Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

Nắm vững và xử lý tốt quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong hội nhập quốc tế

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản, xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, là vấn đề có tính quy luật của sự tồn tại và phát triển đất nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ lớn này có ý nghĩa định hướng cho việc xử lý các mối quan hệ khác nhằm đưa đất nước trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Trong nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng, cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN(1). Quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là mối quan hệ cơ bản, lớn nhất và có tính chất bao trùm, xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Đây là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam phản ánh quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam là dựng nước phải đi đôi với giữa nước. Xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) là phát triển toàn diện, vững mạnh tất cả các yếu tố cấu thành hình thái kinh tế - xã hội XHCN về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để nước ta trở thành một nước XHCN phồn vinh, nhân dân có cuộc sống tự do, hạnh phúc, một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bảo vệ Tổ quốc XHCN là sử dụng tổng hợp các lực lượng và các biện pháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Bảo vệ Tổ quốc hiện nay được xác định một cách toàn diện là bảo vệ cả mặt tự nhiên – lịch sử và mặt chính trị - xã hội, là đảm bảo cả an ninh sinh tồn và an ninh phát triển của đất nước trong một chỉnh thể thống nhất. Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN là khách quan, tất yếu, thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề, điều kiện cho nhau, cùng hướng tới một mục tiêu chung là độc lập, tự do, hạnh phúc. Xây dựng và bảo vệ là hai yếu tố, hai mặt thống nhất của một quá trình phát triển. Bất kỳ ở đâu và lĩnh vực nào có hoạt động xây dựng thì ở đó đều có hoạt động bảo vệ và ngược lại, ở đâu và lĩnh vực nào có hoạt động bảo vệ, thì ở đó có hoạt động xây dựng. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được mới có đất nước để xây dựng; có giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định mới có điều kiện để xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước; bảo vệ được Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ nền văn hóa dân tộc mới có tiền đề, điều kiện để xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đồng thời, ngược lại, có xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao sức mạnh tổng hợp, thế và lực của đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân mới có nguồn lực để đầu tư củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước; tăng cường được sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc; tạo được sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế... Đây là những yếu tố có vai trò và ý nghĩa quyết định đối với việc bảo vệ Tổ quốc XHCN. Xây dựng là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Phát huy vai trò xây dựng để bảo vệ Tổ quốc, nêu cao trách nhiệm mọi lực lượng trong bảo vệ trong xây dựng đất nước; khắc phục tụt hậu về kinh tế là một trong những phương thức bảo vệ chế độ XHCN quan trọng nhất; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ và tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng là ngăn chặn, đẩy lùi, đi đến triệt tiêu những “nhân tố tự huỷ” ngay trong lòng chế độ là một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc có hiệu quả nhất để giữ bản chất chế độ XHCN. Xây dựng các yếu tố của CNXH, làm cho nó phát triển vững chắc, thể hiện rõ tính ưu việt và tiến bộ của CNXH, không để đất nước đi chệch định hướng XHCN chính là một mục tiêu quan trọng của bảo vệ Tổ quốc XHCN. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế trước hết và cơ bản là hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó. Đây là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh giải quyết những vấn đề chung mà các quốc gia, các lực lượng xã hội cùng quan tâm. Hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đã và đang phát triển sâu, rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức,bằng việc ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương thế hệ mới; xuất, nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của đất nước.Trong hội nhập quốc tế thì hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập các lĩnh vực khác tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Trải qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, tư duy lý luận, nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN đã phát triển toàn diện và sâu sắc hơn, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. XỬ LÝ TỐT MỐI QUAN HỆ GIỮA XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ Đất nước ta đang bước vào giai đoạn tiếp tục đổi mới cả về chiều rộng và chiều sâu mạnh mẽ hơn, toàn diện, triệt để hơn và hội nhập sâu rộng hơn, ở một tầm cao có tính bước ngoặt nhằm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và đang đặt ra những yêu cầu mới và đứng trước không ít khó khăn, thách thức cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh, đối ngoại. Để tiếp tục nhận thức và xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, cần phải nắm vững và thực hiện tốt các vấn đề chủ yếu sau đây: Một là, tiếp tục nhận thức và xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, giữa hợp tác và đấu tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Khi đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng thì mối quan hệ giữa đối tác – đối tượng càng trở nên đa dạng, phức tạp và có những hình thức thể hiện mới trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Cần có cách nhìn biện chứng về đối tác – đối tượng để xác định những hình thức thích hợp trong hợp tác và đấu tranh. Không được mơ hồ, mất cảnh giác để đất nước bị bất ngờ, thậm chí bị bất ngờ chiến lược, nhưng cũng không được cứng nhắc trong nhận thức, xử lý các tình huống để mất cơ hội phát triển kinh tế - xã hội. Đề phòng sự thỏa hiệp có hại cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong điều kiện các nước lớn có sự điều chỉnh chiến lược, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết. Không để đất nước "bị kẹt giữa hai làn đạn" và trở thành "chiến trường" để các nước lớn thực hiện các chiến lược, giải quyết mâu thuẫn. Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Thực hiện nền quốc phòng hòa bình, tự vệ theo nguyên tắc "bốn không": Không tham gia liên minh quân sự; không đi theo nước này chống nước khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước ta; không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực; tuỳ điều kiện để hợp tác quân sự với các nước. Hai là, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tăng cường quốc phòng và an ninh. Thực hiện kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng và an ninh trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của cả nước và trên từng địa phương, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng trong việc quy hoạch và phát triển các vùng kinh tế, các ngành công nghiệp, lấy hiệu quả kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh làm cơ sở cho những chủ trương cụ thể. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót đã từng xảy ra trong việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh tại một số địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng - an ninh. Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới. Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế, giữ định hướng XHCN. Ba là, kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tiếp tục hiện thực hóa tư duy mới của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Thực hiện tốt phương hướng, nhiệm vụ hoạt động đối ngoại trong tình hình mới. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của các cấu trúc khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Bốn là, kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho phù hợp với bối cảnh mới của hội nhập quốc tế. Để hiện thực hóa quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa xây và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong điều kiện hội nhập quốc tế, một trong những vấn đề đặt ra là thể chế hóa quan điểm của Đảng về mối quan hệ này thông qua hệ thống luật pháp, chính sách, chế tài phù hợp nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ này. Xây dựng cơ chế phù hợp để các ngành, các cấp, mọi tổ chức và lực lượng thực hiện có hiệu quả việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế. Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quân sự, chiến lược quốc phòng, chiến lược an ninh và các chiến lược chuyên ngành khác nhằm bảo vệ đất nước; giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các nước láng giềng, các nước lớn, bạn bè truyền thống, tạo thế và lực mới cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Xác định rõ một số tình huống quân sự, quốc phòng, đồng thời dự kiến các tình huống có thể xảy ra, phù hợp với thực tiễn, đủ cơ sở để xác định quyết tâm, chủ động phòng ngừa, không để bị động, bất ngờ về chiến lược và sẵn sàng đối phó thắng lợi trong mọi tình huống./.

 

PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG

     Sự chống phá chủ nghĩa xã hội (CNXH) của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” (DBHB) ở nửa cuối thế kỷ XX là trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ mô hình CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây. Sau sự kiện đó, chúng tiếp tục thực hiện chiến lược DBHB với âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thâm độc hơn nhằm xóa bỏ các nước XHCN còn lại và phong trào độc lập, dân chủ, tiến bộ trên thế giới. Trong đó, Việt Nam là một trọng điểm chống phá của chúng.

          Đối với Việt Nam, âm mưu nhất quán của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Để thực hiện âm mưu đó chúng đẩy mạnh chống phá trên tất cả các lĩnh vực với phương châm: lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá hàng đầu; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi nhọn; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền làm ngòi nổ; dùng ngoại giao để hỗ trợ hậu thuẫn; dùng quân sự để răn đe và có thể căn thiệp lật đổ. Trong chiến lược DBHB chúng thực hiện chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch luôn coi thực hiện DBHB trên lĩnh vực tư tưởng là một trọng tâm, hàng đầu, mũi nhọn.

          Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược DBHB mà trọng tâm là DBHB trên lĩnh vực tư tưởng nhằm cho nội bộ ta chuyển hóa, Đảng mất vai trò lãnh đạo đất nước, chệch hướng con đường CNXH. Đặc biệt, các tế lực thù địch tiếp tục chống phá và can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, kích động bạo loạn, lật đổ và đẩy mạnh hoạt động DBHB thúc đẩy “tự diễn biến” trong nội bộ ta.

          Từ nhận thức sâu sắc về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng ta xác định phương hướng và đưa ra các giải pháp phù hợp, lãnh đạo chống lại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đạt nhiều kết quả to lớn. Đảng coi trọng lãnh đạo đổi mới nội dung, phương pháp tiến hành công tác tư tưởng, lý luận, tuyên truyền trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm nâng cao cảnh giác cách mạng, làm thất bại âm mưu thủ đoạn DBHB của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng.

          Bên cạnh đó, vẫn còn một số cấp ủy, tổ chức đảng và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân chưa nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn DBHB trên lĩnh vực tư tưởng của các thế lực thù địch, dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác, bị động đối phó trước những tình huống cụ thể do kẻ địch gây ra. Trong điều kiện hiện nay cùng với tác động của DBHB trên lĩnh vực tư tưởng đã xuất hiện quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên khá phức tạp. Một số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ chủ chốt các cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân cơ hội, thực dụng. Đặc biệt nguy hiểm là quá trình chuyển hóa từ cơ hội, thực dụng về kinh tế sang cơ hội thực dụng về chính trị, từ tha hóa về đạo đức và lối sống sang tha hóa về tư tưởng.

          Hiện nay, nhiệm vụ chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng sẽ diễn ra rất quyết liệt và phức tạp hơn, đòi hỏi Đảng, các tổ chức đảng phải tăng cường lãnh đạo, kiên quyết, chủ động đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong DBHB trên lĩnh vực tư tưởng và khắc phục kịp thời hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng như trong hệ thống chính trị ở nước ta.

          Để tăng cường lãnh đạo chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng của các thế lực thù địch trong thời gian tới, trên cơ sở những quan điểm, mục tiêu, phương hướng cơ bản trên các lĩnh vực, Đảng lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành đồng bộ các giải pháp thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng trước hết thực hiện các giải pháp sau:

          Một là, tăng cường lãnh đạo nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng.

          Hai là, chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

          Ba là, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để thực hiện có hiệu quả phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng.

          Bốn là, lãnh đạo củng cố Nhà nước, mặt trận, đoàn thể vững mạnh, huy động các lực lượng trong xã hội tham gia phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng.

          Năm là, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác tư tưởng, lý luận và lực lượng chuyên trách phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng.

          Sáu là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống  vật chất và tinh thần của nhân dân, đầu tư thích đáng cơ sở vật chất, hiện đại hóa phương tiện kỹ thuật phục vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng.

          Bẩy là, tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra và thực hiện sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng./.

         

KẺ NGẠO MẠN

Trong trang cá nhân, nghệ sĩ Hồng Tú (?) đăng tin về bão lũ sắp đổ bộ và miền Trung, anh có những bình luận chỉ trích gay gắt cách làm của doanh nhân Phương Hằng và bênh vực các nghệ sĩ như Trấn Thành, Thủy Tiên, Đàm Vĩnh Hưng. Anh nói: "Lũ lụt năm nay để bà Hằng lo". 

Bạn bè của nghệ sĩ bình luận: "Rồi, mấy bạn nào bữa kêu "không cần nghệ sỹ từ thiện" đâu nhỉ?". Hồng Tú đáp lại ở dưới : "Thật ra nghệ sỹ không lo cũng ko sao, “từ từ” cũng có người giúp, chỉ ko lẹ như kiểu 4 ngày 9 tỷ được thôi". 

Nhiều bạn bè cũng ủng hộ nghệ sĩ Hồng Tú, bênh vực Trấn Thành, Thủy Tiên, "năm nay nếu có lũ miền Trung thì các nghệ sĩ sẽ sợ không giúp nữa, người dân miền Trung sẽ không được cứu trợ".

Đây là những manh nha kích động nhằm xóa bỏ công lao của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội mà nhiều năm qua đã cùng với toàn Đảng toàn dân thực hiện công tác phòng chống thiên tai, khắc phục hậu quả do tiên tai gây ra đối với đồng bào các tỉnh bị ảnh hưởng.

Một loại nghệ sĩ như thế có đáng được đứng trước lòng công chúng không.

CHÁY NHÀ MỚI RA MẶT CHUỘT!

Vụ việc người đàn ông tự xưng là giảng viên trường ĐH Thủ đô Hà Nội, vi phạm quy định chống dịch, có những lời lẽ thiếu chuẩn mực đã được dư luận lập tức quan tâm. Rất nhanh chóng, chưa cần cơ quan chức năng công bố, cũng chưa cần trường ĐH Thủ đô Hà Nội lên tiếng thì cư dân mạng đã điều tra ra được danh tính của vị vỗ ngực xưng là giảng viên này. 

Theo những gì cư dân mạng điều tra, vị giảng viên này quả thật là Lê Trường Thanh, dạy địa lý tại Khoa sư phạm, trường ĐH Thủ đô Hà Nội. Sau sự việc ngày hôm qua, dù chưa lên tiếng xác nhận nhưng trường ĐH này đã lặng lẽ gỡ ảnh, thông tin của vị giảng viên Thanh kia xuống, báo hiệu một kết quả rất tốt đẹp và đáng mong chờ cho dư luận. 

Không biết hôm qua có phải ngày tựu trường mà ông Lê Trường Thanh đi tựu với các thành viên NO-U hay không nhưng sau dăm ba xư dấm, chén thạc, chèn thù thì bản chất thực sự con người của ông Thanh đã được bộc lộ rõ sau cái mác là giảng viên. Chiếc áo NO-U đã giải thích cho những hành động lộng ngôn, sặc mùi phản động và đầy thách thức chính quyền của ông. Có ai đó thấy tiếc cho ông Thanh cho cư dân mạng lại vô cùng mừng rỡ vì trong lúc say sưa, ông Thanh đã thể hiện hết bản chất phản động trong con người mình, thể hiện mình không xứng với 2 tiếng nhà giáo. Ông Thanh đúng là xứng với thành viên của NO-U, tổ chức ngoại vi của Việt Tân, một tổ chức luôn có các hành động chống đối chính quyền. 

Đúng là cháy nhà mới ra mặt chuột!

Lao động từ miền Nam về quê tránh dịch, bộn bề trăn trở

 Nhiều người lao động rời thành phố ở phía Nam về quê tránh dịch với bộn bề trăn trở: Làm nông được mùa mất giá, nếu quay lại TPHCM, Bình Dương thì dịch Covid-19 còn đang bùng phát.

Rời phố về quê mưu sinh

Tháng 10/2020, chị Rơ Châm Pí (40 tuổi, trú tại huyện Ia Grai, Gia Lai) quyết định rời quê nhà Gia Lai vào Bình Dương để làm công nhân trong xưởng gỗ. 

"Có ai muốn xa chồng, xa con đi làm ăn xa đâu. Nhưng ở nhà làm vườn thì nông sản lúc được mùa lại mất giá và ngược lại. Đi làm công ăn lương thì ở quê ít việc làm lắm, tôi mới tính đường rời quê vào thành phố kiếm sống", chị Rơ Châm Pí tâm sự.

Mỗi tháng làm công nhân ở xưởng gỗ được trả lương khoảng 7 triệu đồng, chị Rơ Châm Pí chi tiêu chắt chiu cũng dành dụm được chút ít. Khoản tiết kiệm được, chị gửi về phụ chồng lo cho các con ở quê nhà và phòng khi ốm đau.

Lao động từ miền Nam về quê tránh dịch, bộn bề trăn trở - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Chị Rơ Châm Pí (bên trái) trở về làm cà phê, lúa sau những ngày kiếm sống ở TPHCM.

Khoảng 2 tháng sau, chồng của chị Pí là anh Rơ Châm Síu (42 tuổi) cũng khăn gói từ quê vô Bình Dương làm. Hai vợ chồng thuê một căn trọ nhỏ để tá túc mưu sinh. Anh Rơ Châm Síu làm công nhân cho một công ty sản xuất băng keo ở thị xã Thuận An (Bình Dương), cách chỗ làm của vợ hơn 30 km.

Một thời gian sau, con gái của anh chị là Rơ Châm Sơn (17 tuổi) đang nghỉ hè lớp 11 cũng vào miền Nam với bố mẹ. Nữ sinh dự định gác lại việc học để tập trung kiếm tiền.

Gia đình nhỏ của chị Chơ Râm Pí đang quen dần với công việc ở thành phố lớn thì dịch Covid-19 bùng phát ở các tỉnh phía Nam khoảng cuối tháng 6 đầu tháng 7 vừa qua. Dịch bệnh phức tạp, xưởng làm phải đóng cửa.

Không làm ra tiền mà phải "gánh" tiền thuê nhà trọ, chi phí sinh hoạt sẽ không kham nổi, chị Chơ Râm Pí lại tất tả đón xe về quê. Ít hôm sau, chồng chị và con gái cũng theo về quê nhà Gia Lai bằng xe máy.

Phải gần một tháng, cả nhà mới hoàn thành cách ly tập trung và tự cách ly tại nhà theo quy định đối với người trở về từ vùng dịch để phòng chống Covid-19.

"Cả nhà bây giờ chỉ sống nhờ vào mấy sào lúa. Trước mắt, 2 vợ chồng tính ở quê hẳn để làm ruộng và chăm lo cho cháu nhỏ. Còn con gái thì đợi hết dịch sẽ quay trở vào Nam làm việc. Tính tới tính lui mãi không biết cuộc sống lâu dài, cách nào mới ổn định", chị Chơ Râm Pí trăn trở.

Tiếc vì chưa kịp nhận lương

Cũng mất việc làm do tình hình dịch bệnh phức tạp ở phía Nam, chị Nguyễn Thị Hải Hà (36 tuổi, trú tại huyện Ia Grai, Gia Lai) dẫn 2 con nhỏ từ TPHCM trở về quê nhà. 

Chị mới vào TPHCM được vài tháng và kiếm được việc làm ở một công ty chuyên sản xuất, lắp ráp điện tử, máy móc. Mỗi ngày làm công trung bình 10 giờ đồng hồ. Mỗi tháng, chị được trả lương 6-7 triệu đồng.

Lao động từ miền Nam về quê tránh dịch, bộn bề trăn trở - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Vào những ngày hè, 3 mẹ con chị Nguyễn Thị Hải Hà cùng ra TPHCM để tìm kiếm việc làm. Nhưng mới làm được hơn tháng, chưa lấy được tiền lương chị đã vội bắt xe quay về vì ảnh hưởng dịch.

Thế nhưng tình hình dịch bệnh phức tạp, chỗ làm tạm dừng hoạt động. Tháng 7 vừa qua, chị Nguyễn Thị Hải Hà vội về quê khi chưa kịp nhận lương. "Tiền mồ hôi, công sức của mình đó nên tiếc nuối lắm", chị nói.

Tương tự, Siu H' Jú (18 tuổi, trú tại xã Ia huyện Phú Thiện, Gia Lai) cũng rời quê nhà vào miền Nam để tìm kiếm hy vọng sẽ thay đổi được cuộc sống.

Siu H' Jú nghỉ học sớm để đi làm phụ giúp gia đình. Hồi tháng 3 vừa qua, em rời Gia Lai vào Bình Dương để kiếm việc làm. Sau nhiều gian nan, em cũng tìm được công việc trong một công ty may, với tiền lương hơn 7 triệu đồng/tháng. 

"Cầm tiền lương hàng tháng, em chi tiêu dè dặt nhất có thể. Phần còn lại gửi về gia đình ở quê nhà", Siu H' Jú kể.

Thế nhưng, mới đi làm được vài tháng, dịch bệnh Covid-19 bùng phát, Siu H' Jú phải nghỉ làm để phòng tránh dịch bệnh.

Lao động từ miền Nam về quê tránh dịch, bộn bề trăn trở - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Siu H' Jú mong muốn dịch được khống chế để em có thể trở lại đi làm ở TP HCM.

Nghỉ việc ở nhà, Siu H' Jú cầm cự ở chỗ trọ thêm 2 tuần thì hết tiền mua đồ ăn hàng ngày, tiền lương thì chưa có. Em và các bạn ở cùng chỗ trọ toàn ăn mì gói rồi cũng chờ được đến khi có lương liền gói ghém về quê.

Về quê, Siu H' Jú lại ngày ngày cùng mẹ đi làm rẫy. Nhà em có hơn 4 sào mì, 3 sào lúa. Với mảnh vườn này, gia đình em không đủ tiền để lo cho cả gia đình và trả nợ.

Tuy được về quê tránh dịch bệnh an toàn, song trên gương mặt của Siu H' Jú vẫn đầy nỗi lo toan và tiếc nuối khi đang có công việc ổn định để nuôi gia đình lại bị gác lại và không biết khi nào mới được đi làm lại.

Người lao động ngừng việc nhận hỗ trợ ra sao?

 Bà Phương Dung (Hải Dương) hỏi: Trong tháng 8, tôi phải ngừng việc và cách ly ở nhà vì hàng xóm bị F0. Vậy trong Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, chế độ hỗ trợ lao động ngừng việc được quy định ra sao?

Người lao động ngừng việc nhận hỗ trợ ra sao? - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Hỗ trợ đối tượng khó khăn do dịch Covid-19 (Ảnh: Thu Quỳnh)

Liên quan tới vấn đề trên, Quyết định 23/2021/QĐ-TTg đã nêu rõ:

Các điều kiện để người lao động bị ngừng việc được hỗ trợ 

Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tháng trước liền kề tháng người lao động ngừng việc theo khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động.

Làm việc theo chế độ hợp đồng lao động bị ngừng việc theo khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động.

Thuộc đối tượng phải cách ly y tế hoặc trong các khu vực bị phong tỏa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thời gian cách ly y tế từ 14 ngày trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/ 2021.

Về mức hỗ trợ và phương thức chi trả

Quyết định 23/2021/QĐ-TTg đã nêu rõ, mức hỗ trợ: 1.000.000 đồng/người.

Trường hợp người lao động đang mang thai được hỗ trợ thêm 1.000.000 đồng/người; người lao động đang nuôi con đẻ hoặc con nuôi hoặc chăm sóc thay thế trẻ em chưa đủ 6 tuổi được hỗ trợ thêm 1.000.000 đồng/trẻ em chưa đủ 6 tuổi và chỉ hỗ trợ cho 01 người là mẹ hoặc cha hoặc người chăm sóc thay thế trẻ em.

Việc chi trả sẽ được thực hiện một lần cho người lao động.

Hồ sơ đề nghị

Người lao động chuẩn bị bản sao văn bản yêu cầu cách ly của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021.

Danh sách người lao động có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội theo Mẫu số 6 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.

Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu một trong các giấy tờ sau: Giấy tờ chứng minh người lao động đang mang thai; Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của trẻ em; Giấy chứng nhận nuôi con nuôi; Quyết định giao, nhận chăm sóc thay thế trẻ em của cơ quan có thẩm quyền đối với đối tượng…

Về trình tự, thủ tục thực hiện

Theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, người sử dụng lao động đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội. Trong 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận việc tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động.

Người sử dụng lao động gửi hồ sơ theo quy định tại Điều 19 Quyết định này đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đặt trụ sở chính. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ chậm nhất đến hết ngày 31/10/2022.

Trong 2 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp huyện thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Trong 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt Danh sách và kinh phí hỗ trợ; đồng thời chỉ đạo thực hiện chi trả hỗ trợ. Trường hợp không phê duyệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trong 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kinh phí hỗ trợ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, người sử dụng lao động thực hiện chi trả cho người lao động.

Phan Minh

Sự khích lệ để hộ kinh doanh vực dậy sau khó khăn do Covid-19

 Chính sách từ Nghị quyết 68 không chỉ hỗ trợ về tiền giữa lúc các cơ sở kinh doanh đang "ngụp lặn" trong khó khăn do đại dịch Covid-19, mà còn tạo sự khích lệ để vượt khó.

Nguồn động lực từ Nghị quyết 68

Dịch Covid-19 kéo dài thời gian qua đã khiến nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ tại Quảng Bình lao đao, thậm chí có nguy cơ phải đóng cửa lâu dài. Trong đó có các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, sân thể thao…

Là một cơ sở karaoke đã hoạt động ổn định và hút khách tại thị trấn Kiến Giang, huyện Lệ Thủy 15 năm qua. Thế nhưng vì Covid-19, gần 2 năm nay, cơ sở karaoke Chiến Thương đang rơi vào tình cảnh điêu đứng vì không thể hoạt động.

Sự khích lệ để hộ kinh doanh vực dậy sau khó khăn do Covid-19 - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Cơ sở karaoke Chiến Thương tại huyện Lệ Thủy đã phải đóng cửa vì dịch Covid-19 suốt thời gian dài.

Cơ sở phải đóng cửa để phòng, chống dịch Covid-19 theo quy định không chỉ khiến chủ lao đao. Hàng chục lao động từng làm việc tại quán karaoke này cũng mất luôn công việc từng mang lại thu nhập cho họ mỗi tháng trên 5 triệu đồng.

Giữa những khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra, anh Nguyễn Chiến, chủ cơ sở karaoke Chiến Thương vui mừng khi nhận thông báo được hỗ trợ theo Nghị quyết 68 của Chính phủ (NQ 68). Đây là một trong 28 cơ sở kinh doanh đầu tiên tại huyện Lệ Thủy đã được nhận hỗ trợ theo NQ 68 với số tiền 3 triệu đồng.

Theo anh Nguyễn Chiến, NQ 68 mang lại cho anh và các hộ kinh doanh không chỉ là sự hỗ trợ về vật chất mà còn là nguồn động viên lớn trong thời điểm dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp. Giúp anh thêm vững tin dịch bệnh sẽ được kiểm soát để khôi phục kinh doanh trở lại.

"Thực sự rất vui trước sự quan tâm, chia sẻ kịp thời của Chính phủ đối với các hộ kinh doanh như chúng tôi. Đây là nguồn động lực, niềm tin để chúng tôi khôi phục kinh doanh khi dịch đi qua", anh Nguyễn Chiến tâm sự.

Sự khích lệ để hộ kinh doanh vực dậy sau khó khăn do Covid-19 - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Anh Nguyễn Chiến được cán bộ Phòng LĐ-TB&XH huyện Lệ Thủy hướng dẫn làm thủ tục nhận chi trả hỗ trợ theo NQ 68.

Cũng như anh Nguyễn Chiến, cơ sở dịch vụ thể thao của gia đình chị Hoàng Thị Vân cũng là một trong những hộ kinh doanh đầu tiên tại Quảng Bình đã được nhận hỗ trợ theo NQ 68.

Theo chị Hoàng Thị Vân, trước đó chị đầu tư gần 1 tỷ đồng để mở  sân bóng đá nhân tạo phục vụ người chơi trên địa bàn và thu hút khá đông khách. Tuy nhiên chỉ mới hoạt động được một thời gian thì phải tạm dừng vì dịch và chưa kịp hoàn vốn. Khi được nhận tiền hỗ trợ theo chính sách từ NQ 68, bản thân chị Hoàng Thị Vân rất vui mừng.

"Đúng là "một miếng khi đói bằng một gói khi no", giữa lúc khó khăn vì dịch này, sự hỗ trợ 3 triệu đồng thực sự đáng quý, tôi rất vui và cảm ơn sự quan tâm kịp thời của Chính phủ. Tôi cũng đã hướng dẫn cho một số hộ kinh doanh làm thủ tục để sớm được nhận hỗ trợ. Với chúng tôi, giờ chỉ mong dịch sớm được đẩy lùi để mở cửa trở lại", chị Hoàng Thị Vân chia sẻ.

Bên cạnh sự hỗ trợ nói trên, các hộ kinh doanh, dịch vụ tại Quảng Bình cũng bày tỏ mong muốn khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát, họ sẽ được các ban, ngành xem xét, tạo điều kiện để vay vốn phục hồi kinh doanh.

Linh hoạt để rà soát, chi trả hỗ trợ kịp thời 

Quảng Bình hiện đang trong thời điểm dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, hàng chục ca mắc Covid-19 mới mỗi ngày. Nhiều địa phương đã phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ.

Trước tình hình đó, Phòng LĐ-TB&XH các địa phương tại Quảng Bình đã khắc phục khó khăn, linh hoạt trong công tác rà soát cũng như chi trả. Từ đó các doanh nghiệp, người lao động chịu ảnh hưởng bởi Covid-19 sớm được hỗ trợ theo NQ 68, trong đó có các cơ sở kinh doanh dịch vụ.

Tại thành phố Đồng Hới, nơi có số lượng lao động cũng như cơ sở kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi Covid-19 nhiều nhất tỉnh Quảng Bình. Phòng LĐ-TB&XH địa phương này cũng đang khẩn trương rà soát, tư vấn, hướng dẫn để chủ các cơ sở kinh doanh kịp thời làm hồ sơ để tổng hợp, gửi UBND tỉnh phê duyệt.

Sự khích lệ để hộ kinh doanh vực dậy sau khó khăn do Covid-19 - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Đến nay, Quảng Bình đã có 109 hộ kinh doanh, dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 đã được chi trả hỗ trợ theo NQ 68.

Trao đổi với PV Dân trí, bà Hà Thị Ngân, Phó Phòng LĐ-TB&XH thành phố Đồng Hới thông tin, 8 cơ sở kinh doanh tại địa phương đã được chi trả hỗ trợ. Phòng cũng đang tiến hành làm thủ tục cho khoảng 24 đơn vị kinh doanh khác.

"Chúng tôi hiểu rõ những khó khăn của các đơn vị kinh doanh, người lao động, do vậy công tác rà soát, tổng hợp đều được triển khai khẩn trương. Số điện thoại cán bộ Phòng lao động cũng được thông báo để các doanh nghiệp, người lao động có thể gọi điện để được giải đáp thắc mắc về gói hỗ trợ theo NQ 68", bà Hà Thị Ngân cho biết.

Bão Conson vào Biển Đông, trở thành cơn bão số 5

 Đêm qua (8/9), sau khi vượt qua Philippines, bão Conson đã đi vào Biển Đông và trở thành cơn bão số 5 năm 2021 trên Biển Đông.

Bão Conson vào Biển Đông, trở thành cơn bão số 5 - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Vị trí và hướng di chuyển của bão số 5. (Ảnh: NCHMF).

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, hồi 4h ngày 9/9, vị trí tâm bão ở khoảng 15,7 độ Vĩ Bắc; 118,8 độ Kinh Đông, cách Quần đảo Hoàng Sa khoảng 780 km về phía Đông Đông Nam. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 9 (75-90 km/giờ), giật cấp 11. Bán kính gió mạnh từ cấp 6, giật từ cấp 8 trở lên khoảng 120 km tính từ tâm bão.

Dự báo trong 24 giờ tới, bão di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, mỗi giờ đi được 15-20 km và có khả năng mạnh thêm. Đến 4h ngày 10/9, vị trí tâm bão ở khoảng 16,5 độ Vĩ Bắc; 115,0 độ Kinh Đông, cách Quần đảo Hoàng Sa khoảng 350 km về phía Đông. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 10 (90-100 km/giờ), giật cấp 12.

Vùng nguy hiểm trên Biển Đông trong 24 giờ tới (gió mạnh từ cấp 6, giật từ cấp 8 trở lên): từ vĩ tuyến 14,0 đến 18,0 độ Vĩ Bắc; phía Đông kinh tuyến 113,5 độ Kinh Đông. Toàn bộ tàu thuyền hoạt động trong vùng nguy hiểm đều có nguy cơ cao chịu tác động của gió mạnh, sóng lớn và lốc xoáy.

Trong 24 đến 48 giờ tiếp theo, bão di chuyển chủ yếu theo hướng Tây, mỗi giờ đi được 10-15  km và có khả năng mạnh thêm. Đến 4h ngày 11/9, vị trí tâm bão ở khoảng 16,4 độ Vĩ Bắc; 112,3 độ Kinh Đông, ngay trên khu vực Quần đảo Hoàng Sa. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 11 (100-120 km/giờ), giật cấp 13.

Trong 48 đến 72 giờ tiếp theo, bão di chuyển chủ yếu theo hướng Tây, mỗi giờ đi được 5-10 km. Đến 4h ngày 12/9, vị trí tâm bão ở khoảng 16,6 độ Vĩ Bắc; 110,5 độ Kinh Đông, cách Quần đảo Hoàng Sa khoảng 150 km về phía Tây. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 11 (100-120 km/giờ), giật cấp 13.

Trong 72 đến 120 giờ tiếp theo, bão di chuyển theo hướng Tây Bắc, mỗi giờ đi được 5-10 km.

Cảnh báo gió mạnh và sóng lớn trên biển: Ở vùng biển phía Đông khu vực Bắc và Giữa Biển Đông có xoáy cấp 7-8, vùng gần tâm bão đi qua cấp 9, sau tăng lên 10, giật cấp 12; sóng biển cao từ 4,0-6,0 m; biển động dữ dội.

Cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai trên vùng biển phía Đông khu vực Bắc và Giữa Biển đông: cấp 3.


Phú Thọ mở cửa hàng quán, nhiều tỉnh khác nới lỏng phòng dịch

 Phú Thọ cho phép các nhà hàng, quán ăn, uống được phục vụ tại chỗ trở lại. Ninh Bình, Hòa Bình đang từng bước nới lỏng các biện pháp phòng dịch, khi tình hình đang dần được kiểm soát.

Phú Thọ cho phép hàng quán ăn uống hoạt động trở lại

Ông Bùi Văn Quang - Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ vừa ký văn bản về thực hiện nới lỏng đối với một số hoạt động, loại hình kinh doanh dịch vụ khi dịch bệnh được kiểm soát.

Theo đó, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay cơ bản được kiểm soát, toàn tỉnh đã trải qua 14 ngày không ghi nhận ca nhiễm Covid-19 thứ phát trong cộng đồng. Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị bám sát tình hình diễn biến thực tế của dịch bệnh, từng bước nới lỏng các biện pháp hạn chế.

Phú Thọ mở cửa hàng quán, nhiều tỉnh khác nới lỏng phòng dịch - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Từ 0h ngày 10/9, nhà hàng, quán ăn, uống ở tỉnh Phú Thọ được phục vụ tại chỗ.

Cụ thể, tiếp tục tạm dừng hoạt động đối với: Các cơ sở kinh doanh dịch vụ không thiết yếu gồm karaoke, mát-xa, xông hơi, quán internet, trò chơi điện tử, bi-a, vũ trường, quán bar, bể bơi; các hoạt động văn hóa, lễ hội, nghệ thuật, nghi lễ tôn giáo.

Các hoạt động thể dục - thể thao tại các địa điểm công cộng; các câu lạc bộ gym, yoga, dịch vụ spa chăm sóc sắc đẹp được phép hoạt động trở lại, nhưng phải thực hiện nghiêm quy định 5K và không quá 20 người/địa điểm.

Cho phép các nhà hàng, quán ăn, uống được phục vụ tại chỗ trở lại. Tuy nhiên, phải đảm bảo bố trí giãn cách chỗ ngồi, phục vụ tối đa không quá 50% công suất tại cùng một thời điểm và không quá 20 người/1 phòng kín.

Thời gian thực hiện kể từ 0h ngày 10/9.

Ninh Bình dừng cách ly toàn xã hội huyện Kim Sơn

Quyết định 715/QĐ-UBND của UBND tỉnh Ninh Bình về việc kết thúc cách ly xã hội đối với huyện Kim Sơn, do ông Phạm Quang Ngọc - Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình ký nêu rõ:

Kết thúc cách ly y tế (phong tỏa) theo Quyết định 3986/QĐ ngày 16/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế; Kết thúc cách ly toàn xã hội theo Chỉ thị 16, Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ đối với toàn bộ huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình bắt đầu từ 0h ngày 9/9.

Phú Thọ mở cửa hàng quán, nhiều tỉnh khác nới lỏng phòng dịch - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Huyện Kim Sơn sẽ kết thúc cách ly toàn xã hội từ 0h ngày 9/9.

Giao UBND huyện Kim Sơn chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo quy định hiện hành.

Trước đó, ngày 26/8, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình ban hành quyết định về việc thực hiện cách ly vùng có dịch để phòng chống dịch Covid-19, thực hiện trong 14 ngày, bắt đầu từ 0h ngày 27/8 đến 0h ngày 9/9.

Ngày 25/8, huyện Kim Sơn ghi nhận ca bệnh Covid-19 ngoài cộng đồng, chưa rõ nguồn lây. Bệnh nhân được phát hiện do lấy mẫu sàng lọc theo kế hoạch sàng lọc đối với những trường hợp nguy cơ cao. Hiện ca bệnh đang được cách ly, điều trị theo phác đồ của Bộ Y tế.

Hòa Bình dừng giãn cách xã hội huyện giáp ranh với Hà Nội

UBND tỉnh Hòa Bình vừa ban hành công điện về việc dừng thực hiện giãn cách xã hội trên địa bàn huyện Lương Sơn, kể từ 12h ngày 9/9.

Công điện nêu rõ, sau khi dừng giãn cách xã hội, huyện Lương Sơn sẽ vẫn tiếp tục áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 chia theo 2 vùng trên địa bàn huyện trong thời gian 15 ngày (từ 12h ngày 9/9 đến 12h ngày 24/9).

Phú Thọ mở cửa hàng quán, nhiều tỉnh khác nới lỏng phòng dịch - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Lực lượng chức năng kiểm soát người và phương tiện ra vào huyện Lương Sơn để phòng chống dịch Covid-19.

Cụ thể, vùng 1: Thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ và áp dụng một số biện pháp ở mức cao hơn Chỉ thị 15 đối với các thôn, xóm, khu dân cư trên địa bàn 7 xã (Hòa Sơn, Nhuận Trạch, Cư Yên, Liên Sơn, Cao Dương, Thanh Cao và Thanh Sơn) có các khu dân cư, cánh đồng, khu sản xuất, kinh doanh giáp ranh với các xã, huyện thuộc TP Hà Nội.

Tiếp tục duy trì quản lý, siết chặt vành đai ranh giới huyện Lương Sơn với các địa phương giáp ranh thuộc TP Hà Nội; quản lý chặt chẽ người ra, vào theo các lớp: chốt kiểm soát của tỉnh, huyện, xã… Tiếp tục thực hiện quy định giờ giới nghiêm từ 22h ngày hôm trước đến 5h sáng ngày hôm sau...

Các công trình xây dựng cơ bản, công trình dân dụng được phép hoạt động; các cửa hàng kinh doanh ăn uống khu vực đường Hồ Chí Minh được tiếp tục hoạt động, nhưng chỉ được bán hàng mang về, không được tổ chức cho 3 khách ăn uống tại chỗ; đồng thời, phải bảo đảm thực hiện nghiêm các yêu cầu về phòng, chống dịch Covid-19 trong tổ chức bán hàng.

Phú Thọ mở cửa hàng quán, nhiều tỉnh khác nới lỏng phòng dịch - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Cửa ngõ ra vào huyện Lương Sơn giáp ranh với Hà Nội được kiểm soát chặt chẽ, phòng chống dịch Covid-19.

Vùng 2: Thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ và áp dụng linh hoạt một số biện pháp phòng, chống dịch đối với các thôn, xóm, tiểu khu còn lại thuộc 11 xã, thị trấn không giáp ranh với các địa phương thuộc TP Hà Nội.

Đối với các phương tiện vận tải hàng hóa, các mặt hàng thiết yếu, yêu cầu đăng ký tại các xã, thị trấn, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch các xã, thị trấn tổng hợp đề xuất UBND huyện cấp giấy được hoạt động, đi lại trên địa bàn.

Thực hiện hướng dẫn và phân cấp UBND các xã, thị trấn thực hiện việc kiểm soát các hoạt động đi lại của các phương tiện, người lao động, cấp phép cho người dân ra khỏi địa bàn.

Một sự đánh đồng có chủ đích

Một sự kiện thu hút dư luận trên thế giới trong hơn một tuần qua là Taliban trở lại nắm quyền ở Afghanistan. Lợi dụng sự kiện này một số trang báo tiếng Việt ở hải ngoại và tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân vốn lâu nay thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam đăng phát nhiều bài viết so sánh, đánh đồng sự kiện ở Afghanistan với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân Cần phải khẳng định rõ rằng cuộc xung đột ở Afghanistan và cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam khác nhau hoàn toàn về bản chất. Nhìn lại từng sự kiện chúng ta sẽ thấy những luận điệu đánh đồng hai sự kiện này là hết sức sai trái. CUỘC XUNG ĐỘT VŨ TRANG Ở AFGHANISTAN Chúng ta đã biết, năm 1994, Taliban được thành lập bởi nhân vật mang tên là Mullah Mohammad Omar - thành viên một bộ lạc Pashtun. Mullah Mohammad cũng là một chỉ huy phiến quân Mujahideen chống lại chiến dịch quân sự của Liên Xô ở Afghanistan trong thập niên 1980. Lực lượng của Taliban phần lớn là người Pashtun, dân tộc đông dân nhất Afghanistan. Ban đầu Taliban chỉ có khoảng 50 tay súng với tham vọng thiết lập lại trật tự dựa trên sự nghiêm khắc của Hồi giáo nguyên thủy. Trong bối cảnh các nhóm quyền lực chỉ tập trung bắn giết, nhờ lời hứa mang lại ổn định và công bằng thông qua luật Sharia, Taliban nhanh chóng phát triển lực lượng, mở rộng tầm ảnh hưởng ra toàn vùng Tây Nam Afghanistan. Năm 1996, Taliban tiến vào Kabul, lật đổ chế độ của Tổng thống Burhanuddin Rabbani, buộc Rabbani phải ra nước ngoài sống lưu vong. Mặt trái đáng nói nhất, từng bị thế giới lên án của Taliban đó chính là sự tàn khốc và hà khắc. Sẽ chẳng có gì cần bàn thêm nếu như không có chuyện ngày 11/9/2001, tại New York và Washington (Mỹ) xảy ra hàng loạt các vụ tấn công, khiến gần 3.000 người thiệt mạng. Các quan chức Mỹ xác định nhóm tay súng Hồi giáo cực đoan al-Qaead với thủ lĩnh là Osama Bin Laden chịu trách nhiệm về các vụ tấn công này. Khi đó Osama Bin Laden đang ở tại Afghanistan dưới sự bảo hộ của Taliban. Mỹ yêu cầu giao nộp Osama Bin Laden nhưng phía Taliban từ chối. Đây chính là nguồn cơn dẫn đến việc liên quân Mỹ và đồng minh can thiệp quân sự lật đổ Mullah Omar, hạ bệ Taliban vào năm 2001. Sau sự kiện này nhiều thủ lĩnh Taliban chạy sang Pakistan, đồng thời tái hợp tổ chức lại lực lương và liên tiếp mở những chiến dịch quân sự trên khắp lãnh thổ Afghanistan để giành lại quyền lực. Cuộc xung đột tàn khốc kéo dài 20 năm (2001-2021) đã giết chết hàng chục nghìn người và khiến hàng triệu người phải ly tán. Sau khi Mỹ đạt thỏa thuận với các tay súng Taliban, các lực lượng nước ngoài từng bước rút khỏi Afghanistan và chính phủ tại Kabul bị lật đổ. Taliban trở lại nắm quyền trong bối cảnh đất nước hỗn loạn. Mặc dù chính phủ Kabul bị lật đổ nhưng việc thành lập một chính phủ mới đang gặp rất nhiều khó khăn. Các phe nhóm, đặc biệt là nhóm Hồi giáo cực đoan Al-Qaeadđều muốn có chân trong chính phủ. Trong khi đó, Taliban thì không đủ thế và lực để cầm chịch tình hình. Nguy cơ Afghanistan rơi vào một cuộc nội chiến là rất cao... Trong suốt những ngày qua, hàng chục ngàn người Afghanistan vẫn đang tìm cách chạy khỏi đất nước, khiến cho thảm kịch này vốn đã hỗn loạn càng thêm trầm trọng hơn. Nhiều vụ đánh bom liều chết đã xảy ra, đặc biệt là vụ “tấn công liều chết” vào ngày 26/8 tại sân bay Kabul làm hơn 170 dân thường và 13 binh lính Mỹ thiệt mạng, hàng trăm người khác bị thương... Có thể nói phía trước Afghanistan đang là một tương lai bất định. Xét trên mọi phương diện thì không thể gọi đây là chiến thắng của Taliban. CUỘC ĐẤU TRANH CHÍNH NGHĨA CHỐNG XÂM LƯỢC Khác hẳn về bản chất, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh chính nghĩa chống xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Như chúng ta đều biết, ngay sau thảm bại ở Điện Biên Phủ (7/5/1954), thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954) rút quân khỏi Đông Dương. Nhưng với chiêu bài “lấp chỗ trống”, đế quốc Mỹ nhảy vào thế chân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam. Đất nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc. Để thực hiện mưu đồ chiếm đóng lâu dài, đế quốc Mỹ dựng lên chính quyền tay sai, ra sức phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam hết sức dã man, tàn bạo. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, trải qua gần 20 năm liên tục chiến đấu anh dũng, kiên cường quân và dân ta từng bước đánh bại các kiểu chiến tranh của đế quốc Mỹ. Đặc biệt sau khi cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố trên miền Bắc bị thất bại bởi trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Pa-ri (27/1/1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân viễn chinh về nước. Đây là thắng lợi rất cơ bản, mở ra cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam những thời cơ và thuận lợi lớn. Thế nhưng trong khi chúng ta nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định Pa-ri thì với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, mặc dù rút quân về nước, nhưng đế quốc Mỹ vẫn cài cắm cố vấn, lập ra bộ chỉ huy quân sự trá hình, tiếp tục viện trợ cho chính quyền, quân đội Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp định, hòng vớt vát chút thể diện, kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trắng trợn phá hoại Hiệp định Pa-ri, hành động ấy của đế quốc Mỹ buộc quân và dân ta phải tiếp tục đấu tranh để giành thắng lợi hoàn toàn. Cuối năm 1974, cục diện chiến tranh chuyển biến mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho quân và dân ta. Đáp ứng yêu cầu cấp bách của cách mạng, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đã hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng, toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta; tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam. Thực hiện quyết tâm Bộ Chính trị đề ra, cả dân tộc Việt Nam bừng bừng khí thế ra trận trong mùa xuân lịch sử. Sức mạnh chiến đấu từ hơn 20 năm được dồn lại, dâng cao cho thời khắc quyết định này. Khi công tác chuẩn bị mọi mặt hoàn tất, ngày 4/3/1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta bắt đầu. Bằng ba đòn tiến công chiến lược lớn: Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh, với thế tiến công thần tốc, trưa 30/4/1975, quân ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm, với vô vàn gian nan, thử thách, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Ngay trong quá trình đấu tranh, nhất là khi xác định quyết tâm giải phóng miền Nam, Đảng ta đã bàn tính làm sao để đỡ thiệt hại về người và tài sản của nhân dân, bảo vệ tốt nhất các cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm thiểu sự tàn phá của chiến tranh, đồng thời đề ra chủ trương sớm ổn định tình hình, thống nhất đất nước về mọi mặt. Chính nhờ có sự chủ động chuẩn bị chu đáo nên ngay sau khi giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã bắt tay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Chiến thắng 30/4 là thắng lợi của cách mạng Việt Nam đánh đuổi đế quốc Mỹ xây lược và bè lũ tay sai, giành lại hòa bình, độc lập, thống nhất cho Tổ quốc. Cùng với sức mạnh nội lực, một nhân tố không kém phần quan trọng làm nên chiến thắng đó là sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Đây là một trong những chiến công tiêu biểu nhất, huy hoàng nhất trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi này mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc khẳng định tầm vóc thời đại và ý nghĩa chính trị to lớn. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ thể hiện ý chí độc lập, tự do, khát vọng hòa bình của đất nước và con người Việt Nam mà còn là khát vọng của các dân tộc bị áp bức, bóc lột và nhân dân yêu chuộng hòa bình; góp phần không nhỏ cổ vũ, khích lệ phong trào đấu tranh chống đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Cần phải chỉ rõ rằng, dù thể hiện dưới bất cứ hình thức nào thì cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ vẫn là một cuộc chiến tranh phi nghĩa. Chính vì tính chất phi nghĩa mà cuộc chiến tranh ấy bị dư luận quốc tế, kể cả dư luận Mỹ phản đối mạnh mẽ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh chính nghĩa. Đó là điều mà không một tổ chức, cá nhân nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được. Cũng chính bởi tính chất chính nghĩa mà cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam nhận được sự ủng hộ to lớn của dư luận và bạn bè quốc tế. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Mặt khác, Việt Nam là nước có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực Đông Nam Á. Đế quốc Mỹ hiểu quá rõ về điều này. Vì thế đưa quân xâm lược miền Nam Việt Nam, Mỹ mưu toan biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự phục vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách mạng của họ. Do đó không chỉ dừng lại ở tính chất chống xâm lược giải phóng dân tộc, giành lại hòa bình, độc lập, thống nhất giang sơn mà cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam còn mang tính chất thời đại sâu sắc. SỰ ĐÁNH ĐỒNG CÓ CHỦ ĐÍCH Như vậy, rõ ràng không thể đánh đồng một sự kiện lịch sử hào hùng, thiêng liêng của dân tộc Việt Nam với một cuộc xung đột quân sự - một trang sử đau buồn của nhân dân Afghanistan. Chúng ta có thể thông cảm với những ai đó “cưỡi ngựa xem hoa”, đứng ngoài sự kiện mà có những giọng điệu võ đoán, hồ đồ. Nhưng chúng ta không thể để cho bất cứ kẻ nào lợi dụng sự kiện trên để bóp méo, xuyên tạc, kích động hận thù chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng ta chẳng lạ gì những ẩn khuất đằng sau các luận điệu, chiêu trò của một số tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam. Đánh đồng hai sự kiện nói trên họ không nhằm mục tiêu gì khác là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; hạ bệ giá trị, ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; kích động người dân “đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi” và sâu xa hơn là lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chiến thắng 30/4 là Ngày hội lớn của non sông, đất nước; là ngày Quốc lễ của Việt Nam. Hơn 45 năm qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam chủ trương khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Thế nhưng, đi ngược với thiện chí ấy những kẻ tay sai bán nước trước kia đã bu bám theo quan thầy tháo chạy ra nước ngoài sống chui rúc, lưu vong vẫn nuôi trong lòng tư tưởng thù hận. Chúng ra sức cấu kết với nhau thành hội này, nhóm nọ hòng mưu toan dựng lại cái thây ma chế độ tay sai đã chết mục từ lâu. Thông qua một số trang báo tiếng Việt và tự lập ra những trang mạng xã hội ở hải ngoại, hằng năm cứ mỗi dịp Việt Nam kỷ niệm Chiến thắng 30/4 là chúng lại lu loa, kêu gào xuyên tạc sự thật, phủ nhận giá trị, ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng 30/4. Chúng gọi tháng 4 là “Tháng tư đen”, ngày 30/4 là “Ngày quốc hận”... nhằm khoét vào nỗi đau quá khứ, kích động lòng hận thù, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân Việt Nam. Cũng từ động cơ và mục đích đen tối đó đã dẫn họ tới việc đánh đồng một sự kiện lịch sử hào hùng, thiêng liêng và có ý nghĩa thời đại sâu sắc của dân tộc Việt Nam với một cuộc xung đột quân sự - một trang sử đau buồn của nhân dân Afghanistan. Cũng chính bởi lòng thù hận và cả những bức xúc cá nhân mà họ cố tình tráo trở phương pháp, rắp tâm lợi dụng sự kiện ở Afghanistan để bóp méo, xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; phủ nhận những thành quả mà cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Chiến thắng 30/4 mang lại cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Nhưng tất cả những luận điệu, chiêu trò mang màu sắc chính trị xấu xa ấy chỉ là vô vọng. Thực tế sinh động những gì đã và đang diễn ra trong quá khứ cũng như hiện tại đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu, chiêu trò đánh đồng cuộc xung đột vũ trang ở Afghanistan với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy hy sinh, gian khổ của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng./.

"Làm theo mệnh lệnh trái tim", nỗ lực quyết tâm "hết dịch mới về"

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng nền y học Việt Nam và y đức của người thầy thuốc. Theo Người, y đức là thiên chức cao quý của người thầy thuốc; vun bồi y đức là góp phần bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang diễn biến rất phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người dân như hiện nay. “LƯƠNG Y PHẢI NHƯ TỪ MẪU” Suốt thời gian ở cương vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư thăm hỏi, động viên, nhắc nhở ngành Y tế về công tác chăm sóc, cứu chữa cho người bệnh. Trong Thư gửi Hội nghị Quân y tháng 3/1948, Người chỉ rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”; “nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hóa”; “người ta có câu: “Lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”. Trong Thư gửi Hội nghị Cán bộ y tế toàn quốc tháng 6/1953, Hồ Chí Minh viết: “Để làm tròn nhiệm vụ ấy, cán bộ y tế cần phải thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân. Lương y phải như từ mẫu”. Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế ngày 27/2/1955, Người nhắc nhở: “Lương y phải như từ mẫu”, “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, thầy thuốc cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”. “Lương y phải như từ mẫu” là cốt lõi quan điểm về y đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đề cao vai trò của người thầy thuốc trong xã hội, đồng thời bày tỏ mong muốn người thầy thuốc phải như mẹ hiền, luônyêu thương, đồng cảm, vị tha, tận tình, chu đáo, hết lòng vì người bệnh; không ngại khó, ngại khổ để làm tròn phận sự cứu người, hy sinh quên mình cho cộng đồng. Chính tình thương của người mẹ hiền giúp cho người thầy thuốc tránh được những thói xấu, như vụ lợi, tiêu cực, hách dịch, vô cảm, tắc trách khi thực hiện thiên chức cao quý mà xã hội trao gửi. Nội hàm y đức của Hồ Chí Minh còn bao hàm cả yếu tố y thuật, Người nói: “Muốn hồng phải chuyên sâu”, người thầy thuốc phải không ngừng học tập, trau dồi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực để làm tốt vai trò mẹ hiền trong chăm sóc, điều trị bệnhnhân. Khắc ghi lời Bác, biết bao thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã thấm nhuần và hành động theo tư tưởng y đức Chủ tịch Hồ Chí Minh; rất nhiều tấm gương cán bộ, y bác sĩ, nhân viên y tế tiêu biểu về Y đức, được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta ghi nhận, biểu dương. Đó là Bộ trưởng, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, vượt qua bao bom đạn đã vào tận chiến trường miền Nam đểchữa trị cho đồng bào, chiến sĩ và hy sinh trên chiến trường khi đang thực hiện sứ mệnh cao cả đó. Đó là Giáo sư Tôn Thất Tùng với “bàn tay vàng” đã cứu sống biết bao nhiêu người, bằng phương pháp mổ gan không chảy máu nổi tiếng trên thế giới. Đó là Giáo sư Đặng Văn Ngữ, người thầy thuốc có công to lớn trong công cuộc chống sốt rét ở nước ta thời chống Pháp và chống Mỹ. Đó là nữ bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm với chất lý tưởng và nghị lực sốngrừng rực trong trái tim thanh xuân đầy cống hiến, hoài bão, thương yêu trong sáng, sẵn sàng hy sinh cho người bệnh, cho đồng chí, cho đồng bào và cho Tổ quốc. Đó là Anh hùng Lao động, Thầy thuốc nhân dân Nguyễn Tiến Quyết, người đi đầu thực hiện thành công ca ghép gan từ người sống, người chết não - một trong những thành tựu y học xuất sắc của ngành Y tế Việt Nam; gần 40 năm gắn bó với nghề, ông đã nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, nghiên cứu, tìm tòi, say mê với công việc đầy nhọc nhằn và vinh quang, hết lòng cứu chữa, mang lại sự sống cho người bệnh... Trên cơ sở học tập, quán triệt quan điểm người thầy thuốc phải như mẹ hiền, cố Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã nêu lên ba yêu cầu ngắn gọn, để cán bộ, nhân viên ngành Y dễ nhớ, dễ làm theo là: “Đến, tiếp đón niềm nở; Ở, chăm sóc tận tình; Đi, dặn dò ân cần”. Năm 1982, Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị về “Thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình hằng năm theo thư của Hồ Chí Minh”, trong đó, nêu những yêu cầu cụ thể về lòng “thương yêu người bệnh” cho cán bộ, nhân viên ở các lĩnh vực công tác khác nhau để thuận lợi cho việc vận dụng, liên hệvà rèn luyện. Những năm gần đây, ngành Y tế đã có những chủ trương, biện pháp với quyết tâm xây dựng y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Bộ Y tế đã ban hành quy định 12 điều y đức của người làm công tác y tế, người thầy thuốc “phải tận tình đem cả tâm và trí hiến dâng cho người bệnh, lấy tâm làm gốc không phân biệt đối xử”; “có tinh thần trách nhiệm, hǎng say, tận tụy với nghề nghiệp; luôn học tập để nâng cao trình độ chuyên môn để phòng ngừa bệnh tật cho nhân dân có hiệu quả”... Lĩnh vực y tế tư nhân được Nhà nước ban hành Pháp lệnh hành nghề, cũng coi trọng vấn đề y đức. Bộ Y tế đã có Quyết định số 29/2008/QĐ-BYT, ngày 18/8/2008 ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp Y tế; Chỉ thị số 09/CT-BYT, ngày 22/11/2013 về việc tăng cường tiếp nhận và xử lý ý kiến phản ánh của người dân về chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh thông qua đường dây nóng nhằm tiếp tục chấn chỉnh tinh thần, thái độ phục vụ của thầy thuốc, nhân viên y tế, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh... Những quy định đó đã góp phần giáo dục, rèn luyện, đồng thời cổ vũ phong trào thi đua phấn đấu trở thành những thầy thuốc, nhân viên ưu tú; được nhân dân cả nước ghi nhận, ủng hộ. NỀN Y HỌC NHÂN VĂN VIỆT NAM Suốt chặng đường phấn đấu trưởng thành cùng đất nước, ngành Y tế đã có bước phát triển toàn diện, mạnh mẽ. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Mạng lưới y tế dự phòng, cơ sở khám chữa bệnh, sản xuất và cung ứng dược phẩm, bảo hiểm y tế, năng lực chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ có bước phát triển.Trong bối cảnh cả thế giới, trong đó có Việt Nam đang phải đối mặt với cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 hết sức tàn khốc, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: “Coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết”, ngành Y tế lại một lần nữa lao vào cuộc chiến khốc liệt chống lại kẻ thù giấu mặt virut SARS-CoV2 với những biến thể hết sức nguy hiểm. Khi cả nước đồng lòng, đoàn kết chống dịch, cùng với những lực lượng chức năng khác, đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên y tế trở thành những chiến sĩ ở tuyến đầu cuộc chiến; hơn ai hết họ biết rõ bất cứ lúc nào cũng có thể bị lây nhiễm bệnh nhưng không chùn bước, họ luôn làm hết mình để cứu chữa, điều trị cho bệnh nhân. Nỗi vất vả, hiểm nguy càng đè nặng lên vai họ khi cuộc chiến ấy phải đối diện khốc liệt hằng ngày, hằng giờ... Chưa có thống kê cụ thể, nhưng chắc chắn, trong số đó nhiều ca mắc và tử vong vì COVID-19, có nhiều trường hợp là nhân viên y tế bị lây nhiễm khi chăm sóc, điều trị cho người bệnh. Để điều trị bệnh nhân mắc COVID-19, đội ngũ y bác sỹ phải làm việc và sinh hoạt tập trung tại cơ sở điều trị để tránh mang nguồn lây nhiễm về gia đình, các con phải gửi cho người thân chăm sóc. Khi rảnh rỗi hiếm hoi, họ cũng chỉ có thể nhìn con qua màn hình điện thoại hoặc đứng từ xa nhìn cho đỡ nhớ; nhiều người nghe tin người thân của mình qua đời cũng không về được... Hàng triệu y bác sĩ đã tình nguyện lên đường, vào những “vùng đỏ” theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, “mệnh lệnh của trái tim” và lương tâm người thầy thuốc với quyết tâm “Hết dịch mới về”. Đã xuất hiện rất nhiều những tấm gương sáng nơi tuyến đầu phòng, chống dịch. Mới đây, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc ký quyết định truy tặng Huân chương Lao động hạng 3 cho hai nhân viên y tế có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống dịch COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là bác sĩ Trịnh Hữu Nhẫn, nguyên trưởng Trạm y tế xã Phước Lộc (huyện Nhà Bè) và điều dưỡng Trần Thị Phương Hằng, khoa hồi sức tích cực (Bệnh viện Nhân dân Gia Định). Một năm học mới đang đến, Bộ Y tế đã ban hành Công văn số 6810/BYT-K2ĐT, ngày 19/8/2021 về điều chỉnh kế hoạch đào tạo năm học 2021-2022, nêu rõ: Các cơ sở giáo dục có đào tạo khối ngành sức khỏe tạm hoãn thi, tạm hoãn khai giảng năm học mới để đảm bảo ưu tiên cho việc huy động và tập trung tham gia công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19... Trước tình hình làn sóng thứ 4 dịch COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh phía Nam, Bộ Y tế đã thành lập 12 Trung tâm Hồi sức tích cực tại các địa phương. Đây chính là điểm tựa quan trọng để điều trị các ca bệnh nặng, và trên “mặt trận” mới này, các y bác sĩ hai miền Nam-Bắc cùng hợp lực “chạy đua” để giành giật sự sống cho nguời bệnh. Nhìn vào những nỗ lực và kết quả phòng, chống dịch bệnh COVID-19, có thể thấy y đức Việt Nam lại một lần nữa thăng hoa, các y bác sỹ, nhân viên y tế đã làm tốt nhất nhiệm vụ của mình. Tuy có không ít mất mát, đau thương nhưng tất cả đã được lấp đầy bởi những vất vả và hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ áo trắng ấy. Tấm lòng của những người thầy thuốc đã và đang là động lực, là sức mạnh để người dân tin tưởng, chung tay phòng, chống dịch bệnh. Chúng ta tin tưởng sâu sắc, trên bước đường cống hiến tiếp theo, khắc ghi lời dạy ân tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, mỗi y bác sỹ, nhân viên y tế trên từng vị trí công tác sẽ tiếp tục nỗ lực học tập, rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng nhiều hơn nữa để trở thành một người thầy thuốc chân chính, vừa có đức vừa có tài, hết lòng tận tụy với người bệnh, tận tâm với nghề Y, xứng đáng với truyền thống “Lương y như từ mẫu” và sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

Khoa học xã hội và nhân văn trong cuộc chiến chống COVID-19

Đại dịch COVID-19 là một biến cố thế kỷ, tác động trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài tới mọi mặt cuộc sống của mỗi con người, từ thể chất, tinh thần, điều kiện sống, tập quán văn hoá, các mối quan hệ, tới kết cấu nền kinh tế, thiết chế xã hội, thậm chí cả thể chế chính trị. Khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) giữ vai trò quan trọng việc phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn đại dịch, đặc biệt trong quá trình tái thiết đất nước hậu dịch bệnh. Đại dịch (pandemic) là những đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm trên quy mô lớn, có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trên một khu vực địa lý rộng và gây ra sự gián đoạn đáng kể về kinh tế, xã hội và chính trị(1). Chức năng của KHXH&NV là nghiên cứu các quy luật hình thành và phát triển của xã hội và con người, của mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, góp phần cải tạo, biến đổi xã hội, ở những mức độ khác nhau. Sự xuất hiện của các vấn đề toàn cầu như khủng hoảng kinh tế, thảm hoạ thiên nhiên, đại dịch… để lại những hậu quả sâu rộng khiến cho tầm quan trọng của KHXH&NV trong sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia và của toàn thế giới càng được khẳng định rõ hơn. Ngay khi đại dịch COVID-19 xảy ra, ngay tại cuộc họp nhằm “đánh giá mức độ hiểu biết về căn bệnh COVID-19”, tại trụ sở của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), các quan chức y tế hàng đầu thế giới đã kêu gọi “tích hợp khoa học xã hội vào ứng phó với bùng phát”(2). Điều này khẳng định vai trò quan trọng của KHXH&NV trong ứng phó với dịch bệnh. Trước khi COVID-19 xuất hiện, thế giới cũng từng trải qua các đại dịch rất nghiêm trọng như: tả, sốt Thung lũng Rift, cúm, SARS, Ebola, mà quá trình từ phát hiện tới ngăn chặn dịch bệnh và tái thiết nền kinh tế, ổn định xã hội sau đại dịch đều có vai trò nổi bật của KHXH&NV trên các khía cạnh như sau: Một là, KHXH&NV nghiên cứu thói quen hành vi, tập quán văn hoá giúp làm sáng tỏ lý do dịch bệnh khởi phát, từ đó đề xuất phương hướng kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh. Những người đầu tiên phát hiện ra lý do dịch tả Ebola lây lan nhanh trong đợt bùng phát ban đầu ở Tây Phi không phải là các chuyên gia dịch tễ, mà chính là những nhà nhân học. Họ là những người đã trực tiếp sinh sống cùng người bản địa, quan sát và xác định được rằng, hành vi trì hoãn việc chôn cất người chết trong nhiều ngày, mang xác vào nhà để chịu tang và chuẩn bị tang lễ như một tập quán văn hóa của các cộng đồng ở những khu vực bị ảnh hưởng, là thủ phạm gây nên đại dịch. Hai là, KHXH&NV góp phần vào việc xác định “định kiến và phân biệt đối xử là tác nhân có thể làm lan truyền dịch bệnh”. Ví dụ, định kiến từ trận dịch hạch đã gây ra bạo lực lớn ở châu Âu, khiến nhiều người Catalonia ở Sicily, các giáo sĩ và người ăn xin bị sát hại; nó cũng là nguyên nhân gây ra các cuộc tấn công người Do Thái làm cho hơn một nghìn cộng đồng bị xóa sổ. Hay những cuộc tấn công người gốc Á ở các quốc gia có đa số là người da trắng và việc một số chính khách gọi SARS-CoV-2 là “virus Vũ Hán”, “virus Trung Quốc” đã tạo nên sự kỳ thị và dẫn đến hiện tượng giấu diếm bệnh tật, trốn tránh các biện pháp y tế khiến cho việc kiểm soát dịch bệnh khó khăn hơn. Ở Việt Nam, hiện tượng khai gian dối về lịch sử dịch tễ để tránh bị kỳ thị, lên án từ cộng đồng cũng diễn ra khi Việt Nam chưa áp dụng việc mã hoá danh tính bệnh nhân ở thời kỳ đầu. Điều này được các nhà KHXH&NV khuyến cáo là một sai lầm, gây bất lợi cho phòng chống dịch và đã được điều chỉnh kịp thời. Việc xác định chính xác và nhanh chóng hành vi gây lan truyền dịch bệnh, thái độ ứng xử phù hợp với người bệnh, cũng như việc định hình các biện pháp can thiệp, định hướng chính sách và thiết kế chiến lược ứng phó là những đóng góp không thể thiếu của KHXH&NV trong giai đoạn đầu chống dịch. Ở giai đoạn khống chế, ngăn chặn dịch bệnh bằng chiến lược tiêm chủng diện rộng, KHXH&NV giữ vai trò không hề kém quan trọng so với dịch tễ học. Chiến lược “phủ nhanh vaccine” để dập tắt dịch bệnh sẽ không thể thành công nếu người dân không hợp tác. Từ các trận dịch tả, bại liệt, Zika, HPV, Ebola, sởi, quai bị, rubella, Sars-CoV-2 đều có câu chuyện người dân phản đối và từ chối tiêm vaccine, mà thủ phạm chính chính là thuyết âm mưu. Vì tin đồn và thuyết âm mưu được chứng minh là có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố lịch sử, xã hội, văn hóa và chính trị(3) nên để “điều trị” được chúng, chỉ có cách hiểu rõ về lịch sử của mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Câu chuyện vaccine Sinopharm ở Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua là một ví dụ điển hình. Người dân Thành phố phản ứng dữ dội và cự tuyệt một số loại vaccine được sản xuất từ quốc gia có nhiều “vấn đề” trong lịch sử với Việt Nam, dù chúng được WHO công nhận, ngay trong bối cảnh dịch bệnh đang hoành hành dữ dội và cơn khát vaccine đã lên đến đỉnh điểm. Điều đó cho thấy, việc không xem xét thấu đáo các yếu tố xã hội, văn hóa, chính trị ảnh hưởng tới tâm lý người dân khi xây dựng đối sách ứng phó phù hợp thì không thể thành công trong phòng chống dịch. Sứ mệnh của KHXH&NV lúc này là “kiểm soát” nỗi sợ hãi của người dân, ngăn chặn tin tức giả, thuyết âm mưu, thay đổi nhận thức, thay đổi hành vi, hình thành thói quen đúng đắn để phòng chống dịch bệnh. Bên cạnh đó, những nghiên cứu đa chiều của KHXH&NV còn làm rõ những tác động của dịch bệnh tới mọi mặt đời sống xã hội, tổng kết, đúc rút những bài học kinh nghiệm truyền lại cho các thế hệ sau; đồng thời, đóng góp vào việc hoạch định chính sách, xây dựng các kế hoạch tái thiết nền kinh tế, điều chỉnh các chính sách xã hội để nhanh chóng phục hồi và sửa chữa các khiếm khuyết.