Thứ Năm, 9 tháng 9, 2021

Cảnh giác với những thủ đoạn xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh

  


Các thế lực thù địch tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng coi Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản. Chúng cho rằng việc Hồ Chí Minh vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam là sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng dựng chuyện phi thực tế về thân thế, đời tư của Hồ Chí Minh hòng bôi nhọ lãnh tụ; triệt để lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong thực hiện quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và các vụ việc tiêu cực, tham nhũng xảy ra để xuyên tạc rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế của thời đại. Với những thủ đoạn đó, chúng hy vọng một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về thành tựu đổi mới của đất nước, về mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Từ đó, lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ổn định chính trị, xã hội.

Nhằm tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch ráo riết sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn, trong đó, tập trung vào một số phương thức hoạt động cơ bản, như: Thông qua internet, mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Các tổ chức phản động lưu vong, như: “Việt Tân”, “chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”… đã lập hơn 400 trang web, blog, hàng chục tạp chí, báo, nhà xuất bản, hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, như VPR, VOA, RFI... lập ra các diễn đàn để tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh.  

Chúng cũng tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, diễn đàn quốc tế xuyên tạc tư tưởng và thân thế, đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt triệt để tổ chức các diễn đàn, tọa đàm, hội thảo ở các nước có đông đảo bà con Việt kiều đang sinh sống, làm việc, như: Australia, Mỹ, Canada... rồi gửi thư ngỏ, tài liệu truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cơ quan chức năng trong nước, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài; thông qua tiếp xúc gặp gỡ các đoàn ra nước ngoài làm việc, tham quan. Qua đó, chúng ra sức rêu rao rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, lạc hậu, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới.

Cùng những việc làm trên, chúng tìm cách tác động các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện thay đổi cải cách chính trị, pháp luật theo kiểu phương Tây, trong đó có thay đổi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đồng thời tìm cách móc nối, mua chuộc cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất trong Đảng, Nhà nước viết bài, tung tin tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh; kích động tâm lý hoài nghi của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng từ bên trong xã hội.

Cần khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Một tư tưởng, hệ tư tưởng được đánh giá là cách mạng, khoa học khi và chỉ khi xuất phát và phản ánh đúng thực tiễn, soi đường cho hoạt động thực tiễn, thúc đẩy thực tiễn phát triển, điều này luôn đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh. Với thế giới quan, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và với một trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của dân tộc và của nhân loại để hình thành nên hệ thống tư tưởng của mình. Tư tưởng đó là sự thống nhất, quan hệ biện chứng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, không chỉ giải quyết vấn đề lý luận, mà cao hơn là tư duy hành động, giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn đuốc soi đường đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, để kiến tạo nên một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam, là thời đại Hồ Chí Minh, là một mốc son sáng ngời trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đó là một chân lý không ai có thể phủ nhận được. Hồ Chí Minh, Người là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết quốc tế, đấu tranh không biết mỏi mệt cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại; là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, đã cống hiến cả cuộc đời mình để đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Với những cống hiến vĩ đại cho dân tộc và cho nhân loại, với tấm gương đạo đức sáng ngời, Người đã được cả dân tộc Việt Nam, cộng đồng quốc tế và nhân dân tiến bộ trên thế giới tôn vinh, ngưỡng vọng. Chính vì lẽ đó, những luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi lem, xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của Người chỉ là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học cũ rích, vô giá trị mà thôi.  

 


Không thể phủ nhận


Ngay khi chúng ta đang sống giữa những ngày hào hùng, sôi nổi kỷ niệm 76 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 thì đây đó, các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội vẫn lợi dụng diễn biến phức tạp ở Biển Đông, mang danh "lòng yêu nước", "tình yêu Tổ quốc"... để tuyên truyền xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta; kêu gọi, kích động người dân tụ tập gây rối, chống đối chính quyền. Bằng đủ mọi chiêu thức, chúng tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc, hòng phủ nhận những thành quả mà nhân dân Việt Nam phải bằng bao công sức, mồ hôi, xương máu mới giành được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực chất của những âm mưu, thủ đoạn ấy là nhằm phủ nhận giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9; phủ nhận giá trị đích thực của hòa bình, tự do, độc lập mà Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đem lại; và xét cho đến cùng vẫn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giá trị lịch sử, ý nghĩa thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 là không thể phủ nhận. Thời gian càng lùi xa thì tầm vóc, vị thế và giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 ngày càng tỏa sáng. “Ôn cố tri tân” vừa là đạo lý, vừa là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nhiệm vụ giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử, truyền thống dân tộc trong xu thế hội nhập là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách với chúng ta.

Muốn thực hiện được điều đó, trước hết chúng ta cần tăng cường công tác giáo dục truyền thống dân tộc, những trang sử cách mạng hào hùng cho nhân dân, đặc biệt là cho thế hệ trẻ. Chỉ có hiểu đúng, nhận thức đầy đủ, sâu sắc về lịch sử, truyền thống hào hùng của dân tộc, trong đó có ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, chúng ta mới thấy hết công lao của các thế hệ đi trước, từ đó ý thức rõ ràng và đầy đủ hơn về trách nhiệm của mình trong giữ gìn và phát huy. Mặt khác, càng hiểu về giá trị, ý nghĩa của chiến thắng, mỗi người chúng ta càng ý thức rõ hơn trách nhiệm của thế hệ hôm nay và mai sau, kiên quyết vạch trần, đấu tranh, làm thất bại những âm mưu, luận điệu xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ cho tồn tại những hành động ngang nhiên chà đạp lên khát vọng của dân tộc Việt Nam, chà đạp lên xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam hy sinh vì hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bảo vệ, giữ gìn giá trị lịch sử truyền thống dân tộc nói chung; ý nghĩa, giá trị của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 nói riêng là cơ sở nền tảng để toàn dân, toàn quân ta tiếp tục chung sức, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng gặt hái được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.


Giá trị của hòa bình, của tự do và độc lập

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Có thể khẳng định, Cách mạng Tháng Tám thành công, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của quân và dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra kỷ nguyên mới, bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình trở thành công dân của một nước tự do và độc lập.

Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á là dấu mốc chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm nhân dân Việt Nam phải chịu đựng dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ kiếp nô lệ trở thành người dân một nước tự do, độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Việt Nam từ nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước hòa bình, độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trở thành đảng cầm quyền. Đất nước và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

76 năm qua là chặng đường kiên trì, bền bỉ phấn đấu hy sinh vượt qua nhiều thử thách, cam go ác liệt. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, đưa cả nước bước vào thời kỳ mới với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, đặc biệt, trải qua hơn 36 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất-kỹ thuật, hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH, tạo ra môi trường thu hút mọi nguồn lực cho sự phát triển... Đất nước ta ngày nay đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần.

Nhờ kiên trì thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế mà tầm vóc và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Ngoài ra, Việt Nam còn đóng góp tích cực trong nhiều diễn đàn đa phương và được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc. Đặc biệt mới đây, Việt Nam lần thứ hai trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2020-2021) với số phiếu gần như tuyệt đối. Việt Nam cũng được bạn bè quốc tế tín nhiệm lựa chọn là nơi tổ chức nhiều sự kiện quan trọng mang tầm cỡ khu vực và toàn cầu.

Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay, chúng ta đã gặt hái được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu ấy là minh chứng hùng hồn đầy sức thuyết phục cho vị thế và giá trị đích thực của hòa bình, tự do, độc lập mà Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đem lại. Bất cứ người Việt Nam yêu nước chân chính nào cũng nhận thấy giá trị cao quý, thiêng liêng và rất đỗi tự hào trước những thành quả mà cách mạng đem tới.


Nội dung chủ yếu của chiến lược “diễn biến hòa bình”


Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị là khâu đột phá, giữ vai trò quan trọng hàng đầu, nội dung chủ yếu là chống phá hệ tư tưởng, đường lối chính trị, hệ thống chính trị, thể chế chính trị, thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong nội bộ: chống phá hệ tư tưởng chính trị, đường lối chính trị nhằm làm phai nhạt, tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm suy thoái, biến đổi tư tưởng chính trị cách mạng sang tư tưởng chính trị phản động, phản cách mạng; tiến công vào các thành tố quan trọng nhất trong hệ thống chính trị, thể chế chính trị, tập trung mũi nhọn phê phán, phủ định, làm tha hóa Đảng và Nhà nước; tác động vào công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng lực lượng ngầm, tìm cách tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng chống đối; đòi Việt Nam cải cách hệ thống pháp luật, tiến tới xóa bỏ lực lượng lãnh đạo, chuyển hóa bộ máy quản lý, điều hành đất nước và xã hội.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế là khâu mũi nhọn, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách kinh tế; làm chuyển hóa chế độ sở hữu, cơ cấu, thành phần kinh tế; hình thành môi trường kinh tế có lợi cho CNTB; từng bước xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn, lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm; thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về kinh tế: chống phá và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đường lối, chính sách kinh tế, chế độ sở hữu, cơ cấu, thành phần kinh tế; hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân, từng bước thực hiện tư nhân hoá nền kinh tế; hình thành môi trường kinh tế có lợi cho CNTB; từng bước xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn, lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực văn hóa - xã hội là khâu quan trọng, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách văn hóa - xã hội;  thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm chệch hướng giá trị văn hóa, đạo đức và giáo dục - đào tạo; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chia rẽ nội bộ, kích động chống đối, gây rối loạn bên trong CNXH: chống phá đường lối, chính sách văn hóa - xã hội; thúc đẩy chệch hướng giá trị văn hóa, đạo đức; làm suy thoái, biến đổi đạo đức, lối sống theo hướng tha hóa, suy đồi; thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, phân tầng và phân hóa xã hội theo mô hình xã hội TBCN; lợi dụng mâu thuẫn, khiếu kiện, chống tham nhũng để kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ; truyền bá lối sống thực dụng, đồi trụy, cá nhân cực đoan; tuyên truyền, xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; triệt để khoét sâu vấn đề dân tộc, tôn giáo, lấy đó làm “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị, kinh tế, rối loạn xã hội ở Việt Nam.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là khâu then chốt, chống phá về đối ngoại là khâu hỗ trợ quan trọng, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách quốc phũng - an ninh, đối ngoại; thực hiện phi chính trị hóa quân đội và công an: chống phá đường lối, chính sách quốc phũng - an ninh của Đảng, nhà nước; truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ tư sản trong cán bộ, chiến sĩ LLVT; tìm cách xúc tiến “phi chính trị hoá” quân đội, công an; thúc đẩy hợp tác quân sự, an ninh để lôi kéo Việt Nam, đồng thời vừa răn đe, gây sức ép, tìm cách tạo chỗ đứng chân; tuyên truyền cho sức mạnh quân sự phương Tây, đặc biệt sức mạnh vũ khí công nghệ cao; kích động mâu thuẫn, gây chia rẽ nội bộ, phá hoại đoàn kết cán binh, đoàn kết quân dân; tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, gây cơ sở và phá hoại từ bên trong; nhen nhóm “cách mạng màu”, kích động gây bạo loạn lật đổ; khi gặp tình huống và thời cơ thuận lợi có thể tổ chức lực lượng phản ứng nhanh gây xung đột vũ trang, hỗ trợ cho lực lượng phản động bên trong tiến hành bạo loạn ở những địa bàn xung yếu, thực hiện chia cắt chiến lược, tổ chức tập kích đường không vào những mục tiêu chiến lược của ta, không loại trừ khả năng tạo cớ tiến hành chiến tranh xâm lược khi thời cơ chín muồi; triệt để lợi dụng mở cửa, hội nhập để chuyển hóa Việt Nam; chia rẽ Việt Nam với các nước láng giềng, bạn bè truyền thống.

 

Thủ tướng yêu cầu Hà Nội điều chỉnh nội dung còn bất cập trong việc cấp giấy đi đường

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu UBND TP Hà Nội có hướng dẫn cụ thể, kịp thời điều chỉnh nội dung còn bất cập trong việc cấp giấy đi đường cho các nhóm đối tượng theo quy định đã ban hành, không để xảy ra tình trạng người dân và doanh nghiệp chờ đợi kéo dài.

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

 

Diễn biến hòa bình” là một chiến lược chống CNXH và CNCS do các thế lực thù địch với CNXH tiến hành nhằm thủ tiêu chế độ XHCN trên phạm vi toàn thế giới, chống phá độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các quốc gia, dân tộc bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước XHCN và các nước độc lập dân tộc, lái chệch hướng phát triển của quốc gia, dân tộc theo quĩ đạo của CNTB.

Chủ thể chỉ đạo, điều khiển chiến lược “diễn biến hòa bình” là các thế lực thù địch với CNXH và độc lập dân tộc. Chủ thể tiến hành, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bao gồm những phần tử cầm đầu lực lượng phản động bên ngoài và phản động trong nước; lãnh tụ các đảng phỏi đối lập; những phần tử cơ hội, phản bội trong ban lãnhđạo cấp cao của đảng cầm quyền, chính quyền, quõn đội, an ninh, cảnh sỏt; một bộ phận quần chúng bất mãn với chính quyền và chế độ bị kích động, lừa gạt hoặc bị mua chuộc. Đối tượng của “diễn biến hòa bình” lúc đầu là các nước XHCN và phát triển theo định hướng XHCN, sau đó mở rộng ra một số nước độc lập dân tộc.

Mục tiêu sâu xa của chiến lược “diễn biến hòa bình” là thủ tiêu chế độ XHCN trên phạm vi toàn thế giới, phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc, thiết lập một thế giới “nhất thể húa TBCN”. Mục tiêu trực tiếp đối với các nước XHCN và phát triển theo định hướng XHCN là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước XHCN và các nước độc lập dân tộc, đối với các nước XHCN nhằm tạo ra sự vận động chệch hướng của quốc gia, dân tộc theo quĩ đạo của CNTB; đối với các nước độc lập dân tộc nhằm tạo ra tình trạng mất ổn định về kinh tế và chính trị, suy thoái từ bên trong, đi đến khủng hoảng toàn diện, từ đó ngày càng lệ thuộc vào CNTB. Chiến lược “diễn biến hòa bình” mang tính chất phản cách mạng, phản động; tính chất dân tộc; tính chất giai cấp; tính chất toàn cầu; tính chất phi vũ trang.

Phương thức thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình” là tiến công tổng hợp, toàn diện, “mềm, ngầm, sâu”, dựa vào lực lượng đối lập phản động trong nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong của đối tượng là chính; lấy chính trị làm đột phá; kinh tế làm mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ; quốc phòng - an ninh làm then chốt; ngoại giao làm hỗ trợ; đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, kết hợp bạo loạn lật đổ, thực hiện răn đe quân sự từ bên ngoài, gây áp lực để làm tan rã, sụp đổ chế độ.


 

Đừng làm con nhộng trong tổ kén

 

Đại dịch Covid-19 tác động, ảnh hưởng toàn diện, sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong bối cảnh chồng chất khó khăn và thách thức, một bộ phận cá biệt cán bộ, đảng viên bộc lộ tư tưởng sợ dịch bệnh, sợ trách nhiệm, làm việc cầm chừng, thu mình cầu an...

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc công tác bảo vệ chính trị nội bộ

 


Xuyên suốt 91 năm xây dựng và phát triển của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn được chú trọng; được các cấp uỷ, các tổ chức cơ sở Đảng và mọi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định, góp phần quan trọng vào thành công của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. 

Bảo vệ chính trị nội bộ là một nhiệm vụ quan trọng, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ; đồng thời, là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng luôn trong sạch vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng. Vì thế, những luận điệu sai trái, phản động mà các thế lực thù địch suy diễn, quy kết hồ đồ rằng: Đảng phải tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ là do những ''phức tạp không nhỏ" trong nội bộ; do tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ngày càng gia tăng; do nội bộ mất đoàn kết vì sự "tranh giành ghế và các phe nhóm"; do các cơ quan tuyên truyền, tuyên giáo của Đảng "tung hỏa mù" để ngụy trang cho sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên… cần phải được nhận diện đúng là rất quan trọng và cần thiết.

Phải khẳng định rằng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ không phải là việc làm nhằm "bới lông tìm vết" mà chính là quá trình thực hiện nghiêm các nguyên tắc về xây dựng Đảng và chỉnh đốn Đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; theo đúng Điều lệ Đảng và văn kiện các kỳ Đại hội Đảng trên tinh thần kết hợp giữa “chống và xây”, “xây và chống”, "lấy phòng ngừa là chính" để xây dựng từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn liền với sự ra đời, phát triển của Đảng, chứ không phải chỉ khi có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, thì Đảng mới tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ.

Tuy nhiên, xuất phát từ sự biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước; từ sự gia tăng các hoạt động chống phá của thế lực thù địch vào Đảng Cộng sản Việt Nam, vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vào việc thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được đẩy mạnh; được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát.

Đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ, hệ thống các văn bản quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ qua các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đã được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Trong đó, phải kể đến các văn bản sau: Quyết định 42-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương (Bộ Chính trị ban hành ngày 15/7/2002); Chỉ thị số 39-CT/TW về “Tăng cường công tác bảo vệ Chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay” (Bộ Chính trị khóa XI ban hành ngày 18/8/2014); Quy định số 126-QĐ/TW “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” (Bộ Chính trị khóa XII ban hành ngày 28/2/2018) thay thế Quy định số 57-QĐ/TW ngày 3/5/2007 của Bộ Chính trị khóa X “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” và Hướng dẫn số 19-HD/BTCTW ngày 12/9/2019 của Ban Tổ chức Trung ương về thực hiện một số điều trong Quy định số 126-QĐ/TW…

Có thể thấy, bên cạnh những nội dung được ghi rõ trong Điều lệ Đảng, trong văn kiện mỗi kỳ Đại hội Đảng như Nghị quyết Đại hội XII đã khẳng định: Bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ cán bộ, đảng viên về mặt chính trị. Gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết trong Đảng; xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhất là phát ngôn, tuyên truyền, tán phát tài liệu trái Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, trong những nhiệm kỳ gần đây, công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm hơn, góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Từ nội dung các văn bản nêu trên, có thể thấy công tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ có thêm những nội dung mới, cụ thể, chặt chẽ hơn mà còn chuyển trọng tâm từ việc xem xét các vấn đề lịch sử sang nắm bắt và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay, gắn với việc phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ".

Đồng thời, cũng từ nội dung trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, có thể thấy, đối với mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu. Cùng với đó, việc tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ - một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng chính là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên để Đảng luôn trong sạch và vững mạnh, đoàn kết và thống nhất; đồng thời, đảm bảo sự chủ động trong việc phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ và những nhân tố tiềm ẩn có thể gây mất ổn định chính trị, xã hội do các thế lực thù địch, phản động thực hiện nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa đang xây dựng ở Việt Nam.

Vì có tầm quan trọng như vậy, cho nên trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đó chính là nền tảng quan trọng cho việc giữ vững an ninh chính trị của Đảng, Nhà nước. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được triển khai thường xuyên, liên tục trong cả hệ thống chính trị; từ Trung ương đến địa phương gắn với văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, Điều lệ Đảng, với các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng; với việc kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.

Cụ thể, trong những năm qua, việc thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" (Chỉ thị 03) và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05), Kết luận 01 của Bộ Chính trị khóa XIII về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" (Kết luận 01) và các Quy định về những điều đảng viên không được làm, về nêu gương… đã góp phần quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; nâng cao bản lĩnh chính trị và nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên để chủ động phòng và đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch…

Các thế lực thù địch cho rằng, bảo vệ chính trị nội bộ là do "sự suy thoái trong Đảng gia tăng" không chỉ là sự xuyên tạc về chức năng, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, mà còn phủ nhận "sạch trơn" những thành tựu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhằm chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, cần phải được nhận diện đúng!

Hơn nữa, việc thường xuyên nắm bắt, quản lý chặt chẽ tình hình chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện tốt công tác rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh kết luận về tiêu chuẩn chính trị nhân sự; sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác cán bộ để chủ động ngăn ngừa, kịp thời phát hiện, kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu bịa đặt, vu khống, nói xấu nhằm chia rẽ, hạ uy tín của tổ chức đảng, đảng viên; việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng về bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ… đã cho thấy sự vu khống của các thế lực thù địch khi cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ là nhằm "bảo vệ quyền lợi cho Đảng" thật sự lố bịch, hoàn toàn sai sự thật. Đồng thời, qua đó cũng khẳng định rằng, việc xuyên tạc bản chất công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng là vì cán bộ, đảng viên ngày càng suy thoái, càng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", cho nên càng ngày Đảng Cộng sản Việt Nam càng phải tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ chính là một âm mưu chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Những luận điệu bịa đặt, bôi đen này nếu không được chỉ ra, được nhận diện đúng, để từ đó nâng cao cảnh giác thì ắt sẽ là một trong những nguyên nhân tạo ra những kẽ hở, "vết nứt" để các phần tử xấu, phản động lợi dụng, tác động vào công tác chính trị nội bộ; thậm chí lôi kéo, mua chuộc, chuyển hóa những người có tư tưởng bất mãn, lệch lạc, suy thoái, dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; dẫn đến phá hoại sự đoàn kết thống nhất trong Đảng nói riêng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung.

Sự thật này cũng cho thấy, việc chỉ nhìn hiện tượng mà quy kết bản chất khi nhận định tình trạng cán bộ, đảng viên "cứ thi nhau chuyển hóa tư tưởng, tự tìm đường thoát ra khỏi ao tù tư duy một chiều, giáo điều và bảo thủ cộng sản của Đảng" và "xem ra công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng kéo dài bao nhiêu thì càng có thêm nhiều cán bộ, đảng viên xấu xuất hiện để làm khổ dân, nhưng đồng thời cũng lộ ra thất bại của Đảng" của các thế lực thù địch chính là sự suy diễn vừa hồ đồ vừa vô căn cứ, cần phải bác bỏ!

Tựu trung lại, công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện theo quan điểm “kiên quyết, thận trọng, khách quan, toàn diện” kết hợp với phương châm “tích cực, chủ động phòng ngừa, tự bảo vệ mình là chính” là nhằm mục đích xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Vì thế, mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức Đảng các cấp, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò và nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo Chỉ thị số 39-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”, Quy định số 126-QĐ/TW của Bộ Chính trị về “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”, hướng dẫn số 19-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương, hướng dẫn thực hiện một số Điều trong Quy định số 126-QĐ/TW gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII; với Chỉ thị 03, Chỉ thị 05, Kết luận 01; với Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về "Việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền" và các Quy định 47, 55, 08 về nêu gương… để xây dựng Đảng. Đồng thời, cần phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên chân chính gắn với việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm… để nhằm tự bảo vệ mình và bảo vệ tổ chức.

Đồng thời, cùng với việc cần phải tiếp tục củng cố, kiện toàn cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ các cấp theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là việc phát huy hơn nữa vai trò của từng tập thể, của người đứng đầu cấp ủy trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp, toàn diện của cấp ủy trong công tác này, để công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại mỗi tổ chức Đảng góp phần làm cho Đảng trong - sạch - vững - mạnh từ cơ sở.

Vững tin vào môi trường kinh tế Việt Nam

 


Cho rằng VN vẫn luẩn quẩn trong việc tìm hướng đổi mới sau Đại hội XIII và tác động tiêu cực của đợt bùng phát dịch lần thứ 4 thì VN khó chống đỡ nổi, nhưng thực tế ở VN đã chứng minh đổi mới ở VN đúng hướng và từng bước vững chắc. Như thông báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến ngày 20/6/2021, vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước đạt 9,24 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2020. Tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 15,27 tỷ USD, bằng 97,4% so với cùng kỳ năm 2020. 

Cụ thể, có 804 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giảm 43,3%; tổng vốn đăng ký đạt gần 9,55 tỷ USD, tăng 13,2% so với cùng kỳ; 460 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư, giảm 12,5%; tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt 4,12 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ....

Theo lĩnh vực đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành lĩnh vực; trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 6,98 tỷ USD, chiếm 45,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 5,34 tỷ USD, chiếm gần 35% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ với tổng vốn đăng ký đạt 1,15 tỷ USD và 476 triệu USD.

Theo đối tác đầu tư, đã có 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Đầu tư của một số đối tác lớn như: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc đều tăng lên so với cùng kỳ. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 5,64 tỷ USD, chiếm gần 36,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2020. Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 2,44 tỷ USD, chiếm gần 16% tổng vốn đầu tư và tăng 66,8% so với cùng kỳ.

Vốn đầu tư của Singapore và Nhật Bản chủ yếu theo hình thức đầu tư mới, chiếm lần lượt 84% và 67,8% tổng vốn đăng ký của 2 quốc gia này. Hàn Quốc đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,05 tỷ USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư, tăng 43,6% so với cùng kỳ. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc)…

Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 56 tỉnh, thành phố trên cả nước; trong đó, Long An dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký 3,57 tỷ USD, chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư đăng ký. Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký 1,43 tỷ USD, chiếm 9,3% tổng vốn đầu tư. Cần Thơ đứng thứ ba với 1,32 tỷ USD, chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Bình Dương, Hải Phòng, Hà Nội,…

Tính lũy kế đến ngày 20/6/2021, cả nước có 33.787 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 397,89 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 241,1 tỷ USD, bằng 60,6% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài cũng tiếp tục tăng mạnh. Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 116 tỷ USD, tăng 32,2% so với cùng kỳ, chiếm 74,1% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt 115,3 tỷ USD, tăng 32,6% so với cùng kỳ, chiếm 73,6% kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài ước đạt trên 102,6 tỷ USD, tăng 38,7% so cùng kỳ và chiếm 64,9% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Như vậy, tính chung trong 6 tháng đầu năm 2021, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 13,4 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu gần 12,7 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu 14,9 tỷ USD. Một số dự án lớn trong 6 tháng đầu năm 2021 là: dự án Nhà máy điện LNG Long An I và II (Singapore) tổng vốn đăng ký trên 3,1 tỷ USD với mục tiêu truyền tải và phân phối điện, sản xuất điện tại Long An. Dự án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản), tổng vốn đăng ký trên 1,31 tỷ USD với mục tiêu xây dựng một nhà máy nhiệt điện nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp điện cho lưới điện khu vực và hệ thống điện quốc gia tại Cần Thơ và dự án LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc), điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 750 triệu USD…

Báo chí cần tuân thủ các tiêu chuẩn về đạo đức, vì lợi ích cộng đồng

 


Trước sự phát triển nhanh chóng của môi trường số khiến cách làm báo hoàn toàn thay đổi, các chuyên gia nhận định rằng báo chí cần tuân thủ quy tắc đạo đức để đảm bảo lợi ích cộng đồng. Báo chí là một hoạt động tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức, truyền tải những thông tin đã được kiểm chứng vì lợi ích cộng đồng.

Vì vậy, nguyên tắc cốt lõi của báo chí là đảm bảo tính chính xác, sự độc lập, công bằng, bảo mật, tính nhân đạo, trách nhiệm xã hội và sự minh bạch.
Chúng ta biết rằng sự phát triển của môi trường số đã thay đổi hoàn toàn cách sản xuất và truyền đạt thông tin, từ đó khái niệm “nhà báo” và “báo chí” cũng được mở rộng. Ngoài những người làm báo chuyên nghiệp, còn có các nhà báo không chuyên, những người làm truyền thông, các blogger và những "nhà báo công dân" khi họ tham gia vào các hình thức tự xuất bản trên Internet. Trước sự thay đổi đó, các tiêu chuẩn đạo đức báo chí cũng cần cải tiến để phù hợp với xu thế. Cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới với sự hỗ trợ của các công nghệ tiên tiến hiện nay, Việt Nam và các nước ASEAN cũng như nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức trên môi trường số, đặc biệt là thời gian gần đây vấn nạn tin giả, thông tin sai lệch… trên mạng Internet ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Không chỉ là những công dân “nhấn nút chia sẻ” một cách vô thức mà ngay cả các nhà báo, chuyên gia truyền thông cũng chia sẻ hoặc đăng một bài báo dựa trên thông tin chưa được xác minh, chưa được biên tập. Nhìn nhận môi trường báo chí tại Việt Nam, sự phát triển của kỷ nguyên số và truyền thông đa phương tiện kéo theo nhiều sai phạm trên mạng, mọi người hoạt động truyền thông cần có trách nhiệm, nghĩ trước khi chia sẻ, kiểm chứng thông tin, tránh đưa tin giả, tránh gây hoang mang trong xã hội.

Đằng sau thủ đoạn “gắp lửa bỏ tay người”

 


Nhận diện thủ đoạn, hiểu rõ bản chất nham hiểm của các thế lực thù địch để có phương pháp đấu tranh làm thất bại chiến dịch chống phá trên không gian mạng là trách nhiệm, bổn phận của mọi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và người dùng mạng xã hội yêu nước... Thông qua các nền tảng mạng xã hội như YouTube, Facebook... các thế lực thù địch đang thực hiện chiến dịch truyền thông “gắp lửa bỏ tay người”, xuyên tạc, bôi nhọ một số tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội. Mục đích chúng hướng tới là hạ bệ thần tượng, làm mất uy tín đội ngũ cán bộ quân đội, gây chia rẽ mối quan hệ đoàn kết đồng chí, đồng đội, phá hoại giá trị bản sắc Bộ đội Cụ Hồ.

Sau khi một số đồng chí tướng lĩnh, cán bộ cấp cao các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là cán bộ thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nghỉ chờ hưu, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là YouTube, Facebook... liên tục xuất hiện các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ uy tín. Số lượng các sản phẩm truyền thông độc hại này xuất hiện với tần suất lớn, lan truyền trên mạng xã hội gây bức xúc dư luận. Nhiều người dùng mạng xã hội, nhất là đội ngũ cựu chiến binh, cán bộ các cấp trong quân đội và cán bộ, công nhân viên chức... đã lên tiếng đấu tranh, bác bỏ các luận điệu sai trái này ngay trong các diễn đàn trên mạng xã hội.

Với thái độ tỉnh táo, mang ý thức xây dựng, đại đa số người dùng mạng xã hội có trách nhiệm đều hiểu rõ, những hình thức, nội dung do các thế lực thù địch thực hiện nhắm vào hàng ngũ tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội, đều là chiêu bài ngụy tạo chứng cứ, nói không thành có, bóp méo, bôi đen... Chúng đẩy vấn đề lên thành một chiến dịch truyền thông để gây nhiễu thông tin, nhiễu loạn môi trường tương tác trên không gian mạng, kích động, lôi kéo dư luận, hòng gây mất ổn định chính trị và an ninh trật tự trong bối cảnh cả nước đang tập trung nguồn lực cao nhất đẩy lùi đại dịch COVID-19... Đây là những phương thức của chiến lược “diễn biến hòa bình”, hướng đến mục tiêu chống phá quân đội, chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, gây mất niềm tin trong cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân.

Có thể nhận diện thủ đoạn của các thế lực thù địch và đối tượng phản động nhắm vào hàng ngũ tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội trên không gian mạng như về hình thức, ngoài những bài viết, chúng sử dụng chủ yếu là các video. Chúng sử dụng phần mềm chỉnh sửa, cắt cúp, gán ghép hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao và nguyên lãnh đạo cấp cao của quân đội làm hình ảnh nền, sắp xếp, trình bày theo ý đồ xuyên tạc. Những cái gọi là “phóng sự truyền hình”, thực chất chỉ là thủ thuật lấy hình ảnh, clip về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao trong quân đội đã được báo chí, truyền thông đăng tải rồi cắt ghép, sắp xếp, làm nền cho lời bình xuyên tạc. Chiêu bài này thực chất là kiểu ngụy tạo chứng cứ để lừa bịp những người nhẹ dạ cả tin. Điều đáng nói là những thứ rác truyền thông này lại xuất hiện, lan truyền với tần suất khá dày trên mạng xã hội, khiến môi trường văn hóa không gian mạng bị vấy bẩn, ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống văn hóa tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và công chúng. Về nội dung, những cái gọi là “tin mật”, “nguồn tin riêng”, “nguồn tin đáng tin cậy”, “tin từ nội bộ”... mà các thế lực thù địch, phần tử phản động rêu rao, thực chất là mớ thông tin ngụy tạo, nhảm nhí, nhằm mục đích giật gân, câu view. Bằng thủ đoạn xảo quyệt, chúng tung tin thất thiệt bôi nhọ đời tư, xuyên tạc tình hình vợ con, gia đình, giải quyết quan hệ đối ngoại... của một số đồng chí tướng lĩnh, nguyên lãnh đạo cấp cao của Quân đội ta nhằm gây nhiễu dư luận trên không gian mạng.

Một câu hỏi được nhiều người dùng mạng xã hội đặt ra là, tại sao các thế lực thù địch lại thực hiện chiến dịch truyền thông chống phá nhằm vào một số đồng chí tướng lĩnh, cán bộ cấp cao chủ chốt của quân đội vừa mới nghỉ chờ hưu trong thời điểm này? Không khó để trả lời cho vấn đề này. Việc ngụy tạo chứng cứ, tung tin thất thiệt nhằm bôi nhọ, hạ bệ thần tượng, triệt hạ uy tín cá nhân chính là chiêu bài “một mũi tên trúng nhiều đích” mà các thế lực thù địch đã quen sử dụng lâu nay.

Trong chiến dịch chống phá lần này, đích thứ nhất chúng hướng tới là với chiêu thức “lộng giả thành chân”, chúng muốn lèo lái dư luận theo hướng, nội bộ lãnh đạo cấp cao của quân đội đang có “vấn đề”, mâu thuẫn, mất đoàn kết...?! Thông qua luận điệu xảo trá, chúng xuyên tạc, kích động để cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và công chúng hiểu sai lệch về mối quan hệ giữa cán bộ đương chức với các đồng chí đã nghỉ hưu, nghỉ chờ hưu. Thời gian qua, một số cán bộ, nguyên cán bộ cấp cao của quân đội vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật bị xử lý, truy tố. Lợi dụng vấn đề này, chúng nhân cơ hội ra sức xuyên tạc, bôi đen tình hình nội bộ quân đội, công kích, phá hoại mối quan hệ đoàn kết đồng chí, đồng đội, bóp méo truyền thống văn hóa Bộ đội Cụ Hồ; hạ thấp uy tín của quân đội trong tình hình mới.

Đích thứ hai, đó là xuyên tạc, phá hoại chủ trương hiện đại hóa quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Để hiện đại hóa quân đội thành công, phải bắt đầu bằng chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chọc mũi tên chống phá vào hàng ngũ tướng lĩnh, cán bộ cấp cao của quân đội chính là chúng muốn đánh ta trên lĩnh vực tư tưởng chính trị từ trong đánh ra, từ trên đánh xuống. Đây là chiêu bài nham hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình” được các thế lực thù địch thực hiện, ngày càng diễn biến điên cuồng.

Đích thứ ba, đó là gây xói mòn lòng tin, phá vỡ mối quan hệ đoàn kết giữa quân với dân. Trong giai đoạn đất nước tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, hội nhập với phương châm tự lực, tự cường, hướng tới mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc giữ vững ổn định chính trị đất nước là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Để giữ vững ổn định chính trị, phải bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch hiểu rõ, Quân đội ta chính là thành trì vững chắc về chính trị, tư tưởng của Đảng và nhân dân. Để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng nhắm vào trận địa tư tưởng trong quân đội, xuyên tạc, phá hoại từ trung tâm bộ máy lãnh đạo. Đây là chiêu bài “rút gạch chân tường” hướng đến mục tiêu làm sụp đổ hệ tư tưởng của Đảng.

Đích thứ tư, mang tính thời sự, đó là gây rối ren về chính trị, tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, làm suy yếu lực lượng trên tuyến đầu phòng, chống dịch COVID-19, lôi kéo, xúi giục nhân dân phủ nhận vai trò của quân đội. Phá hoại trận địa tư tưởng trong quân đội cũng chính là cách các thế lực thù địch hướng tới nhằm cản trở quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

Đằng sau chiêu bài “gắp lửa bỏ tay người” nêu trên là cả một hệ thống phương thức, thủ đoạn nằm trong chiến dịch truyền thông chống phá trên không gian mạng, được các thế lực thù địch móc nối, cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn, phản động chuẩn bị công phu, lên kế hoạch thực hiện bài bản. Bởi vậy, trước những sản phẩm truyền thông xấu độc trên không gian mạng, người dùng mạng xã hội, nhất là cán bộ, đảng viên, công dân yêu nước cần giữ thái độ bình tĩnh, không hoang mang, dao động. Chúng ta tuyệt đối không bàng quan, vô cảm trước sự tấn công của các loại thông tin xấu độc, nhưng cũng cần tránh phản ứng thái quá kiểu đôi co, cãi vã, chửi bới phản cảm. Bởi, đôi co, chửi bới trên mạng xã hội cũng là cách gián tiếp giúp các đối tượng chống phá đánh bóng tên tuổi, tăng lượt view, like cho các sản phẩm truyền thông độc hại của chúng. Với không ít đối tượng, đây là cách kiếm tiền bất chấp đạo lý.

Cách tốt nhất để bài trừ thông tin xấu độc là nhất quán quan điểm lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu. Khi Quân đội ta là một khối thống nhất cao về tư tưởng, vững mạnh từ mỗi chi bộ, cơ quan, đơn vị, từ mỗi cán bộ, chiến sĩ, thì không một thế lực nào có thể phá vỡ được sức mạnh đoàn kết, thống nhất được hun đúc từ truyền thống vẻ vang Bộ đội Cụ Hồ. Lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang, các cấp hội cựu chiến binh, các tổ chức cơ sở đảng và hệ thống chính trị các cấp... cần thường xuyên, liên tục giáo dục, nhắc nhở, nâng cao ý thức và văn hóa dùng mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ, cựu chiến binh, đảng viên, công nhân viên chức, đoàn viên, thanh niên, sinh viên, học sinh...

Để có biện pháp đấu tranh phù hợp, cán bộ chức năng các cấp cần phân tích, quy nạp các nội dung, phương thức, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch thành các vấn đề, thông qua các hình thức tuyên truyền giúp cán bộ, chiến sĩ và công chúng nhận rõ bản chất, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đó cũng là biện pháp giúp người dùng mạng xã hội có trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, nâng cao khả năng miễn nhiễm trước sự xâm nhập, tấn công của các thông tin xấu độc, sai trái, chặn đứng mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Tính tất yếu phải bảo vệ Đảng

 


Không chỉ là người sáng lập ra chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguyên lý xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, trong đó có vấn đề tính tất yếu phải bảo vệ Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về đảng cộng sản vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phong trào yêu nước là nhân tố quan trọng quyết định nét độc đáo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc điểm này giúp cho Đảng Cộng sản Việt Nam vừa vững vàng trên nguyên tắc, vừa mềm dẻo trong sách lược để lãnh đạo cách mạng Việt Nam cũng như trong xây dựng Đảng, cho phép Đảng ta giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, tránh được những sai lầm biệt phái, “tả khuynh”, bảo đảm cho Đảng không chỉ là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân mà của cả dân tộc Việt Nam; đồng thời, cũng đặt ra đối với công tác xây dựng Đảng phải thường xuyên giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng và thường xuyên phải bảo vệ đảng.

Về vấn đề này, trong Bài nói tại hội nghị nghiên cứu lịch sử đảng của Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 28/11/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tính tất yếu phải bảo vệ đảng: Đảng ta là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí. Mỗi đảng viên phải bảo vệ Đảng và mọi chủ trương, chính sách của Đảng. Đảng ta là đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc; thành phần vào Đảng không thuần nhất mà tập hợp nhiều giai tầng khác nhau. Do đó, mỗi đảng viên mang trong mình tư tưởng, lập trường giai cấp, thái độ chính trị khác nhau, nhất là đảng viên không xuất thân giai cấp công nhân: Trong xã hội còn giai cấp, thì người ta ai cũng có giai cấp và giai cấp tính.

Sự cần thiết phải bảo vệ Đảng ta theo Hồ Chí Minh không những xuất phát từ đặc điểm, quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Luận giải vấn đề này, trong Bài nói chuyện về bản Tổng cương và Điều lệ của Đảng tại Hội nghị Trung ương chuẩn bị cho Đại hội lần thứ II của Đảng, ngày 10-5-1950, Người khẳng định: Vì đảng viên trình độ còn kém, ai nói hay nghe lời ai thì dù có sai đường lối của Đảng cũng cho là đúng, nên phải chống xu hướng sai lầm. Cần chú ý: cái gì trái với đường lối của Đảng thì nhất định phải phản đối. Bọn đế quốc phản động tìm hết cách để phá cách mạng, chúng cho người chui vào Đảng làm gián điệp, cố leo lên cơ quan lãnh đạo để phá từ trong phá ra, nên đảng viên cần tỉnh táo đề phòng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ ngày thành lập đã được Hồ Chí Minh khẳng định là một Đảng kiểu mới - Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, mang bản chất của giai cấp công nhân. Đảng luôn luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Nhận thức sâu sắc về nguy cơ phân liệt, tan rã về chính trị, tư tưởng và tổ chức, từ rất sớm, Đảng ta đã thấy rõ tính tất yếu và luôn chủ động đề ra chủ trương phải bảo vệ đảng. Vì vậy, trong Văn kiện chính thức: Phong trào công nhân (Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương), tháng 10/1930, Đảng ta chỉ rõ: Giải thích cho công nhân mục đích và đường lối của Đảng Cộng sản trong các vấn đề liên quan đến cuộc sống của công nhân và thái độ đối với các sự kiện lớn diễn ra trong nước. Giải thích cho họ rằng, Đảng Cộng sản là Đảng của họ, vì vậy họ cần phải bảo vệ Đảng.

Nhận thức về tính cấp bách phải bảo vệ Đảng trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam nắm chính quyền, trong Báo cáo về việc sửa đổi điều lệ Đảng của ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam ở đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, do đồng chí Lê Đức Thọ trình bày, ngày 6/9/1960, đã khẳng định trách nhiệm của đảng viên bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào phải bảo vệ Đảng: Bất cứ trong tình hình nào, nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi đảng viên là phải bảo vệ Đảng, bảo vệ vai trò lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng, tỉnh táo đề phòng và kiên quyết đấu tranh chống mọi mưu đồ đả kích hoặc làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng bất kỳ trên lĩnh vực nào, và núp dưới hình thức nào. Cụ thể hóa Nghị quyết và Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, chỉ trong 2 năm Đảng ta liên tiếp ra 2 Chỉ thị: Số 68-CT/TW, ngày 19/11/1963 của Ban Bí thư về việc “Mở cuộc vận động nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật; làm tốt công tác thẩm tra chính trị và cải tiến công tác quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên để bảo vệ Đảng” (gọi tắt là cuộc vận động bảo vệ Đảng) và Chỉ thị Số 90-CT/TW, ngày 1/3/1965, của Ban Bí thư về việc “Mở cuộc vận động nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật, làm tốt công tác thẩm tra chính trị và cải tiến công tác quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên để bảo vệ đảng” (gọi tắt là cuộc vận động bảo vệ đảng). Điều này cho thấy, Đảng ta không một phút lơi là nhiệm vụ bảo vệ đảng; đồng thời, luôn coi bảo vệ Đảng là công tác thường xuyên, luôn luôn gắn chặt với các mặt công tác xây dựng đảng trong mọi giai đoạn cách mạng, để bảo đảm cho tổ chức của Đảng được trong sạch và vững mạnh.

Bước sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN, trước tình trạng chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ tổ chức và cán bộ, đảng viên trong tình hình mới, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa IX về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chủ trương tăng cường công tác bảo vệ Đảng với nội hàm mới và cụ thể hơn. Hết sức chú trọng công tác bảo vệ Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Bảo vệ chính trị nội bộ là trách nhiệm của toàn Đảng, trước hết là của các cấp ủy đảng. Bảo vệ chính trị nội bộ phải trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên. Nhất quán với chủ trương này, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Điều 2, Khoản 4 cũng quy định rõ một trong bốn nhiệm vụ đảng viên đó là tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Đất nước ta đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, song cũng đứng trước không ít nguy cơ thách thức, đòi hỏi vai trò lãnh đạo của Đảng phải không ngừng được củng cố, tăng cường. Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tính tất yếu phải bảo vệ Đảng đến nay vẫn giữ nguyên giá trị đòi hỏi Đảng phải tiếp tục được vận dụng để xây dựng và chỉnh đốn thật sự trong sạch, vững mạnh theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên tất cả các mặt, chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Vì vậy, Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Kết hợp hài hoà, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng. Theo đó, bảo vệ Đảng là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh và là nhiệm vụ quan trọng của nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện - một trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 của nhiệm kỳ Đại hội XIII đó là: Chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ. Có như vậy mới, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta thực sự xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”.

Nhân diện thủ đoạn xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt nam của các thế lực thù địch

Các thế lực thù địch sử dụng Internet, mạng xã hội để xuyên tạc, phủ nhận vai trò của Đảng ta. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt nam là nhân quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, điều đó được khẳng định hơn 90 năm qua cả trong chiến tranh giải phóng cũng như trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt nam XHCN. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam tất yếu khách quan. Từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Một đảng lãnh duy nhất lãnh đạo (Đảng cộng sản Việt Nam) là sự lựa chọn của nhân dân ta từ chính những trải nghiệm trong quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, mục tiêu nhất quán của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để thực hiện âm mưu đó, một trong những thủ đoạn của chúng xác định phá hoại nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm đột phá, chúng xác định đây là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất, trong đó hướng trọng điểm là tập trung công kích, phủ nhận, làm mất uy tín tiến tới lật đổ và loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và xã hội, đồng thời từng bước tạo dựng cơ sở tư tưởng và xã hội nhằm xác lập đa nguyên chính trị, đa đảng theo mô hình dân chủ tư sản ở Việt Nam. Chúng cố tình đưa ra những luận điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung vào vấn đề sau: Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị tập trung xuyên tạc, phủ nhận lịch sử và thành quả đấu tranh cách mạng vẻ vang của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy chụp Đảng có nhiều sai lầm trong quá khứ, cho dù có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để độc quyền lãnh đạo đất nước. Chúng viện dẫn phiến diện và xuyên tạc thực tiễn lịch sử để cố chứng minh chế độ một Đảng lãnh đạo là “sai lầm”, rằng nếu không có Đảng Cộng sản Việt Nam trên chính trường thì dân tộc ta không phải tiến hành mấy cuộc chiến tranh lâu dài và đau thương như thế; nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không “tiếm quyền” thì Việt Nam đã đứng trong hàng ngũ các nước phát triển từ lâu...vv và vv Chúng cố tình bóp méo, thổi phồng một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, hòng biến một số hiện tượng đơn lẻ thành nghiêm trọng, phổ biến và tất yếu của chế độ một Đảng lãnh đạo, rồi quy kết vào cái gọi là “lỗi hệ thống” nhằm hạ thấp, phủ nhận vai trò hệ thống chính trị do một đảng lãnh đạo; đổ lỗi cho Đảng ta về sự tụt hậu kinh tế so với những nước láng giềng như “tập trung nỗ lực vào vấn đề chính trị, thay vì vấn đề kinh tế”, “sợ hao mòn quyền kiểm soát về chính trị và kinh tế của Đảng”. Triệt lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “đa nguyên” để cổ vũ sự bất đồng ý kiến về quan điểm trong Đảng và lợi dụng sự bất đồng đó để chia rẽ mối đoàn kết trong Đảng thành những phe phái đối lập; các thế lực phản động tập trung chống phá vào nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; mà theo chúng “hầu hết các đảng cộng sản trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự tập trung quyền lực bao giờ cũng đưa tới chỗ triệt tiêu dân chủ. Dân chủ nhiều nhất, chỉ trở thành đồ rởm, chỉ có tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực”. Chúng xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ đến nay đã lỗi thời, thực hiện tập trung dân chủ sẽ dẫn tới mất dân chủ trong Đảng, làm cho Đảng rơi vào quân phiệt, độc đoán, độc tài; ra sức tán dương và khuyến khích thực hiện dân chủ, tự do, dân chủ cực đoan, trong Đảng nên có nhiều phe nhóm đối lập, để bàn bạc, tranh luận, đấu tranh... Chúng tăng cường thủ đoạn ve vãn, tâng bốc, lôi kéo, mời chào, tặng đủ thứ danh hiệu mỹ miều ...cho những kẻ phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cơ hội chính trị, hữu khuynh, xét lại, những hành động chống Đảng, chống chế độ. Còn những người đảng viên chân chính thì bị nhạo báng, chế giễu là bảo thủ, cứng nhắc, là giáo điều, nịnh hót. Từ đó, chúng tạo dựng sự đối lập những người lãnh đạo Đảng với đông đảo đảng viên, chia rẽ giữa các thế hệ đảng viên đảng nhằm gây ra mâu thuẫn nội bộ. Chúng đưa ra luận điệu xuyên tạc nội bộ Đảng có phe phái khác nhau, dựng chuyện “đấu đá cung đình” trong các dịp diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng nhằm kích động gây chia rẽ lãnh đạo cấp cao của Đảng... kêu gọi: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam cho mình cái quyền đứng trên dân tộc, cái đó không ai chịu chấp nhận”; rằng “độc tài, đảng trị là cái gốc sai lầm của nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại”; rằng “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”... Từ đó, chúng đưa ra cái gọi luận thuyết “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tốt hơn chế độ một đảng lãnh đạo”, cố sức biện bạch “chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo là đối lập với dân chủ, đồng nhất với độc tài, cản trở sự phát triển”, còn “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”. Chúng yêu cầu Đảng tự nguyện rời bỏ vai trò lãnh đạo, vì theo chúng: “Đảng chỉ giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, còn trong xây dựng kinh tế thì nên trao quyền cho lực lượng chính trị khác” Một số đối tượng chống đối, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng các sự kiện quan trọng của đất nước như sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; thảo luận, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực của đất nước để tuyên truyền các luận điệu phản động nhằm bác bỏ “tính chính danh”, “tính hợp pháp, hợp hiến” và “tính chính đáng” về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. Khi không đạt được mục đích, chúng quay sang luận điệu cũ “con đường thứ ba” để tác động chuyển hóa mô hình chính trị và pháp luật nước ta. Việc tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và xã hội của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị ráo riết thực hiện ngày càng trở nên nguy hiểm, nếu ta không chủ động ngăn ngừa, đấu tranh thì hậu quả khó lường. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” . Vì vậy, để bảo vệ vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng cần kiên định lập trường tư tưởng, giữ vững và tuyệt đối trung thành lý luận chủ nghĩa mác – lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, nhận thức rõ âm mưu, thủ đọan thâm độc của các thế lực thù địch, từ đó đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh, phản bác làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng là trách nhiệm của mọi công dân Việt Nam yêu nước, trong đó đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong, nòng cốt./.

TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA QUÂN ĐỘI

    Sản phẩm của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã phát triển mạnh, trong đó có sự phát triển của công nghệ thông tin, không gian mạng đã trở thành môi trường rất quan trọng, làm thay đổi đời sống xã hội nhân loại. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch, để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội đã và đang xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng, chúng đã cố ý xuyên tạc, bóp méo sự thật. Vì vậy, là lực lượng trung thành vô hạn với Đảng, sự cần thiết Quân đội tham gia đấu tranh trên mạng xã hội, phản bác những luận điệu sai trái đó là sự cần thiết. Do vậy, cần phải nghiên cứu rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng ra sao và có biện pháp phù hợp phản bác những luận điệu sai trái đó. Theo chúng, quân đội chỉ cần làm tốt nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là đủ, còn việc đấu tranh trên không gian mạng đã có lực lượng khác đảm nhiệm, không phải chức năng của quân đội. Vì vậy, quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng là lấn sân, lạm quyền, sai chức năng nhiệm vụ, đụng chạm đến chức năng của các bộ, ngành khác. Hay ấu trĩ hơn, chúng còn cho rằng quân đội làm gì có đủ lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất mà đòi tham gia đấu tranh trên mạng xã hội. Tất cả luận điệu này là hết sức phi lý, trơ trẽn, xuyên tạc, hòng phủ nhận vai trò tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái đó, không để cho chúng lợi dụng không gian mạng để bôi nhọ quân đội ta. Vì vậy, Quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng làm sạch môi trường internet ở Việt Nam là hết sức cần thiết hiện nay, phù hợp Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Việc đấu tranh trên không gian mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, từng bước làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động../

Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19

Khi đại dịch COVID - 19 đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường ở nước ta, cùng với các biện pháp phòng, chống dịch bệnh đồng bộ, quyết liệt, hơn bao giờ hết, cần nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID - 19. Việt Nam đang chứng kiến đợt bùng phát thứ tư của dịch COVID - 19 với tốc độ lây lan nhanh, nguy hiểm hơn bao giờ hết. Dịch bệnh đã xuất hiện ở hầu hết các tỉnh, thành phố, với tâm điểm là thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, gây tổn hại nghiêm trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và người dân. Để người có thể tin tưởng, sử dụng an toàn, hiệu quả “vũ khí vaccine” trong cuộc chiến chống giặc COVID-19, hoạt động tuyên truyền về vaccine phải đi trước một bước. Hoạt động này nhằm thống nhất nhận thức, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội về vị trí, vai trò của vaccine trong phòng, chống dịch COVID-19, “chinh phục”, xóa bỏ những hoang mang, lo sợ, nghi ngại của người dân về sự an toàn khi sử dụng vaccine. Khi hiệu quả tuyên truyền được nâng cao, sẽ trở thành “vaccine tư tưởng, tinh thần” thống nhất được ý chí và hành động của toàn dân, quy tụ được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch. Công tác tuyên truyền không chỉ giúp Việt Nam vượt qua đại dịch mà còn góp phần và “sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng”.(1) Hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19 ở nước ta hiện nay cần tập trung vào các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19, Ủy ban nhân dân các cấp về công tác tiêm chủng vaccine phòng COVID-19. Chú trọng tuyên truyền đầy đủ, sâu sắc nội dung Nghị quyết 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ về mua và sử dụng vaccine phòng COVID-19. Vận động người dân ở trong nước và kiều bào nước ngoài, các tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp tích cực, tự giác chung tay đóng góp, ủng hộ Quỹ vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam. Thứ hai, vận động các tầng lớp nhân dân ủng hộ công tác tiêm vaccine phòng COVID-19 theo tinh thần “Tiêm vaccine phòng COVID-19 là quyền lợi đối với cá nhân, là trách nhiệm đối với cộng đồng”, tham gia tiêm chủng đầy đủ khi đến lượt, để đạt được miễn dịch cộng đồng, đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới. Vận động mọi người dân thực hiện nghiêm thông điệp “5K + vaccine” để đạt hiệu quả phòng, chống dịch hiệu quả, bền vững. Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến kịp thời những nỗ lực của Chính phủ, Bộ Y tế, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong đàm phán, mua và cung ứng vaccine phòng COVID-19 về Việt Nam; nỗ lực nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam; công khai đầy đủ thông tin về việc phân phối, sử dụng các loại vaccine đã được nhập về cho các địa phương trong cả nước. Chú trọng phân tích đầy đủ, cụ thể, tỉ mỉ, sâu sắc về ưu, nhược điểm của các loại vaccine đang được sử dụng, cũng như các biện pháp bảo đảm an toàn sau tiêm chủng, để mỗi người dân yên tâm, tránh tâm lý hoài nghi, dao động, lưỡng lự khi tham gia tiêm chủng. Thứ tư, tăng cường thu thập thông tin từ dư luận xã hội và mạng xã hội để phát hiện, xử lý kịp thời các tin giả, tin đồn, tin sai sự thật liên quan đến vaccine và hoạt động tiêm vaccine ở Việt Nam. Cần nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề vaccine để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, cản trở các hoạt động triển khai Chiến dịch tiêm vaccine phòng COVID-19 và những nỗ lực phòng, chống dịch bệnh ở nước ta. Đồng thời, tuyên truyền lan tỏa những tấm gương tiêu biểu, những điển hình tiên tiến trong thực hiện các hoạt động tiêm vaccine phòng COVID-19. NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ, TRÁCH NHIỆM CỦA TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN VÀ TOÀN QUÂN Tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19 ở nước ta hiện nay là nhiệm vụ chính trị, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Không một lực lượng nào có thể đứng ngoài nhiệm vụ này để sớm đẩy lùi dịch bệnh, đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới. Do đó, để nâng cao hiệu quả tuyên truyền về vaccine phòng dịch COVID-19 ở Việt Nam hiện nay, cần triển khai thực hiện đồng bộ những giải pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội đối với hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19. Cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính quyền các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, quản lý hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19 theo đúng định hướng, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước. Các cấp, các ngành, các lực lượng tham gia phải bám sát tình hình diễn biến của dịch bệnh COVID-19, tiến độ thực hiện Chiến lược tiêm vaccine phòng COVID-19 để xác định mục tiêu, nội dung, cách thức, biện pháp tiến hành tuyên truyền một cách phù hợp. Từ đó, huy động và sử dụng tốt các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) triển khai các hoạt động tuyên truyền này. Hai là, phát huy thế trận “chiến tranh nhân dân” trong thực hiện các hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19, trong đó lực lượng nòng cốt là các cơ quan ngôn luận, truyền thông của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương. Các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương phải thực sự xung kích, đi đầu trong thực hiện các hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19, tích cực, chủ động xây dựng các tin, bài, phóng sự, chương trình truyền hình, phát thanh, tọa đàm, giao lưu trực tuyến... liên quan đến vaccine và các hoạt động tiêm chủng. Tăng cường số lượng, chất lượng các phóng viên “thực địa” để đưa tin, phản ánh kịp thời, chân thực, chính xác kết quả hoạt động tiêm vaccine ở các địa phương, nhất là tại các địa phương là tâm dịch. Phát huy vai trò của toàn dân trong tham gia thực hiện các hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng dịch COVID-19, gắn tuyên truyền vaccine với hoạt động của các “tổ Covid cộng đồng”, với cuộc sống sinh hoạt của người dân ở các thôn, xóm, tổ dân phố, khu dân cư. “Thế trận” này phát huy hiệu quả sẽ xóa được những “khoảng trắng”, “vùng trống”, bảo đảm những thông tin về vaccine, về hoạt động tiêm chủng đến được kịp thời với các tầng lớp nhân dân, các địa bàn trên cả nước. Ba là, tiến hành có hiệu quả các hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19 trên mạng xã hội. Với những ưu điểm cung cấp lượng thông tin lớn, có tốc độ lan truyền nhanh, không bị cản trở bởi không gian, thời gian, mạng xã hội là một trong những kênh tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19 hiệu quả. Hoạt động tuyên truyền này cần được triển khai rộng rãi trên các nền tảng mạng xã hội như: Facebook, Zalo, Viber, TikTok, Lotus... với nhiều nội dung, hình thức phong phú. Thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương thời gian qua cho thấy, nhiều tổ dân phố, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… đã lập nhiều hội, nhóm trên mạng xã hội để chia sẻ thông tin về việc tiêm vaccine đến các thành viên, qua đó, kịp thời giải thích, vận động mọi người cùng tham gia tiêm phòng. Bốn là, phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng và các tầng lớp nhân dân trong phát hiện, xử lý, đấu tranh với những thông tin giả mạo, xuyên tạc về vaccine, lợi dụng vấn đề vaccine để chống phá Đảng, Nhà nước ta, cản trở cuộc chiến chống đại dịch COVID-19. Thông tin giả mạo, xuyên tạc về vaccine đang là vấn nạn đối với nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Liên quan đến vaccine phòng COVID-19 hiện có nhiều luồng thông tin thất thiệt, nhưng chủ yếu xoay quanh một số nội dung như: về sự cần thiết và tính minh bạch Quỹ vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam, về sự cần thiết tiêm phòng vaccine, về tính an toàn của các loại vaccine, về việc phân bổ vaccine, về liệu trình tiêm, đối tượng được tiêm và phản ứng sau tiêm chủng của từng loại vaccine... Đặc biệt, một số đối tượng cơ hội chính trị, chống đối trong và ngoài nước đã tung ra muôn vàn luận điệu xuyên tạc về tình hình triển khai tiêm phòng vaccine phòng COVID-19 ở Việt Nam, hòng tạo tâm lý hoang mang trong dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; từ đó gây khó khăn cho công tác phòng chống dịch bệnh ở nước ta. Đối diện với tình hình đó, các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa việc kiểm soát thông tin, nhất là thông tin trên mạng xã hội, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm những hành vi tung thông tin thất thiệt về tình hình vaccine ở Việt Nam. Mỗi cá nhân cần tỉnh táo khi tiếp cận thông tin trên mạng xã hội, cân nhắc trước khi thực hiện các tương tác trên mạng xã hội (như: thích (like), chia sẻ (share) hoặc bình luận (comment)), kịp thời phát hiện, tố giác những thông tin xấu, độc, sai sự thật đến cơ quan chức năng để xử lý. Đồng thời, lan tỏa, biểu dương, khích lệ những tấm gương điển hình trong công tác phòng, chống dịch nói chung, trong thực hiện các mặt công tác liên quan đến vaccine phòng COVID-19 nói riêng để tạo dư luận tích cực trong đời sống xã hội. Thực tiễn cuộc chiến phòng, chống dịch bệnh COVID-19 hiện nay đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động tuyên truyền về vaccine phòng COVID-19, để nâng cao nhận thức, thống nhất tư tưởng và có hành vi đúng đắn, bảo đảm sức khỏe và sinh mạng của mỗi người dân.