Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2022

Nga tuyên bố trực thăng sơ tán chỉ huy Ukraine bị bắn rơi

Quân đội Nga cho biết lực lượng ly khai Ukraine đã bắn rơi trực thăng chở các chỉ huy Tiểu đoàn Azov rời khỏi thành phố Mariupol ở miền nam.

"Kiev triển khai hai trực thăng Mi-8 để sơ tán ban chỉ huy Tiểu đoàn Azov khỏi Mariupol sáng 31/3. Dân quân Cộng hòa Nhân dân Donetsk dùng tên lửa vác vai Stinger thu được từ lực lượng Ukraine bắn hạ một chiếc và nó rơi gần làng Rybatskoye", phát ngôn viên quân đội Nga Igor Konashenkov cho biết hôm nay.

Tướng Konashenkov thêm rằng trực thăng còn lại cũng bị hư hại do tên lửa vác vai trong lúc bay về phía biển Azov, sau đó rơi cách bờ biển khoảng 20 km.

Bộ Quốc phòng Ukraine chưa bình luận về thông tin này.

Trực thăng Mi-8 Ukraine làm nhiệm vụ hồi năm 2017 Ảnh: Jetphotos.

Trực thăng Mi-8 Ukraine làm nhiệm vụ hồi năm 2017 Ảnh: Jetphotos.

Tiểu đoàn Azov là lực lượng bán quân sự có nguồn gốc từ các nhóm cực hữu và tân phát xít Ukraine. Dù tiểu đoàn Azov chỉ là một phần nhỏ thuộc Vệ binh Quốc gia Ukraine, Nga tuyên bố các tay súng của lực lượng phải chịu trách nhiệm cho các vụ giết hại dân thường và tấn công phá hoại ở Mariupol.

Mariupol là thành phố chiến lược trên bờ biển Azov, án ngữ hành lang trên bộ nối bán đảo Crimea với khu vực ly khai ở miền đông Ukraine. Nếu kiểm soát được địa điểm này, Nga sẽ nối thông được hành lang chiến lược và phong tỏa hoàn toàn cửa ngõ tiếp cận biển Azov của Ukraine.

Thành phố bị lực lượng Nga bao vây từ đầu tháng 3 và chính quyền Ukraine đang chạy đua để tổ chức sơ tán hơn 100.000 người mắc kẹt. Theo giới chức Ukraine, khoảng 90% các tòa nhà dân cư trong thành phố bị hư hại hoặc phá hủy, nguồn cung cấp điện và thông tin liên lạc bị cắt.

Bộ Quốc phòng Nga hôm qua công bố lệnh ngừng bắn và sẽ mở hành lang nhân đạo trong hôm nay để sơ tán dân thường Mariupol. Chính phủ Ukraine sau đó thông báo điều 45 xe buýt đến thành phố này để sơ tán dân.

Lãnh đạo Cộng hòa Nhân dân Donetsk (DPR) tự xưng Denis Pushilin hôm 31/3 ra lệnh thành lập chính quyền ở Mariupol, chỉ thị lãnh đạo địa phương đảm bảo việc xây dựng và phê duyệt quy định liên quan quản lý, cơ cấu và nhân sự của thành phố, thành lập các cơ quan hành chính cấp quận ở Mariupol.

Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt ngày 24/2 nhằm "phi quân sự và phi phát xít hóa Ukraine". Đàm phán giữa Nga và Ukraine tại Istanbul ngày 29/3 được coi là bước quan trọng để hai bên đạt được thỏa thuận sau hơn một tháng chiến sự. Tuy nhiên, trong cuộc điện đàm với Thủ tướng Italy Mario Draghi ngày 30/3, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho hay các điều kiện hiện nay chưa chín muồi để đạt được thỏa thuận ngừng bắn tại Ukraine.

Khoảng cách quyền lực

 Tôi bị trật khớp vai ba tháng trước. Vết thương đang liền, nhưng cánh tay vẫn đau nhức chưa khỏi hẳn.

Tôi phải gặp nhiều bác sĩ để hỏi cách giảm đau. Họ, dù trong cùng một khoa, gợi ý nhiều phương pháp chữa trị khác nhau. Một số người chia sẻ với tôi, họ có quan điểm hơi khác với cấp trên, nhưng ngại bày tỏ ý kiến công khai khi hội chẩn. Vì tôi hỏi, nên họ trao đổi riêng để tôi tùy ý tham khảo.

Chuyện cấp dưới không dám có ý kiến khác với cấp trên khá phổ biến ở một quốc gia bị ảnh hưởng mạnh bởi đạo Khổng như Việt Nam. Tôi không ít lần vấp phải điều này khi làm việc với các cơ quan nhà nước ở đây. Khi tôi có một đề xuất hợp tác hay sáng kiến với phía Việt Nam, tôi thường trao đổi với một số nhân viên cấp dưới trong các bộ ngành trước, để đánh giá tính khả thi, và đề nghị họ đề đạt lên cấp trên. Nhiều người đánh giá cao, ủng hộ hoàn toàn và gợi ý chỉnh sửa sáng kiến của tôi để phù hợp hơn với thực tiễn. Nhưng họ hầu hết yêu cầu tôi phải viết công văn chính thức để họ đệ trình lên cấp cao. Họ không dám tự khẳng định rằng đây là sáng kiến mà họ cũng ủng hộ. Họ không dám quả quyết với lãnh đạo rằng đây là đề xuất nên được thực thi. Quả bóng "trách nhiệm" được đẩy lên cấp trên.

Tôi quan sát thấy trong các cơ quan nhà nước, cấp dưới thậm chí còn sợ trình bày vì ngại bị sếp thấy mình có nhiều sáng kiến quá, sợ bị nghĩ là vượt quyền. Một số người sợ bị coi là "thể hiện", có thể đe dọa vị trí của sếp. Nhiều nỗi sợ như vậy ngăn cản khả năng làm việc giản đơn và linh hoạt.

Vấn đề này liên quan tới khái niệm "khoảng cách quyền lực". Trong nhiều xã hội Đông Á, tôn ti trên dưới được đề cao. Người dưới có xu hướng tôn trọng, tôn kính người trên. Điều này có nhiều mặt tốt, nhưng cũng khiến nhân viên không dám "bất đồng" với những người quản lý của mình.

Khoảng cách quyền lực gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn mọi người nghĩ. Ở Hàn Quốc, tỷ lệ tai nạn máy bay từng cao hơn tỷ lệ chung của thế giới. Khi nghiên cứu các đoạn thoại trong khoang lái ở những thời điểm máy bay nguy cấp, các nhà điều tra phát hiện ra sự dè dặt của cơ phó trong việc phản biện cơ trưởng. Trong khi cơ trưởng bị cuống và đang sai lầm, nếu cơ phó mạnh mẽ hơn, máy bay có thể đã được cứu. Nhưng khoảng cách quyền lực quá lớn ngăn cản điều này xảy ra.

Hàn Quốc sau đó yêu cầu chuyển đổi ngôn ngữ trong khoang lái. Phi công phải dùng tiếng Anh thay vì tiếng Hàn như cũ. Tiếng Anh chỉ có hai ngôi rõ ràng, tôi (I) và bạn (you), cũng như không có nhiều kính ngữ, để giảm bớt khoảng cách quyền lực giữa cơ phó và cơ trưởng. Sự thay đổi nhỏ này góp phần khiến cho Hàn Quốc hiện là quốc gia có mức độ an toàn bay cao nhất.

Tiếng Việt là ngôn ngữ thể hiện rõ trật tự quyền lực. Khi mới sang Việt Nam học tiếng Việt vào năm 1980, một buổi tối, tôi thường đi ra nhà ga, địa điểm duy nhất mở cửa 24/24h tại Hà Nội khi đó. Để thực tập tiếng Việt, tôi gặp nhiều người và hỏi cùng một câu: "Đây có phải là nhà ga không?". Người đứng tuổi đáp: "Ờ, nhà ga". Người cùng tuổi trả lời: "Phải, nhà ga". Người ít tuổi hơn nói: "Vâng, nhà ga". Đó chỉ là một trong nhiều ví dụ cho thấy tiếng Việt luôn có những cách thức để người cao hơn thể hiện mình là bề trên và người thấp hơn thể hiện sự nhún nhường.

Tôi, ở góc độ nào đó, rất thích văn hoá "có trên, có dưới" của Việt Nam, nơi người già được nhường nhịn và tôn trọng. Nhưng giữa công việc và chuyện tình cảm phải phân minh. Không phải cứ sếp là đúng và không phải cứ lớn tuổi hơn là đúng. Nhân viên luôn sợ bày tỏ quan điểm sẽ không tốt cho công việc chung.

Ở các công ty hay tổ chức nước ngoài, luôn có bộ phận riêng biệt về đạo đức và đường dây nóng để nhân viên báo cáo những sai lầm của cấp trên mà không sợ bị ai biết và trù dập. Việt Nam có thể cũng sẽ tiến tới có những bộ phận độc lập như vậy để kiểm soát những sai lầm do "khoảng cách quyền lực" tạo nên.

Nhân viên cũng phải được đào tạo hàng năm về văn hoá tranh luận, dám có ý kiến xây dựng, dám nêu ý tưởng. Nhiều lãnh đạo cấp trên rất cởi mở và không muốn áp đặt quyền lực, nhưng cấp dưới tự mình e ngại trước.

Đây cũng là nguyên nhân hạn chế rất nhiều sáng kiến từ cấp dưới. Khoảng cách quyền lực cũng là lý do khiến nhiều cơ quan đang làm việc máy móc.

Phương pháp chữa trị cánh tay bị đau của tôi chỉ là chuyện nhỏ. Khoảng cách quyền lực có thể gây những hậu quả lớn hơn. Thu hẹp khoảng cách trong tâm lý này là điều mỗi cá nhân và toàn bộ hệ thống có thể cùng nhau ý thức và thực hiện.

Nhìn lên? Nhìn... xuống?

 Tôi đã tận thấy một con đường “cong... mềm mại” (nhại cách nói của một vị chức sắc ở Thủ đô Hà Nội) đến quyến rũ càng như tôn lên cái dáng vẻ oai phong nhưng thật la đà của một cây cổ thụ ở Thái Lan, vào năm 2005! Tôi chưa thể hiểu được điều “kỳ quặc” ấy, nếu đem cái nhẽ thông thường ở xứ mình ra mà suy.

Tôi cũng tận thấy một con đường sắt còn “mềm mại... cong cong” hơn nhiều lần con đường bộ của xứ Thái Chùa Vàng, như quyết tâm phải... tránh một ngôi làng cổ (nhưng về tuổi có lẽ chửa đáng hạng chút chít làng Đường Lâm xứ Đoài mây trắng cả ngàn năm của ta) ở tít tận xứ sở khai sinh giải Nô-ben lừng lẫy thế giới, lại mới cách nay vừa 17 năm. Kỳ thực, tôi lại càng không hiểu được điều “trên Giời” của dân xứ Bắc Âu xa xôi ấy, nếu theo cái nhẽ của xứ mình, lại nom bằng “con mắt hạt đậu” của riêng tôi!

Thì ra, các xứ dù ở rất gần ta hay rất xa ta, họ đều có chung một kiểu nghĩ nhưng lại rất khác xứ ta. Hay là ta “độc đáo”, ta “bản sắc”? “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn”? Hay là “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”? “Duy ngã độc tôn”? V.v.. Có lẽ cái nhẽ của xứ ta hay chăng thường thế và... chỉ có thế?

Chả thế mà bỗng dưng hàng ngàn cây xanh đã bảy, tám chục mùa Xuân đùng đùng ban ngày, lặng lẽ ban đêm bị... đốn hạ! Nắn một cái vỉa hè, lề đường thôi, mà tận một cái huyện vùng bán sơn địa xa lắc lơ kia, cũng triệt hạ cả một hàng cây xanh sừng sững suốt cả bốn, năm chục tiết Đông, cốt cho thẳng thớm chỉ mỗi cái... vỉa hè!

Chả thế mà bỗng dưng bao ngôi đình chùa bị phá, làng cổ bị gặm nhấm bởi mấy cái “dự án treo ngược... chân mây”; mồ mả tổ tông bao gia đình bị di dời mà chả một ai ký lệnh mảy may rơi... nước mắt!

Nhưng, nom sang xứ người, tôi đồ rằng, xứ ta chả phải thứ bỗng dưng! Nếu bỗng dưng, thì họa chăng chỉ có người rỗi hơi hay những kẻ loạn trí, mới bỗng dưng thế! Họ tự tô trát, đánh bóng mình? Họ ra oai với hàng tổng. Họ muốn tâng công với cấp trên? Chỉ là một nhẽ bé! To hơn, là họ hóng để thậm thụt cái “chân giò”? Họ đợi chấm mút cái “nậm rượu”? Họ thỉn thò cái thứ “của đồng chia ba, của nhà chia đôi”, đục đẽo, chia chác từ các dự án “nửa đực nửa cái”? Họ ngó, họ hóng... kiếm “màu” lúc xã tát ao? Dân ta vốn hiền như hòn đất vẫn râm ran thế! Và, tôi cũng nom và nghĩ thế! Chả có thứ... bỗng dưng nào cả!

Chả thế, thảo nào dân ta chả chịu nổi mấy thứ... bỗng dưng ấy. Đơn kêu cứu chạy khắp nơi. Thư tố cáo tá lả ngược xuôi, đôn đáo ở mọi cấp. Có vụ, việc lê thê tới cả vài mươi năm. Thậm chí cả thôn làng, cả xã chả ai thèm hề hấn mà tiếc cái thân mình, nhất tề nhào ra cản bánh những xe ủi những toan đè nát rau màu... Để làm gì? Rồi thì bà già, con trẻ lăn xả với những người “thực thi công vụ” nai nịt trăm thứ đầy mình, xăm xăm dỡ đình chùa đã trăm năm của làng... Phỏng lợi lộc gì? Đâm ra lắm nơi tình hình cứ rối beng lên như canh hẹ! Đâm ra lắm cấp kỷ luật cán bộ dễ đến cả... xâu, thậm chí nhắm mắt mà khua cũng không oan những sự “chả bỗng dưng”!

Tôi đem những sự đường bộ tránh cây, đường sắt tránh làng ở xứ Chùa Vàng, ở xứ Nô-ben (tất cả họ làm mà cứ “nhẹ tựa lông hồng”) hầu chuyện một cụ già ngót cả chín chục tuổi Giời ở làng! Cụ hỏi lại tôi: Chắc chính phủ họ hỏi ý dân? Tôi thưa, vâng!

Cụ im lặng rất lâu, và thủng thẳng kể: Vào độ dững năm năm mươi, năm mốt, đây vẫn là làng tề. Pháp càn vào làng, đốt cháy vài chục nóc nhà. Trong cái hỏa hoạn, súng nổ tứ bề, thì một cán bộ Việt Minh bị thương ở chân gặp cụ. Anh ấy quỳ xuống, xin cụ giấu! Cụ bảo: Chú đứng dậy, và xốc nách anh ấy, giấu sau bờ đìa, thì giặc Pháp ập tới! Thoát chết! Sau này, anh ấy làm tới tận Chủ tịch tỉnh. To lắm. Nhưng, vẫn thường về thăm và vẫn giữ lễ quỳ xuống nhìn lên cụ, y hệt cái đận ấy. Cụ bảo: Nay, thì cán bộ xã này có tí chức tí quyền dân bầu cho, mà chỉ biết “vác mặt” lên, đứng trên bục cao, trên đủ thứ... cứ nhầm tưởng là “mục hạ vô nhân”(!). Rồi, nhìn xuống... mà phán bảo, mà ra lệnh(!). Chả thèm đoái hoài bụng dân nghĩ gì. Hay vì ngại “dân thì vốn gian”, lại không “sáng suốt”? Đâm ra cái làng này mới sinh “loạn” to, từ cái độ giải tỏa mặt bằng cho mấy ông doanh nghiệp, dễ cả năm giời, tới tận hôm rồi, chửa dứt! Không có ai nghe phán, thì mấy ông xã làm “quan” với ai? Chả nhẽ với... các em “quan” bé: tỉ như trưởng thôn, trưởng xóm? Hay vì chưa thấy “quan... tài”, quyết chưa... rỏ lệ?

Tôi thưa với cụ: Nhìn lên thì lễ nghĩa, đáng phục; nhìn xuống thì vô sỉ, đáng khinh! Cụ thì bảo, cụ chả thiết kiểu nhìn lên, muốn quẳng đi lối nhìn xuống!

Cụ duy chỉ cần mỗi điều to bằng... hạt gạo. Rằng, cán bộ xã này, huyện này cố mà nhìn... ngang, nom thẳng vào cái bụng dân, rồi biết nghĩ bụng, mà biết điều biết nẻo, bụng ta bụng người...

Được thế, thì mọi sự dù rối rắm, thậm chí là vỡ đê, “cháy nhà chết người”, giặc giã hung hãn, đạo chích quấy nhiễu đến mấy như xưa kia, dân làng chỉ khua tay nhẹ, đã tan. Làng này xưa vốn thế, nay vẫn thế!

Tỷ như tháng trước, cái ông chủ tịch xã bị bọn côn đồ lùa khắp xóm, vì tội cầm tiền rồi quỵt việc bao che cho chúng làm càn làm rỡ. Tưởng chết. Dân làng thương tình, lại vì thể diện xã, mới chỉ dùng đến mấy ngón tay thôi, lũ côn đồ nhung nhúc kia, bỗng như bèo... gặp bão. Việc “nhất sinh vạn tử” ấy, dân làng nhón tay làm phúc, lại hóa bé tẻo teo. Giỏi lắm, may ra cũng chỉ nhỉnh hơn nửa cái... móng tay này. Và, cụ giơ choạc ngón tay cái, móng đã mòn vẹt, vì công việc cấy cày đồng áng.

Cụ bảo: Khó không làm nổi, thì chịu khó mà... hỏi dân. Hay nghĩ vì mình sáng suốt, không cần hỏi? Hay nghĩ vì sợ mình “hạ cố”(!), mà mất mặt với dân? Khi dân còn vì “máu chảy ruột mềm”, mà thiết tha mở miệng, là còn thương đấy. Để dân ngoảnh đi, coi như người dưng nước lã, chả ai buồn nhếch mép, chả ai thèm động thủ, kệ thây, thì đến cái ngày, chỉ còn mỗi một nước, là... hết!

Chuyện cũ rích rác, đã đôi mươi năm trước. Giờ, vắn tắt xin biên lại vài nhời. Ngõ hầu may ra động nhĩ, cốt để mong sao lắm người chỉ những quen... nhìn xuống, thử nghĩ và thử tự hỏi mình!./.

Lộc giời?

 Từ hơn ba năm trước, Thông chỉ là một nông dân trồng ổi. Giống ổi cao sản du nhập vào địa phương cũng giúp vợ chồng Thông có thu nhập ổn định. Những năm ổi được giá, thu nhập cao hơn tý chút thì gia đình vui lắm. Ấy nhưng, những năm giá ổi xuống thấp, tiền chi mua phân bón và công chăm sóc tăng, vợ chồng buồn chẳng muốn hái ổi, thậm chí cả buổi chẳng thèm nói với nhau câu nào.

Bây giờ thì Thông không phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, xới, chăm bón, lo tỉa hoa cắt cành cho từng gốc ổi như trước đây nữa. Nói chính xác, Thông đã tạm biệt hơn một nghìn mét vuông đất trồng ổi chỉ để rong ruổi, hưởng “lộc giời”.

Người đời truyền nhau câu nghèo lâu, giàu mấy quả không sai. Thông là trường hợp điển hình. Đang phát ngán vì giá ổi xuống thấp thì ông anh họ bên nhà vợ đến ép vợ chồng Thông phải làm ông chủ bãi tha ma. Thoạt nghe tưởng chuyện lạ xưa nay, nhưng là có thật. Từ ấy, lộc giời rơi vào đầu Thông như là một lẽ đương nhiên của cuộc sống. Này nhé, mỗi gia đình ở địa phương cần cải táng hoặc hỏa táng đem hài cốt, tro cốt về chôn cất là Thông có tiền triệu trong tay. Nào là tiền đất, tiền xây, tiền hoàn thiện công trình, đến chăm sóc phần mộ... Đấy là chưa tính những dự án xây dựng trên diện tích đất thuộc những nghĩa địa khác có nhu cầu chuyển đến. Mỗi năm, ước ra Thông thu lời mấy trăm triệu. Trồng ổi mười năm chắc cũng chẳng được như thế. Mỗi khi vi vu trên xe hơi hiệu Forcus bóng lộn, êm du mới sắm, Thông lại mỉm cười một mình. Thông nhớ lại chuyện gần 3 năm trước.

Độ ấy, vào đúng dịp tháng bảy, mùa thu hoạch ổi thời tiết nóng như đổ lửa thì ông anh họ đằng vợ bất ngờ xuất hiện như ông bụt trong chuyện cổ tích. Ông anh chui ngay vào cái lều trồng ổi chật chội ẩm mốc và bảo vợ chồng Thông ký vào một loạt các giấy tờ gì đó đã làm sẵn để có thu nhập hơn trồng ổi, có của ăn của để và nhanh giàu. Làm sao mà Thông dám từ chối, dám hỏi han nguyên nhân, lý do cho được cơ chứ khi ông anh làm việc ở cơ quan tài chính của quận nhiều năm, thông thạo pháp luật lại có tiếng nói, uy tín cao trong gia đình, dòng họ. Hơn nữa, Thông trộm nghĩ, anh em trong nhà, chắc chẳng bắt nhau đi tù vì chữ ký.

Thời gian ngắn sau, ông anh đằng vợ gọi Thông sang nhà. Ông anh ngọt nhạt, tỷ tê, rỉ tai với Thông kế hoạch tuyệt mật. Số là, miếng đất mà người dân gọi là “đuôi lươn” của phường vốn bị bỏ hoang hóa từ lâu chẳng ai ngó ngàng tới nay được xếp vào quy hoạch, trở thành khu công viên vĩnh hằng. Nói thế cho oai chứ thực chất là nơi an táng, an nghỉ của những người quá cố. Theo lệ xưa thì, đất công của làng nào, phố nào do người dân ở đấy được quyền sử dụng và quyết định. Nay đã thành đô thị, đất thuộc quyền quản lý, định đoạt của quận, của thành phố. Để thực hiện dự án thì phải tổ chức đấu thầu mới đúng quy định địa phương và đúng pháp luật hiện hành. Vấn đề làm thế nào để trúng thầu mới là câu hỏi hóc búa. Một nông dân thứ thiệt học chưa hết cấp 3 như Thông thì quả là khó. Nhưng được cái bố mẹ đặt tên là Thông cũng không thừa. Thông cho rằng, từ khi sinh ra và lớn lên, cái tên Thông với hy vọng là thông thái, thông tuệ, hiểu người, hiểu đời hôm ấy mới được phát huy tác dụng. Thông ngọt nhạt với ông anh rằng, em nông dân chân chất, ít học, ít va chạm, biết gì, bác thuộc tuýp người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu lòng người. Việc lo, việc nghĩ đâu đến phần em. Em cứ thực hiện theo lệnh của bác. Bác bảo em chặt to, em chặt to, bác bảo em bổ nhỏ thì em bổ nhỏ. Đấy, bác nói thế nào em làm đúng như vậy.

- Được. Nhưng cấm chú tiết lộ thông tin đấy nhé.

- Vâng. Thời nay, thông tin là vàng là bạc. Đấy, như cái món trồng ổi của em đấy thôi. Chỉ cần lộ thông tin phun thuốc sâu sát thời điểm hái quả thì ổi có ngọt và ngon cỡ mấy cũng chẳng có khách tới mua. Thậm chí cho người ta cũng không lấy chứ nói gì đến bán rẻ.

- Chú nghĩ thế là phải. Giờ thì nghe này. Hôm tổ chức đấu thầu thì cậu cứ đến, cứ ngồi im, bảo gì làm lấy. Tôi nhắn vào điện thoại số bao nhiêu thì ghi đúng số đấy. Bây giờ tập nhé.

Ông anh lấy tờ lịch cũ và đưa cho Thông chiếc bút bi.

- Xong chưa, nhìn vào máy điện thoại và đợi tin nhắn.

- Vâng.

Sau tiếng báo tin nhắn kêu bít, Thông mở máy và đọc to: Ba trăm sáu mươi triệu.

- Chết, ngu ơi là ngu!

- Sao vậy anh, cái này em học từ bé, đơn giản mà. Em đọc đúng hàng triệu, trăm, nghìn và đơn vị đấy thây.

- Mày ngu lắm em ạ. Khi đấu thầu, mỗi người đều có một con số để ghi vào. Ai bỏ thầu giá cao sẽ trúng. Chú đọc to thế, nhỡ người ta nghe được, cho thêm số 1 vào thì chú có trúng thầu được không?

- À ra vậy. Em hiểu rồi.

- Ừ, chú nhẩm ở trong đầu thôi, sau đó ghi ra giấy nhé.

- Vâng.

- Nào, ta làm lại.

Ngay hôm sau, buổi đấu thầu diễn ra như kế hoạch và Thông cũng làm đúng như những gì mà ông anh bên nhà vợ đã tập huấn. Mãi sau này Thông mới biết, người ngoài khó mà có thể chen chân được miếng ngon như vậy. Bởi như sau này ông anh chia sẻ, nếu người địa phương trúng thầu sẽ dễ quản lý hơn, tránh được sự va chạm với người khác khi sử dụng dịch vụ. Thế nên, Thông là nhân vật số 1 mà ông anh chọn. Trong buổi đấu thầu ấy, ngoài Thông thì chẳng có ma nào ở phường biết được thông tin này. Bởi như Thông suy đoán, ai mà rỗi hơi tìm hiểu mấy cái thông tin kia. Với lại, đặc nông dân, biết gì mà làm giấy tờ, biết gì mà làm hồ sơ dự thầu cơ chứ? Đời người có số. Và Thông là một minh chứng. Chỉ một con số chẳng có nghĩa gì Thông đã đổi đời. Từ nông dân xịn trở thành ông chủ công viên vĩnh hằng. Tuy nhỏ, nhưng ý nghĩa lắm. Cũng may nhờ ông anh quan hệ rộng, nhiều quyền uy hơn người, chỉ đạo quân xanh bỏ thầu thấp nên Thông mới được như ngày hôm nay. Thời buổi đất chật người đông, của ít nên cái gì cũng phải mưu mẹo, khôn ranh và lanh lợi. Thông đang dự định bàn với ông anh đằng vợ, xây thêm nhà để tro cốt người quá cố. Mục đích là tạo ra các ô ngăn như ở Đài Loan hoặc Hồng Công, vừa đẹp vừa lịch sự lại tiện lợi, văn minh. Sau này, các chung cư mọc lên, người đến ở đông hơn, nhu cầu lắm chắc chắn sẽ hốt bạc.

Đấy, số đỏ là đấy chứ đâu. Ấy nhưng, để việc này được thông đồng bén giọt, Thông cũng phải chi ra tấm ra món. Buôn có bạn, bán có phường. Lộc giời mà hưởng tất đâu được. Từ ngày lên ông chủ, Thông hiểu ra, có tiền, có quan hệ, được các quan bao bọc và bật đèn xanh, nắm chắc thông tin, xử lý chính xác thì chẳng sợ nghèo./.

Trăm năm, chuyện... tưởng cũ càng!

 

Lần đọc cổ thư...

Năm 1928, bàn về bệnh “Bệnh giả dối quá nặng”, Cụ Phan Bội Châu viết: “Tục ngữ có câu nói rằng “Trăm voi không được một bát xáo”; lại có câu rằng “mười thóc không được một gạo”.

Xem đó mới biết tính chất người nước ta chứng bệnh giả dối là một chứng rất nặng.

 (từ đây trở xuống, điểm qua sĩ nông công thương là bốn loại người trong xã hội) hay giả dối thì tìm tòi đạo lý không cậy óc mà cậy tai (ý nói chỉ nghe hóng mà không chịu suy nghĩ);

Nông hay giả dối thì cày cấy ruộng trưa (mãi trưa mới ra ruộng), không cậy người mà cậy đất (dựa vào đất đai màu mỡ chứ không dựa vào lao động chăm chỉ);

Công hay giả dối thì phấn sức lừa đời mà không cầu thực dụng;

Thương hay giả dối thì đua nhau bòn vặt mà mất cả lợi to, thậm chí mướn đạo đức làm lối cầu danh mà trát vàng ở ngoài mặt, mướn nhân nghĩa làm mồi cầu lợi mà xức mật ở đầu môi.

Chẳng những ngoài đối với xã hội trên đối với quốc gia, gốc cây trăm năm đủ bị con mọt giả dối kia đục đổ, bức thành muôn dặm đã bị con mối giả dối kia xoi (làm cho thủng) tan; mà lại trong đối với một nhà, dưới đối với một mình cũng mắc con ma bệnh giả dối đo đục thấu cao hoang (chỗ trọng yếu trong con người), khoét vào cốt tủy; tay dối lòng, miệng dối dạ; ăn bánh vẽ mà toan đầy bụng, mặc áo giấy mà đi với ma, kết quả không việc gì là việc thật...”.

Ngược lên 20 năm trước Cụ Phan, vào năm 1908, cách nay cả 109 năm, Cụ Trần Chánh Chiếu, khi luận về chữ Tín, viết trên Lục tỉnh tân văn, rằng: “Không giữ chữ tín thì anh lừa tôi, tôi lừa anh, trăm chuyện sẽ nát, tinh thần xã hội tan rã (...).

Bất tín lớn nhất: một là dối trá. Nhiều người nước ta vụng trong đường mưu sinh (kiếm sống) nhưng lại giỏi dối trá giả mạo.

Hai là bội ước các quy chế, chương trình, mà lại làm ra vẻ tuân hành. Nói mười không giữ được hai, ba. Ngay khi ký quy ước đã không có ý thực hiện, cứ ký bừa, bất kể sau này ra sao. Cho nên quy ước chưa ráo mực mà như đã bỏ đi.

Còn như ước miệng (thỏa thuận miệng) thì chỉ là “nói láo mà chơi nghe láo chơi” (câu thơ cổ Trung Hoa, được dẫn trong lời mở đầu truyện Liêu trai). Những thói xấu ấy đầy rẫy mà cứ điềm nhiên không cho là quái gở”.

Năm 1914, chung quanh chuyện kiêu ngạo, hợm hĩnh, theo đuổi những cái hão huyền, dưới nhan đề: “Gõ đầu trẻ”, Cụ Nguyễn Đỗ Mục viết trên tờ Đông dương tạp chí: “Kiêu ngạo lộ ra ngoài mặt là những kẻ làm bộ làm tịch, ta đây kẻ giờ (một thứ “anh hùng thời đại”), khinh người bằng nửa con mắt. Lại có thứ kiêu ngạo kín ở trong bụng, nghe điều trái tai không cãi, thấy điều chướng mắt không chê, chỉ nói mát một câu hay cười nhạt một tiếng.

Có kẻ bụng dạ nhỏ nhen thì sinh ra kiêu ngạo, hơi một tí đã có tính hợm. Vậy nên đấng nghiêng trời lệch đất không kiêu ngạo bằng những kẻ đội lốt sư tử, tiền rừng bạc bể không kiêu ngạo bằng những kẻ mầu mỡ riêu cua.

Có kẻ tư tưởng sai lầm thì sinh ra kiêu ngạo. Ăn tàn phá hại lại tự cho là sang trọng vào nhòng, lừa dưới dối trên lại tự cho là khôn ngoan chẻ vỏ (Vào nhòng chẻ vỏ là gì, chúng tôi chưa chú giải được).

Kiêu ngạo lại thường là một người ngu, ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung, vịt lội dưới ao chê sấm là nhỏ.

Kiêu ngạo không chỉ là cái cớ riêng của đám người không có giáo dục mà còn tại tập tục và trình độ cả đám đông xã hội”.

Dưới nhan đề “Tiếng gọi đàn”, để nhận diện thói đảo lộn các giá trị, năm 1925, Cụ Dương Bá Trạc viết: “Danh dự là có tài có đức có công nghiệp (cũng tức là sự nghiệp) có khí tiết thật, còn kẻ chạy theo hư vinh chỉ lo đâm đầu đâm đuôi chạy xuôi chạy ngược để cầu cạnh chen chúc, làm sao cho có được cái mã ngoài ấy thì tất là lộn sòng với cái chân giá trị.

Nào trong xã hội mấy ai là người biết cân nhắc so sánh cái chân giá trị của người ta, mà vẫn thường lầm cái hư vinh là cái danh dự thực!

Hỏi trọng gì, ắt là võng lọng cân đai; hỏi quý ai, tất là ông cả bà lớn; hỏi cái gì là sang, tất là xe ngựa lâu đài ngọc ngà gấm vóc; hỏi cái gì là sướng, tất là ăn trên ngồi trốc, nhận lễ thu tiền.

Rồi xu phụ khéo luồn lọt bợm để cầu vinh, ấy là người giỏi; giết người tợn tâng công khỏe để cầu vinh, ấy là người tài; lắm quan thày tốt, thần thế lo gì cũng xong xin gì cũng được, ấy là anh hùng; nạt con em ức hiếp hàng xóm, anh làm ông nọ, em làm ông kia, ấy là nhà có phúc; khao phẩm hàm, vọng ngôi thứ (nộp tiền hay lễ vật cho làng để có ngôi thứ), ấy là vẻ vang; cổ kim khánh, ngực mề đay ấy là danh giá.

Một người như thế, trăm người đều như thế, đời trước như thế mà đời sau cũng như thế nốt!”.

V.v...

Xin được lạm bàn: Từ rất lâu rồi, khảo tầm, đọc đi đọc lại cổ thư, cứ lần lữa mãi, chửa dám chép ra. Vì, lòng vẫn ái ngại, sợ kiến văn chưa đủ rộng, e bỏ sót; ngại sở học chưa đủ sâu, khơi lại cái nọc xấu xí của... thời xưa, người xưa cả hàng trăm năm trước, e thất lễ với cổ nhân. Nhưng, càng nghĩ càng buồn và xót xa thay! Vì, chính những thói ấy, một nguyên do căn bản, đã làm cho người nước Nam ta tự cùm trói mình, tự làm mình yếu hèn đi, tự mình làm nô lệ cho... chính mình, khó ngóc đầu lên đặng. Cộng thêm với họa lúc bấy giờ, nhân quần bị đọa đầy trong vòng vong quốc nô, dân tộc rên xiết dưới gót sắt thực dân, bị trói buộc bởi vòng vây phong kiến, nên nhân sinh, dân tộc lại càng thêm thê thảm, đằng đẵng ngót cả trăm năm giời, mù mờ đi giữa đêm đen. May mà Ất Dậu 45 tới, dưới ngọn cờ của Đảng, phải mất 15 năm toàn dân tranh đấu, mới thoát ra được vòng nô lệ, để dân tộc tới bờ độc lập, nhân dân cập bến tự do! Thói ấy trong nhân sinh, tưởng những theo đó mà... tan!

Nhưng sau ngoài 70 năm, giờ trông lên, rồi nhìn sang, khi xem lại cổ thư, dẫu là những chuyện đã rêu phong, lại vẫn buộc phải tự vấn: Thời nay, ai người dám quả quyết rằng, những thói ấy chỉ của thời xưa, của người xưa, mà ở thời nay, người nay đã tẩy sạch? Nếu xem và đối sánh với 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong Đảng hiện thời, vẫn thấy những thói xưa cũ ấy đang... thập thò ở đảng viên này hoặc ẩn hiện trong tổ chức đảng kia: háo danh, phô trương, đánh bóng tên tuổi, “chạy” thành tích, giả dối, hư vinh... Và, nhãn tiền có thể, nếu không tỉnh táo tẩy trừ, âu sẽ lại mỗi người tự mình làm mình bạc nhược, yếu hèn, tự mình cùm trói mình, tha hóa, thoái hóa! Thì thật đắc tội với sự cảnh báo của các bậc tiền nhân lắm thay! Nhưng, mối nguy to nhất, nếu các chứng cũ ấy lây lan rộng khắp, lại ăn vào tận cốt tủy người đứng đầu tổ chức, mà không quyết sửa chữa, sẽ lâm cảnh “vạ trong tường vách”, thậm chí là chuốc lấy cả họa “sát thân”, khôn mà lượng trước! Con mối ấy đục ruỗng ngôi nhà, tổ kiến hổng ấy xoi tan đê vỡ... sẽ làm cho Đảng yếu đi, khó lòng “là đạo đức, là văn minh”, khó lòng tiếp tục xứng đáng là “đứa con nòi” của dân tộc, và càng khó là và làm “người đày tớ thật trung thành của nhân dân”! Lúc ấy, hối thì đã muộn!

Bởi chưng nhẽ đó, xin chép nguyên lại và cẩn tắc chú giải ở đây, chỉ mong để cùng nhau nhớ, nghĩ, rồi nghiêm nhặt tự xét soi mình. Và nếu mắc, cần kíp tự chỉnh đốn mình, khi còn chửa muộn! ./.

Quyền thật và quyền ảo

Mới đây, trong một lần đến thăm ông bác họ là cán bộ cao cấp trong quân đội đã nghỉ hưu, tôi được chứng kiến nỗi lòng của những “người đồng chí già” về sự lạm quyền của một số cán bộ biến chất, mang nặng chủ nghĩa cá nhân thời nay thông qua câu chuyện giữa bác tôi và ông bí thư chi bộ tổ dân phố nơi gia đình cư trú. Có lẽ, những băn khoăn ấy của hai ông cũng là tiếng lòng chung của nhiều đảng viên với Đảng.

Mở đầu câu chuyện, ông bí thư chi bộ đã hơn 70 tuổi thở dài đánh thượt, thổ lộ rằng, rất buồn vì nhiều cán bộ trẻ làm lãnh đạo thời nay bản lĩnh thì chỉ ở cấp “tiểu học”.

- Bác nói hàn lâm thế thì sao hiểu được. Đã là cán bộ dù to, dù nhỏ cũng có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị tương xứng. Bởi, trước khi đề bạt, bổ nhiệm, tổ chức cân nhắc, đánh giá, thẩm định và thử thách chán. Làm gì có chuyện bản lĩnh chỉ ở cấp “tiểu học” mà được làm lãnh đạo đâu? Bác tôi phản pháo.

- Anh đúng là “ếch ngồi đáy giếng”. Vụ “ông bí thư trẻ” ở Thành ủy Đà Nẵng vừa bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương lôi ra ánh sáng là thế nào? Hay như vụ nguyên Bộ trưởng và Thứ trưởng Bộ Công thương chẳng hạn. Đặc biệt, vụ việc ở Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ nữa. Có phải do bản lĩnh kém nên mới bị ăn “đạn bọc đường” và “ngã ngựa” không? Theo tôi, đấy là những trường hợp “say mồi”, bị đồng tiền làm mờ mắt nên thiếu bản lĩnh, lạm quyền, trở thành có hại cho Đảng, cho dân.

- Vâng, bác nói đúng rồi!

- Chuyện, tôi làm công tác tổ chức cán bộ bao nhiêu năm, kinh nghiệm không ít. Này, tôi trách họ là chính, nhưng cũng phải trách tổ chức Đảng của mình còn kém trong vấn đề kiểm soát quyền lực.

- Vậy yếu ở chỗ nào trong vấn đề kiểm soát quyền lực hả bác?

Ngẫm nghĩ một hồi, ông bí thư chi bộ tổ dân phố lý giải: Đảng ta lấy nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức lãnh đạo cao nhất. Nếu soi vào nguyên tắc này thì ông bí thư dù ở cấp nào đi chăng nữa thì cũng chỉ có cái quyền về tập hợp tổ chức, định hướng vấn đề để cấp ủy, chi bộ quyết định phương án giải quyết. Có nghĩa là, mọi việc dù to, dù nhỏ trong tổ chức đều phải đưa ra tập thể cấp ủy bàn bạc, thống nhất và quyết định. Các cấp ủy viên cần phát huy tốt vai trò và trách nhiệm của mình để kiểm soát quyền lực, các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ủy ban kiểm tra.

Dừng lời, ông ví dụ, trong công tác cán bộ chẳng hạn, khi trên có chủ trương cho phép luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ thì tổ chức đảng cấp dưới phải làm theo quy trình. Để bổ nhiệm vào chức danh lãnh đạo nào đó, đúng ra, họ thường đưa ra 2 đến 3 nhân sự có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh như nhau để cấp ủy so sánh, đối chiếu, cân nhắc, lựa chọn. Thế nhưng, thường các tổ chức đảng đưa ra những cán bộ có chất lượng không ngang bằng nhau để so sánh, lựa chọn nên mới có hiện tượng con quan trẻ tuổi đã lọt vào các vị trí lãnh đạo mà vẫn đúng quy trình, nhưng chất lượng thì thấp, đặc biệt là bản lĩnh chính trị chỉ ở bậc “tiểu học”.

- Bác phân tích cũng phải, nhưng theo em, cũng vì cái uy giả, cái quyền ảo ấy mà nhiều cấp ủy viên của ta chỉ biết lẳng lặng giơ tay biểu quyết, bằng mặt mà không bằng lòng. Họ sợ gió, sợ mưa, sợ mất miếng cơm manh áo, sợ mất ghế, mất quyền nên không dám đấu tranh thẳng thắn, không dám phân tích điều hơn lẽ thiệt. Tóm lại, họ không làm tròn cái chức ủy viên đã được các đảng viên tin tưởng bỏ phiếu tín nhiệm trong đại hội.

- Chà, trí não của cán bộ cao cấp về hưu đã được huy động rồi đấy. Tôi vẫn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nhưng chỉ mong Đảng ta có cách thức để kiểm soát quyền lực của cán bộ các cấp sao cho kịp thời ngăn chặn những vi phạm, nhất là những hiện tượng lạm quyền trong tổ chức mà thôi. Nói rồi, ông bí thư chi bộ chào ra về để kịp giờ đón cháu. Ông bảo, “nghị quyết” của gia đình đã thông qua, tôi phải đón cháu còn việc tắm, cơm nước là của bà ấy. Dân chủ thế mà vẫn có lúc hai ông bà mất đoàn kết đấy. Tôi sợ bị bà ấy phê bình lắm.

Khi ông bí thư chi bộ đã ra về, ông bác tôi mới phân trần: Làm cán bộ thời nay quả khó hơn ngày xưa nhiều. Khó vì bản lĩnh luôn bị nhiều đối tượng tấn công từ các phía bằng lợi ích vật chất. Nếu không tỉnh táo, không cương quyết sẽ gục ngã. Ông bác tôi kết luận, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng có lẽ cũng từ ấy mà ra./.

Bôi mỡ để kiến đốt

Trên chuyến xe buýt từ thị trấn Xuân Mai về Hà Đông (Hà Nội) cùng với anh bạn, chúng tôi nghe được hai nữ phụ huynh ngồi cạnh nhau ở hàng ghế trên trò chuyện rôm rả về giáo dục. Họ tâm đắc với những phân tích và phản ứng về hiện tượng lạm thu các khoản xã hội hóa đầu năm học mới. Cái lý của họ khiến tôi và anh bạn đi cùng, nguyên là một hiệu trưởng một trường THCS đã chuyển ngành, lặng người.

Phụ huynh thứ nhất ước chừng chưa đến 40 tuổi mở đầu câu chuyện bằng câu nói hết sức băn khoăn. Chị mệt mỏi với các chi phí cho việc học tập của các con. Đầu năm học mới đã phải chi tới gần 15 triệu đồng để mua sách vở, đồ dùng học tập, đồng phục và đóng học phí rồi các khoản thu cho hai cháu. Chị than thở, sự học ngày nay tốn kém quá mà chưa biết các con có làm lên cơm cháo gì trong tương lai không?

Phụ huynh thứ hai già hơn một chút cũng chia sẻ: “Dư luận phản ánh, lạm thu trong giáo dục chẳng khác nào việc đi mua chữ. Nếu được nói, được đề xuất, tôi sẽ đề xuất bỏ đào tạo ngành tài chính, ngân hàng ở bậc đại học và lấy giáo viên các cấp về làm thay thì có lẽ lại đỡ tốn kém, có lợi hơn”.

Chắc vì hai vị “hàng xóm” bất đắc dĩ động đến tự trọng nghề nghiệp, nên anh bạn tôi vội rướn cổ lên phía trước góp chuyện bằng cách phản đối:

- Các bà này hay thật, sư phạm là nghề cao quý, là nghề dạy học làm người sao lại chuyển họ đi làm ngành tài chính, ngân hàng?

Chị phụ huynh vừa nói quay xuống rỉ rả, trông bác ăn vận đẹp đẽ, khuôn mặt sáng sủa chắc phải là trí thức. Vậy, em phân tích mà có gì không phải thì mong bác bỏ quá cho nhé. Bác thấy đấy, giáo dục của ta thừa giáo viên. Sinh viên tốt nghiệp ngành giáo dục của ta không có việc làm, phải đi làm công nhân có khổ không?

Nói xong, chị ta lôi ra một chiếc điện thoại. Sau khi khởi động máy, chị lại quay xuống, mặt hướng về phía anh bạn tôi tiếp tục giải trình.

- Bác xem này, Quyết định số 732/QĐ- TTg ngày 29-04-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”, nêu rõ, từ năm 2016 đến năm 2020, chỉ tiêu đào tạo toàn ngành giáo dục là 190.000 giáo viên. Trong khi đó, từ năm 2014 đến 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đào tạo 267.000 người, vượt so với đề án tới 77.000 người. Vậy từ năm 2019 đến 2025, ngành giáo dục có đào tạo thêm giáo viên nữa không? Nếu đào tạo thì số thừa sẽ chuyển đi đâu, làm việc gì? Xin thưa với bác, nguồn tin trên là chính thống đấy chứ không phải tin từ báo lá cải đâu.

- Thế thì có liên quan gì đến việc chuyển giáo viên sang ngành tài chính, kế toán.

Chị phụ huynh thứ hai cười đắc ý và nói với chị kia: “Chắc bác này không có con cháu đi học nên không hiểu”. Dừng một lúc chị ta quay xuống ông bạn tôi tiếp lời:

- Bác không thấy đấy à, học sinh đi học phải cõng đủ các loại phí được bóc tách từ nhiều việc khác nhau. Nào là quỹ đội, nào là quỹ xây dựng, tiền nước, vệ sinh, tiền mô hình học 2 buổi trên ngày, tiền chăm sóc bán trú... Chỉ đơn cử như tiền phí dịch vụ sổ liên lạc điện tử thôi đã nhiều giá khác nhau. Trường thì thu 135.000 đồng/năm học, trường thì thu 180.000 đồng/năm học. Chị dẫn chứng, với giá 180.000 đồng, riêng một trường tiểu học ở phường của chị có hơn 1.000 học sinh thì số tiền ấy đã hơn 180 triệu đồng. Tính ra, nếu giáo viên gửi trung bình 2 tin nhắn/tuần thì mỗi tin ước tốn khoảng 3.000 đồng. Đấy, bác xem, dịch vụ ấy đắt gấp 6 lần tin nhắn dịch vụ điện thoại mà các nhà mạng cung cấp trên thị trường trong khi bản chất của 2 cái này có khác nhau đâu? Thử hỏi, giá trị của sổ liên lạc điện tử có tương xứng với tiền phụ huynh bỏ ra không? Vậy, giáo viên đào tạo thừa không xin được việc làm sẽ chuyển đi đâu cho hợp lý? Nên chị bạn tôi nói cho họ đi làm tài chính, kế toán là lợi nhất. Đó là ý tưởng tuyệt vời đấy bác ạ!

Thấy khuôn mặt anh bạn tôi ngơ ngác, chị phụ huynh lại bồi thêm.

- Bác chưa tin à? Em ví dụ thêm cho bác thấy nhé. Đơn cử như cái việc ăn bán trú của các con ở trường cũng là một vấn đề khiến nhiều phụ huynh lo lắng. Chị dẫn chứng, cả 5 năm con chị theo học ở trường tiểu học và qua tới 5 cô giáo chủ nhiệm, nhưng chẳng bao giờ chị được nghe các giáo viên phổ biến chi tiết về cách tổ chức ăn bán trú thế nào, nhà cung cấp dịch vụ ở đâu, chất lượng ra sao, có bảo đảm an toàn thực phẩm hay không? Chị phân trần, giá kể điều kiện công việc, gia đình cho phép, chị sẽ đưa đón con cả buổi trưa để cho con được ăn cơm ở nhà mới yên tâm.

Câu chuyện của hai phụ huynh trên chuyến xe buýt này khiến tôi không thể không phân vân về ngành giáo dục hiện nay, nhất là cách làm việc tại các trường học bậc tiểu học, THCS và THPT. Thiết nghĩ, hằng năm các trường đều được cấp kinh phí hoạt động, trong đó có cả kinh phí sửa chữa công trình xây dựng, kinh phí xây mới và mua sắm thiết bị đồ dùng học tập cũng như nhiều loại kinh phí khác. Nếu các trường cứ bóc tách, tự vẽ và tự đẻ ra các loại kinh phí khác nhau thì người khổ nhất chính là các phụ huynh. Rõ ràng là, nền giáo dục công lập với những ưu việt từ sự đầu tư của nhà nước đang bị bóp méo, bị lợi dụng để trở thành nơi thu tiền. Quả thật, nếu nói như hai chị phụ huynh kia thì cũng có lý, cho con đi học chẳng khác nào đi mua chữ.

Trên đường trở về nhà, anh bạn tôi ngao ngán, giá kể bây giờ mà còn làm hiệu trưởng thì cũng xin nghỉ hưu sớm vì không chịu được sức ép dư luận. Bạn tôi bảo, cách làm ở các trường hiện nay là dân chủ nửa vời, dân chủ chưa tới nơi và cần phải xem xét lại. Anh phân tích, dân chủ ở các trường không phải chỉ là việc thông báo đến phụ huynh nội dung về khoản thu nào đó để ký vào biên bản rồi nộp tiền là xong. Nếu xét dưới khía cạnh cung cấp dịch vụ thì rõ ràng sự phân tích của hai phụ huynh nói ở trên là hoàn toàn có lý.

Thiết nghĩ, cha mẹ vốn là người đại diện hợp pháp cho học sinh trước pháp luật. Họ có nghĩa vụ, trách nhiệm lo cho con cái được hưởng những gì tốt nhất trong điều kiện và khả năng có thể. Trong những năm qua, rất hoan nghênh các trường học đã có nhiều cải tiến, chăm lo cho học sinh để có các điều kiện học tập, rèn luyện, phát triển trí tuệ, nhân cách tốt hơn, trở thành công dân có ích trong tương lai. Tuy nhiên, quá trình thực hiện, nhất là trong các khoản thu xã hội hóa, các trường cũng cần triệt để thực hiện dân chủ, đưa ra nhiều thông tin trung thực để định hướng, thuyết phục phụ huynh, tạo điều kiện để phụ huynh được kiểm tra, giám sát cho thỏa đáng. Xin đừng giấu phụ huynh thông tin, bởi đó chính là việc làm tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt./.

"Nỗi niềm"... trí tuệ!

  Không ngẫu nhiên mà trong thành phần “tứ dân” cơ bản (sĩ, nông, công, thương) ở xã hội phong kiến thời xưa, sĩ luôn được xếp ở vị trí hàng đầu. “Sĩ” là từ để chỉ tầng lớp trí thức, những người có học, có hiểu biết về chữ nghĩa nên luôn được xã hội trọng vọng. Qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta dẫu có lúc thăng trầm, thịnh suy, nhưng hầu hết các vương triều, các bậc minh quân đều xem trọng tri thức, đề cao sĩ phu, ngưỡng mộ những người văn võ song toàn, kinh bang tế thế.

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Câu nói bất tử của danh sĩ Thân Nhân Trung (1419 - 1499) được khắc ghi trang trọng trên bia đá ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), không chỉ hàm ý tôn vinh, khẳng định sức mạnh to lớn của tri thức, trí tuệ, mà còn thể hiện một khát vọng về cách ứng xử, đối đãi đúng mực của thể chế chính trị đối với những nhân tài của đất nước.

Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) đã tổng kết và đề ra bốn nguyên lý trị nước: “Phi nông bất ổn/ Phi công bất phú /Phi thương bất hoạt/ Phi trí bất hưng”. Nhấn mạnh hơn tầm quan trọng đặc biệt của nguyên lý thứ tư, vị danh nho kiệt xuất này còn khẳng định thêm: “Phi trí tắc vong”. Điều đó có nghĩa là, quốc gia mà không có trí thức, không trọng kẻ sĩ hay không biết sử dụng trí thức, hiền tài, thì đất nước chẳng những không hưng thịnh (bất hưng), mà còn có thể bị diệt vong.

Vậy mà, ngày nay cứ tưởng câu “Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ” chỉ là sự râm ran trong dư luận hay xì xào to nhỏ khi “trà dư tửu hậu”, nhưng đó lại là nỗi trăn trở, đau lòng của người đứng đầu Đảng ta khi chỉ ra “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt câu hỏi: “Trong công tác cán bộ thì: “Thứ nhất là quan hệ, thứ nhì là tiền tệ, thứ ba là hậu duệ, thứ tư mới đến trí tuệ”. Nó là cái gì?”(1) khiến bất cứ ai nặng lòng với dân, với nước cũng không khỏi một nỗi niềm trăn trở, đau lòng.

Không trăn trở, đau lòng sao được khi một tiêu chí đáng lẽ phải được đặt lên vị trí hàng đầu trong công tác cán bộ, nhưng ở không ít nơi, nó lại bị đẩy xuống sau cùng? Vẫn biết “hậu duệ” cũng có dăm bảy hạng người, có bậc tài ba xuất chúng xứng đáng nối tiếp dòng dõi “thế phiệt trâm anh”, nhưng lại có những kẻ “tài hèn đức mọn” mà vẫn được xếp vào hàng “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ, thì làm sao dư luận nguôi ngoai nỗi lòng? “Tiền tệ” cũng đáng quý, đáng trọng, nhưng chỉ là phương tiện thanh toán, trao đổi, mua bán các loại hàng hóa, sản phẩm thông thường, lẽ nào lại để nó len lỏi, “tranh giành” lên vị trí thứ hai và biến thành “vật đấu giá” trong công tác cán bộ? “Quan hệ” cũng rất cần thiết, nhưng liệu nó có thể thay thế được “chất xám” của con người chăng?

Cổ kim đông tây từng đúc kết: Một dân tộc giàu trí tuệ là một dân tộc có phúc. Một quốc gia giàu tri thức là một quốc gia may mắn. Một thể chế chính trị biết chiêu hiền đãi sĩ, xem trọng những người giàu kiến thức và năng lực là một thể chế chính trị tiến bộ, văn minh. Từ đó có thể nói rằng, một tổ chức đề cao tiêu chuẩn “trí tuệ” trong việc đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là một tổ chức lành mạnh, minh bạch, nhân văn. Ngược lại, tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó vẫn còn để cho “tiền tệ” lên ngôi, “quan hệ” lộng hành, “hậu duệ” chi phối trong công tác cán bộ sẽ làm nảy sinh tình trạng nội bộ lục đục, trên dưới bất hòa, lòng người bất an. Nếu không kiên tâm, kiên quyết ngăn ngừa, hạn chế, đẩy lùi được vấn nạn này, thì mục tiêu xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đủ cả đức - tài, trung thành, mẫn cán, vì dân, vì nước... xem chừng còn nhiều gian nan lắm!./.

Mong sao cuộc họp thứ... 2001

 Họp là việc bình thường và cần thiết của bất cứ tổ chức, cơ quan hay quốc gia dân tộc nào.

Nhưng, sẽ là bất bất bình thường và thậm chí vô lối, về sự họp ở không ít cơ quan, ngay tại xứ ta.

Lật thử xem trang báo, trong 11 tin đưa, có 7 tin về họp hành, hội thảo. Ấy là ở tỉnh! Ngó thử coi lịch làm việc treo trên bảng, trong 5 ngày làm việc, tổng cộng có tới 30 cuộc họp cho Bí thư. Đó là ở xã!

Thì ra, từ tỉnh tới xã, đâu cũng họp... rất nhiều! Cái gì cũng... họp lu bu. Đoàn thể nào cũng... họp triền miên. Cấp nào cũng họp... vô tiền khoáng hậu.

Hay chăng, đất nước ta bình quân mỗi ngày có 22 lễ hội, và hằng năm có tới 8000 lễ hội, nên nhiễm cả vào các cơ quan công quyền và nhiễm tận trong... máu mỗi người cái “đức... tụ vạ”, “thói... bàn suông”?

Hay chăng, vì để chữa bệnh sợ trách nhiệm cá nhân kinh niên xưa nay... nên cần họp để trốn vào cái lồng “lãnh đạo tập thể”, khi mắc lỗi thì “cả làng cùng chịu” theo kiểu: “Toét mắt bởi tại hướng đình. Cả làng cùng toét chứ mình gì ta”, nên xểnh ra... là họp?

Hay chăng, họp là có tiền, có đánh chén, nên... “đâu có họp là ta cứ đi”, “khua mõ ắt có gõ thớt” (!)? Hay chăng, họp là để... thay làm, kiểu như “mồm miệng đỡ chân tay”, “ngồi trong màn trướng định việc ngàn dặm”?

Hay chăng để “đánh bóng” tên tuổi mình, để truyền hình, báo chí đưa tin, trương ảnh cho... oách, cốt: “Vua biết mặt, chúa rõ tên” rồi sau đó “Đi nhẹ, nói khẽ hay cười. Việc đâu bỏ đấy là người phiếu cao”?

Vô vàn kiểu họp. Chả thế có người bảo: “Bé thì đi học, nhớn thì đi họp, già thì đi hội” (!), chả thế có người nói (đùa mà là thật, đầy “kiêu hãnh”): “Nghề nghiệp: Họp hành; thành phần: Theo vợ”, nên hở ra là...họp! V.v...

Có nhẽ vì thế, nên cứ thế, ai ai, đâu đâu... cũng đua nhau bày ra các cuộc họp! Tất nhiên, ấy chỉ là chuyện họp ở công sở, họp về việc công!

Nhân gian nom thấy, bèn gọi toẹt ra là... loạn họp, cuồng họp!

Gọi thế có oan?!

Chả nói ra, thì ai cũng thấy, họp hành kiểu ấy thì xiết bao tốn kém: thì giờ, tiền bạc, phiền phức, mà tất cả đều là thuế của nhân dân. Nhưng, điều đáng sợ hơn cả là, táng thất niềm tin: Họp lắm nát chuyện, đâm ra: “Nói dài nói dai hóa nói dại”, “Đâm bị thóc, chọc bị gạo”, thế là mất đoàn kết nảy nòi; thậm chí cả “họp vụng” kiểu bè nhóm, thế là nát bét mọi sự; nghiện họp rồi hóa “Lưỡi dài hơn tay”, đẻ ra thói “Nói nhiều làm ít”, “Nói đâu việc bỏ đó”, nói nhưng không làm, tệ lười biếng hoành hành; họp vô tích sự thành ra họp suông... thậm chí vừa nhàm vừa nhảm, làm công việc thì bê trễ, cơ quan thì lộn xộn, tổ chức thì rối beng! Họp thế đâu còn thì giờ để làm, để nghe dân, để đi cơ sở!?

Tôi chưa có thì giờ và kiên nhẫn để thống kê toàn quốc mỗi năm có bao nhiêu cuộc họp và bao nhiêu thì giờ dành cho họp, từ thôn làng cho đến Trung ương!? Có nhẽ, nếu giao việc này cho những người nghiện họp, phải cần ít nhất tới... mươi cuộc họp để luận cứ, luận chứng cuộc thống kê cỏn con về sự họp này! Mà có khi lại thành một đề án khoa học hẳn hoi, tiêu tốn vài ba trăm triệu đồng thuế của nhân dân!

Đang lay hoay nghĩ về sự họp, thì hôm 20-8-2017 mới đây, trên VTV đưa tin: Ở Thành phố H, bình quân mỗi năm trưởng ngành phải họp tới... 2000 cuộc!

Tôi buột thành tiếng cười: Sao không dẹp bớt? Cô cháu ngoại tôi mới học lớp mẫu giáo bé, thấy tôi cười, liền bập bẹ hỏi: Thế để làm gì hả... ông!?

Tôi im lặng... và quyết biên ra đây nhời khuyến nghị: Cần kíp thành phố ấy nên tổ chức cuộc họp thứ... 2001, để xóa hoặc làm bé đi nhiều lần con số 2000 cuộc họp, mà mỗi trưởng ngành của họ đang thực thi một năm!

Và, ước gì đâu đâu cũng thế!./

“Rác não”

 Lâu lắm mới có dịp ghé thăm ông Trường cùng cơ quan đã nghỉ hưu tại nhà riêng. Ngồi chưa ấm chỗ, ông Huy rỉ rả:

- Sang thăm, vợ chồng em biếu bác chút quà bồi dưỡng sức khỏe.

Nhìn túi quà, ông Trường không khách khí, “xả” thật lòng:

- Vẽ chuyện. Thời buổi này thời gian quý như vàng, đến thăm nhau đã là quý rồi lại còn quà với cáp. Tôi là tôi kịch liệt phê bình biểu hiện khách sáo của chú. Quý nhau “tam tứ núi cũng chèo, đò ngang cách trở thế nào cũng sang” mới là đúng chứ!

- Sang với bác trước là thăm sức khỏe, sau là để ôn lại thời “gạo châu, củi quế” cho đỡ nhớ, đỡ thèm. Quà mọn sao so được với tấm lòng? Mà cái anh “giấc mơ tầm vóc Việt” này tốt lắm nhé bác! Nó không chỉ tốt cho thiếu niên nhi đồng mà còn cho cả người già nữa. Sử dụng nó lợi cho đường ruột đã đành lại còn bổ sung thêm vi chất, ăn khỏe, ngủ tốt. Tuổi như bác, dùng hợp lý lắm.

- Rồi, chú để đó, tôi nhận. À, chú nói gì nhỉ, “giấc mơ tầm vóc Việt à”? Tôi thấy câu này quen quen. Mắt ông Trường sáng lên.

- Vâng, đó là slogan, dạng khẩu hiệu, phương châm kinh doanh của doanh nghiệp sữa Việt Nam. Có gì mà bác ngạc nhiên thế?

Tôi không ngạc nhiên về câu này. Nhờ chú nói mà tôi nghĩ ra biện pháp xử lý hiện tượng “rác não” đang rất phổ biến trong xã hội ta.

Lần này thì đến lượt ông Hùng ngạc nhiên, ông hỏi: “Rác não” ư, nó là cái gì vậy?

Ông Trường cười khà khà đắc trí, ông nheo mắt: Chú uống nước đi, lát tôi cho chú xem thế nào là “rác não”.

Theo ông Trường, “rác não” là những suy nghĩ bên trong của con người được thể hiện qua hành động bên ngoài, nhưng lại gây ảnh hưởng vô cùng nguy hại cho cộng đồng, xã hội, thậm chí có cả hiện tượng phản cảm, trái với luân thường đạo lý, thuần phong mỹ tục dân tộc. Ngoài hiện tượng “rác não” đã có trong lịch sử, bị xã hội lên án, người đời chê trách, phỉ báng thì ngày nay, “rác não” xuất hiện ở nhiều lứa tuổi, nhiều lĩnh vực, với tần xuất cao, đa dạng và tinh vi hơn, mức độ nguy hại cũng nhiều hơn.

Ông Trường phân tích, có loại “rác não” không “e ấp” ở chỗ tối như ngày xưa mà xuất hiện giữa thanh thiên bạch nhật, bất chấp dư luận. Nổi bật là các hiện tượng khoe giàu thái quá, vung tiền ra đếm, đốt xe; bạo lực học đường trong học sinh, quảng cáo phản cảm đã làm băng hoại đạo đức và văn hóa truyền thống... Ông ví dụ, kiểu kinh doanh mặc bikini bê hàng diễu phố; khuyến mại bằng cách kích thích khách hàng mặc bikini đến quán thì được hưởng tận... một cốc nước là cần phải loại bỏ tận gốc. Ông nóng mặt, kẻ đưa ra thông điệp đã thiếu văn hóa, kẻ nghe theo thực hiện còn ít văn hóa hơn.

Ông Trường cũng bức xúc khi nói về hiện tượng “rác não” rất tinh vi của các quan chức nhà nước. Người có quyền thì hoặc là không để ý tới hiện tượng móc ngoặc vì năng lực kém đã đáng chê; hoặc biết nhưng không đủ lực ngăn chặn nên làm ngơ và không loại trừ cả hiện tượng bị mua chuộc bằng lợi ích để “bật đèn xanh”, tiếp tay cho kẻ xấu, hại dân, hại nước, tham ô, tham nhũng nhiều tỷ đồng. Ông bức xúc hơn trước hiện tượng phương tiện làm việc cho công chức trong các cơ quan hành chính và bộ máy chính quyền nhà nước liên tục được đầu tư, cập nhật và nâng cấp hiện đại, ngang tầm các nước phát triển trên thế giới, nhưng biên chế thì không hề giảm, ngược lại thì tăng ở nhiều nơi, khiến Nhà nước phải “nuôi báo cô” những anh công chức “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”.

Thế nên, theo ông Trường, do trước đây đói kém, thể trạng sức khỏe, tầm vóc của người Việt thấp hơn các nước trong khu vực và thế giới nên mới cần đến khẩu hiệu “giấc mơ tầm vóc Việt”. Ngày nay, khi tầm vóc đã tương đối ổn rồi thì cần phải tạo dựng phong trào dọn “rác não”. Có như vậy mới dẹp bỏ tận gốc những hành động, việc làm thiếu văn hóa, coi thường thuần phong mỹ tục, hại dân hại nước của những chú “hề đời” đang có nguy cơ ngày càng nhiều trong xã hội chúng ta.

Sau câu chuyện với ông Trường, về nhà, ông Hùng chia sẻ với vợ. Ông nêu chính kiến, nếu mở rộng vấn đề “rác não” thì có thể thấy, bất cứ chỗ nào trong xã hội chúng ta cũng có “rác não”. Tuy nhiên, đừng để cho “rác não” xâm nhập quá sâu vào con người, biến con người thành công cụ để đạt lợi ích cá nhân trước mắt bằng mọi giá. Thế nên, theo ông Hùng, cần một doanh nghiệp tiên phong, mạnh dạn đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, sản xuất ra được loại sản phẩm để khi sử dụng, “rác não” trong mỗi con người sẽ bị loại trừ, tiêu diệt, không có khả năng gây hậu quả xấu cho xã hội.

Bà vợ ông Hùng bảo, công nghệ ấy nằm mơ cũng không có, nhưng lại có ở mỗi người và phải trải qua quá trình giáo dục, rèn luyện đúng đắn, biến thành tự giáo dục thì mới có hiệu quả. Trong đó, Nhà nước không nên “giơ cao đánh khẽ”, không nên tin tưởng vào biện pháp “xử lý nội bộ” hoặc vận động, tuyên truyền kiểu kêu gọi “cáo già hãy tốt đi”. Nghe thế, ông Hùng ớ người, mừng rơn, vì ý tưởng về doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cao siêu kia của ông cũng chỉ là một biểu hiện của “rác não” tồn tại dưới dạng ý tưởng, chưa có khả năng gây hại cho xã hội vì nguy cơ dễ bị “tam sao thất bản”?./.

Lắm kiểu "cài số" "lùi"... "tiến" tuổi nghỉ hưu

“Nghỉ hưu”, thuật ngữ “xa xỉ” trong xã hội tiền công nghiệp, nếu có cũng chỉ dành cho tầng lớp quan lại. Trong xã hội công nghiệp và “hậu công nghiệp”, phạm vi đối tượng nghỉ hưu ngày càng được mở rộng sang nhiều lĩnh vực ngành, nghề khác nhau, từ công nghiệp đến dịch vụ, tại nhiều nước phát triển còn có cả “nông dân nghỉ hưu”. Cùng với thành quả đấu tranh của nhân loại cho tiến bộ xã hội, nghỉ hưu trở thành một quyền cơ bản của người lao động sau một quá trình cống hiến, được nghỉ ngơi khi tuổi cao, sức yếu, được hưởng bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc đóng - hưởng.

Nghỉ hưu, tưởng chừng như chuyện đương nhiên kiểu “ngày sáng, đêm tối”, nhưng nhìn ra xứ người, ngó lại xứ ta, kể ra cũng lắm chuyện oái ăm!

Ở xứ người, tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc biểu tình của người lao động phản đối chính sách kéo dài tuổi nghỉ hưu của người lao động. Truy ra ngọn nguồn mới vỡ nhẽ, do chất lượng sống con người ngày càng được cải thiện nên tuổi thọ người cao tuổi tăng lên, trong khi giới trẻ lại “lười” đẻ, nên dẫn đến tình trạng dân số già hóa, nhân lực lao động vì thế giảm dần, bởi vậy để giải quyết vấn đề này chính phủ nhiều nước tìm giải pháp bằng cách nâng tuổi nghỉ hưu. Chính sách này có tác dụng giảm áp lực suy giảm hoặc nguy cơ đổ bể quỹ lương hưu. Có nước ban đầu quy định tuổi nghỉ hưu là 60, nhưng rồi cứ nâng dần lên 62, rồi 65, thậm chí là 67... Thế là người lao động xuống đường phản ứng, biểu tình phản đối!

Ở xứ ta, luật pháp quy định tuổi nghỉ hưu đối với nam là 60, và nữ là 55, nhưng trong thực tế cũng thấy lắm chuyện “nực cười” xung quanh câu chuyện tuổi nghỉ hưu. Xin kể 3 câu chuyện có thật về từ xin “tiến”... đến xin “lùi” tuổi nghỉ hưu sau đây:

Chuyện xin “tiến” hay nói đơn giản là xin nghỉ hưu sớm... vì “công ty sân sau”: Không kể những người ốm đau, lại phải nghề lao động nặng nhọc, độc hại, xin nghỉ hưu sớm là chuyện thường tình. Đằng này, có “quan bác” ở gần nhà tôi sức khỏe còn tốt, thậm chí đám trung niên tuổi ba mươi, bốn mươi còn phải “vái cụ”. Nghề nghiệp trước đây của ông cũng không phải bốc vác nặng nhọc hay độc hại gì. Ông là phó giám đốc một doanh nghiệp nhà nước có hạng. Theo quy định phải 3 năm nữa ông mới đủ tuổi nghỉ hưu. Thế mà ông làm đơn nằng nặc xin nghỉ hưu trước tuổi. Đơn của ông rất hợp tình, hợp lý, nào là ông nghỉ sớm cốt để tạo điều kiện cho thế hệ trẻ phát triển, nào là do tuổi đã cao, sức đã yếu, nào là tư duy không còn nhanh nhạy như xưa... trong khi việc cơ cấu lại doanh nghiệp bây giờ cần những lãnh đạo trẻ có tư duy mới... Tổ chức thuận theo nguyện vọng rất “chính đáng” và “đầy trách nhiệm” của ông. Ông được nghỉ hưu thật, thậm chí tính ra mỗi năm công tác còn được hỗ trợ 1 tháng lương.

Là hàng xóm láng giềng, sáng nào tôi cùng ông cũng làm vài vòng cuốc bộ thể thao quanh phố. Thắc mắc về việc nghỉ hưu sớm của ông, có lần tôi tò mò hỏi vì sao còn sức khỏe, trí tuệ còn minh mẫn, cương vị khối người mơ,... thế mà ông lại xin nghỉ hưu trước tuổi. Ông cười: “Xin nghỉ hưu trước tuổi vì “công ty sân sau” ấy mà! Cách đây mấy năm mình đã lập một công ty “sân sau”, giờ “hưu” nhưng có được nghỉ đâu, vẫn đang trực tiếp điều hành quản lý cái công ty ấy đấy chứ, để khỏi uổng phí vốn nghề nghiệp tích lũy cả cuộc đời. Các quan hệ khách hàng, mối lái, thị trường, bí quyết công nghệ, những tay thợ lành nghề đáng máu mặt,... của công ty cũ đều theo mình chuyển cả sang công ty của mình rồi... bởi vậy, công ty do mình lập ra vẫn “sống khỏe”, “ăn nên làm ra”. Tôi vặn lại “Thế công ty cũ của bác bây giờ sao? Nghe đâu nó đang “vật vã” với “cơ cấu lại”, khó khăn đủ bề... đúng không?”. Ông lý sự tỉnh queo: “Ôi dào... “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”... lo gì bò trắng răng!”. Đến đây tôi vỡ lẽ lý do xin nghỉ hưu trước tuổi của ông.

Cũng chuyện xin nghỉ hưu sớm... vì giữ “ghế” cho “quý tử”: Đó là chuyện giám đốc sở của một tỉnh nọ thuộc địa bàn tôi hay đến làm việc. Phải còn cỡ hơn một năm nữa mới đến tuổi nghỉ hưu, nhưng giám đốc sở “kiên quyết” xin nghỉ hưu sớm. Lý do thật “cao thượng” và “đầy trách nhiệm”, rằng nếu ông nghỉ hưu đúng 60 tuổi thì cấp phó của ông hết cơ hội, rằng người đi trước phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho người đi sau phát triển. Nói là làm. Ông một mực xin nghỉ trước 1 năm. Cấp phó của ông nhờ thế mà được bổ nhiệm làm giám đốc sở và biết ơn ông lắm. Mọi người cũng nể phục đạo đức của ông!

Nhưng chẳng bao lâu sau khi mới lên chức thì vị tân giám đốc sở đã ký quyết định bổ nhiệm con trai người tiền nhiệm làm phó giám đốc sở. Khi ấy mọi người mới “ngộ” ra “hành vi ẩn dụ” đằng sau lý do xin nghỉ hưu sớm của nguyên giám đốc sở. Người trong sở nọ nhìn nhau chỉ biết gật gù thốt lên: Ông thật cao tay, lo cho “hậu duệ” tinh vi đáo để thật!

Chuyện xin “lùi” tuổi nghỉ hưu hay kéo dài thời gian công tác... để được “cống hiến”: Đây là trường hợp thủ trưởng cũ của tôi. Khi sắp đến tuổi nghỉ hưu, ông “thò” ra một tờ giấy chứng minh “tuổi thật” của mình không giống như tuổi khai trong lý lịch cơ quan đang quản lý. Rồi ông làm đơn xin kéo dài thời gian công tác. Vì chuyện đó mà tập thể lãnh đạo cũng phải họp bàn lên xuống, nhưng cuối cùng cũng “chiều” theo ông, nhận đơn và “đá quả bóng” lên cấp trên xem xét. Ngồi đâu ông cũng hay chuyện là đồng chí lãnh đạo “nọ”, đồng chí lãnh đạo “kia” yêu cầu ông phải kéo dài thời gian công tác, vì sức khỏe ông còn tốt, vì trí tuệ ông còn minh mẫn, vì ông giàu kinh nghiệm nghề nghiệp, vì còn nhiều năng lực cống hiến, vì ông phải có trách nhiệm để đào tạo thế hệ kế cận đang còn “non”, v.v.. và v.v.. Mọi người tưởng vậy. Nhưng đùng một cái, ông vẫn có quyết định nghỉ hưu theo đúng quy định. Ngày nghe tin có quyết định nghỉ hưu, ông buồn lắm. Tôi thấy ông như gầy rộc đi. Mọi người lại tưởng, nhận quyết định rồi thì ông sẽ nghỉ như bao người khác. Nhưng không, sau khi nhận quyết định nghỉ hưu, ông vẫn đề đạt “nguyện vọng” được giữ phòng làm việc, mấy tháng đầu vẫn đến cơ quan như thường lệ. Văn phòng thấy ông nhiệt tình đến cơ quan nên “ngại” cắt chế độ xe đưa đón ông hằng ngày, vẫn bố trí người chuẩn bị chè nước, mang báo chí đến phòng cho ông,... Ban lãnh đạo mới cũng khó xử, nhất là khi ông vẫn “nhiệt tình” góp ý “chỉ đạo” công việc hằng ngày của cơ quan, vẫn ra tuyên bố “hùng hồn” không khác hồi còn đương chức lãnh đạo. Phải một năm sau, chẳng biết do có người nhắc khéo hay do ông tự “ngộ” mà ông mới trả phòng làm việc và ít khi lui tới cơ quan...

Còn “nghìn lẻ một đêm” những kiểu xin “tiến”, “lùi” tuổi hưu, nhưng chỉ đơn cử mấy câu chuyện trên đã thấy “tiến”, “lùi” tuổi hưu xem ra đều gắn với “quyền” và “lợi” của con người. Chỉ khi nào cơ chế, chính sách “bịt” hết các lỗ hổng thì mới làm cho mọi chuyện trong xã hội lành mạnh, kể cả chuyện nghỉ hưu. Ở trường hợp thứ nhất, phải làm tốt quản lý cán bộ lãnh đạo khi đương chức, nhất là các hoạt động kinh tế phi chính thức do gia đình, vợ con, “chiến hữu” đứng tên chuẩn bị cho “hạ cánh an toàn”... Ở trường hợp thứ hai, phải tạo ra cơ chế thi tuyển nhân tài công bằng, công tâm để chấm dứt được tệ nạn lo “ghế” cho “hậu duệ” rất tinh vi. Ở trường hợp thứ ba, phải tiền lương hóa mọi khoản chi phí phục vụ cho lãnh đạo (xe cộ, thông tin, liên lạc, nhà cửa, báo chí...), cũng như các lợi ích phi chính thức có được khi “đương chức”, mà lúc nghỉ hưu không còn, nên thường cảm thấy hẫng hụt, tiếc nuối.

Tin rằng những cải cách thể chế mạnh mẽ hơn thời gian tới có thể giảm dần và chấm dứt những trường hợp “cài số” “tiến”... “lùi” tuổi nghỉ hưu “oái oăm” trên đây./.

Cái sự... chọn người

 Nhiều chục năm qua, nom những sự chọn người trong thiên hạ, mấy bận rắp toan biên lại và nhẩm bụng đem bố cáo. Nhưng, lòng còn e ngại, bởi chửa hợp thời. Vả nữa, còn càng ngại rằng, chả ai muốn nghe. Hay nghe rồi chẳng động lòng hoặc lại nghĩ “ý này ý khác”. Nên đem cất kỹ tận nơi đáy hòm. Lại ngặt đó toàn là những chuyện “trung ngôn nghịch nhĩ” cả. Đâm ra, lại... đợi!

Một ngày cả gió, giở giời, mang đống bản thảo cũ ra phơi. Câu chuyện bật ra dưới nắng:

Rằng, từ rất lâu rồi, có vị cán bộ làm ở cái nơi, mà ngày xưa gọi là Bộ Lại (chả rõ vì sao chui được vào nơi này) luôn ra vẻ ta đây bời bời học thức. Ông ta học đòi kiểu “nhung y xứng kỳ đức”, “thuyền đua thì lái cũng đua”, nên muốn đến cả những con chim, con thú mà ông ta chơi, cũng phải có học thức. Tối thiểu chúng phải biết nói tiếng người.

Sằn sục mãi, cho tới một bữa, ôm một bị tiền, ông ta ra chợ. Ngắm nghía đô hồi, ông ta hất hàm hỏi ông già bán chim cảnh: - Con này nói được tiếng gì, bao nhiêu tiền? Ông già thưa: - Dạ, nó nói được tiếng Hoa, giá 2 đồng. Ông ta mua; và, chỉ sang con chim bên cạnh: - Con này sao, giá bao nhiêu? Ông già bán chim điềm đạm: - Dạ, nó nói được tiếng Nga và Pháp, ngài cho tám đồng.

Cứ thế, cứ thế, viên cán bộ nọ mua hết con này tới con kia, và lũ chim có thể nói được tới cả vài ba chục thứ tiếng ngoại quốc từ Á sang Âu tới Mỹ La-tinh, có giá dễ cả mấy chục ngàn đồng. Viên cán bộ vô cùng hỉ hả.

Đến con chim cuối cùng: - Con này nói được những thứ tiếng gì, bao nhiêu tiền? Ông lão bán chim tỉnh bơ: - Số tiền mua nó bằng tất cả số tiền lũ chim kia cộng lại và nhân với mười lần. Lão già có điên không đấy, nó có nói được tới trăm thứ tiếng không, mà đòi lắm tiền vậy? - viên cán bộ nọ nổi cáu. Ông già thờ ơ: - Dạ, chính vì thế, nó mới có giá nghìn đồng, lại bởi nó không hề biết nói một thứ tiếng nước nào. - Lão có điên thật không đấy? - Thì ngài xem, một con chim “hậu duệ”, vừa ra ràng, dù nó không biết nói tiếng nước nào, dưng được phong “tước”, lại bằng cấp treo khắp đầy mình. Và, quan trọng nhất, nó mù ngoại ngữ nhưng lại “có quyền chỉ huy” tất cả những con chim rất giỏi ngoại ngữ kia. Chả nhẽ nó không đáng được giá ấy ư, thưa quý bác? Lão còn một mớ mấy con “mua” được cả quyền chỉ huy, đại loại như kiểu ấy nữa.

Nói đoạn, ông già bán chim hững hờ thả ánh mắt đến quá... chân mây. Và, viên cán bộ nọ cả vui và đếm tiền...

Nghe đâu, ít lâu sau, những con chim ấy do viên cán bộ nọ mua tặng, vỡ tung đàn. Vì con chim “hậu duệ” có giá cả mấy ngàn đồng ấy làm đầu đàn. Tự dưng chả con chim nào trong đàn thèm tiếng ngoại quốc nữa, rồi bỏ đàn bay đi hoặc cứ chết dần chết mòn... mà tự tan.

Nay, thấy tại rất nhiều chốn: Đây thì “con ông cháu cha”, “cả họ làm quan”, “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ...”, kia thì “làm quan thần tốc”, “mua danh ba vạn”, “dấm dúi lên... quan”... làm cho xôn xao trong dư luận lẫn chung chiêng cả chốn công đường. Nay, lại trông ở không ít cấp: Đó thì “hoạch phát hoạch tàn”, “tốc hỉ tốc... bại”, nọ thì “dục tốc bất đạt”, “nửa bước đi tắt thành... quan”, “nửa đời phấn đấu không bằng cơ cấu một giây”... khiến cho chuẩn mực ngả nghiêng, thật giả lẫn lộn, người tài người tốt ngoảnh... đi!. Những sự ấy nguy cơ làm cho nhân tâm ly tán, việc lớn nát bét, đội ngũ xộc xệch, cơ đồ xiêu nghiêng, bởi cái họa “cha truyền con nối” biến “việc của Đảng chứ đâu phải việc của họ nhà nào” thành sự nhãn tiền, như Bác Hồ nói, rồi “đầu tư quan hệ”, “buôn quan bán tước”...

Tất cả vô hình, nhiều cơ quan thì chuốc lấy “vạ trong tường vách”, mấy người “đạo vị” (ăn trộm chức vụ), lại như Bác Hồ bảo, số phận thì cũng “gươm treo chỉ mành”, lắm tổ chức thì chênh vênh hơn “trứng để đầu đẳng”... Cơ hồ tai họa ập đến, tính chỉ độ bằng ngày, giờ!

Nhưng, ai người có tội?

Nên thiển nghĩ, cả quyết không thể không biên ra ở đây, dẫu biết rằng, có thể là tốn... giấy mực!./.

Tổng thống Ukraine sa thải 2 quan chức hàng đầu

 

 

  Tổng thống Ukraine sa thải 2 quan chức hàng đầu

(VTC News) - Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky hôm 31/3 cho biết ông đã sa thải 2 thành viên cấp cao của cơ quan an ninh quốc gia.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky hôm 31/3 cho biết trong một bài phát biểu video rằng ông đã sa thải 2 thành viên cấp cao của cơ quan an ninh quốc gia - người đứng đầu về an ninh nội bộ cũng như người đứng đầu chi nhánh của cơ quan này ở vùng Kherson. Ông nói những người này "phản bội" và "sẽ bị trừng phạt" nhưng không tiết lộ chi tiết.


Theo Reuters, đây là lần đầu tiên ông Zelenskiy tuyên bố sa thải những quan chức liên quan đến quốc phòng.

Ngoài ra, ông khẳng định tình hình ở miền Nam và khu vực Donbass vẫn vô cùng khó khăn và cho rằng Nga đang xây dựng lực lượng gần thành phố Mariupol.

Trong khi đó, theo Tass, Nga sẽ mở một hành lang nhân đạo từ Mariupol đến Zaporozhye vào ngày 1/4 dựa trên yêu cầu của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Đức Olaf Scholz.

"Dựa trên yêu cầu cá nhân từ Tổng thống Pháp và Thủ tướng Đức gửi tới Tổng thống Nga Vladimir Putin, Lực lượng vũ trang Nga sẽ một lần nữa mở hành lang nhân đạo từ Mariupol đến Zaporozhye (với điểm dừng ở Berdyansk) vào lúc 10 giờ sáng ngày 1/4. Nhăm Để đảm bảo thành công của hoạt động nhân đạo này, kế hoạch là sẽ có sự tham gia trực tiếp của đại diện Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn và Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế", đại diện Trung tâm Kiểm soát Quốc phòng Nga, Đại tá Mikhail Mizintsev cho biết.

Nga cho biết họ thực hiện "chiến dịch quân sự đặc biệt" ở Ukraine để giải giáp và "phi hạt nhân hóa" nước láng giềng, bác bỏ cáo buộc của Kiev về việc các lực lượng Nga đang nhắm vào dân thường.

Trên bàn đàm phán, theo Sputnik, hiện Kiev đã đề xuất một hệ thống đảm bảo an ninh mới cho Ukraine mà một số quốc gia bao gồm các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cũng như Thổ Nhĩ Kỳ, Đức, Canada, Italia, Ba Lan và Israel sẽ đóng vai trò bảo lãnh.

Ngoại trưởng Pháp Jean-Yves Le Drian cho biết nước này sẽ tích cực nghiên cứu các đề xuất nếu được Ukraine đưa ra. Ông đồng thời nhấn mạnh rằng cơ chế an ninh phải được thảo luận chủ yếu bởi Nga và Ukraine.

Các cuộc đàm phán giữa Nga và Ukraine đến nay chưa có nhiều bước đột phá có thể dẫn tới thỏa thuận ngừng bắn. Đầu tuần này, Istanbul đã tổ chức một vòng đàm phán mới giữa Moskva và Kiev. Cuộc hội đàm được tổ chức tại cung điện Dolmabahce và kéo dài khoảng 3 giờ.