chức phân định chưa phù hợp với tiêu chí và
điều kiện thực tế; để giảm bớt thủ tục hành chính, quy định hiện hành đã không
đề cập đến vai trò thẩm định của Ủy ban Dân tộc nên việc phân định chưa thật sự
công bằng, minh bạch giữa các địa phương, chưa thật sự tập trung nguồn lực cho
những nơi khó khăn nhất.
Đây cũng là một
trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả đầu tư,
Mặt khác, do
thay đổi về địa kinh tế - xã hội nên mỗi địa phương có cơ hội phát triển khác
nhau, như: Thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), Sa Pa (Lào Cai), Vùng Bảy Núi (Tri
Tôn-An Giang) hoặc các cửa khẩu xuất, nhập khẩu hàng hóa của Lào Cai, Hà Giang,
Lạng Sơn... tuy được công nhận là vùng cao, song đã trở thành các khu du lịch,
khu kinh tế phát triển.
Do vậy, việc xây dựng
và ban hành tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xác
định cụ thể địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn để tập trung đầu tư có trọng
tâm, trọng điểm, triển khai có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia và Đề
án tổng thể là một việc rất cần thiết.
Hiện nay, Ủy ban Dân tộc đang
trong quá trình xây dựng Đề án tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số
giai đoạn 2021-2025 để trình Chính phủ và Quốc hội.
Để đảm bảo quy định
tại Nghị định 05/2011/NĐ-CP “Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc
thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt
Nam”. Ủy ban Dân tộc đề xuất, các xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi tối
thiểu phải có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn mức bình quân chung của cả
nước (hiện nay là 14,7%). Việc xác định địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống lấy đơn vị hành chính cấp xã và thôn, bản là đơn vị cơ sở.
Như vậy: Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn các xã, thôn có tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số từ 15% số hộ trở lên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét